1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn tập chương trình văn 9 vào 10

71 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Tập Chương Trình Văn 9 Vào 10
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại tài liệu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 738,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ôn tập chương trình ngữ văn 9 giúp các e có hệ thống ôn tập cơ bản và đầy đủ nhất có thể Mỗi bài được viết theo dạng bảng dễ đọc, dễ học, dễ ghi nhớ. Có các ý cần thiết để viết đoạn văn Phù hợp cho các bạn học sinh lớp 9 ôn tập kiểm tra, ôn thi học kì, và ôn thi vào 10.

Trang 1

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Sự tiếp thu tinh hoa

văn hóa để tạo nên

- Ý thức ham học hỏi

- Phục vụ cho sự nghiệp Cách mạng

Điều kiệnthuận lợi

- Đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều nền văn hóa khác nhau

- Làm nhiều nghề khác nhau thông qua lao động, tích lũy tri thức vănhóa

- Nói và viết nhiều thứ tiếng khác nhau, biến ngôn ngữ thành chiếc chìakhóa vạn năng để mở ra kho tàng văn hóa nhân loại

Cách tiếp thu - Tiếp thu chủ động, chọn lọc- Tiếp thu trên nền tảng văn hóa dân tộc

- Một chiếc nhà sàn nhỏ, chia thành rất nhiều phòng

- Đồ đạc trong phòng rất mộc mạc, đơn sơTrang phục, đồ dùng

cá nhânrất bình thường

Là vị Chủ tịch nước, phải gánh vác những trọng trách lớn lao nhưng Bác lại chủ động chọn cho mìnhmột lối sống giản dị, thanh cao Cuộc sống phản chiếu chiều sâu văn hóa của Bác, bắt nguồn từ quanđiểm thẩm mĩ lành mạnh của người Việt: cái đẹp nằm trong cái giản dị, gần gũi, đời thường

Liên hệ,

so sánh

Từ lối sống giản dị của Bác, tác giả liên hệ đến lối sống của các vị danh nho xưa nhưNguyễn Trãi ở Côn Sơn hay Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê nhà với những thú vui thuần đức:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá – Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Song người xưa chọn lối sống thanh thuần khi đã lui về ở ẩn còn Bác lại lựa chọn lối sống

ấy khi vẫn đang trên cương vị Chủ tịch nước Vì vậy, phong cách, lối sống của Người lạicàng quý hơn

Nghệ

thuật

- Lời kể và lời bình đan xen

- Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu

- Đan xen thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, dùng từ Hán Việt gợi cho người đọc thấy được sựgần gũi của Bác với các bậc hiền triết của dân tộc

- Sử dụng nghệ thuật đối lập: vĩ nhân mà hết sức giản dị, gần gũi

Trang 2

ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH

Tác giả

Thời đại Sinh năm 1928, mất năm 2014

Quê hương Nhà văn Colombia

Hoàn cảnh

riêng của tác

giả

- Nhà văn được mời tham dự sự kiện này

- Văn bản trích trong tham luận “Thanh gươm Đa-mô-clét” của tác giả, đọc tại hội nghịnày

Nhan

đề

- “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” là luận điểm chính của toàn bộ bài viết

- Những phân tích về nguy cơ chiến tranh hạt nhân và cuộc chạy đua vũ trang, sự hủy diệt ghê gớmcủa vũ khí hạt nhân, mục đích để kêu gọi mọi người đoàn kết, chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình.Chính vì vậy, văn bản không thể tên là “Cuộc chay đua vũ trang” “Đấu tranh cho một thế giới hòabình” là nhan đề phù hợp nhất với mục đích viết văn bản này

Sức tàn phá hủy diệt của thảm họa hạt nhân, không chỉ giới hạn trong Trái Đất mà cònbao trùm cả những hành tinh khác trong hệ Mặt trời

- Tác giả sử dụng một hình ảnh so sánh đặc sắc trong thần thoại Hy Lạp: “Nguy cơ ghêgớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét”

Cho chúng ta hình dung rõ nét về nguy cơ luôn rình rập, đe dọa trực tiế sự sống trênhành tinh, nó như một thanh gươm đè ngang cổ ta mà chỉ treo bằng một sợi lông đuôi ngựamỏng manh, như cái chết lúc nào cũng có thể giáng xuống đầu bất cứ lúc nào khiến chúng

ta cũng lo âu, phấp phỏng

- Con người suốt bao đời vô cùng gian nan, vất vả, chống chọi với thiên tai để sinh tồnnhưng thật vô lý là chính con người lại tạo ra mối nguy hiểm từ vũ khí hạt nhân Nhữngngành khoa học phục vụ cho cuộc sống của con người lại không có sự tiến bộ nhanh ghêgớm như ngành công nghiệp hạt nhân – ngành khoa học hủy hoại cuộc sống Thật đángmỉa mai khi hiểm họa hủy hoại con người lại là đứa con do chính con người tạo ra

