Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, được thể hiện bằng việc người ph
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Hồng Phước
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 12
1.1 Khái niệm, đặc điểm miễn trách nhiệm hình sự 12
1.2.Nguyên tắc, ý nghĩa, tác dụng của phân loại miễn trách nhiệm hình sự 20
1.3 Phân biệt miễn TNHS và miễn hình phạt 21
1.4 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy phạm về miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam 24
1.5 Quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về miễn trách nhiệm hình sự 33
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 38
2.1 Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về miễn trách nhiệm hình sự 38
2.2 Thực tiễn áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 49
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 64
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về chế định miễn trách nhiệm hình sự 64
3.2 Một số kiến nghị đối với quy định về miễn trách nhiệm hình sự cần được hướng dẫn để tạo điều kiện thuận lợi trong thực tiễn áp dụng 66
3.3 Những giải pháp khác nhằm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 68
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật Hình sự BTP : Bộ Tư pháp TNHS : Trách nhiệm hình sự
TA : Tòa án TAND : Tòa án nhân dân TTHS : Tố tụng hình sự XHCN : Xã hội chủ nghĩa VKS : Viện kiểm sát CQĐT : Cơ quan điều tra
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Miễn trách nhiệm hình sự giai đoạn xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
từ 2015-2020 51 Bảng 2: Bảng so sánh tỷ lệ miễn tnhs/ hình phạt 52 của TAND Đồng Nai và TAND cả nước 52 Bảng 3: Miễn trách nhiệm hình sự giai đoạn điều tra, truy tố trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ 2015-2020……….52luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mahatma Gandhi – vĩ nhân lớn của đất nước Ấn Độ đã từng nói “Công
lý mà tình yêu mang lại là sự đầu hàng, công lý mà luật pháp mang lại là sự trừng phạt Justice that love gives is a surrender, justice that law gives is a punishment”
Đúng vậy, khi pháp luật ẩn chứa đằng sau sự trừng trị là tính nhân đạo nhân văn, việc áp dụng pháp luật nhằm giúp cho người phạm tội sửa chữa những lỗi lầm, phát huy phần NGƯỜI trong bản chất con người của mình Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW về
Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020; trong đó, xác định nhiệm vụ “coi
trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội”[16, Tr4]
Miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) là một trong những chế định quan trọng của Luật Hình sự Việt Nam thể hiện rõ nét nhiệm vụ nêu trên Đây là biện pháp mang tính chất khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước ta, thông qua việc các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định xoá bỏ hậu quả pháp lý cho người thực hiện hành vi phạm tội mà hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm Quy định này tạo điều kiện cho người phạm tội có môi trường để tự cải tạo, giáo dục, nhanh chóng trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội mà không phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi của TNHS
Chế định miễn TNHS trong BLHS năm 2015 được xây dựng dựa trên tinh thần kế thừa những quy định của BLHS 1985 và BLHS năm 1999 với nhiều nội dung mới quán triệt tinh thần của Hiến pháp 2013, đề cao tính tích cực, hướng thiện của con người Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật,
do một số nội dung miễn TNHS vẫn còn bất cập nên dẫn đến việc các cơ quan luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7tiến hành tố tụng nhận thức không đúng, áp dụng pháp luật không thống nhất, chẳng hạn: tình tiết do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa không rõ ràng, tiêu chí xác định bệnh hiểm nghèo chưa cụ thể, cho phép miễn TNHS mang tính tùy nghi dẫn đến việc áp dụng tùy tiện Vì vậy, cần có sự quan tâm nghiên cứu quy định về miễn TNHS tại Điều 29 BLHS năm 2015 một cách thấu đáo trên cơ sở phát hiện các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn áp dụng pháp luật để đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chế định này
Đồng Nai là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía đông Thành phố Hồ Chí Minh và là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Với nền kinh tế phát triển năng động, Đồng Nai cũng đang đứng trước những thách thức về tình hình phát triển tội phạm gia tăng, việc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm đang đè nặng lên vai trò của các cơ quan tư pháp trong việc áp dụng pháp luật hình sự
Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Miễn trách nhiệm hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Miễn TNHS là chế định thể hiện rõ nét nhất chính sách phân hoá TNHS
và chính sách nhân đạo của luật hình sự Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu luật học trong và ngoài nước rất quan tâm đến đề tài này
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, có các công trình nghiên cứu ở nước ngoài gồm một số công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh và tiếng Nga, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh:
- Michael Bogdan (chủ biên), Mục 4 - Miễn trách nhiệm hình sự, trong sách: Luật hình sự Thụy Điển trong kỷ nguyên mới, Nxb Elanders Gotab, Stockholm, 2000;
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8- TS AgnêBaransKaitê và TS Jonas Prapistis, Miễn trách nhiệm hình
sự và mối quan hệ với Hiến pháp và tư pháp, Tạp chí Tư pháp, Cộng hòa Látvia, số 7 (85)/2006;
- GabrielHallevy, The Matrix of Derivative Criminal Liability, Nxb Spinger, London, 2012;
- Iveta VitkutėZvezdinienė, Exemption from Criminal Liability: the Problems of the Implementation of the Presumption of Innocence Principle, Social Studies Journal, Lithuania,số 04/2009;
Thứ hai, về công trình nghiên cứu bằng tiếng Nga:
- Iakovlev A M, “Cuộc đấu tranh chống tình trạng tái phạm”, Maxcova, 1964;
- Bagri-Sakhamatov L.V, “Trách nhiệm hình sự và hình phạt”, NXb Đại học, Minsk, 1976;
- TkatrevxkiIu M, “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự” Chương 2 – Trong sách: Luật hình sự Xô Viết (Phần chung), Nxb ĐHTH Maxcova, 1981;
- Naumov A V “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự” Chương 10 – Trong sách: Giáo trình Luật hình sự (Phần chung), Nxb XPARK, Maxcova, 1996,…
Những công trình nghiên cứu này đã tổng hợp những vấn đề lý luận về TNHS nói chung, đây là những vấn đề được các nhà luật học trên thế giới thừa nhận về khái niệm, bản chất của TNHS nói chung Những vấn đề lý luận của TNHS được đề cập đến trong các công trình trên là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp cận dưới góc độ miễn TNHS của pháp luật Việt Nam
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Với tư cách là một chế định cơ bản của Luật Hình sự, miễn TNHS thu hút sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo các học giả trong nước, được thể hiện qua các công trình nghiên cứu như sau:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 92.2.1 Nhóm các luận án, luận văn, Khóa luận
- Trịnh Tiến Việt, “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm
