Tuy nhiên, luật hình sự cũng có những quy định về các trường hợp màhành vi đã thực hiện tuy gây thiệt hại cho xã hội nhưng vì có tình tiết đặc biệt mà không bị coi là tội phạm và không p
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Khái niệm các trường hợp loại trừ khái niệm hình sự
1.1 Các cách hiểu và tên gọi khác nhau của các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự hiện tại có nhiều cách gọi khác nhau khi nghiên cứu, cụ thể như sau:
Theo quan điểm thứ nhất, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được coi là những căn cứ hợp pháp cho hành vi gây thiệt hại, bao gồm hai trường hợp chính: (i) phòng vệ chính đáng và (ii) tình thế cấp thiết.
Quan điểm thứ hai đề cập đến những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, được quy định trong Bộ luật Hình sự, trong đó việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự không bị coi là tội phạm khi có những tình tiết nhất định Có 10 trường hợp cụ thể: (i) Sự kiện bất ngờ; (ii) gây thiệt hại nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (iii) gây thiệt hại trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; (iv) tính chất nguy hiểm cho xã hội ở mức độ không đáng kể; (v) phòng vệ chính đáng; (vi) tình thế cấp thiết; (vii) chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh cấp trên; (viii) sự rủi ro (mạo hiểm) chấp nhận được về kinh tế hoặc nghề nghiệp; (ix) tình trạng bất khả kháng; (x) sự bất đắc dĩ phải gây thiệt hại trong khi bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
Quan điểm thứ ba cho rằng loại trừ trách nhiệm hình sự xảy ra khi một người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội, nhưng theo các quy định pháp luật, họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo Bộ luật hình sự, một số hành vi không bị coi là trách nhiệm hình sự, bao gồm: (i) gây thiệt hại cho xã hội trong trạng thái say hoặc do sử dụng chất kích thích mạnh khác, dẫn đến mất khả năng nhận thức; (ii) hành vi phạm tội thái quá của người đồng phạm; (iii) hỗ trợ người mắc bệnh hiểm nghèo tự sát theo yêu cầu tự nguyện; và (iv) người bị ép buộc đưa hối lộ nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát hiện.
Quan điểm thứ tư cho rằng loại trừ trách nhiệm hình sự áp dụng cho những trường hợp mà người thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự do một số lý do Những lý do này bao gồm: (1) tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể; (2) thiếu yếu tố của tội phạm; hoặc (3) có căn cứ hợp pháp cho hành vi nguy hiểm, với sáu trường hợp cụ thể: (i) hành vi có tính chất nguy hiểm chưa đáng kể; (ii) sự kiện bất ngờ; (iii) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (iv) tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; (v) phòng vệ chính đáng; và (vi) tình thế cấp thiết.
Quan điểm thứ năm cho rằng loại trừ trách nhiệm hình sự xảy ra khi một người thực hiện hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, nhưng theo quy định pháp luật, họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Điều này bao gồm 06 trường hợp tương tự như quan điểm thứ tư, cùng với các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự và hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có quan điểm cho rằng việc tự ý chấm dứt hành vi phạm tội, bên cạnh các trường hợp như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và sự kiện bất ngờ, cũng có thể loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Dù có nhiều tên gọi khác nhau, bản chất pháp lý của chúng vẫn giống nhau.
1.2 Định nghĩa và các đặc điểm của các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Trong một số trường hợp, hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng lại được thực hiện trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể theo quy định của Luật Hình sự, thì hành vi đó không bị coi là phạm tội Do đó, người thực hiện hành vi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Các đặc điểm cơ bản của các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự:
Hành vi trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là hành vi gây hậu quả khách quan về hình sự
Không thỏa mãn dấu hiệu lỗi
Được quy định trong luật hình sự
Người thực hiện hành vi gây hậu quả khách quan về hình sự sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thông qua bản án của tòa án hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự.
2 Phạm vi các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Phòng vệ là một tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự, cho phép công dân tự bảo vệ mình, người khác hoặc lợi ích chung của xã hội trước những hành vi tấn công.
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi phản kháng quá mức, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.
Phòng vệ chính đáng không được coi là tội phạm Tuy nhiên, nếu hành vi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng, người thực hiện sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật.
Tình thế cấp thiết xảy ra khi một người phải gây thiệt hại nhỏ hơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân, của người khác, hoặc lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, nhằm tránh những thiệt hại lớn hơn.