Bằng một đoạn văn rất ngắn nhưng với lập luận chặt chẽ, lời văn sắc sảo, hùng hồn vàđặc biệt là những số liệu cụ thể, Mác-két đã chỉ ra rất cụ thể, rõ ràng nguy cơ chiến tranhhạt nhân đang đe dọa loài ngoài

Thái độ,

tình cảm

- Phản đối gay gắt chiến tranh hạt nhân

- Tinh thần ưa chuộng hòa bình

- Chiến tranh hạt nhân được ví như là căn bệnh “dịch hạch” bởi nó “tiến bộ nhanh ghê gớm” và đe dọa

sự sống của tất cả loài người trên Trái Đất này Nhưng việc bảo tồn sự sống trên Trái Đất thoát khỏi “dịchhạch hạt nhân” lại ít tốn kém hơn nhiều so với việc tạo ra nó Trái lại, người ta dùng số tiền đầu tư vào đó

để làm những công việc có ích thì cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nhiều

Trang 3

- Tiếp tục đưa ra các con số so sánh với các lĩnh vực y tế, tiếp tế thực p hẩm:

+ 1 số tiền khổng lồ để có thể thực hiện chương trình phòng bệnh trong 14 năm và bảo vệ hơn 1 tỉ ngườikhỏi bệnh sốt rét và cứu 14 triệu trẻ em châu Phi chỉ tương đương với giá của 10 trong số 15 chiế tàusân bay mang vũ khí hạt nhân kiểu tàu Ni-mít

+ Bớt đi 149 tên lửa MX là có thể cứu 575 triệu người đang bị thiếu dinh dưỡng

+ Chỉ cần 27 tên lửa MX là trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có thể đủ thực phẩmtrong 4 năm

+ Chỉ cần 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân “là đủ tiền” xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới

Qua những hình ảnh so sánh mà tác giả đưa ra ta có thể thấy số tiền mà con người phung phí vào vũkhí hạt nhân là vô cùng tốn kém Thay vì dùng số tiền đó vào việc rất có ý nghĩa là cứu hàng tỉ người thìngười ta lại có thể đem tiền để chạy đua vũ khí hạt nhân, chỉ để phô trương lực lượng, chứng minh sứcmạnh quân sự của các cường quốc và đặt con người vào thảm họa hủy diệt

NX: tình cảm và thái độ của tác giả

- Để làm rõ nhận định này tác giả đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể:

+ Để có 1 thế giới như ngày hôm nay, cả thế giới tự nhiên và con người đã phải trải qua hàng triệu nămđấu tranh để sinh tồn và phát triển : “380 triệu năm con bướm mới bay được, 180 triệu năm bông hồngmới nở chỉ để làm đẹp”, “trải qua 4 kỉ địa chất, con người mới hát hay được hơn chim và mới chết vìyêu” Sự tiến hóa của con người và tự nhiên là cả một quá trình lâu dài

+ Thế nhưng ngày nay, khoa học và trí tuệ chỉ cần bấm một nút là cả quá trình tiến hóa lại trở về điểmxuất phát: “Trong thời đại hàng kim của nó”

Đó là điều đáng hổ thẹn vì đó là phá hoại mà không chỉ phá hoại của cải vật chất mà là cả sự tiến bộ,

sự đấu tranh, sự hi sinh của con người và tự nhiên trong suốt hàng triệu năm Mọi hành động phá hoạiđều đáng lên án, đây lại là sự phá hoại điên rồ nhất Con người vất vả để sinh tồn nhưng chính conngười lại tạo ra vũ khí hủy diệt chính mình, đó là điều đi ngược lại lí trí con người và lí trí tự nhiên.NX: tình cảm và thái độ của tác giả

Trang 4

TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN, QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM

NX: tình cảm và thái độ của tác giả

- Trẻ em chịu nhiều thảm họa:

+ Đói nghèo (chết do suy dinh dưỡng)+ Khủng hưởng tinh tế

+ Tình trạng vô gia cư+ Môi trường sống xuống cấp+ Mù chữ

+ Dịch bệnh: HIV/ AIDS

Cơ hội

Các điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng quốc tế hiện nay có thể đẩy mạnh việc chăm sóc bảo vệtrẻ em:

- Sự liên kết giữa các quốc gia cùng ý thức của cộng đồng quốc tế

- Đã có công ước về quyền trẻ em làm cơ sở, tạo ra cơ hội mới

- Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng hiệu quả: phong trào giải trừ quân bị được đẩy mạnh

- Ở nước ta, Đảng và Nhà nước quan tâm cụ thể Nhân thức của cộng động về vấn đề này ngày càngsâu sắc

Nhiệm

vụ

- Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng cho trẻ em

- Quan tâm chăm sóc trẻ em khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

- Tăng cường vai trò của phụ nữ nói chung và đảm bảo quyền bình đẳng giới

- Đảm bảo cho trẻ được học hết bậc THCS, không có trẻ em nào mù chữ

- Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tạo điều kiện để trẻ em lớn khôn và phát triển nền móng gia đình

- Vì tương lai của trẻ em cần cấp bách đảm bảo hoặc khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển đềuđặn nền kinh tế của tất cả các nước

Trang 5

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Nguyễn

Dữ

Thời đại Sống vào TK XVI, là thời kì triều đình nhà Lê bắt đầu khủng hoảng Các tập đoàn phong

kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dàiQuê Hải Dương (đồng hương Ng Trãi)

Conngười

- Học rộng tài cao, là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Tuyết Giang phu tử)

- Nhà nho giữ khí tiết thanh cao chỉ làm quan một năm rồi cáo quan về sống ẩn dật nơithôn dã

Tác

phẩm

Xuất xứ - Truyện thứ 16 trong 20 truyện của “Truyền kì mạn lục”- Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”

Thể loại “Truyền kì mạn lục”: ghi chép tản mạn những điều kì lạ được lưu truyền

Chủ đề

Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người congái Nam Xương” thể hiện niềm thương cảm của những số phận cay nghiệt đồng thời cangợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến

- Lời trăn trối cuối cùng của mẹ chồng đã đánh giá cao công của Vũ Nương đối với gia đình:

“Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống nòi tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kiaquyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”

Thông thường, nhất là trong xã hội cũ, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu là mối quan hệ căngthẳng, phức tạp Nhưng trước người con dâu chân thành, giàu tình thương yêu như Vũ Nươngthì người mẹ chồng không thể ko yêu mến

Với

chồng

- Trong cuộc sống gia đình:

+ Sống khuôn phép, giữ gìn hạnh phúc gia đình: “Giữ gìn khuôn phép,không từng để lúc nào vợ chồng phải thất hòa”

- Khi tiễn chồng đi lính:

+ Bày tỏ ước mong chồng được bình yên: “Chàng đi chuyến này, thiếpchẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xinngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”

+ Tỏ niềm cảm thông với nỗi vất vả, gian lao của người chồng ở chiếntrường: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩnlút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có mà mùa dưa chín quá kìkhiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng”

Những lời văntừng nhịp, từngnhiệp biền ngẫunhư nhịp đập tráitim nàng – trái timcủa người vợ trẻđang thổn thức, lo

âu cho chồng.Những lời đó nhưthấm vào lòngkhiến ai cũng xúcđộng

Trang 6

- Khi chồng đi lính:

+ Tỏ niềm khắc khoải, nhớ nhung: “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm,mỗi khi nhìn bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bểchân trời không thể n ào ngăn được.” Đây là nỗi buồn vò võ, kéo dài quanăm tháng

+ Giữ gìn tiết hạnh với chồng: “Cách biệt ba năm giữ gìn 1 tiết”, “tô sonđiểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”

Một người vợthủy chung, yêuthương chồng hếtmực

hình bóng cha, mong muốn con được sống trong cảnh đoàn viên người mẹ hiền

Có thể nói, cuộc đời của Vũ Nương tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận của 1 người phụ nữ: Mộtngười vợ thủy chung, một người mẹ thương con, một người dâu hiếu thảo Ở cương vị nào, nàng cũng làm rấthoàn hảo Tác giả Nguyễn Dữ đã ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến,tiêu biểu là Vũ Nương

không bình đẳng, vì lễ giáo phong kiến hà khắc: trọng nam khinh nữ

- Thể hiện nỗi nhớ chồng và khát vọng sumhọp gia đình

- Không muốn con thiếu vắng hình bóngngười cha

Lần 2, xuất hiện giántiếp qua lời kể của

con

“Có 1 ng đàn ông đêmnào cũng đến ”

Thắt nút câu chuyện, châm ngòi cơn ghen,gây ra nỗi oan khó giải của Vũ Nương

Lần 3, xuất hiện trực

tiếp

Bóng nàng hiện vềtrên dòng sông HoàngGiang

Sự bao dung của Vũ Nương, nàng không oántrách chồng Vũ Nương còn nặng tình, nặnglòng với quê hương, với gia đình

