1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) phân tích vấn đề trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự trong bản án số 488 2017 hs pt của tand cấp cao tại thành phố hồ chí minh về tội tàng trữ hàng cấm

26 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Vấn Đề Trách Nhiệm Hình Sự Và Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Trong Bản Án Số 488/2017/HS-PT Của TAND Cấp Cao Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Về Tội Tàng Trữ Hàng Cấm
Tác giả Nhóm Thực Hiện: 08
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Hình Sự 1
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ sản phẩm thuốc lá nhập lậu, việc xác định số lượng làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể như sau: c Số lượng từ 13.500 bao trở

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Hà Nội, 10/2023

Trang 2

2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

LỜI MỞ ĐẦU 4

Phần 1: Phân tích bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 5

1 Tóm tắt bản án theo mô hình IRAC 5

1.1 Issue (Vấn đề) 5

1.2 Relevant Law (Quy định pháp luật liên quan) 5

1.3 Application (Áp dụng) 5

1.4 Conclusion (Kết luận) 6

2 Phân tích TNHS và hình phạt trong phiên tòa sơ thẩm 6

3 Vấn đề miễn TNHS trong phiên toà phúc thẩm 7

Phần 2: Vấn đề miễn TNHS trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) 9

1 Bảng so sánh BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về miễn TNHS 9

2 Sự thay đổi về căn cứ miễn TNHS quy định tại Điều 25 BLHS năm 1999 và Điều 29 BLHS năm 2015 13

Phần 3: Bình luận về vấn đề miễn TNHS trong thực tiễn 14

1 Miễn TNHS thể hiện tính nhân đạo của nhà nước 14

2 Bất cập về miễn TNHS 14

KẾT LUẬN 17

CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS

Toà án nhân dân tối cao TANDTC

Viện kiểm sát nhân dân VKSND

Trang 4

4

LỜI MỞ ĐẦU

Trách nhiệm pháp lí là hậu quả bất lợi mà một chủ thể phải chịu do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Trong đó TNHS được đánh giá là loại trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc nhất, dành cho người đã thực hiện một tội phạm được quy định trong BLHS Bên cạnh vấn đề về TNHS thì miễn TNHS cũng là một chế định được Nhà nước và xã hội quan tâm Tuy đã có quy định về miễn TNHS trong BLHS ở phần chung và phần riêng, đối với một số tội phạm cụ thể nhưng cho đến nay, miễn TNHS vẫn là một vấn đề phức tạp với rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học pháp lí

Trong phạm vi bài luận này, nhóm chúng tôi tập trung tìm hiểu vấn đề TNHS

mà chủ yếu là chế định miễn TNHS thông qua bản án chính là bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số vụ

án, bản án liên quan Bên cạnh đó, nhóm cũng đưa ra quan điểm đối với các bản

án và chỉ ra một số bất cập trong thực tiễn áp dụng chế định miễn TNHS tại Việt Nam hiện nay

Trang 5

Phần 1: Phân tích bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

1 Tóm tắt bản án theo mô hình IRAC

1.1 Issue (Vấn đề)

- 30/5/2015: Phát hiện tại cửa hàng và kho của cửa hàng ông Châu Văn O1 (chủ

hộ đứng tên là ông Châu Văn O1) cất giữ 16350 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất Đại diện chủ hộ kinh doanh là bà Trương Thị V không xuất trình được hoá đơn chứng minh nguồn gốc hợp pháp của toàn bộ số thuốc lá trên

- Trong quá trình điều tra, Châu Văn A khai nhận số thuốc lá nhập lậu 16350 bao trên là của người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch), đến gặp A hỏi thuê kho cửa hàng của bà V để cất giữ hàng hoá và trả tiền công cho A là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) A đồng ý (kho hàng này do vợ chồng bà V thuê Châu Văn A trông giữ) Sau khi T vừa gửi hàng xong thì bị cơ quan chức năng kiểm tra và lập biên bản

Từ những sự kiện pháp lí trên, chúng tôi đặt ra vấn đề về TNHS và miễn TNHS Trong trường hợp này, Châu Văn A có phải chịu TNHS về tội “Tàng trữ hàng cấm” hay không? Quyết định miễn TNHS của toà án cấp phúc thẩm có đúng hay không?