Hành vi gây thiệt hại trong tình huống cấp thiết không được coi là tội phạm Tuy nhiên, nếu thiệt hại vượt quá mức cần thiết của tình thế cấp thiết, người gây thiệt hại sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội:
Gây thiệt hại trong quá trình bắt giữ người phạm tội là một tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự, cho phép cá nhân có quyền gây thiệt hại cho tội phạm nhằm mục đích bắt giữ và giao nộp họ cho cơ quan có thẩm quyền, đồng thời ngăn chặn hành vi phạm tội tiếp theo khi không còn biện pháp nào khác.
Phân biệt các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự với những trường hợp không có
Loại trừ trách nhiệm hình sự
Loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp được quy định trong Bộ luật Hình sự, liên quan đến việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội Khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật hình sự, hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý không bị coi là tội phạm, và người thực hiện hành vi nguy hiểm đó sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Người thực hiện hành vi gây hậu quả khách quan về hình sự sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thông qua bản án của tòa án hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự.
Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có các đặc điểm cơ bản như:
Hành vi gây thiệt hại bị luật hình sự cấm và được quy định trong các điều luật cụ thể
Hành vi nguy hiểm có thể gây thiệt hại cho xã hội nhưng vẫn được xem là hợp pháp theo pháp luật, do đó không bị coi là tội phạm và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân và người khác cần phải tuân thủ các quy định của luật hình sự.
Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS) chỉ được áp dụng trong những tình huống cụ thể mà không bị xem là tội phạm, và phải có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật Hình sự Hành vi đó cần phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.
+ Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện;
Hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 8 BLHS 2015 Theo đó, những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng không có tính chất nguy hiểm cho xã hội đáng kể sẽ không được coi là tội phạm và sẽ được xử lý bằng các biện pháp khác.
Trong quá trình soạn thảo Bộ luật hình sự năm 1999, Ban soạn thảo đã đề xuất xây dựng một chương riêng để quy định các trường hợp không phải là tội phạm hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, chương này đã không được đưa vào Bộ luật Việc thiếu sót này cần được khắc phục trong các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự hiện tại được phân chia thành ba loại.
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc về yếu tố nhân thân;
Hành vi nguy hiểm cho xã hội không có lỗi hoặc không bị coi là có lỗi;
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự khác theo quy định của pháp luật
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự ở nước ta
BLHS năm 1985 lại quy định 4 trường hợp loại trừ TNHS gồm: sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và không có năng lực TNHS.
BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 vẫn tiếp tục quy định 4 trường hợp loại trừ TNHS
BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đã tiếp tục kế thừa các quy định của
Bộ luật mới bổ sung ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, bao gồm: gây thiệt hại trong quá trình bắt giữ người phạm tội, rủi ro phát sinh trong nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cùng với việc thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên.
Miễn trách nhiệm hình sự
*Theo quy định tại Điều 29 Bộ Luật hình sự, căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự như sau:
Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau: Thứ nhất, khi có sự thay đổi trong chính sách hoặc pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, khiến hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội Thứ hai, khi có quyết định đại xá.
Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp nhất định Cụ thể, miễn trách nhiệm có thể xảy ra khi người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội do tình hình thay đổi trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử Ngoài ra, nếu người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm, họ cũng có thể được miễn trách nhiệm Cuối cùng, nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện, người phạm tội tự thú và hợp tác hiệu quả trong việc điều tra, đồng thời nỗ lực giảm thiểu hậu quả của tội phạm, họ có thể được Nhà nước và xã hội công nhận và miễn trách nhiệm.
Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, nếu tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Theo Khoản 3 Điều 29, nếu gia đình người bị hại và người phạm tội tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, việc miễn trách nhiệm hình sự không tự động xảy ra chỉ vì có đơn đề nghị từ gia đình người bị hại Để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định này, người phạm tội cần phải đáp ứng các điều kiện nhất định.
Tội phạm mà người phạm tội thực hiện phải là tội phạm ít nghiêm trọng
Hoặc là tội phạm nghiêm trọng do vô ý;
Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.
Hành vi vi phạm quy định tham gia giao thông dẫn đến chết người được xác định là lỗi vô ý theo Điều 11 Bộ Luật hình sự.
Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
4 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
5 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Sự kiện bất ngờ
1.1 Quy định về sự kiện bất ngờ Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Theo đó, sự kiện bất ngờ là trường hợp gây ra hậu quả thiệt hại cho xã hội nhưng người gây ra hậu quả thiệt hại đó không có lỗi vì họ không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi gây hậu quả Bản chất pháp lý của sự kiện bất ngờ là người thực hiện hành vi không có lỗi do họ không tự lựa chọn thực hiện hành vi gây thiệt hại Họ đã không thấy trước được tính chất (hậu quả) nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra Hoàn cảnh khách quan không cho phép họ có thể thấy trước hậu quả của hành vi và họ cũng không có nghĩa vụ (bị buộc) phải thấy trước việc gây ra hậu quả đó Như vậy, dấu hiệu có lỗi - cơ sở để xem xét một hành vi có là tội phạm là không, và có cần thiết áp dụng các biện pháp tác động về mặt pháp lý hình sự không đã không được thỏa mãn.
Trong nông thôn, việc phơi rơm giữa đường là phổ biến, nhưng điều này gây nguy hiểm cho người lái xe Một cậu bé đã ngủ quên dưới đống rơm và bị ông A cán chết khi lái xe qua Theo Điều 20, ông A được xác định là vô tội do không có ý định gây hại.
Bộ luật hình sự năm 2015.
1.2 Những dấu hiệu của sự kiện pháp lý
1.2.1 Chủ thể thực hiện hành vi phải là chủ thể đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Nếu không đáp ứng điều kiện này, họ sẽ được coi là "vô tội" không phải do yếu tố Sự kiện bất ngờ, mà là vì họ thiếu năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
1.2.2 Hành vi phải xâm hại đến lợi ích mà Luật Hình sự bảo vệ, tức là trong giới hạn "nguy hiểm" mà Luật hình sự quy định
Hành vi gây thiệt hại phải xâm hại đến lợi ích được bảo vệ bởi Luật Hình sự, tức là những hành vi này phải được quy định trong bộ luật hình sự và thực sự gây hại cho xã hội.
Hành vi gây hậu quả nguy hại không giống như hành vi nguy hiểm trong cấu thành tội phạm, vì bản chất và hậu quả pháp lý của chúng khác nhau Luật pháp chú trọng vào hậu quả nguy hại hơn là bản thân hành vi, và những hành vi này có thể là hợp pháp hoặc bất hợp pháp.
Trong một tình huống giao thông, A đang tuân thủ đúng quy định pháp luật về giao thông đường bộ, bao gồm làn đường, tốc độ di chuyển và các biện pháp an toàn Tuy nhiên, một người bất ngờ xuất hiện trước đầu xe với khoảng cách quá gần, khiến A không kịp dừng lại và đã va chạm, dẫn đến cái chết của người này Điều này cho thấy, mặc dù A đã thực hiện hành vi hợp pháp, nhưng vẫn gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.
1.2.3 Về ý chí (mong muốn) của người thực hiện hành vi:
Người thực hiện hành vi thực tế không mong muốn hậu quả xảy ra, điều này không được mô tả trong Điều 20 Tuy nhiên, đây là một điều kiện quan trọng để chứng minh rằng mặc dù hành vi đó có thể nguy hiểm, người thực hiện vẫn có thể được miễn trừ trách nhiệm hình sự.
1.2.4 Về lý trí (ý thức) của người thực hiện hành vi:
Nhiều người không nhận thức được rằng hành vi của họ có thể dẫn đến hậu quả, hoặc họ không thể nhìn thấy những hậu quả đó và không có nghĩa vụ phải biết Tuy nhiên, nếu họ có nghĩa vụ và khả năng để nhận thức được hậu quả, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì lỗi vô ý do sự cẩu thả liên quan đến hành vi phạm tội.
Hành vi của con người thường không thể dự đoán được hậu quả trước khi thực hiện, vì họ không nhận thức được rằng hành động của mình sẽ dẫn đến những kết quả nhất định Sự nhận thức này có cơ sở khoa học và được xã hội công nhận, cho thấy rằng trong hoàn cảnh tương tự, ai cũng khó có thể thấy trước được hậu quả Tuy nhiên, thực tế là hậu quả vẫn xảy ra, và việc giải quyết mâu thuẫn giữa cái tất yếu và nhận thức của người gây ra hậu quả không phải lúc nào cũng đơn giản Người thực hiện hành vi thường cho rằng họ không thể dự đoán được hậu quả, trong khi người bị thiệt hại lại tin rằng người gây ra hành vi có thể nhận thức được nhưng vẫn tiếp tục hành động.
