Đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ sản phẩm thuốc lá nhập lậu, việc xác định số lượng làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể như sau: c Số lượng từ 13.500 bao trở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Hà Nội, 10/2023
Trang 22
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
Phần 1: Phân tích bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh 5
1 Tóm tắt bản án theo mô hình IRAC 5
1.1 Issue (Vấn đề) 5
1.2 Relevant Law (Quy định pháp luật liên quan) 5
1.3 Application (Áp dụng) 5
1.4 Conclusion (Kết luận) 6
2 Phân tích TNHS và hình phạt trong phiên tòa sơ thẩm 6
3 Vấn đề miễn TNHS trong phiên toà phúc thẩm 7
Phần 2: Vấn đề miễn TNHS trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) 9
1 Bảng so sánh BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về miễn TNHS 9
2 Sự thay đổi về căn cứ miễn TNHS quy định tại Điều 25 BLHS năm 1999 và Điều 29 BLHS năm 2015 13
Phần 3: Bình luận về vấn đề miễn TNHS trong thực tiễn 14
1 Miễn TNHS thể hiện tính nhân đạo của nhà nước 14
2 Bất cập về miễn TNHS 14
KẾT LUẬN 17
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS
Toà án nhân dân tối cao TANDTC
Viện kiểm sát nhân dân VKSND
Trang 44
LỜI MỞ ĐẦU
Trách nhiệm pháp lí là hậu quả bất lợi mà một chủ thể phải chịu do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Trong đó TNHS được đánh giá là loại trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc nhất, dành cho người đã thực hiện một tội phạm được quy định trong BLHS Bên cạnh vấn đề về TNHS thì miễn TNHS cũng là một chế định được Nhà nước và xã hội quan tâm Tuy đã có quy định về miễn TNHS trong BLHS ở phần chung và phần riêng, đối với một số tội phạm cụ thể nhưng cho đến nay, miễn TNHS vẫn là một vấn đề phức tạp với rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học pháp lí
Trong phạm vi bài luận này, nhóm chúng tôi tập trung tìm hiểu vấn đề TNHS
mà chủ yếu là chế định miễn TNHS thông qua bản án chính là bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số vụ
án, bản án liên quan Bên cạnh đó, nhóm cũng đưa ra quan điểm đối với các bản
án và chỉ ra một số bất cập trong thực tiễn áp dụng chế định miễn TNHS tại Việt Nam hiện nay
Trang 5Phần 1: Phân tích bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
1 Tóm tắt bản án theo mô hình IRAC
1.1 Issue (Vấn đề)
- 30/5/2015: Phát hiện tại cửa hàng và kho của cửa hàng ông Châu Văn O1 (chủ
hộ đứng tên là ông Châu Văn O1) cất giữ 16350 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất Đại diện chủ hộ kinh doanh là bà Trương Thị V không xuất trình được hoá đơn chứng minh nguồn gốc hợp pháp của toàn bộ số thuốc lá trên
- Trong quá trình điều tra, Châu Văn A khai nhận số thuốc lá nhập lậu 16350 bao trên là của người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch), đến gặp A hỏi thuê kho cửa hàng của bà V để cất giữ hàng hoá và trả tiền công cho A là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) A đồng ý (kho hàng này do vợ chồng bà V thuê Châu Văn A trông giữ) Sau khi T vừa gửi hàng xong thì bị cơ quan chức năng kiểm tra và lập biên bản
Từ những sự kiện pháp lí trên, chúng tôi đặt ra vấn đề về TNHS và miễn TNHS Trong trường hợp này, Châu Văn A có phải chịu TNHS về tội “Tàng trữ hàng cấm” hay không? Quyết định miễn TNHS của toà án cấp phúc thẩm có đúng hay không?