1.2 Relevant Law (Quy định pháp luật liên quan)

Bản án số 09/2016/HS-ST

(TAND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) (TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) Bản án số 488/2017/HS-PT

- Thông tư liên tịch số

36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC

- Điều 155 BLHS năm 1999

- Điều 6 Luật đầu tư 2014

- Công văn số 154/ TANDTC-PC

- Điều 25 (BLHS năm 1999) 1.3 Application (Áp dụng)

* Bản án số 09/2016/HS-ST của TAND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu:

Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 7 Thông tư liên tịch số BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC và khoản 3 Điều 155 BLHS năm 1999, bản án hình sự sơ thẩm tuyên bố Châu Văn A phải chịu TNHS về tội “Tàng trữ hàng cấm” 1

36/2012/TTLT-BCT-* Bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Căn cứ theo Điều 6 Luật đầu tư 2014 quy định về các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm

1 Xem nội dung [1], [2] phần Nhận định của Hội đồng xét xử trong bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

6

Căn cứ Công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của TANDTC hướng dẫn về xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa nhận thấy: Trong vụ án này, hành vi tàng trữ thuốc lá điếu nhập lậu của Châu Văn A xảy ra ngày 30/5/2015 và đang trong giai đoạn xét xử (Toà án cấp

sơ thẩm đã có quyết định tuyên bố Châu Văn A phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”

và có kháng cáo của bị cáo sau đó) Vì vậy toà phúc thẩm đã căn cứ vào Điều 25 BLHS năm 1999 quy định về miễn TNHS để miễn TNHS cho Châu Văn A 1.4 Conclusion (Kết luận)

Toà án cấp phúc thẩm quyết định miễn TNHS theo Điều 25 BLHS năm 1999 đối với Châu Văn A về hành vi tàng trữ 16350 bao thuốc lá nhập lậu trong nội địa xảy ra ngày 30/5/2015 là có căn cứ

2 Phân tích TNHS và hình phạt trong phiên tòa sơ thẩm

TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lí, bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích

Trong vụ án này, tòa án cấp sơ thẩm quyết định Châu Văn A phải chịu TNHS

Và đặc điểm của TNHS được thể hiện qua các nội dung sau:

Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý mà Châu Văn A phải chịu vì hành vi phạm tội của mình Hành vi này được tòa án cấp sơ thẩm xác định là hành vi “Tàng trữ hàng cấm” cụ thể là tàng trữ thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa Hậu quả này chỉ phát sinh khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội

Thứ hai, TNHS chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật khi mà VKSND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đưa ra cáo trạng sau quá trình điều tra, khởi tố

Thứ ba, TNHS được thể hiện ở việc Châu Văn A phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt 8 năm tù, không có biện pháp tư pháp hình sự

Thứ tư, TNHS là trách nhiệm mà bị cáo Châu Văn A phải chịu trước Nhà nước chứ không phải đối với người có quyền lợi bị vi phạm

Thứ năm, TNHS của bị cáo Châu Văn A được phản ánh trong bản án số 09/2016/HS-ST ngày 26/02/2016 của TAND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

Căn cứ để Nhà nước buộc một người phải chịu TNHS chính là cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ của TNHS: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS” Trong vụ án này, 2

2 Xem Khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015

Trang 8

“Điều 7 Xử lý vi phạm về kinh doanh sản phẩm thuốc lá nhập lậu

2 Đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ sản phẩm thuốc lá nhập lậu, việc xác định số lượng làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể như sau:

c) Số lượng từ 13.500 bao trở lên được coi là có số lượng đặc biệt lớn.”

Hành vi tàng trữ 16350 bao thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo Châu Văn A được tòa sơ thẩm xác định đã thỏa mãn các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo khoản 3 Điều 155 BLHS năm 1999 Đây là cơ sở

để buộc Châu Văn A phải chịu TNHS trước nhà nước

“Điều 155 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm

3 Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.”