Khi đánh giá hành vi của một người và khả năng gây ra hậu quả có thể thấy trước, cần xem xét cả điều kiện khách quan và chủ quan Về mặt khách quan, trong hoàn cảnh cụ thể, không ai có thể dự đoán trước được hành vi của mình sẽ dẫn đến hậu quả nguy hiểm Về mặt chủ quan, cần xem xét các đặc điểm cá nhân như tuổi tác, trình độ hiểu biết, tình trạng sức khỏe và các yếu tố khác ảnh hưởng đến nhận thức của họ Do đó, không nhất thiết phải yêu cầu người đó phải thấy trước hậu quả của hành vi mình gây ra.
Theo quy định pháp luật, không cần phải dự đoán trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình Nếu một cá nhân không nhận thức được hậu quả của hành vi và có hậu quả xảy ra, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi đó.
1.3 Trách nhiệm pháp lý của người gây thiệt hại trong trường hợp có sự kiện bất ngờ
Sự kiện bất ngờ là tình huống gây thiệt hại cho xã hội mà người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự do không thể lường trước hậu quả nguy hiểm Ví dụ, một tài xế lái xe đúng luật và tốc độ, nhưng lại gặp phải hai người đuổi nhau ra đường và bị xe va chạm, dẫn đến thương tích.
Trong một tình huống bất ngờ, A và B đang vui vẻ đi chơi trên vỉa hè và cười đùa với nhau Tuy nhiên, A đã nghịch ngợm và xô nhẹ B xuống đường, dẫn đến một sự việc không lường trước được.
B khi bị xô lại dẫm phải dầu nhớt nên ngã, thái dương của B đập vào một viên đá ở lòng đường, B bị trọng thương).
Sự kiện bất ngờ có thể xảy ra do đặc điểm chủ quan của người thực hiện hành vi Chẳng hạn, một công nhân mới vào học việc tại nhà máy được giao nhiệm vụ đứng coi máy trong khi người phụ trách đi ra ngoài Khi thấy có tia lửa ở một bộ phận của máy, anh ta hoảng hốt và vội vàng hãm máy Tuy nhiên, do không tuân thủ đúng trình tự hãm máy, anh đã hãm bộ phận đáng lẽ hãm sau trước, và bộ phận đáng lẽ hãm trước lại hãm sau, dẫn đến việc hỏng máy.
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
2.1 Quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Trong trường hợp người mắc bệnh tâm thần tấn công người khác mà không gây hại, họ sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh để đảm bảo sức khỏe tâm thần cho họ.
Theo quy định của điều luật, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự xảy ra khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh lý khác.
2.2Dấu hiệu xác định tình trạng không có năng lực TNHS
2.2.1 Dấu hiệu y học (mắc bệnh, đó là người ở trong tình trạng không có năng lực TNHS là người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần Các loại bệnh này có thể là mãn tính hoặc đột ngột nhất thời Có thể kể đến một số loại bệnh như tâm thần ở các thể trầm trọng, bệnh si ngốc (ngu, đần, thộn), hoặc hoạt động tinh thần bị rối loạn do các bệnh khác như sốt rét ở nhiệt độ quá cao gây mê sảng Người trong tình trạng không có năng lực TNHS là người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần.), đây là điều kiện cần
2.2.2 Dấu hiệu tâm lý (mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển, đó là người không có năng lực nhận thức đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi gây thiệt hại và họ cũng không thể có được năng lực kiềm chế thực hiện hành vi đó), đây là điều kiện đủ Cả 2 dấu hiệu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, dấu hiệu này là tiền đề của dấu hiệu kia và ngược lại, một người vì mắc bệnh nên mất khả năng điều khiển và bị mất khả năng điều khiển vì họ mắc bệnh.
Người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác chỉ được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự khi họ mất khả năng nhận thức hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó, hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình Điều này có nghĩa là họ phải thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu: dấu hiệu y học là nguyên nhân và dấu hiệu tâm lý là kết quả Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp mắc bệnh tâm thần đều dẫn đến việc mất năng lực nhận thức hoặc điều khiển Năng lực này phụ thuộc vào loại bệnh, mức độ bệnh và tính chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện.