hình sự theo luật hình sự Việt Nam”, luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2008 Trong công trình nghiên cứu tầm tiến sĩ này tác giả đã phân tích những vấn đề cơ bản miễn TNHS và thực tiễn áp dụng chế định này theo quy định của BLHS năm 1999
- Mai Khắc Phúc, Biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong Bộ
luật Hình sự 1999, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật TPHCM,
năm 2006; trong luận văn tác giả đề cập vấn đề lý luận, thực tiễn của các biện pháp miễn TNHS theo quy định của BLHS năm 1999
- Mai Thị Thuỷ, Miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội trong Luật Hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường
ĐH Luật TPHCM, năm 2013
- Đặng Ngọc Huy, Miễn trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2015;
- Võ Chí Vương, Miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong chấp hành án
theo pháp luật Hình sự Việt Nam Lý luận và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp,
Trường đại học Luật TPHCM, năm 2002,
- Đỗ Thị Thư Nhàn, Biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật
Hình sự Việt Nam năm 1999 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoá luận
tốt nghiệp, Trường đại học Luật TPHCM, năm 2012;
- Trần Thị Thơ, Biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình
sự 1999 Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại
học Luật TPHCM, năm 2015
- Nguyễn Ngọc Thương, Miễn trách nhiệm hình sự trong Luật Hình sự
Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TPHCM, 1999
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10Qua tiếp cận các công trình trong nước cho thấy rằng đề tài miễn TNHS được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Đây cũng là nguồn tư liệu phong phú làm nền tảng cho tác giả nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên, một mặt chỉ nghiên cứu những vấn đề chung của miễn TNHS hoặc là đi vào các biện pháp miễn TNHS cụ thể
Về thực tiễn, do hầu hết các công trình trên nghiên cứu trước năm 2015 nên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu áp dụng các quy định của BLHS năm
1999 Điều đó cho thấy việc miễn TNHS theo Điều 29 BLHS 2015 vẫn đang còn bỏ ngỏ, đặc biệt là một số trường hợp miễn TNHS mới mà BLHS 2015 mới bổ sung Đây là nhiệm vụ mà trong đề tài nghiên cứu này tác giả sẽ làm sáng tỏ
2.2.2 Nhóm các sách chuyên khảo, giáo trình
Chế định miễn TNHS được đề cập đến trong các sách chuyên khảo như:
- Chương XVIII Miễn trách nhiệm hình sự, trong sách: Giáo trình luật
hình sự Việt Nam (Phần chung) Tập thể tác giả do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001;
- TSKH Lê Cảm, “Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự
Việt Nam” (Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI, Nhà
xuất bản Công an nhân dân, năm 2002) ;
- TS Trịnh Tiến Việt, “Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình
sự“(Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2010), Chương 3, Trong sách: Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013 và Pháp luật hình
sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự và thực tiên áp dụng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013;
- TS.Uông Chu Lưu, “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam
1999” – Tập 1 Phần chung (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2001) đã
đề cập đến vấn đề miễn TNHS và phân tích các trường hợp miễn TNHS luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11Vấn đề miễn TNHS là một nội dung lớn trong Luật Hình sự Vì vậy, từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, các công trình nghiên cứu lý luận về vấn đề này rất phong phú- đây là nguồn tư liệu quý giá làm cơ sở nền tảng vững chắc cho tác giả tiếp cận đề tài của mình Tuy nhiên, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích về lý luận và quy định của pháp luật
về miễn TNHS trên cơ sở BLHS 1999 và BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) Ngoài ra, một số công trình đưa ra những đánh giá chi tiết thực trạng dựa trên số liệu của tình hình áp dụng các biện pháp miễn TNHS trên thực tế
Từ đó, nêu lên những bất cập, hạn chế của quy định pháp luật còn tồn tại và đưa ra phương hướng giải quyết phù hợp
2.2.3 Nhóm các bài viết, bài báo
Nghiên cứu về đề tài này, hiện nay có nhiều bài viết, bài báo có nội dung liên quan Tuy nhiên, tác giả chỉ chọn lọc một số bài viết, bài báo viết về chế định này theo quy định của BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau:
- Tác giả Trịnh Việt Tiến trong bài viết “Miễn trách nhiệm hình sự theo
Bộ luật Hình sự năm 2015 và những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng”
trên tạp chí Luật học, số 07 năm 2016 Trên cơ sở phân tích các quy định của
Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn TNHS, bài viết nêu lên những vấn đề đặt
ra trong quá trình áp dụng và đề xuất hướng sửa đổi phù hợp
- Tác giả Phạm Mạnh Hùng trong bài viết “Một số ý kiến về các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt” trên tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 02 năm 2016 Nội dung chủ yếu của bài viết là phân tích quy định mới về miễn TNHS và miễn hình phạt của BLHS 2015 so với BLHS 1999 Từ đó, nêu lên những bất cập cần được hoàn thiện của hai chế định này trên thực tế
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12- Tác giả Đinh Văn Quế trong bài viết Chế định miễn trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật Hình sự 2015 trên tạp chí Luật sư Việt Nam, số 10 năm
2017 Bài viết phân tích từng trường hợp cụ thể của việc áp dụng biện pháp miễn TNHS tại Điều 29 BLHS 2015 trên cơ sở quy định pháp luật và thực tế
áp dụng Từ đó tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật này
- Tác giả Lê Nam trong bài viết Bàn về trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
09 năm 2016 Nội dung bài viết xoay quanh giải quyết các vấn đề về lý luận chung về miễn trách nhiệm hình sự, giới thiệu về các trường hợp miễn TNHS trong BLHS 2015 Bên cạnh đó, bài viết đặt ra vấn đề khi áp dụng và đề xuất hướng giải quyết cụ thể cho trường hợp miễn TNHS tại khoản 3 Điều 29 BLHS 2015
Mặt khác, một số tác giả cũng có công trình nghiên cứu về chế định miễn trách nhiệm hình sự theo các mức độ khác như: 1) Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Khoa học (KHXH), số 4/1997) của TS Nguyễn Ngọc Chí; 2) Về chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/1988) và về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 12/2001) của PGS.TS Phạm Hồng Hải; 3) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học, số 5/1997) của
TS Lê Thị Sơn; 4) Một số ý kiến về miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 2/1993) và Hoàn thiện các quy định của luật tố tụng hình sự
về đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án (Tạp chí Kiểm sát, số 5/2002) của tác giả Phạm Mạnh Hùng; 5) Những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 48 Bộ luật hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số chuyên đề về Bộ luật hình
sự, số 4/1999) của tác giả Thái Quế Dung; 6) Miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp "Do sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13nguy hiểm cho xã hội nữa" theo quy định của Điều 25 Bộ luật hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số 1/2002) của tác giả Nguyễn Hiển Khanh; 7) Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2004) của TSKH Lê Cảm và Trịnh Tiến Việt; 8) Hoàn thiện các quy định về miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số 5/2004); Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Tạp chí Khoa học, chuyên san Kinh tế