Bằng cáo trạng của mình, VKSND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xác định Châu Văn

A phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng chỉ khi tòa án cấp sơ thẩm đưa ra quyết định thì mới xác định Châu Văn A phải chịu TNHS và cụ thể hóa TNHS đó bằng hình phạt cụ thể là 8 năm tù

Ta nhận thấy ở đây, hình phạt 8 năm tù nói riêng và hình phạt nói chung là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất bởi nó tước bỏ ở bị cáo Châu Văn A một số quyền và lợi ích thiết thân Hình phạt này được quy định cụ thể trong khoản 3 Điều 155 BLHS năm 1999 và do Toà án áp dụng Ngoài ra, bị cáo còn phải chịu

án tích trong một thời gian nhất định Đồng thời, vì nguyên tắc trách nhiệm cá nhân nên hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với bị cáo Châu Văn A- người thực hiện hành vi phạm tội, còn những người không liên quan (ông O1, bà V) không phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật

3 Vấn đề miễn TNHS trong phiên toà phúc thẩm

Dựa trên kháng cáo của bị cáo Châu Văn A và quan điểm của kiểm sát viên cũng như người bào chữa cho bị cáo, toà án cấp phúc thẩm sau đó đã xem xét và

áp dụng công văn số 154/TANDTC-PC và khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 để: Miễn TNHS đối với Châu Văn A về hành vi tàng trữ 16.350 bao thuốc lá nhập lậu trong nội địa xảy ra ngày 30/5/2015

Law on

Trang 9

Như đã phân tích ở trên, bị cáo Châu Văn A phải chịu TNHS theo bản án sơ thẩm Tuy nhiên theo Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm Vì vậy áp dụng công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của TANDTC hướng dẫn đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày

01/7/2015, tòa án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 25 BLHS năm 1999 để miễn TNHS

cho người phạm tội

“1 Kể từ ngày 01-7-2015 (ngày Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành) đến

ngày 01-01-2018 (ngày Luật số 12/2017/QH14 có hiệu lực thi hành), không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm và không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 (sau đây gọi là Bộ luật Hình

sự năm 1999):

Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-7-2015, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Khi miễn trách nhiệm hình sự, Tòa án phải ghi rõ trong bản án lý do của việc miễn trách nhiệm hình sự

là do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự; người được miễn trách nhiệm hình sự không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.” 3

“Điều 25 Miễn trách nhiệm hình sự

1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.”

Từ những căn cứ trên, cho thấy hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo Châu Văn A do có sự thay đổi về chính sách pháp luật, làm cho hành vi phạm tội của

bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự nữa Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận theo quan điểm đề nghị của kiểm sát viên và người bào chữa; miễn TNHS cho Châu Văn A về hành vi tàng trữ 16350 bao thuốc lá điếu nhập lậu nội địa Bị cáo Châu Văn A không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước Quyết định của toà phúc thẩm là có căn cứ và phù hợp với sự thay đổi của pháp luật nên nhóm đồng ý với quan điểm này

3 Xem công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017

Trang 10

Giống nhau Điều 289 Tội đưa hối lộ

6 Người bị ép buộc đưa hối lộ

mà chủ động khai báo trước khi

bị phát giác, thì được coi là

không có tội và được trả lại

toàn bộ của đã dùng để đưa hối

nhiệm hình sự và được trả lại

một phần hoặc toàn bộ của đã

dùng để đưa hối lộ

Điều 364 Tội đưa hối lộ

7 Người bị ép buộc đưa hối

lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi

là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ

Người đưa hối lộ tuy không bị

ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ

Điều 314 Tội không tố giác

tội phạm

3 Người không tố giác nếu đã

có hành động can ngăn người

phạm tội hoặc hạn chế tác hại

của tội phạm, thì có thể được

miễn trách nhiệm hình sự hoặc

miễn hình phạt

Điều 390 Tội không tố giác tội phạm

2 Người không tố giác nếu đã

có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến

Trang 11

tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách

nhiệm hình sự về tội này

Điều 80: Tội gián điệp

3 Người đã nhận làm gián điệp,

nhưng không thực hiện nhiệm

vụ được giao và tự thú, thành

khẩn khai báo với cơ quan nhà

nước có thẩm quyền, thì được

miễn trách nhiệm hình sự

Điều 110 Tội gián điệp

4 Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này

Khác nhau Điều 25 Miễn trách nhiệm

hình sự

1 Người phạm tội được miễn

trách nhiệm hình sự, nếu khi

tiến hành điều tra, truy tố hoặc

xét xử, do chuyển biến của tình

hình mà hành vi phạm tội hoặc

người phạm tội không còn nguy

hiểm cho xã hội nữa

2 Trong trường hợp trước khi

đến mức thấp nhất hậu quả của

Điều 29 Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy

tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá

2 Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình

Trang 12

a) Khi tiến hành điều tra, truy

tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy

tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; c) Trước khi hành vi phạm tội