Ví dụ: Hà Đức Kha, giết vợ trong khi đang ngồi ăn cơm với vợ, đã bị
Tòa án nhân dân tỉnh đã quyết định xử tử hình, nhưng sau khi được Tòa án nhân dân tối cao cho đi giám định pháp y, kết luận cho thấy bị cáo mắc bệnh hoang tưởng và do đó, biện pháp áp dụng là bắt buộc chữa bệnh.
2.3 Trách nhiệm pháp lý của người gây thiệt hại trong trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự
Trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự của một cá nhân, Toà án cần dựa vào kết luận của giám định pháp y về bệnh tâm thần để xác định tính chất và mức độ nghiêm trọng của chứng bệnh.
Khoản 2 của điều luật để cập đến tình trạng tạm thời không có năng lực trách nhiệm hình sự Đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng trước khi bị kết án, đã lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, không có năng lực hiểu biết và sử dụng những quyền mà pháp luật quy định cho bị cáo, không có khả năng lĩnh hội đúng đắn ý nghĩa của việc xét xử, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ và việc xét xử họ là không có ý nghĩa, do đó phải coi họ là tạm thời không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Nếu người mắc bệnh tâm thần kinh niên không còn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, Toà án sẽ miễn hình phạt và áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc Ngược lại, nếu chỉ bị rối loạn tạm thời, Toà án sẽ áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc và hoãn xử cho đến khi bị cáo hồi phục để xem xét trách nhiệm hình sự.
Phòng vệ chính đáng
➤ Quy định: Theo Khoản 1 Điều 22 BLHS năm 2015 quy định:
Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân, người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, bằng cách chống trả một cách cần thiết đối với những hành vi xâm phạm các lợi ích này.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
➤ So sánh: Bộ Luật Hình Sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:
Hiệu lực: Hết hiệu lực toàn bộ
- Cụ thể: Trong Chương III Tội Phạm, Điều 15 Phòng vệ chính đáng
1 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 1999
Nội dung: bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoă ‚c lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức
Nội dung: bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác
➞ Nhận xét: + Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được tách thành một chương riêng
+ Có sự sửa đổi về mặt nội dung của khoản 1 Điều 22 BLHS năm 2015 so với năm 1999
Cụ thể: Sự thay đổi vị trí về thứ tự ưu tiên trong điều luật:
- Nhà nước, tổ chức → Mình hoặc người khác
- Mình hoặc người khác → Nhà nước, tổ chức.
Việc sửa đổi này là phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013, ưu tiên bảo vệ quyền con người, quyền công dân
➤ Điều kiện quyền phòng vệ chính đáng của cá nhân được thực hiện:
Hành vi tấn công đang diễn ra có thể xâm phạm quyền lợi chính đáng của người phòng vệ, người khác, hoặc lợi ích của Nhà nước và tổ chức Chẳng hạn, khi anh A phát hiện anh B đang ăn cắp tài liệu mật của công ty, và anh B có hành vi bạo lực nhằm giết anh A để che giấu tội phạm, thì anh A có quyền thực hiện hành động phòng vệ chính đáng để bảo vệ bản thân và quyền lợi của công ty.
Hành vi phòng vệ gây thiệt hại cho người xâm phạm là cần thiết trong trường hợp tự vệ chính đáng Ví dụ, khi N là sát nhân đang bị truy nã và tiếp cận P với mục đích giết hại do có mâu thuẫn, hành động phòng vệ của P là hợp lý và cần thiết để bảo vệ bản thân.
=> Hành vi P phòng vệ gây thiệt hại cho N là cần thiết
Cần thiết là sự thể hiện của việc không thể không chống trả và không thể bỏ qua trước những hành vi xâm phạm đến lợi ích của xã hội.
Trong trường hợp của P, hành vi phòng vệ được xem là cần thiết do N đã có hành vi xâm phạm đến lợi ích xã hội trước đó và có mục đích đe dọa tính mạng của P.
Hành vi phòng vệ chỉ được phép gây thiệt hại trực tiếp cho người có hành vi xâm hại, không được làm tổn hại đến bất kỳ ai khác Ví dụ, trong trường hợp A và B cùng lên kế hoạch tấn công ông C, A chỉ có trách nhiệm giữ xe trong khi B thực hiện hành vi bạo lực Khi bị B tấn công, ông C chỉ có quyền phòng vệ và gây thiệt hại cho B, không có quyền gây thiệt hại cho A.
