Đó là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định trong những chế tài của quy phạm pháp luật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
- - -
BÀI TẬP LỚN ĐỀ BÀI: Phân tích trách nhiệm hành chính So sánh trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự GIẢNG VIÊN : TH.S NGUYỄN HOÀNG VÂN LỚP TÍN CHỈ : PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG (LUCS1129)_CLC64_07 THÀNH VIÊN : LÊ HẢI ĐĂNG 11221201
PHẠM MINH QUÂN 11225398
NGUYỄN QUỲNH ANH 11220446
NGUYỄN THU HÀ 11221948
PHẠM HIỀN HƯƠNG 11226178
HÀ NỘI, 5/2023
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đấu tranh phòng chống các vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hành chính nói riêng luôn là nhiệm vụ trọng yếu của nhà nước ta Trong bối cảnh hiệnnay, hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Tính hiểu quả của các biện pháp xử phạt chưa cao; thủ tục xử phạt còn rườm rà; tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản… là những điều bức xúccủa người dân cũng như bộ máy hành chính
Khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực thi hành, Chính phủ ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, như: Nghị định 97/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở …Cùng với đó, các bộ, ngành theo thẩm quyền cũng ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thi hành nghị định có liên quan
Hiện nay, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định xử lý vi phạm hànhchính gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác Xét
về mặt lý luận cũng như thực tiễn, xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lýhành chính khác có bản chất, mục đích, đối tượng, các biện pháp áp dụng, thủ tục áp dụng… khác nhau Và trên thế giới có nhiều nước xây dựng một đạo luật riêng về xử phạt vi phạm hành chính Do đó, việc nghiên cứu riêng về vấn đề pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính được đặt ra có ý nghĩa lý luận và thực tiến lớn
Trong bài tập lớn này, các thành viên trong nhóm sẽ phân tích sâu hơn về trách nhiệm hành chính và so sánh trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự cùng với
đó là đưa ra thực trạng thực tế trong đời sống xã hội
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Phân tích trách nhiệm hành chính về mặt khái niệm, đặc điểm, đối tượng bị áp dụng, hệ thống chế tài, thẩm quyền và thủ tục áp dụng; từ đó đưa ra những thực trạng về trách nhiệm hành chính
Trang 33 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài đi sâu nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và nội dung các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Vấn đề thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính không phải là vấn đề trọng tâm nhưng cũng được xem xét nhằm đánh giá thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
4 Đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi không gian trong lãnh thổ Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu khác theo góc nhìn của tác giả
5.2 Phương pháp so sánh
So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính và vi phạm hình sự
5.3 Phương pháp thống kê xã hội học
Từ những kết quả thống kê, điều tra, khảo sát về thực trạng vi phạm hành chính và
xử phạt vi phạm hành chính để đề ra những giải pháp hợp lý
5.4 Các phương pháp của xã hội học pháp luật
Phân tích cơ sở xã hội của việc xử phạt vi phạm hành chính
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiêncứu, giảng viên, học viên, sinh viên
- Luận văn đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp
- Những điểm mới nhất của luận văn là: đưa ra triết lý về về vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính; đưa ra cấu trúc mới của hệ thống pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính; đưa ra các giải pháp dựa trên yêu cầu hoàn thiện pháp luật hiện nay cũng như kinh nghiệm trên thế giới
7 Cơ cấu của luận văn luận văn gồm 3 phần:
Phần 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Phần 2: So sánh vi phạm hành chính và vi phạm hình sự
Phần 3: Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Trang 4I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
1.1 Khái niệm về trách nhiệm hành chính
Khi một cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật, về nguyên tắc, họ phải gánh chịu trách nhiệm những hậu quả pháp lý bất lợi nhất định theo quy định của
pháp luật Như vậy, ta có thể hiểu: “Trách nhiệm hành chính là một dạng của trách nhiệm pháp lý được áp dụng trong hoạt động quản lý, hoạt động hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật hành chính Đó là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định trong những chế tài của quy phạm pháp luật hành chính, bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính.”