Cái bóng

của

Trương

Sinh

Xuất hiện trực tiếp

Khi đứa bé thấy bóngTrương Sinh trêntường, chàng hiểu ramọi chuyện

Mở nút câu chuyện, giải oan cho Vũ Nương,giống như hồi chuông cảnh tỉnh người đànông đa nghi, hay ghen như Trương Sinh: Đãyêu thương nhau thì nên tin tưởng, đừng đểcái bóng rình rập, phá vỡ hạnh phúc gia đình

Yếu

tố

thần

- Phan Lang nằm mộng, thả rùa mai xanh

- Phan Lang được Linh Phi cứu, vào thăm thủy cung, gặp Vũ Nương

- Vũ Nương xuất hiện trong đàn giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh huyền ảo rồi từ từ biến mất

Ý

nghĩa

- Hoàn chỉnh những nét đẹp vốn có của nhân vật, dù ở thế giới nàng vẫn nặng tình với cuộc đời, quantâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát phục hồi nhân phẩm

- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, an ủi người đã khuất

- Thể hiện ước mơ về sự công bằng trong cuộc đời

- Thức tỉnh người đọc: mọi điều tốt đẹp chốn thủy cung chỉ là ảo ảnh, người chết không thể sống lạitính bi kịch vẫn còn

Trang 7

- Tố cáo xã hội: hiện thực cuộc sống áp bức, bất công Trong cuộc sống ấy, con người đức hạnh khôngthể tự bảo vệ hạnh phúc

Trang 8

HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ – HỒI THỨ 14

- Tác phẩm được viết từ cuối triều Lê đến đầu triều Nguyễn

- Ngô Thì Chí viết 7 hồi đầu, Ngô Thì Du viết 7 hồi tiếp

- 3 hồi cuối chưa rõ ai viếtThể loại

- Thể chí: là một thể văn ghi chép sự vật, sự việc vừa có tính văn học, vừa có tính lịch sửvừa mang tính triết lí

- Là một tiểu thuyết lịch sử kiểu chương hồi, bằng chữ Hán, gồm 17 hồi

- Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn là một người hành động một cách xôngxáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quyết đoán

- Khi nghe tin giặc chiếm đến tận Thăng Long, mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông

đã không hề nao núng, “định thân chinh cầm quân đi ngay”

- Rồi chỉ trong 1 tháng, ông đã làm nhiều việc lớn:

+ Tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế+ Đốc xuất đại binh ra Bắc

+ Gặp người cống sĩ La Sơn+ Tuyển mộ binh lính và tổ chức duyệt binh ở Nghệ An+ Phủ dụ tướng sĩ kế hoạch hành quân

+ Đánh giặc, đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng

Có trí tuệ

sángsuốt,nhạy bén

Sáng suốttrong việclên ngôi

- Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặcđang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”,Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế chính vị hiệu, lấy niên hiệu là Quang Trung

- Việc lên ngôi đã được tính kĩ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anhtài, quan trọng hơn là để yên lòng kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, đượcnhân dân ủng hộ

Sáng suốttrong việcnhận địnhtình hìnhđịch và ta(Lời phủ

dụ ở Nghệ

An – sgk/

66)

- Khẳng định chủ quyền dân tộc: “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều

đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị Ngườiphương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác”

- Lên án tội ác xâm lược của giặc: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng dã mấyphen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mìnhkhông thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”

- Nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc như Trưng NữVương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành để khích lệ tướng sĩ dưới quyền

- Kêu gọi nhân dân “đồng tâm hiệp lực” và ra kỉ luật nghiêm, “chớ quen thói

cũ, ăn ở hai lòng”, “nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết ngay tức khắc,không tha một ai”

Trang 9

Sáng suốttrong việcxét đoán

bề tôi vàviệc dùngngười

- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở vàLân, ta thấy rõ ông rất hiểu tình thế buộc phải rút quân của 2 vị tướng này.Đúng ra, “quân thua kém tướng” nhưng ông hiểu lòng họ, sức mình ít,không thể địch nổi quân tướng hùng hổ của nhà Thanh nên đành bỏ về TamĐiệp để tập hợp lực lượng vì vậy Sở và Lân không bị phạt mà còn đượckhen

- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng một vị quân sư

“đa mưu túc trí” Việc Sở và Lân rút lui, Quan Trung cũng đoán là do NgôThì Nhậm chủ mưu, vừa để bảo toàn lực lượng vừa gây cho địch sự chủquan Do đó, ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéoléo để dẹp việc binh đao