Hành vi phòng vệ chỉ được phép gây ra thiệt hại cần thiết, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại Mục đích của hành vi phòng vệ là nhằm ngăn chặn hoặc loại bỏ hành vi xâm hại.
Ông A có quyền bảo vệ tài sản của mình, trong trường hợp H có hành vi trộm chó, ông A chỉ được gây thiệt hại cho H ở mức độ cần thiết, như làm H bất tỉnh tạm thời hoặc mất khả năng giữ chó của ông A.
Trong trường hợp ngoại lệ, người phòng vệ có quyền thực hiện hành động bảo vệ khi đối diện với những người tâm thần, người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hoặc những người có hành vi xâm phạm, nhưng chỉ khi không còn lựa chọn nào khác Điều này tương tự với quy định tại Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình thế cấp thiết.
Bảo vệ phát hiện một người có dấu hiệu tâm thần đang cầm đuốc xông vào Ngân hàng Nhà nước, do đó, họ buộc phải thực hiện quyền phòng vệ để bảo vệ tài sản của Ngân hàng và tính mạng của những người có mặt trong đó.
➤ Lưu ý: Việc thực hiện quyền phòng vệ chính đáng là một quyền chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý.
=> Cá nhân người bị xâm phạm đến quyền lợi có thể chọn cách thực hiện quyền phòng vệ hoặc không
➤ Quy định: Theo Khoản 2 Điều 22 BLHS năm 2015 quy định:
Hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả quá mức cần thiết, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại Người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật.
Theo điểm c khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.
➤ Mức xử phạt khi phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Trường hợp gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự)
Theo Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015, người cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ bị xử lý theo quy định Điều này bao gồm hành vi vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Tình thế cấp thiết
➤ Quy định Điều 23 Tình thế cấp thiết:
1 Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
2 Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, điểm d khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định người phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ được xem xét đó là tình tiết giảm nhẹ khi truy cứu Trách nhiệm hình sự
➤ So sánh: Bộ Luật Hình Sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:
Hiệu lực: Hết hiệu lực toàn bộ
- Cụ thể: Trong Chương III Tội Phạm, Điều 16 Tình thế cấp thiết
1 Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
2 Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 1999
Vị trí: Điều 23 Chương IV:
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, của người khác, cũng như lợi ích của Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, việc tránh gây thiệt hại là rất quan trọng.
Vị trí: Điều 16 Chương III: TỘI PHẠM
Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức và quyền lợi chính đáng của bản thân cũng như của người khác, việc tránh xa những nguy cơ đang đe dọa là điều cần thiết.
➞ Nhận xét: + Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được tách thành một chương riêng
+ Có sự sửa đổi về mặt nội dung của khoản 1 Điều 23 BLHS năm 2015 so với năm 1999
Cụ thể: Sự thay đổi vị trí về thứ tự ưu tiên trong điều luật:
- Nhà nước, tổ chức → Mình hoặc người khác
- Mình hoặc người khác → Nhà nước, tổ chức.
Sự thay đổi từ ngữ trong điều luật giữa BLHS năm 2015 và BLHS năm 2019 cho thấy sự chuyển biến từ việc "tránh gây thiệt hại" sang "tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa" Điều này cho thấy rằng từ ngữ trong BLHS năm 2015 gãy gọn và súc tích hơn.
Việc sửa đổi này là phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013, ưu tiên bảo vệ quyền con người, quyền công dân
➤ Các điều kiện đầy đủ để hành vì được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịu TNHS:
Để có sự vi phạm pháp luật, cần phải có một mối đe dọa hiện hữu và thực tế xâm phạm đến lợi ích được pháp luật bảo vệ, bao gồm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cũng như lợi ích chính đáng của cá nhân thực hiện hành vi hoặc của người khác.
(ii) Hành vi gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để tránh thiệt hại đang bị đe dọa xảy ra
(iii) Thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa
Một nhóm người dân ở làng trên núi phải đối mặt với một con gấu hung dữ trong sách đỏ tấn công vào ban đêm Để bảo vệ cộng đồng, họ buộc phải tiêu diệt con gấu Sau khi sự việc xảy ra, họ đã thông báo cho cơ quan chức năng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Một nhóm người dân sống trên núi đang phải đối mặt với sự tấn công của một con gấu hung dữ, điều này cho thấy sự đe dọa hiện hữu và xâm phạm đến lợi ích được pháp luật bảo vệ, đặc biệt là tính mạng con người.