Nghiên cứu các bài viết trên các tạp chí khoa học cho thấy do chỉ dừng lại ở góc độ là bài viết học thuật được giới thiệu trên tạp chí nên phạm vi nghiên cứu chưa bao quát hết các vấn đề về biện pháp miễn TNHS theo quy định của BLHS 2015
Việc tìm hiểu các bài viết giúp tác giả hiểu sâu về vấn đề cần nghiên cứu, để từ đó định hướng nghiên cứu cho công trình của mình một cách phù hợp Vấn đề về miễn TNHS là một vấn đề không mới nhưng trong những nội dung về miễn TNHS tại Điều 29 BLHS 2015 đã có sự thay đổi đáng kể Mặt khác vấn đề áp dụng miễn TNHS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được áp dụng phù hợp với thực tiễn của địa phương là một vấn đề cần nghiên cứu
Dựa trên những tài liệu đã nghiên cứu, với khoá luận này, tác giả không chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về miễn TNHS mà còn đi sâu vào phân tích từng trường hợp cụ thể của nội dung miễn TNHS tại Điều 29 BLHS
2015 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Tác giả tập trung phân tích và làm rõ những điểm mới, khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan nhằm đề xuất những kiến nghị phù hợp trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật Vì vậy, nghiên cứu về miễn TNHS từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai đạt được mục tiêu tính mới của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luật, pháp luật và nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về các trường hợp miễn TNHS tại Điều 29 BLHS 2015 từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai, tác giả đánh giá thực trạng cũng như những vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành và đề xuất, kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chế định miễn TNHS theo quy định của BLHS 2015 nhằm mục đích xây dựng được khung pháp lý an toàn cho việc áp dụng, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ việc xác định mục đích từ cơ sở nêu trên, luận văn được tiến hành nghiên cứu như sau:
- Thứ nhất, về mặt lý luận cần phân tích và làm sáng tỏ khái niệm, nội dung, đặc điểm phân loại của miễn trách nhiệm hình sự
- Thứ hai, khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy phạm về miễn TNHS để có cái nhìn xuyên suốt về tư duy pháp lý của một quá trình lịch sử đối với vấn đề miễn TNHS từ sau năm 1945 đến nay
- Thứ ba, nghiên cứu vấn đề miễn TNHS của một số nước trên thế giới; đặc biệt, là các nước có tầm ảnh hưởng đến pháp luật Việt Nam như: pháp luật của Cộng Hoà Liên bang Nga; của Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào…trên cơ sở có cái nhìn so sánh một cách toàn diện
- Thứ tư, nghiên cứu thực tiễn áp dụng vấn đề miễn TNHS từ địa bàn tỉnh Đồng Nai, tìm ra những hạn chế, vướng mắc để đưa ra các giải pháp hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về chế định miễn TNHS
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Miễn trách nhiệm hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật liên quan đến các trường hợp miễn TNHS từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
5 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Việc nghiên cứu luận văn được vận dụng từ cơ sở hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; những thành tựu của các ngành khoa học: Triết học, tội phạm học, luật hình sự, tâm lý học, xã hội học Các công trình nghiên cứu, sách nghiên cứu, sách chuyên khảo của các nhà khoa học trong nước
5.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng liên quan đến áp dụng các tình tiết miễn TNHS theo quy định của BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 165.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: Lịch sử, lôgíc, hệ thống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả áp dụng chế định miễn TNHS theo quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015 trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
Những giải pháp đề cập trong đề tài luận văn giúp các cơ quan có thẩm quyền xem xét, nghiên cứu áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng chế định miễn TNHS theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
Luận văn nêu trên có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự cũng như việc áp dụng chế định miễn TNHS của các cơ quan tiến hành tố tụng
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn được chia thành ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về miễn trách nhiệm hình
sự theo luật hình sự Việt Nam
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm miễn trách nhiệm hình sự
1.1.1 Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, được thể hiện bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau của Nhà nước do Luật Hình sự quy định
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song tựu trung lại các nhà khoa học luật hình sự nước ta về cơ bản đều thống nhất về nội hàm của khái niệm TNHS- là hậu quả pháp lý bất lợi được
áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội và được thể hiện bằng việc
áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [7, tr 122], [13, tr 14], [27, tr 281-282], [32, tr 14], [50, tr 65]
Trong Luận án tiến sỹ luật học của Trịnh Tiến Việt cho rằng “trách
nhiệm hình sự được hiểu là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội.” [ 50.tr 26]
Trên thực tế, các tội phạm và trường hợp phạm tội đều không giống nhau Do đó, để công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cũng như phân hóa các trường hợp phạm tội để có đường lối xử lý phù hợp, công bằng, chính xác và đúng pháp luật Đặc biệt sự phân hóa các trường hợp tội phạm và người phạm tội còn thể hiện ở chỗ không phải tất cả trường hợp đều luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18bị truy cứu TNHS khi có đầy đủ những điều kiện nhất định thì một người đã phạm tội họ có thể được miễn TNHS
Về mặt lý luận pháp luật hình sự cho thấy khi việc truy cứu TNHS đối với một người là không cần thiết do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi thì sẽ có trường hợp trên thực tế Nhà nước không buộc người đó phải chịu TNHS mà cho họ được miễn TNHS Vì vậy, việc đặt ra chế định miễn TNHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội ở chừng mực nhất định thể hiện chính sách phân hoá tội phạm; đồng thời, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội Qua đó, nhằm động viên, khuyến khích
họ lập công chuộc tội, nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và xã hội
Trên cơ sở khái niệm TNHS được đề cập như trên, khái niệm miễn TNHS được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào từng giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể hủy bỏ việc áp dụng các hậu quả pháp lý được
áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi có các căn cứ do pháp luật hình sự quy định
Miễn TNHS là một chế định quan trọng thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Tuy nhiên, về mặt khoa học pháp lý thì mãi đến BLHS năm 1985, chế định miễn TNHS mới được nhà làm luật nước ta ghi nhận chính thức Xét về phương diện pháp lý thì bản chất pháp lý của chế định miễn TNHS là tư tưởng nhân đạo được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng mà căn cứ vào các điều kiện cụ thể theo chế định miễn TNHS đối với người mà hành vi của người đó đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong BLHS để xem xét miễn TNHS cho