1.2 Relevant Law (Quy định pháp luật liên quan)
Bản án số 09/2016/HS-ST
(TAND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) (TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) Bản án số 488/2017/HS-PT
- Thông tư liên tịch số
36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC
- Điều 155 BLHS năm 1999
- Điều 6 Luật đầu tư 2014
- Công văn số 154/ TANDTC-PC
- Điều 25 (BLHS năm 1999) 1.3 Application (Áp dụng)
* Bản án số 09/2016/HS-ST của TAND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu:
Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 7 Thông tư liên tịch số BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC và khoản 3 Điều 155 BLHS năm 1999, bản án hình sự sơ thẩm tuyên bố Châu Văn A phải chịu TNHS về tội “Tàng trữ hàng cấm” 1
36/2012/TTLT-BCT-* Bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Căn cứ theo Điều 6 Luật đầu tư 2014 quy định về các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm
1 Xem nội dung [1], [2] phần Nhận định của Hội đồng xét xử trong bản án số 488/2017/HS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 66
Căn cứ Công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của TANDTC hướng dẫn về xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa nhận thấy: Trong vụ án này, hành vi tàng trữ thuốc lá điếu nhập lậu của Châu Văn A xảy ra ngày 30/5/2015 và đang trong giai đoạn xét xử (Toà án cấp
sơ thẩm đã có quyết định tuyên bố Châu Văn A phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”
và có kháng cáo của bị cáo sau đó) Vì vậy toà phúc thẩm đã căn cứ vào Điều 25 BLHS năm 1999 quy định về miễn TNHS để miễn TNHS cho Châu Văn A 1.4 Conclusion (Kết luận)
Toà án cấp phúc thẩm quyết định miễn TNHS theo Điều 25 BLHS năm 1999 đối với Châu Văn A về hành vi tàng trữ 16350 bao thuốc lá nhập lậu trong nội địa xảy ra ngày 30/5/2015 là có căn cứ
2 Phân tích TNHS và hình phạt trong phiên tòa sơ thẩm
TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lí, bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích
Trong vụ án này, tòa án cấp sơ thẩm quyết định Châu Văn A phải chịu TNHS
Và đặc điểm của TNHS được thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý mà Châu Văn A phải chịu vì hành vi phạm tội của mình Hành vi này được tòa án cấp sơ thẩm xác định là hành vi “Tàng trữ hàng cấm” cụ thể là tàng trữ thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa Hậu quả này chỉ phát sinh khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội
Thứ hai, TNHS chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật khi mà VKSND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đưa ra cáo trạng sau quá trình điều tra, khởi tố
Thứ ba, TNHS được thể hiện ở việc Châu Văn A phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt 8 năm tù, không có biện pháp tư pháp hình sự
Thứ tư, TNHS là trách nhiệm mà bị cáo Châu Văn A phải chịu trước Nhà nước chứ không phải đối với người có quyền lợi bị vi phạm
Thứ năm, TNHS của bị cáo Châu Văn A được phản ánh trong bản án số 09/2016/HS-ST ngày 26/02/2016 của TAND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Căn cứ để Nhà nước buộc một người phải chịu TNHS chính là cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ của TNHS: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS” Trong vụ án này, 2
2 Xem Khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015
Trang 8“Điều 7 Xử lý vi phạm về kinh doanh sản phẩm thuốc lá nhập lậu
2 Đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ sản phẩm thuốc lá nhập lậu, việc xác định số lượng làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể như sau:
c) Số lượng từ 13.500 bao trở lên được coi là có số lượng đặc biệt lớn.”
Hành vi tàng trữ 16350 bao thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo Châu Văn A được tòa sơ thẩm xác định đã thỏa mãn các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo khoản 3 Điều 155 BLHS năm 1999 Đây là cơ sở
để buộc Châu Văn A phải chịu TNHS trước nhà nước
“Điều 155 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
3 Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.”
Bằng cáo trạng của mình, VKSND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xác định Châu Văn
A phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng chỉ khi tòa án cấp sơ thẩm đưa ra quyết định thì mới xác định Châu Văn A phải chịu TNHS và cụ thể hóa TNHS đó bằng hình phạt cụ thể là 8 năm tù
Ta nhận thấy ở đây, hình phạt 8 năm tù nói riêng và hình phạt nói chung là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất bởi nó tước bỏ ở bị cáo Châu Văn A một số quyền và lợi ích thiết thân Hình phạt này được quy định cụ thể trong khoản 3 Điều 155 BLHS năm 1999 và do Toà án áp dụng Ngoài ra, bị cáo còn phải chịu
án tích trong một thời gian nhất định Đồng thời, vì nguyên tắc trách nhiệm cá nhân nên hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với bị cáo Châu Văn A- người thực hiện hành vi phạm tội, còn những người không liên quan (ông O1, bà V) không phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật
3 Vấn đề miễn TNHS trong phiên toà phúc thẩm
Dựa trên kháng cáo của bị cáo Châu Văn A và quan điểm của kiểm sát viên cũng như người bào chữa cho bị cáo, toà án cấp phúc thẩm sau đó đã xem xét và
áp dụng công văn số 154/TANDTC-PC và khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 để: Miễn TNHS đối với Châu Văn A về hành vi tàng trữ 16.350 bao thuốc lá nhập lậu trong nội địa xảy ra ngày 30/5/2015
Law on
Trang 9Như đã phân tích ở trên, bị cáo Châu Văn A phải chịu TNHS theo bản án sơ thẩm Tuy nhiên theo Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm Vì vậy áp dụng công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017 của TANDTC hướng dẫn đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày
01/7/2015, tòa án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 25 BLHS năm 1999 để miễn TNHS
cho người phạm tội
“1 Kể từ ngày 01-7-2015 (ngày Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành) đến
ngày 01-01-2018 (ngày Luật số 12/2017/QH14 có hiệu lực thi hành), không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm và không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 (sau đây gọi là Bộ luật Hình
sự năm 1999):
Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-7-2015, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Khi miễn trách nhiệm hình sự, Tòa án phải ghi rõ trong bản án lý do của việc miễn trách nhiệm hình sự
là do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự; người được miễn trách nhiệm hình sự không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.” 3
“Điều 25 Miễn trách nhiệm hình sự
1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.”