Trong đêm tối, khi người dân đang bị tấn công, họ không thể chạy trốn hay thông báo cho cơ quan chức năng Hành vi gây thiệt hại trở thành biện pháp duy nhất để ngăn chặn những thiệt hại đang đe dọa Do đó, họ buộc phải giết con gấu.
Mặc dù động vật hoang dã được liệt kê trong 'sách đỏ' quốc gia, nhưng tính mạng con người vẫn là ưu tiên hàng đầu Trong những tình huống khẩn cấp, thiệt hại do động vật gây ra cần phải được đánh giá và đảm bảo rằng nó nhỏ hơn thiệt hại mà chúng ta cần ngăn chặn.
Nếu nhóm người dân quyết định giết hại con gấu mà không có tình thế cấp thiết, họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 Điều này quy định về tội vi phạm các quy định liên quan đến quản lý và bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
1 Người nào vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; động vật nguy cấp, quý hiếm thuộc Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
5 Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
5.1Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là gì
* Cơ sở pháp lý: Điều 25 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Hành vi gây thiệt hại trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, dù đã tuân thủ đúng quy trình và biện pháp phòng ngừa, không được coi là tội phạm.
Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên như sau:
“Điều 26 Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đã báo cáo đầy đủ và người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành Trong trường hợp này, người ra mệnh lệnh sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này.”
7.1 Định nghĩa thi hành mệnh lệnh cấp trên và đối tượng được loại trừ TNHS khi thi hành mệnh lệnh
Theo Điều 23 của Luật Quốc phòng số 22/2018/QH14, việc thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên là nhiệm vụ của cá nhân trong lực lượng vũ trang nhân dân, nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh Chủ thể của quy định này bao gồm quân nhân tại ngũ, công nhân và viên chức quốc phòng Lực lượng vũ trang có vai trò bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và duy trì trật tự an toàn xã hội, bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ.
7.2Quy định loại trừ trách nhiệm hình sự cho người thi hành mệnh lệnh
Theo quy định của Bộ luật Hình sự, bất kỳ cá nhân nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được tính trái pháp luật của hành vi đó đều phải chịu trách nhiệm hình sự, bất kể mục đích hay yêu cầu của ai Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt liên quan đến ngành nghề, việc tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên trở thành nghĩa vụ pháp lý Điều này được quy định rõ trong các luật như Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Công an nhân dân, nhấn mạnh việc tuyệt đối phục tùng tổ chức và chỉ huy Cụ thể, sĩ quan và chiến sĩ Công an nhân dân phải nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng như chỉ thị từ cấp trên.
BLHS 2015 quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây thiệt hại khi thực hiện lệnh hợp pháp của người chỉ huy hoặc cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân, dựa trên nguyên tắc “mệnh lệnh – phục tùng” Do tính chất đặc thù của ngành nghề, việc tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh là cần thiết; do đó, việc loại trừ trách nhiệm hình sự khi thi hành mệnh lệnh nhằm bảo vệ quyền lợi cho người thi hành công vụ, đồng thời loại bỏ khả năng phải chịu hậu quả pháp lý cho những hành vi gây thiệt hại không phải là tội phạm.
Lưu ý rằng việc loại trừ trách nhiệm hình sự khi thi hành mệnh lệnh chỉ áp dụng cho những người thuộc biên chế lực lượng vũ trang nhân dân đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Quy định này không áp dụng cho quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng, cũng như cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước ở các lĩnh vực khác Do đó, những đối tượng này không thể sử dụng quy định này để được miễn trừ trách nhiệm hình sự.
7.3Điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự cho người thi hành mệnh lệnh
Các điều kiện để người thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên được loại trừ trách nhiệm hình sự như sau:
Thứ nhất, khi mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên đúng pháp luật
Người thi hành mệnh lệnh của cấp trên phải thực hiện đúng phạm vi và theo pháp luật, và nếu gây thiệt hại cho xã hội thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự do không có lỗi Tuy nhiên, nếu họ tự ý vượt quá phạm vi được giao và gây thiệt hại, thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự cho hậu quả của hành vi đó.