bị phát giác, người phạm tội

tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm,

cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước

và xã hội thừa nhận

3 Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác,

đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người

bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì

có thể được miễn trách nhiệm hình sự

Trang 13

Khác nhau Điều 69: Nguyên tắc xử lý đối

với người chưa thành niên

phạm tội

2 Người chưa thành niên phạm

tội có thể được miễn trách

nhiệm hình sự, nếu người đó

phạm tội ít nghiêm trọng hoặc

tội nghiêm trọng, gây hại không

lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ

và được gia đình hoặc cơ quan,

một trong các biện pháp tư pháp

được quy định tại Điều 70 của

Bộ luật này

Điều 91: Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

2 Người dưới 18 tuổi phạm

tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134,

141, 171, 248, 249, 250, 251

và 252 của Bộ luật này; b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142,

144, 150, 151, 168, 171, 248,

249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;

c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bản án số 488/2017/HS-PT ngày 19/09/2017 của TAND Cấp cao Thành phố Hồ Chí Minhhttps://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta17404t1cvn/chi-tiet-ban-an Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 488/2017/HS-PT
Tác giả: TAND Cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
4. Bàn về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015- Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam (21/02/2022)https://lsvn.vn/ban-ve-cac-truong-hop-mien-trach-nhiem-hinh-su-quy-dinh-tai-dieu-29-blhs-nam-20151645454295.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015
Nhà XB: Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam
Năm: 2022
5. Nhận thức khoa học về các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam (Kỳ 1), Gs.Tskh. Lê Văn Cảm; Ths. Đỗ Tuấn Anh- Tạp chí điện tử Kiểm sát (11/11/2022)https://kiemsat.vn/nhan-thuc-khoa-hoc-ve-cac-bien-phap-tha-mien-trong-luat-hinh-su-viet-nam-ky-1-64610.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức khoa học về các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam (Kỳ 1)
Tác giả: Gs.Tskh. Lê Văn Cảm, Ths. Đỗ Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí điện tử Kiểm sát
Năm: 2022
6. Miễn trách nhiệm hình sự- Bất cập và kiến nghị, đề xuất; Bùi Viết Vinh (Toà án Quân khu 5)- Tạp chí Toà án nhân dân điện tử (21/07/2022)https://tapchitoaan.vn/mien-trach-nhiem-hinh-su-bat-cap-va-kien-nghi-de-xuat6784.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn trách nhiệm hình sự- Bất cập và kiến nghị, đề xuất
Tác giả: Bùi Viết Vinh
Nhà XB: Tạp chí Toà án nhân dân điện tử
Năm: 2022
7. Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Mai Nam Dương là không đúng pháp luật- Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (25/12/2013)https://dangcongsan.vn/thoi-su/mien-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-doi-voi-ong-mai-nam-duong-la-khong-dung-phap-luat-224474.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Mai Nam Dương là không đúng pháp luật
Nhà XB: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
8. Bản án số 129/2018/HSST ngày 29/10/2018 của TAND Thị xã Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyênhttps://amilawfirm.com/wp-content/uploads/2019/07/3Mi%E1%BB%85n-tr%C3%A1ch-nhi%E1%BB%87m-h%C3%ACnh-s%E1%BB%B1-do-c%C3%B3-s%E1%BB%B1-thay-%C4%91%E1%BB%95i-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch.pdf?fbclid=IwAR1MMWrCu2q7aFHQcVoIYATWlDFzbLJNw9rKvibWVnxymqNCiwIOozdlUeY Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 129/2018/HSST
Nhà XB: TAND Thị xã Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2018
3. Bản án số 21/2018/HS-PT ngày 17/01/2018 của TAND Thành phố Hồ Chí Minhhttps://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta102135t1cvn/chi-tiet-ban-an Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Bảng so sánh BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và BLHS  năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về miễn TNHS - (Tiểu luận) phân tích vấn đề trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự trong bản án số 488 2017 hs pt của tand cấp cao tại thành phố hồ chí minh về tội tàng trữ hàng cấm
1. Bảng so sánh BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về miễn TNHS (Trang 10)
Hình sự về tội này. - (Tiểu luận) phân tích vấn đề trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự trong bản án số 488 2017 hs pt của tand cấp cao tại thành phố hồ chí minh về tội tàng trữ hàng cấm
Hình s ự về tội này (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w