họ Các điều kiện được miễn TNHS được quy định cụ thể trong Phần Chung
và Phần Các Tội phạm của BLHS năm 2015 Mặc dù người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội nhưng
có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự được quy luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19định trong các ngành luật khác như: Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Công chức, Luật Viên chức; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Cùng với khái niệm TNHS, miễn TNHS cũng được các nhà lý luận định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:
Theo quan điểm của tác giả người Nga B.X Xavelôva: “Miễn trách
nhiệm hình sự được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp - không kèm theo việc quyết định hình phạt, tức là miễn trách nhiệm hình sự do Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thực hiện, cũng như do Tòa án thực hiện (khi không đưa
ra bản án kết tội đối với người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự) và theo nghĩa rộng - suy cho cùng đó cũng đồng thời chính là miễn hình phạt [55, tr 428] Hay tác giả Kêlina X.G (Liên bang Nga) cho rằng: "Miễn trách nhiệm hình sự là việc hủy bỏ sự đánh giá tiêu cực đối với người đó dưới hình thức bản án" [56, tr 31]
Quan điểm này cũng có những hạt nhân hợp lý của nó như việc thừa nhận một người phải có TNHS thì mới có thể được miễn TNHS mà việc xác định một người có hay không là thuộc thẩm quyền của Tòa án Điều này cũng được Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1 Điều 31) [19/tr5] Cụ thể hóa trong
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam 2015 được xây dựng và thực
hiện theo 27 nguyên tắc cơ bản (từ Điều 7 đến Điều 33)
Các nhà lý luận hình sự Việt Nam đề cập đến khái niệm miễn TNHS ở những khía cạnh sau:
- Quan điểm thừa nhận nội dung và chỉ rõ bản chất pháp lý của Miễn
TNHS “là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện
bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [8, tr 7];
- Quan điểm ghi nhận nội dung và hậu quả pháp lý của miễn TNHS
nhưng không đề cập thẩm quyền áp dụng và giai đoạn áp dụng: Miễn trách
nhiệm hình sự là "miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định" [45, tr 269] hay là "không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện" [43, tr 321];
- Nhóm quan điểm ghi nhận tương đối đầy đủ về nội dung, phân định các giai đoạn áp dụng, thẩm quyền áp dụng và hậu quả pháp lý: Miễn trách nhiệm hình sự là "miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo phải miễn chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích Trên thực tiễn ở giai đoạn xét xử có thể có trường hợp người phạm tội được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự Và theo đó, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và mang án tích" [41, tr 19];
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các nhà lý luận hình sự đều thống nhất một số nội dung quan trọng của chế định miễn TNHS: Nội dung, điều kiện, thủ tục các hình thức miễn TNHS
Trên cơ sở tổng kết các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự có liên quan, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm miễn TNHS có thể được định nghĩa như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, là sự hủy bỏ việc áp dụng các hậu quả pháp lý đối với người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự khi họ thực hiện những hành vi phạm tội được quy định trong BLHS nếu đáp ứng các điều kiện được miễn TNHS mà pháp luật quy định
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 211.1.2 Đặc điểm miễn trách nhiệm hình sự
Căn cứ các khái niệm đã đề cập như trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về chế định miễn TNHS, có thể chỉ
ra một số đặc điểm cơ bản của chế định này như sau:
Thứ nhất, miễn TNHS là người thực hiện tội phạm được miễn những hậu
quả pháp lý về các tội phạm khi họ đáp ứng những điều kiện theo quy định pháp luật Theo đó, người được miễn TNHS, họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm Tuy nhiên, tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử xem xét, xác định tính cần thiết của việc truy cứu TNHS đối với người đó hay không mà vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm cũng như đảm bảo tính giáo dục, cải tạo cao
Thứ hai, miễn TNHS thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và người
phạm tội, cũng như thể hiện nguyên tắc "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng",
"trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo" trong pháp luật hình sự Việt Nam
Thứ ba, miễn TNHS do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định phải được
thể hiện dưới hình thức văn bản Cụ thể: “theo quy định của BLTTHS Việt
Nam năm 2003, cơ quan Điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi có căn
cứ miễn TNHS quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS (Điều 164); VKS ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ miễn TNHS quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS (Điều 169) hoặc rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án (Điều 181), Tòa
án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm trong trường hợp miễn TNHS hoặc miễn hình phạt cho bị cáo (điểm a khoản 1 Điều 249)”
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22Thứ tư, miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi của họ đã
thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự nhưng họ lại có những điều kiện nhất định để được miễn TNHS Cụ thể khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét thấy hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 29) hay khi có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25 Bộ luật hình sự) Điều này có nghĩa, nếu TNHS chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự, thì miễn TNHS cũng áp dụng với đối tượng như vậy, nhưng trường hợp của họ lại có những điều kiện nhất định để được miễn TNHS
Thứ năm, chế định miễn TNHS còn áp dụng có lợi cho người phạm tội là
họ không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện một cách hiển nhiên (như: không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, không bị kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội)
1.2 Nguyên tắc, ý nghĩa, tác dụng phân loại miễn TNHS
1.2.1 Nguyên tắc của chế định miễn TNHS trong Luật Hình sự Việt Nam
Thứ nhất, nguyên tắc nhân đạo trong miễn TNHS
Nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc chung và là nguyên tắc quan trọng trong pháp luật hình sự Nhân đạo nói chung và trong pháp luật nói riêng được
cụ thể hóa thông qua các quy định của pháp luật với ý nghĩa bảo vệ lợi ích của công dân khi bị tội phạm xâm phạm, có thể là lợi ích hợp pháp của cá nhân người phạm tội nếu xứng đáng được hưởng khoan hồng của Nhà nước và đáp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23ứng các điều kiện nhất định Vì vậy, nghiên cứu miễn TNHS vừa thể hiện nguyên tắc nhân đạo vừa tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, lấy gia đình, nhà trường, xã hội làm nơi giúp họ tự cải tạo, giáo dục để khuyến khích họ lập công chuộc tội mà không buộc họ cách ly ra khỏi cộng đồng
Về nguyên tắc nhân đạo, PGS.TS Hồ Sĩ Sơn viết: “Nguyên tắc nhân đạo