Thứ hai, khi mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên đúng pháp luật
Với điều kiện trên, có tổng cộng 4 trường hợp để xem xét loại trừ TNHS cho người thi hành mệnh lệnh như sau:
Trong trường hợp người thi hành mệnh lệnh không biết tính chất trái pháp luật của mệnh lệnh và không có nghĩa vụ phải biết, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự Cơ cấu tổ chức của lực lượng vũ trang nhân dân rõ ràng và phân cấp cụ thể, với cấp dưới nhận mệnh lệnh từ người chỉ huy trực tiếp Do đó, cấp dưới không thể biết nhiệm vụ mà người chỉ huy của họ nhận từ cấp trên Với mối quan hệ “mệnh lệnh – phục tùng”, người nhận mệnh lệnh có nghĩa vụ thi hành mà không đánh giá tính xác thực của mệnh lệnh Nếu người thi hành mệnh lệnh thực hiện đúng nội dung và phạm vi của mệnh lệnh, dù gây thiệt hại cho xã hội, họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp người thi hành mệnh lệnh của cấp trên nhận thức được tính chất không hợp pháp của mệnh lệnh nhưng đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo, nếu người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành, thì người thi hành mệnh lệnh không phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện đúng nội dung và phạm vi của mệnh lệnh, ngay cả khi gây ra thiệt hại.
Trong một cuộc vây bắt, lực lượng cảnh sát hình sự và cảnh sát về ma túy đã bao vây khu nhà nơi có các đối tượng phạm tội đang lẩn trốn và chống cự Ông A, chỉ huy cuộc vây bắt, đã ra lệnh nổ súng Cán bộ công an B, thực hiện mệnh lệnh, đã phát hiện trong nhà không chỉ có đối tượng phạm tội mà còn có khả năng có những người khác, và đã kịp thời báo cáo lại cho cấp trên là ông A.
A, nhưng ông A vẫn ra lệnh nổ súng thì B phải chấp hành mệnh lệnh Khi đó, B đã nổ súng, đối tượng phạm tội bị tiêu diệt nhưng kéo theo đối tượng chủ nhà là anh
C cũng bị chết Người này không liên quan gì đến việc phạm tội B không phải chịu trách nhiệm về cái chết của C.
B đã tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên một cách tuyệt đối và thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo Do đó, B không phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại gây ra cho xã hội, mà trách nhiệm thuộc về người ra lệnh.
Trong trường hợp người thi hành mệnh lệnh của chỉ huy nhận thức được tính chất không hợp pháp của mệnh lệnh nhưng không thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo, họ vẫn tiến hành thực hiện và gây ra thiệt hại cho xã hội Do đó, họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với cấp trên.
Trong trường hợp người thi hành mệnh lệnh của cấp trên nhận thức được tính chất không hợp pháp của mệnh lệnh và quyết định không thực hiện, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự Điều này xảy ra vì họ đã không tuân theo mệnh lệnh của người chỉ huy, do đó không gây ra hậu quả nguy hiểm.
Quan hệ mệnh lệnh hành chính trong các cơ quan tổ chức dân sự khác biệt với lực lượng vũ trang, vì người chấp hành có khả năng cân nhắc về nội dung và tính hợp pháp của mệnh lệnh Họ không chỉ đơn thuần chấp hành mà còn có tính chủ động, dẫn đến việc gây hại cho xã hội có thể bị coi là lỗi của người thi hành Do đó, thiệt hại không được xem là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, mà có thể là tình tiết giảm nhẹ trong một số trường hợp Đối với các nhiệm vụ không liên quan đến quốc phòng, an ninh, nếu người thi hành mệnh lệnh thực hiện đúng quy trình nhưng vẫn bị yêu cầu thi hành, thì cả người thi hành và người chỉ huy có thể bị xem xét đồng phạm trong tội phạm đã thực hiện.
7.4Các trường hợp không áp dụng loại trừ trách nhiệm hình sự cho người thi hành mệnh lệnh Điều 26 Bộ luật hình sự quy định có 03 ngoại lệ mà người thực hiện mệnh lệnh mặc dù sau khi đã thực hiện việc báo cáo đúng quy trình vẫn không được loại trừ trách nhiệm bởi đây là những tội vi phạm nguyên trọng đếm nhiệm vụ bảo vệ đất nước, bảo vệ con người của lực lượng vũ trang nhân dân Đó là Khoản 2 của các Điều sau:
“Điều 421 Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược
2 Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.”
“Điều 422 Tội chống loài người
2 Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.”
“Điều 423 Tội phạm chiến tranh
2 Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.”