Trang 5Về cơ sở pháp lý: đó là những quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến vi
phạm pháp luật đó về thẩm quyền, trình tự, thủ tục để giải quyết các vụ việc đó
Vì thế, để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, cá nhân thì cần phải xác định cụ thể họ có thực hiện việc vi phạm hành chính trên thực tế hay không Truy cứu trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
về bản chất là việc áp dụng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân đó
Người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính sẽ ra quyết định buộc các chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính phải thực hiện các biện pháp chế tài hành chính, đó là những biện pháp buộc những đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hành chính phải chịu những hạn chế về quyền tài sản hoặc tự do
Ta có thể hiểu: Một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hành chính khi có đầy đủ
cơ sở để chứng minh được họ đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính và biện pháp chế tài hành chính áp dụng đối với họ phải có mục đích phạt vi phạm
Có thể thấy được rằng vi phạm hành chính chỉ là cơ sở chung để truy cứu trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm Vấn đề là tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính có bị truy cứu trách nhiệm hành chính trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào việc thực hiện nhiều quy định pháp luật khác có liên quan
Ví dụ: Căn cứ vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì tổ chức và cá nhân đã thực hiện vi phạm hành chính, nhưng vi phạm hành chính đó đã hết thời hiệu xử phạt theo quy định của pháp luật, do đó, trách nhiệm hành chính cũng sẽ không đặt ra đối với họ trong trường hợp này
Việc xác định cụ thể chủ thể vi phạm hành chính (tổ chức, cá nhân) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần giúp ta có thể phân biệt được trách nhiệm hành chính với trách nhiệm hình sự (cá nhân thực hiện hành vi phạm tội)
1.2.2 Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm trước Nhà nước:
Đó là việc tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính đã xâm phạm đến trật tự quản lý
Trang 6nhà nước do Nhà nước thiết lập Vì thế, Nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân trên phảigánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước mà mình đã thiết lập Việc thực hiện biện pháp chế tài của các tổ chức, cá nhân
vi phạm hành chính là trách nhiệm của họ trước Nhà nước chứ không phải trước cácchủ thể khác Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính với trách nhiệm dân sự (vì trong trách nhiệm dân sự, việc phải thực hiện các biện pháp chế tài của tổ chức, cá nhân bị truy cứu trách nhiệm dân sự là nghĩa vụ của họ trước một tổ chức hay cá nhân cụ thể có quyền và lợi ích bị xâm hại, Nhà nước chỉ là chủ thể có vai trò đảm bảo việc thực hiện đầy đủ các biện pháp chế tài dân sự của bên vi phạm đối bên bị vi phạm)
1.2.3 Việc truy cứu trách nhiệm hành chính phải được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính
Cụ thể: Pháp luật hành chính của Nhà nước ta đã quy định cụ thể những người cóthẩm quyền thực hiện hoạt động truy cứu trách nhiệm hành chính đối với các tổ chức,
cá nhân vi phạm hành chính Hiện nay, thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính được trao cho nhiều cơ quan tổ chức khác nhau, nhưng những người được trao thẩm quyền này trước hết và chủ yếu vẫn là những người có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt, thẩm quyền trên cũng được trao cho Thẩm phán Toà án nhân dân và Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự
Ngoài ra, quá trình truy cứu trách nhiệm hành chính phải đảm bảo lựa chọn và ápdụng đúng các biện pháp chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
Truy cứu trách nhiệm hành chính phải được tiến hành theo thủ tục hành chính do pháp luật hành chính quy định Truy cứu trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm hành chính nói riêng đều tác động trực tiếp đến việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng có liên quan
Vì vậy, khi tiến hành việc truy cứu trách nhiệm hành chính, các chủ thể có thẩm quyền bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thủ tục do pháp luật đặt ra,chẳng hạn: Người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính phải thực hiện cáccông việc theo đúng trình tự về thời gian, không gian của sự việc…Như vậy thì mớiđảm bảo việc có đầy đủ căn cứ cần thiết để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chínhđối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính một cách nhanh chóng, kịp thời trong thời hạn pháp luật quy định nhưng vẫn đạt hiệu quả cao
1.3 Đối tượng bị áp dụng
Trang 7Discover more from:
KDNN 001
Document continues below
kinh doanh nông nghiệp
Đại học Kinh tế Quốc dân
220 documents
Go to course
Thị trường lúa gạo Việt Nam Tài liệu tham khảo về SCP
140
KINH TẾ NÔNG THÔN - tiểu luận kinh tế nông thôn
Trang 8Xử phạt hành chính được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính bao gồm tất cả cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài viphạm hành chính trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.3.1 Trách nhiệm hành chính đối với người dưới 14 tuổi:
Những người dưới 14 tuổi được xếp vào nhóm không có năng lực trách nhiệmhành chính, tuy nhiên nếu nhận thấy có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì các cơquan có thẩm quyền sẽ xem xét để đưa ra hình phạt.Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 90Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về đối tượng áp dụng biện phápgiáo dục tại xã, phường, thị trấn như sau: “Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thựchiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộluật hình sự”
Ngoài ra, về chủ thể từ đủ 12 đến dưới 14 tuổi khi thực hiện hành vi có dấu hiệucủa một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự thì cácchủ thể này sẽ phải chịu biện pháp xử lý đưa vào trường giáo dưỡng Thời hạn ápdụng biện pháp này được quy định tại Khoản 3 Điều 91 Luật xử lý vi phạm hànhchính năm 2012 quy định về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là từ 06 tháng đến
12 tháng
1.3.2 Trách nhiệm hành chính đối với người từ 14-16 tuổi
Những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là những người chưa thành niên, được xếp vào nhóm những người có năng lực trách nhiệm hành chính hạn chế Những chủ thể này sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi khi thực hiện những hành vi có tính chất cố ý
Về trách nhiệm hành chính mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải gánh chịu khi cố ý thực hiện những hành vi vi phạm hành chính cũng có một số biện pháp tương tự với xử lý người vi phạm từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi như: Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.Tuy nhiên biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp nào khác phù hợp hơn
Ngoài ra với những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi vi phạm hành chính
có thể bị áp dụng xử lý những hình phạt chính được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cụ thể là biện pháp cảnh cáo Khi xử phạt theo hình thứccảnh cáo thì các cán bộ, công chức có thẩm quyền phải lập biên bản đi kèm
Trang 9Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định về các biện pháp thay thế
xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, như vậy khi xem xét mức
độ vi phạm và căn cứ vào các biện pháp xử lý, áp dụng trách nhiệm hành chính theo quy định thì các cơ quan có thẩm quyền xét xử có thể áp dụng biện pháp thay thế xử
lý bao gồm: Nhắc nhở; quản lý tại gia đình
1.3.3 Trách nhiệm hành chính đối với người trên 16 tuổi
Những người từ đủ 16 tuổi trở lên được xếp vào nhóm có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ Những chủ thể này sẽ phải gánh chịu trách nhiệm hành chính cho mọi hành vi vi phạm hành chính của mình mà không cần phải căn cứ vào ý chí chủ quan của người đó
Trong nhóm đối tượng này được chia làm hai nhóm, là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 18 tuổi trở lên
Với những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính nhẹ hơn những người từ đủ 18 tuổi trở lên, cụ thể căn cứ theo Khoản 3 Điều 134 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về nguyên tắc xử lý:
“Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thìmức tiền không quá một nửa mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên, trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay”
1.3.4 Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếpgiáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
1.4 Chế tài hành chính
1.4.1 Khái niệm chế tài hành chính
Chế tài là một trong ba bộ phận cấu thành một quy phạm pháp luật, xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm với những quy tắc xử sự chung được ghi trong phần quy định và giả định của quy phạm pháp luật
Trang 10Chế tài hành chính, theo quan niệm của luật hành chính và với tư cách là một chế định của ngành luật này, là một bộ phận của các quyết định hành chính được áp dụng bởi các chủ thể quản lý có quyền lực quyết định đơn phương Đối tượng bị áp dụng, thi hành chế tài hành chính là các cá nhân, tổ chức vi phạm các trật tự công được pháp luật bảo vệ, được quy định trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như lĩnh vực môi trường, giao thông, đô thị, lao động, xây dựng, đất đai, kỷ luật nhà nước.
1.4.2 Đặc điểm chế tài hành chính.