trong Luật Hình sự là tư tưởng chủ đạo được ghi nhận trong Luật Hình sự chỉ đạo hoạt động xây dựng và áp dụng Luật Hình sự mà nội dung cơ bản của nó
là sự khoan hồng của Luật Hình sự đối với người phạm tội Mức độ phạm vi của sự khoan hồng của Luật Hình sự đối với người phạm tội được quyết định bởi điều kiện xã hội và bị ràng buộc bởi các yêu cầu khác của Luật Hình sự
mà trước hết là công bằng, công lý xã hội”[18, tr 9]
Thứ hai, nguyên tắc "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo"
Là nguyên tắc được xem là xuyên suốt của BLHS đối với chế định miễn TNHS, là chính sách hình sự của pháp luật hình sự áp dụng với người phạm tội Đây là nguyên tắc nhân đạo đối với người phạm tội; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, cũng là một trong những hình thức đảm bảo không để lọt tội phạm và người phạm tội
Thứ ba, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự
Miễn trách nhiệm hình sự thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội trong pháp luật hình sự Phân hóa trong luật hình sự nước ta được thể hiện trên nhiều phương diện như: phân loại tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp, phân hóa trách luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24nhiệm hình sự, đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự hay có thể được miễn trách nhiệm hình sự
Thứ tư, nguyên tắc công bằng, công minh trong miễn TNHS
Nguyên tắc này được xem là nguyên tắc cơ bản, là tư tưởng chủ đạo, định hướng xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng Bộ luật hình sự Nguyên tắc này đặt trong mối tương quan giữa Nhà nước với người phạm tội, thể hiện thông qua “đối xử” của Nhà nước đối với người phạm tội như thế nào: đối xử công bằng giữa những người phạm tội; đối xử với người phạm tội tương xứng với hành vi phạm tội của họ
Người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội nhưng có thể chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế không phải hình sự được quy định trong các ngành luật trong hệ thống pháp luật Như vậy, việc công bằng trong đánh giá hành vi phạm tội có ý nghĩa trong việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự
Nhìn chung, chế định miễn TNHS trong luật hình sự Việt Nam không chỉ phản ánh nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự mà còn thể hiện nguyên tắc xử lý kết hợp hài hòa giữa trừng trị với giáo dục, thuyết phục; đồng thời, phản ánh sự cần thiết, việc xem xét của cơ quan tiến hành tố tụng có truy cứu trách nhiệm hình sự một người hay không nhưng cốt lõi vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm và giáo dục cải tạo người phạm tội đó và răn đe người khác trong xã hội
1.2.2 Ý nghĩa và tác dụng của miễn TNHS và phân loại TNHS
Việc nghiên cứu chế định miễn TNHS là một vấn đề quan trọng và cấp thiết, một mặt góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, một mặt thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành
vi do họ thực hiện Qua đó, nhằm động viên khuyến khích người phạm tội lập luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25công chuộc tội, được sự giám sát, giáo dục, cải tạo từ phía nhà trường, gia đình, xã hội giúp họ hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội Do đó, nó có ý nghĩa quan trọng, được thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, về phương diện chính trị-xã hội, việc quy định những trường
hợp miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức đúng đắn và áp dụng trường hợp nào người phạm tội
và hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc không cần thiết phải áp dụng TNHS mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh và phòng, chống tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất sự lạm dụng và tùy tiện áp dụng hoặc e ngại khi áp dụng chế định này Mặt khác, việc áp dụng chế định miễn TNHS trong thực tiễn cũng là một trong những hình thức xã hội hóa giáo dục để Nhân dân, cơ quan, đoàn thể, nhà trường và gia đình tham gia vào việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, giúp họ hoàn lương, hướng thiện, lao động chân chính và có ích cho xã hội
Thứ hai, về phương diện pháp lý, biện pháp miễn TNHS chỉ có thể đặt ra
đối với một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà LHS quy định hành vi đó là tội phạm nhưng đối với người đó lại có căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định để được miễn TNHS trong từng trường hợp tương ứng mà pháp luật hình sự hiện hành quy định cũng như tùy thuộc vào từng trường hợp miễn TNHS đó có tính chất tùy nghi hay tính chất bắt buộc
Ngoài ra, cũng với phương diện này, người được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội
do mình thực hiện như: không bị truy cứu TNHS, không bị kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có
án tích và không bị coi là có tội Tuy nhiên, họ vẫn có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý như: dân sự, hành chính, trách nhiệm pháp lý kỷ luật nếu thuộc trường hợp là cán bộ, công chức tùy theo từng trường hợp tương ứng cụ thể luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26Thứ ba, về phương diện nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong pháp
luật hình sự, miễn TNHS là một trong những chế định mang tính nhân đạo
sâu sắc với nội dung thực hiện chính sách “nghiêm trị kết hợp với khoan
hồng”, “trừng trị kết hợp với thuyết phục, giáo dục, cải tạo” trong đường lối
xử lý của Nhà nước ta Miễn trách nhiệm hình sự là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước thể hiện chính sách phân hóa tội phạm cũng như yêu cầu không cần thiết phải truy cứu TNHS người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Luật Hình sự quy định là tội phạm mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh
và phòng, chống tội phạm
Thứ tư, về phương diện kỹ thuật lập pháp, nếu những trường hợp miễn
TNHS được nhà làm luật nước ta quy định trong Bộ luật Hình sự một cách chặt chẽ, đầy đủ, có hệ thống và phù hợp với thực tiễn thì đó cũng là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng và hoàn thiện một số chế định khác có liên quan đến nó như: tội phạm, trách nhiệm hình sự, hình phạt, miễn hình phạt…Hơn nữa, nó còn thể hiện sự tiến bộ về mặt lập pháp hình sự trong việc xây dựng từng chế định của luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân; góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
1.3 Phân biệt miễn TNHS với miễn hình phạt
Miễn TNHS và miễn hình phạt là hai chế định quan trọng, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Luật Hình sự Việt Nam, mang giá trị nhân văn sâu sắc mà ở đó nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt trong chính sách hình sự của Nhà nước luôn là sự kết hợp giữa việc trừng trị với khoan hồng, khuyến khích người phạm tội tự giáo dục mình để nhận lấy sự tha miễn đó Theo đó, việc nghiên cứu hai chế định này trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện tư tưởng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng thời kỳ nhất luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27định Chính sách hình sự về tư tưởng nhân đạo được Đảng và Nhà nước ta thể hiện ở đường lối, hình thức xử lý đối với người phạm tội trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa mục đích trừng trị và mục đích giáo dục, phòng ngừa tội phạm; trong đó, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng mục đích giáo dục người phạm tội, đề cao tính “hướng thiện”