Từ những căn cứ trên, cho thấy hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo Châu Văn A do có sự thay đổi về chính sách pháp luật, làm cho hành vi phạm tội của
bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự nữa Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận theo quan điểm đề nghị của kiểm sát viên và người bào chữa; miễn TNHS cho Châu Văn A về hành vi tàng trữ 16350 bao thuốc lá điếu nhập lậu nội địa Bị cáo Châu Văn A không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước Quyết định của toà phúc thẩm là có căn cứ và phù hợp với sự thay đổi của pháp luật nên nhóm đồng ý với quan điểm này
3 Xem công văn số 154/TANDTC-PC ngày 25/7/2017
Trang 10Giống nhau Điều 289 Tội đưa hối lộ
6 Người bị ép buộc đưa hối lộ
mà chủ động khai báo trước khi
bị phát giác, thì được coi là
không có tội và được trả lại
toàn bộ của đã dùng để đưa hối
nhiệm hình sự và được trả lại
một phần hoặc toàn bộ của đã
dùng để đưa hối lộ
Điều 364 Tội đưa hối lộ
7 Người bị ép buộc đưa hối
lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi
là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ
Người đưa hối lộ tuy không bị
ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ
Điều 314 Tội không tố giác
tội phạm
3 Người không tố giác nếu đã
có hành động can ngăn người
phạm tội hoặc hạn chế tác hại
của tội phạm, thì có thể được
miễn trách nhiệm hình sự hoặc
miễn hình phạt
Điều 390 Tội không tố giác tội phạm
2 Người không tố giác nếu đã
có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến
Trang 11tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội này
Điều 80: Tội gián điệp
3 Người đã nhận làm gián điệp,
nhưng không thực hiện nhiệm
vụ được giao và tự thú, thành
khẩn khai báo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, thì được
miễn trách nhiệm hình sự
Điều 110 Tội gián điệp
4 Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này
Khác nhau Điều 25 Miễn trách nhiệm
hình sự
1 Người phạm tội được miễn
trách nhiệm hình sự, nếu khi
tiến hành điều tra, truy tố hoặc
xét xử, do chuyển biến của tình
hình mà hành vi phạm tội hoặc
người phạm tội không còn nguy
hiểm cho xã hội nữa
2 Trong trường hợp trước khi
đến mức thấp nhất hậu quả của
Điều 29 Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy
tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá
2 Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình
Trang 12a) Khi tiến hành điều tra, truy
tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy
tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; c) Trước khi hành vi phạm tội
bị phát giác, người phạm tội
tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm,
cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước
và xã hội thừa nhận
3 Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác,
đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người
bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì
có thể được miễn trách nhiệm hình sự
Trang 13Khác nhau Điều 69: Nguyên tắc xử lý đối
với người chưa thành niên
phạm tội
2 Người chưa thành niên phạm
tội có thể được miễn trách
nhiệm hình sự, nếu người đó
phạm tội ít nghiêm trọng hoặc
tội nghiêm trọng, gây hại không
lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ
và được gia đình hoặc cơ quan,
một trong các biện pháp tư pháp
được quy định tại Điều 70 của
Bộ luật này
Điều 91: Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
2 Người dưới 18 tuổi phạm
tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134,
141, 171, 248, 249, 250, 251
và 252 của Bộ luật này; b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142,
144, 150, 151, 168, 171, 248,
249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”