Chế tài hành chính được áp dụng không chỉ nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích công
mà còn bảo vệ các quy tắc, trật tự xã hội, đảm bảo cuộc sống yên bình cho cư dân Ngoài tính trừng phạt, chế tài hành chính còn nhằm ngăn chặn những vi phạm có thể xảy ra nguy hiểm hơn
Ví dụ: xử phạt người điều khiển xe ô tô có nồng độ cồn cao nhằm ngăn chặn họ có thể điều khiển xe gây tai nạn, nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe của người khác, hoặc xử phạt người có hành vi trộm cắp vặt để ngăn ngừa việc họ có thể tái diễn hoặcchuyển hóa thành hành vi trộm cắp bị chế tài theo Bộ luật Hình sự
Chế tài hành chính, luôn luôn chứa trong nó đặc tính trừng trị Điều đó có nghĩa, chế tài hành chính phải bao gồm các hình thức chế tài nghiêm khắc và thi hành nghiêm minh Tính nghiêm khắc thể hiện ở mức phạt tiền, việc tước hay hạn chế sử dụng các loại giấy phép, đình chỉ việc xây dựng, thu hồi giấy phép xây dựng hay quyết định phá dỡ công trình xây dựng trái phép
Chế tài hành chính có thể áp dụng đối với những người dân bình thường và cũng
có thể áp dụng đối với các chủ thể là cán bộ, công chức hay những người có thẩm quyền trong quản lý hành chính Về nguyên tắc, các chủ thể vi phạm đều phải bình đẳng trong việc áp dụng các hình thức chế tài, cần tránh tình trạng bao che, xử lý nội
bộ cho những người vi phạm là cán bộ, công chức Mặt khác, cùng một hành vi vi phạm, nếu chủ thể là cán bộ, công chức có thể bị xử lý nặng hơn do có trình độ am hiểu nhất định về lĩnh vực vi phạm, ngoài ra có thể xử lý kỷ luật đối với họ
1.5 Thẩm quyền áp dụng
Vi phạm hành chính thường xảy ra phô biến ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, để
phản ứng mau lẹ với các vi phạm, phòng ngừa và loại trừ chúng, bảo vệ trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính nhà nước, bảo vệ quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính về những chủ thể sau:
- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp (cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh)
Trang 11- Thẩm quyền của Công an nhân dân: chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ; Trưởng Công an cấp xã, huyện; Giám đốc Công an cấp tỉnh; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh chính trị nội bộ; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
- Thẩm quyền của Bộ đội biên phòng: Chiến sĩ Bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Cục Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc
Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng
- Thẩm quyền của Cảnh sát biển: Cảnh sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ; Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển; Trạm trưởng Trạm Cảnh sát biển
- Thẩm quyền của Hải quan: Chi cục trưởng Chi cục Hải quan; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
- Thẩm quyền của Kiểm lâm: Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm; Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm; Cục trưởng Cục Kiểm Lâm
- Thẩm quyền của cơ quan Thuế: Đội trưởng Đội Thuế; Cục trưởng Cục Thuế
- Thẩm quyền của quản lý thị trường
- Thẩm quyền của Thanh tra
- Thẩm quyền của Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nộiđịa: Trưởng đại diện các Cảng vụ
- Thẩm quyền của Tòa án nhân dân: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa; Chánh án Tòa
án nhân dân các cấp
- Thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự
-Thẩm quyền của Cục quản lý lao động ngoài nước: Cục trưởng Cục Quản lý laođộng ngoài nước
- Thẩm quyền của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khácđược ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam ở nước ngoài
Việc quy định nhiều cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chínhnhằm giải quyết nhanh chóng, kịp thời, hơn nữa, vi phạm hành chính xảy ra nhiều, đadạng trong tất cả các ngành, lĩnh vực, mọi cấp quản lý hành chính nhà nước
Trang 12Bên cạnh việc quy định thẩm quyền của các cơ quan, cá nhân có quyền xử lý viphạm hành chính, Luật Xử lý vi phạm hành chính còn quy định nguyên tắc phân địnhthẩm quyền xử lý vi phạm hành chính Cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp cóthẩm quyền xử phạt các vi phạm trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt các vi phạm hànhchính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý Trong trường hợp vi phạm hành chínhthuộc thảm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì việc xử lý do cơ quan thụ lý đầu tiênthực hiện
Do có nhiều cơ quan có thẩm quyền xử phạt đòi hỏi phải có sự phân định thẩmquyền xử phạt để tránh chồng chéo chứ năng và bảo đảm pháp chế Những cơ quan,
cá nhân không được pháp luật trao thẩm quyền xử phạt hành chính thì không có thẩmquyền xử phạt Xử phạt đúng thẩm quyền là một yêu cầu của nguyên tắc pháp chếtrong xử lý các vi phạm hành chính
Để bảo đảm cho quyết định xử phạt được thực hiện nghiêm chỉnh, ngăn chặn kịpthời vi phạm hành chính, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có thể áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chínhsau:
Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủtục trục xuất
Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sởgiáo dục, cơ sở chữ bệnh trong trường hợp bỏ trốn
1.6 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
Thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Khi phát hiện hành vi vi phạm
hành chính của cá nhân, tổ chức người có thẩm quyền đang thi nhà công vụ có quyềnbuộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hànhchính được thực hiện bằng lời nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình thức khác theoquy định của pháp luật
Trang 13Có hai loại thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đó là: Xử phạt vi phạm hànhchính theo thủ tục đơn giản và thủ tục xử phạt theo thủ tục lập biên bản.