Về cơ bản, hai chế định này có điểm giống nhau ở một số điểm sau: cả hai chế định đều xuất phát từ cơ sở của TNHS và phản ánh rõ nét nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta; không cách ly người phạm tội và người bị kết án
ra khỏi cuộc sống xã hội mà tạo điều kiện cho họ nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội; chỉ áp dụng khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định, không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội, của quyết định hình phạt và án tích
Tuy nhiên giữa miễn TNHS và miễn hình phạt có nhiều điểm khác nhau, thể hiện rõ nét ở các điểm sau:
Một là, miễn TNHS là việc không bắt buộc người phạm tội phải chịu
TNHS về tội mà họ đã thực hiện, còn miễn hình phạt thì không buộc người bị kết án phải chịu hình phạt về tội họ đã thực hiện Riêng về đối tượng của miễn TNHS có thể là người đã bị kết án hoặc chưa kết án; đối tượng của miễn hình phạt là người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật
Hai là, người phạm tội được miễn TNHS khi có một trong những căn cứ,
điều kiện như: “khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do có sự thay đổi của chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; khi có quyết định đại xá” theo Điều 29 BLHS Ngoài ra, người phạm tội có thể được miễn TNHS khi có một trong những căn cứ được quy định tại BLHS: “khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình
mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công chuộc tội và có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và
đề nghị miễn TNHS thì có thể được miễn TNHS”
Đối với người phạm tội được miễn hình phạt khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 54 BLHS đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS Cụ thể: Khi quyết định mức hình phạt trong khung hình phạt, Tòa án có thể căn cứ và quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể
Ba là, chủ thể có thẩm quyền áp dụng của chế định miễn TNHS rộng hơn
so với chế định miễn hình phạt Miễn TNHS được thực hiện bởi cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án tương ứng với từng giai đoạn tiến hành tố tụng; còn miễn hình phạt chỉ do tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng
Bốn là, về hậu quả pháp lý: sau khi được miễn TNHS, người phạm tội
được xem là không có án tích Đối với miễn hình phạt, người bị kết án vẫn được xem là có án tích nhưng thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29Tóm lại, với các quy phạm của chế định miễn TNHS và miễn hình phạt có tính chất nhân đạo nêu trên, nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của pháp luật để trở lại cuộc sống bình thường, phấn đấu thành người lương thiện để có ích cho xã hội Tuy nhiên, xét về góc
độ chính trị-xã hội, chế định miễn TNHS giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng xác định chính xác và đúng đắn trường hợp nào người phạm tội và hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc không cần thiết phải áp dụng TNHS mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh và phòng, chống tội phạm, góp phần giảm bớt các chi phí của Nhà nước trong từng giai đoạn tương ứng với quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nhất là chi phí, nguồn lực sẽ được cắt giảm nhiều nếu việc miễn TNHS được áp dụng ở giai đoạn đầu Mặt khác, việc áp dụng chế định miễn THNS sẽ không gây mặc cảm, tự ti đối với người phạm tội vì họ được “tha miễn”, không được xem là có án tích như chế định hình phạt Vì vậy, sẽ giúp họ mau chóng hòa nhập với cộng đồng và tích cực hướng thiện, làm những việc có ích cho xã hội
1.4 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy phạm về miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.4.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam bước vào thời
kỳ khôi phục lại nền kinh tế, thiết lập các quan hệ pháp luật của Nhà nước non trẻ trong điều kiện hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” Song song với nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc, Đảng và Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội, phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị Trong điều kiện hoàn cảnh khó khăn của đất nước, Pháp luật hình sự thời kỳ này chưa mang tính thống nhất, còn tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30Đối với khái niệm miễn TNHS vẫn còn là một vấn đề mới mẽ nên trong các văn bản pháp lý chính thống chưa đề cập đến khái niệm miễn TNHS Tuy nhiên, xuất phát từ ưu điểm của Nhà nước ta là nhà nước “của dân do dân vì dân” nên các giá trị nhân đạo luôn là những giá trị cốt lõi xuyên suốt trong hệ thống pháp luật Trong thực tiễn xét xử và một số văn bản pháp lý đã manh nha hình thành một số nội dung của miễn TNHS như các Sắc lệnh, Thông tư, Pháp lệnh từ năm 1945 đến năm 1982… đã thừa nhận và áp dụng với nhiều tên gọi khác nhau như: "xá miễn", "tha miễn trách nhiệm hình sự", "miễn tố",
"tha bổng bị cáo", "miễn nghị cho bị cáo", "miễn hết cả tội"
Như vậy, cho đến thời điểm trước khi ban hành BLHS năm 1985, mặc dù chưa có khái niệm chính thống về miễn TNHS là gì nhưng trong một số văn bản hiện hành của thời kỳ đó đã manh nha hình thành các nội dung của miễn TNHS
Bộ luật Hình sự năm 1985, với tư cách là văn bản lập pháp hình sự lớn và quan trọng đầu tiên mà trong đó chứa đựng hệ thống pháp luật hình sự thực định đã được pháp điển hóa của Nhà nước Việt Nam thống nhất sau 40 năm
kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) và sau 10 năm kể từ khi đất nước đã được thống nhất và thu về một mối (năm 1975) thì trong suốt 14 năm áp dụng Bộ luật Hình sự của năm 1985 (nếu tính đến năm
1999 khi có Bộ luật Hình sự thứ hai) như là nguồn trực tiếp duy nhất của pháp luật hình sự thực định nước nhà sau pháp điển hóa mà trong đó lần đầu tiên đã
có sự phân chia rõ ràng giữa các quy phạm của Phần chung và Phần riêng với
cơ cấu gồm 12 chương và được phân chia thành 280 điều để kịp thời điều chỉnh về mặt pháp lý hình sự các quan hệ xã hội đang tồn tại và đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta trong suốt 14 năm
từ giữa những năm 80 đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX (1985-1999) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31Bộ luật Hình sự nói riêng chính là đạo luật quan trọng nhất của nước ta quy định về tội phạm và hình phạt nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trên mọi mặt của xã hội, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, trật tự xã hội, bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm
Bên cạnh đó, đối với chế định miễn TNHS với các tên gọi khác nhau được
áp dụng trong thời kỳ này chủ yếu để thực hiện phương châm trong đường lối
xử lý, đó là "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo" Đối với trường hợp đại xá, cùng với truyền thống nhân đạo của
dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã thực thi chính sách nhân đạo về xử lý hình sự và thi hành án hình sự đối với người phạm tội, được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, thông qua đó tạo điều kiện cho người phạm tội hưởng nhiều chính sách khoan hồng, tự nguyện cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng Có thể nói, không có một biện pháp cưỡng chế, răn đe hay giáo dục, cải tạo nào có tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến tâm lý của người phạm tội như đại xá, bằng việc những phạm nhân được trực tiếp chứng kiến việc trả lại tự do cho những phạm nhân được hưởng đại xá Đại xá đã mang lại cho phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù khát vọng được trở về xã hội, tái hòa nhập cộng đồng và làm lại cuộc đời
Như vậy, miễn TNHS được áp dụng trong trường hợp xá miễn Và
cũng theo Điều 4 Sắc lệnh số 52/SL này thì "Những tội được xá miễn đều coi
như không phạm bao giờ; quyền công tố sẽ tiêu hủy, những chính hình và phụ hình mà Tòa án đã tuyên đều bỏ hết” Hay tại Điều 2 Sắc lệnh số 223/SL ngày
17/11/1946 quy định tội phạm về chức vụ ghi nhận "Trong trường hợp này,
tang vật hối lộ được hoàn trả" [38, tr 476] Như vậy, trong văn bản này, thuật
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32ngữ “miễn hết cả tội” được sử dụng như miễn TNHS như quy định pháp luật hiện hành
Điều 20 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 quy định về những trường hợp giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt như sau: "Kẻ nào phạm tội phản cách mạng nêu ở mục 2 mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt”
1 Có âm mưu phạm tội, nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm
2 Tội phạm chưa bị phát giác mà thành thật tự thú, khai rõ những âm mưu và hành động của mình và của đồng bọn…
Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất Pháp luật hình sự thời kỳ này bắt đầu đi vào củng cố và phát triển để điều chỉnh các quan hệ xã hội của thời
kỳ xã hội mới- xã hội chủ nghĩa Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, kiên quyết đấu tranh để phòng ngừa và chống các tội phạm, các việc làm vi phạm Hiến pháp và pháp luật theo tinh thần nghiêm khắc và kiên quyết, song khi xử lý từng vụ án cụ thể cần phải kết hợp "Nghiêm trị với khoan hồng, trừng trị với cải tạo, giáo dục" Do đó, tháng 04/1976, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03-BTP/TT hướng dẫn thi hành Sắc luật quy định về tội phạm và hình phạt vẫn nêu rõ nguyên tắc xét xử
bọn phản cách mạng là: "Nghiêm trị bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, bọn có nhiều
tội ác, bọn ngoan cố chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những kẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm đường và những kẻ thật thà hối cải; giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt cho những kẻ lập công chuộc tội".[33]
Đối với tội nhận hối lộ, vào ngày 20/05/1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ Khi Pháp lệnh này được ban hành, đánh dấu một bước ngoặt trong công tác lập pháp, nhằm góp phần củng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33cố, giữ vững và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, động viên và khuyến khích tất cả công dân tích cực tham gia đấu tranh chống tệ nạn hối lộ Trong Pháp lệnh đã ghi nhận chính thức vấn đề miễn TNHS và Điều 8 Pháp lệnh đã quy định cụ thể ba trường hợp miễn TNHS, giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt, đó là:
"1 Người phạm tội hối lộ, trước khi bị phát giác, chủ động khai rõ sự
việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được miễn TNHS; nếu là phạm tội nghiêm trọng thì có thể được giảm nhẹ hình phạt
2 Người phạm tội hối lộ, sau khi bị phát giác, tỏ ra thành thực hối cải,
khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ thì có thể được giảm nhẹ hình phạt
3 Người phạm tội lần đầu và không nghiêm trọng, sau khi bị phát giác tỏ
ra thành thực hối cải khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được miễn hình phạt".[55; tr15]
Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự đã ban hành trong thời kỳ này cho thấy, những trường hợp được xem xét để áp dụng miễn TNHS có thể bao gồm:
Trang 346- Phạm tội vì bị ép buộc, lừa phỉnh và việc làm chưa gây thiệt hại lớn hoặc phạm tội có tính chất cơ hội
1.4.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến Bộ luật hình sự năm 1999
1.4.2.1 Bộ luật hình sự năm 1985
Ngày 27 tháng 6 năm 1985, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLHS đầu tiên của nước CHXH Việt Nam Sự ra đời của BLHS năm 1985 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong công tác lập pháp, cụ thể là BLHS nói chung, các quy định về miễn TNHS nói riêng Theo đó, chế định miễn TNHS được chính thức quy định tại một số điều của Phần chung và Phần các tội phạm BLHS Trong BLHS năm 1985, tại Điều
48 Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
“1- Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến
hành điều tra hoặc xét xử do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
2- Nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Mặc dù BLHS năm 1985 không định nghĩa khái niệm miễn TNHS là gì nhưng tại Điều 48 đã ghi nhận những trường hợp người phạm tội được miễn TNHS nếu trong quá trình điều tra hoặc xét xử do chuyển biến của tình hình
mà người phạm tội hoặc hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người đó được miễn TNHS Trong Khoản 2 Điều 48 BLHS năm 1985 ghi nhận thêm trường hợp được miễn TNHS nếu trước khi hành vi phạm tội luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35bị phát giác người phạm tội tự thú mà họ đã có thành tích trong việc khai rõ tội phạm đã thực hiện, giúp cơ quan có thẩm quyền điều tra tội phạm
Ngoài ra BLHS năm 1985 còn quy định những trường hợp miễn TNHS bao gồm: Tại Điều 16 quy định “Miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội”; tại đoạn 1 khoản 1 Điều 48 “do sự chuyển biến của tình hình
mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”; tại đoạn 2 khoản 1 Điều 48 “do người phạm tội tự thú, thật thà khai báo,
ăn năn hối cải”; tại khoản 3 Điều 59 “người chưa thành niên phạm tội”; tại khoản 3 Điều 74 “cho người phạm tội gián điệp”; tại khoản 5 Điều 227 “cho người phạm tội đưa hối lộ”; tại khoản 2 Điều 247 “cho người phạm tội không
Ngày 05/01/1986, Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành Nghị quyết số 02/HĐTP; văn bản này chỉ mới hướng dẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm, chưa có hướng dẫn về việc “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong các trường hợp với ba loại người đồng phạm còn lại: người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức” Theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ngày 19/04/1989 về việc Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985, trong
đó có hướng dẫn cụ thể đối với ba loại người đồng phạm trên Cụ thể:
- “Đối với người xúi giục, người tổ chức phải thuyết phục, khuyên bảo, đe
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36Nhà nước có thẩm quyền, báo cho người sẽ là nạn nhân biết về tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện để cơ quan Nhà nước hoặc người sẽ là nạn nhân có biện pháp ngăn chặn tội phạm
- Đối với người giúp sức phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinh thần, vật chất cho việc thực hiện tội phạm (như: không cung cấp phương tiện, công cụ phạm tội; không chỉ điểm, dẫn đường cho kẻ thực hành ) Nếu sự giúp sức của người giúp sức đang được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì người giúp sức cũng phải có những hành động tích cực như đã nêu ở trên đối với người xúi giục, người tổ chức để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm”.[48, Tr 7]