1.6.1.Thủ tục không lập biên bản
- Thủ tục xử phạt không lập biên bản được áp dụng trong xử phạt cảnh cáo hoặc phạttiền đến 250.000đ đối với cá nhân, 500.000đ đối với tổ chức Trường hợp này người
có thẩm quyền ra quyết định xử phạt tại chỗ
- Cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt.Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm không có khả năng nộp tiền phạt tại chỗ thì nộptại kho bạc nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của kho bạc nhà nước ghi trong quyếtđịnh xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt Nếuquá thời hạn nêu trên, thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngàychậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiềnphạt chưa nộp
1.6.2 Thủ tục xử phạt lập biên bản
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với mứcphạt tiền cao hơn mức phạt tiền tối đa đối với những trường hợp xử phạt theo thủ tụcđơn giản Thủ tục này gồm các bước sau:
Một là, lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính
Hai là, xem xét ra quyết định xử phạt
Ba là, thi hành quyết định xử phạt
Bốn là, khiếu kiện và thủ tục giải quyết khiếu kiện (nếu có)
Việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong việc phát hiện viphạm hành chính phải tuân theo quy định tại Điều 64 Luật Xử lý vi phạm hành chínhnăm 2012 Kết quả thu thập được bằng phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghinhận bằng văn bản và chỉ được sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính
II SO SÁNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH 2.1 Giống nhau
- Tính chất: Đều là những hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu khi vi
phạm pháp luật
- Hình thức xử lý:
Trang 14Đều có hình thức xử lý, gồm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung cùng với các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm.
Hệ thống chế tài của pháp luật hành chính và pháp luật hình sự đều rất đa dạng và phong phú các mức xử phạt áp dụng cho các mức vi phạm khác nhau
- Chủ thể áp dụng (Thẩm quyền áp dụng): Thẩm quyền áp dụng đều chủ yếu thuộc
các cơ quan trong bộ máy nhà nước
- Đối tượng áp dụng: Đều có đối tượng chung là công dân.
- Đặc điểm: Đều là trách nhiệm của chủ thể trong quan hệ pháp luật đối với Nhà
nước
- Thủ tục áp dụng: Đều được tiến hành theo thủ tục nhất định do pháp luật quy định 2.2 Khác nhau
nghĩa vụ do pháp luật hành chính quy định và trách nhiệm phát sinh do vi phạmnghĩa vụ đó
Trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình
quyết định hành chính, hành
vi hành chính hay quyết định kỷ luật của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền
Được phản ánh qua bản ánhay quyết định có hiệu lựccủa Tòa án
Hình thức xử
phạt
Từ cảnh cáo đến phạt tiền,mang tính chất nhẹ hơn với
xử lý trách nhiệm hình sự
Đối với hình phạt chính trong pháp luật hành chính gồm cảnh cáo và phạt tiền:
Từ 1.000.000 – 500.000.000 đồng
Hình phạt cao nhất là tửhình
Trang 15Chủ thể áp
dụng
Thủ trưởng hoặc cá nhân có
thẩm quyền; cơ quan đơn
vị, xí nghiệp, cơ quan công
an hoặc cơ quan có thẩm
do pháp luật hành chính quy định và trách nhiệm phát sinh
Đối tượng áp
dụng
- Công dân Việt Nam
- Công dân nước ngoài,
- Cá nhân
- Pháp nhân thương mại