Ngoài ra, để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật một cách linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo phải phù hợp với thực tiễn xét xử về chế định miễn TNHS cho một số đối tượng cụ thể và phạm một tội cụ thể, theo đó, ngày 02/06/1990, Bộ Nội vụ, Viện KSNDTC, TANDTC, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên ngành số 05/TTLN hướng dẫn thi hành chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội ra tự thú đã nêu rõ căn
cứ để miễn truy cứu TNHS đối với người phạm tội trốn khỏi nơi giam Theo
đó, miễn TNHS đối với tội trốn khỏi nơi giam được dùng với tên gọi miễn truy cứu TNHS đối với một tội phạm nhất định, cụ thể là:
- “Người phạm tội đang bị dẫn giải, tạm giữ, tạm giam để điều tra hoặc
chờ xét xử mà bỏ trốn, nhưng đã ra tự thú thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể áp dụng biện pháp cho cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú; nếu trong thời gian trốn tránh mà không phạm tội mới thì có thể được miễn truy cứu TNHS về tội trốn khỏi nơi giam quy định tại Điều 245
Bộ luật hình sự [57, Tr.8]
- Người đang chấp hành hình phạt tù đã trốn khỏi trại cải tạo mà ra tự thú
và trong thời gian trốn tránh không phạm tội mới, có thể được miễn truy cứu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37TNHS về tội trốn khỏi nơi giam được quy định tại Điều 245 Bộ luật hình sự…”[57, Tr 8]
Theo BLHS năm 1999, tại Điều 25 Miễn Trách nhiệm hình sự quy định:
1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
2 Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện
và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự
3 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá
Theo quy định này, điều luật đã tách vấn đề miễn TNHS và miễn hình phạt thành hai điều luật mà không gộp chung như BLHS năm 1985 Theo đó, những trường hợp miễn TNHS bao gồm: Tại Điều 19 “Miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội”; tại khoản 1 Điều 25 “do sự thay đổi của tình hình”; tại khoản 2 Điều 25 “do sự ăn năn hối cải của người phạm tội”; tại khoản
3 Điều 25 “khi có quyết định đại xá”; tại khoản 2 Điều 69 “cho người chưa thành niên phạm tội”; tại Điều 80 “cho người phạm tội gián điệp”; tại đoạn 2 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38khoản 6 Điều 269 “cho người phạm tội đưa hối lộ”; tại khoản 6 Điều 290 “cho người phạm tội làm môi giới hối lộ”; tại khoản 3 Điều 314 “cho người phạm tội không tố giác tội phạm”
Theo quy định của BLHS năm 1999, miễn TNHS được nhà làm luật phân chia thành những trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc hoặc tùy nghi (lựa chọn) Theo đó, tùy vào từng trường hợp cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy nếu người phạm tội đáp ứng đủ những điều kiện cụ thể quy định
về miễn TNHS thì ra quyết định để miễn TNHS cho họ (đối với những trường hợp bắt buộc) Đối với những trường hợp có tính chất lựa chọn (tùy nghi), căn
cứ vào tình hình thực tế, vào yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như nhân thân người phạm tội, cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng hay không áp dụng
1.5 Quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về miễn trách nhiệm hình sự
Miễn TNHS là một chế định cơ bản quan trọng của luật hình sự liên quan đến nhiều chế định như hình phạt, miễn hình phạt… vì vậy, pháp luật các nước trên thế giới đều quy định vấn đề này Trong giới hạn công trình nghiên cứu thạc sỹ, tác giả chỉ nghiên cứu pháp luật một số nước điểm hình
trên thế giới
1.5.1 Pháp luật hình sự Cộng hoà Liên bang Nga
Chế định miễn TNHS trong BLHS Liên bang Nga năm 1996 được ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập, được bố cục tại một chương riêng biệt (Chương 11) bao gồm bốn điều luật tương ứng là bốn trường hợp miễn TNHS là [63]: 1) Miễn TNHS do người phạm tội ăn năn hối cải (Điều 75); 2) Miễn TNHS do người phạm tội đã hòa giải với người bị hại (Điều 76); 3) Miễn TNHS do sự thay đổi của tình hình (Điều 77) và; 4) Miễn TNHS do đã hết thời hiệu truy cứu TNHS (Điều 78);
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39Ngoài những trường hợp miễn TNHS chung quy định trong Chương 11 của Phần chung Bộ luật hình sự, còn có hai trường hợp miễn TNHS là: 1) Miễn TNHS do đại xá (Điều 85); 2) Miễn TNHS cho người chưa thành niên (Điều 91)
Như vậy, nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự Việt Nam ( BLHS năm 2015) và CHLB Nga cho thấy, thì về cơ bản những trường hợp miễn TNHS của hai nước là giống nhau Tuy nhiên, so với BLHS năm 2015 của Việt Nam, tại BLHS Liên bang Nga quy định thêm hai trường hợp miễn TNHS tại phần chung, đó là: Miễn THNS do người phạm tội đã hòa giải với người bị hại (Điều 76) và miễn TNHS do đã hết thời hiệu truy cứu TNHS (Điều 78) Đồng thời, BLHS của Liên bang Nga còn quy định hàng loạt những trường hợp miễn TNHS khác nữa trong Phần các tội phạm, như [63]: tại Điều 127
“Miễn TNHS cho người bắt cóc người”; tại Điều 202 “cho người phạm tội khủng bố”; tại Điều 203 “cho người chiếm con tin”; tại Điều 205 “cho người
tổ chức đơn vị vũ trang bất hợp pháp”; tại Điều 219 “cho người sở hữu, tiêu thụ, bảo quản, chuyển giao hay mang trái phép vũ khí, đạn dược, nổ và thiết
bị gây cháy nổ”; tại Điều 220 “cho người chế tạo vũ khí trái phép”; tại Điều
286 “cho người đưa hối lộ”; tại Điều 301 “cho người đưa ra lời khai, kết luận giám định hay dịch gian dối”; tại Điều 307 “cho người trốn khỏi nhà tù hoặc nơi tạm giam”…
1.5.2 Bộ luật hình sự Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Hoặc BLHS của CHDCND Lào có quy định tại Chương IV - Miễn trừ TNHS có nêu những ra trường hợp miễn TNHS như sau [63, tr 17]:
1) Người chưa đủ 15 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 17) nhưng Tòa án phải áp dụng biện pháp giáo dục, cải tạo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự;
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 402) Người bị mất trí, không nhận thức được hậu quả của hành vi do mình gây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng Tòa án phải buộc
họ chữa bệnh theo quy định của Bộ luật hình sự (Điều 18);
3) Người thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái bị phụ thuộc, bị đe dọa, uy hiếp thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng thì sự đe dọa, uy hiếp chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 19);
4) Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp phòng vệ chính đáng, thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 20);
5) Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp tình thế cấp thiết thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 21)
Nhìn tổng thể, không chỉ pháp luật hình sự Việt Nam mà ở hai nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa liên bang Nga, tính nhân đạo, khoan hồng vẫn là đặc điểm nổi bật trong chính sách hình sự đối với người phạm tội Theo đó, nhà làm luật Việt Nam đã đổi mới trong công tác lập pháp, BLHS năm 2015 dần được hoàn thiện hơn: thể hiện tính nhân đạo, đảm bảo tính răn đe vừa đáp ứng nhu cầu chuẩn mực với quốc tế về quyền con người
Như vậy, so với các trường hợp miễn TNHS quy định trong phần Chung của Bộ luật Hình sự Việt Nam thì về cơ bản các trường hợp miễn TNHS giữa Việt Nam và 2 nước trên tương đối giống nhau Việc nghiên cứu,
so sánh về miễn TNHS trong Bộ luật Hình sự của 2 nước trên để có thêm thông tin tham khảo hoàn thiện chế định miễn TNHS trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si