Có tầm

nhìn xa

trôngrộng

- Ông luôn tin ở mình, tin vào chính nghĩa của dân tộc Lúc mới khởi binh đánh giặc,chưa giành được tấc đất nào, ông đã chắc thắng và dự kiến cả ngày chiến thắng:

“Phương lược tiến đánh đã định sẵn, bất qua mươi ngày là xong”

- Đang ngồi trên lưng ngựa lo đánh giặc, Quang Trung đã bàn với Ngô Thì Nhậm vềquyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 năm tới sau hòa bình: “Chờ 10 năm nữa, cho tađược yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có gì để sợchúng” Ông làm tất cả vì hòa bình và phát triển dân tộc

Là bậc kì

tài vềquân sự,

có tàithaolược hơn

người

- Nhà vua thân chinh cầm quân, tổ chức dịch với cuộc hành quân thần tốc trong lịch sử

- Cuộc hành quân thần tốc ấy đến giờ vẫn làm ta ngạc nhiên:

+ Ngày 25 tháng Chạp bắt đầu xuất quân từ Phú Xuân (Huế) Một tuần sau đã đến TamĐiệp

+ Đêm 30 tháng Chạp đã lập tức lên đường tiến ra Thăng Long (tất cả đều đi bộ)+ Từ Tam Điệp trở ra vừa hành quân vừa đánh giặc, giữ bí mật và bất ngờ

- Hành quân liên tục và gấp gáp nhưng quân đội của Quang Trung vẫn chỉnh tề, cho dùquân đội đó không phải toàn lính thiện chí nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của ông đã trởthành quân đội dũng mãnh, đánh đâu thắng đó

Hình ảnh

vị vualẫm liệt

trongchiếntrận

- Vua Quang Trung thân chinh cầm quân đánh giặc không chỉ trên danh nghĩa Ông làmtổng chỉ huy chiến dịch thực sự

- Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị vua này nghĩa quân Tây Sơn đánh những trận thắngđẹp, thắng áp đảo kẻ thù

- Khí thế của nghĩa quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũngđược khắc họa lẫm liệt trong cảnh “khói tỏa trời, cách gang tấc cũng không thấy gì” nổibật hình ảnh vị vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm chiến bào sạm đen khói súng

- Hồi thứ 14 của nhóm tác giả Ngô Gia Văn phái

- Hình ảnh người anh hùng áo vải của dân tộcCon người

hành độngmạnh mẽ,quyết đoán

- Tấn công quân xâm lược: xông xáo, có chủ đích

- Trong 1 tháng làm được nhiều việc: tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng đế, chỉ huy đạibinh, gặp người cống sĩ huyện La Sơn, tuyển binh, duyệt binh, phủ dụ tướng sĩ

Là người nhạy

bén, thôngminh, sángsuốt

- So sánh, phân tích tình hình địch ta

- Nhạy bén trong việc thu phục binh sĩ

- Hiểu sâu sắc ý chí của tướng sĩ, khen chê đúng lúc, đúng chỗ

Có tầm nhìn

xa trông rộng,

ý chí quyếtchiến quyếtthắng cao

- Chưa đánh đã cầm chắc chiến thắng trong tay

- Có phương lược tiến đánh, am hiểu bài binh bố trận

- Lên sẵn kế hoạch ngoại giao sau chiến thắng

- Cuộc hành quân thần tốc khiến cho địch không kịp trở tay

Có tài dùngbinh như thần

- Vừa là người lên kế hoạch vừa là người thực hiện kế hoạch đánh địch

- Tự cưỡi voi và đốc thúc đại binh

- Cách đánh giặc thiên biến vạn hóaHình ảnh vị

vua lẫm liệttrên chiến trận

- Là một tổng chỉ huy chiến dịch thực sự

- Hình ảnh người thủ lĩnh ấy đã làm nức lòng quân sĩ

- Tạo được niềm tin quyết chiến quyết thắng đồng thời khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía

- Cưỡi voi tả xung hữu đột, áo bào đỏ đã sạm đen khói súng

Trang 10

Nhận xét

- Khắc họa hình ảnh tiêu biểu

- Là trang sử đẹp về người anh hùng áo vải – linh hồn của cuộc chiến, thiên tài củađất nc

Quân

Trước khi Tây Sơn đánh đến thì mặc sức vui chơi nhưng khi lâm trận ai nấy đều “rụng rời

sợ hãi” xin ra hàng hoặc “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, đến nỗi nướcsông Nhị Hà tắc nghẽn không chảy được

Nhậnxét

Cả đội binh hùng tướng mạnh, mấy chục vạn người, quen diễu võ giương oai giờ đây chỉcòn biết tháo chạy, đêm ngày đi gấp không dám nghỉ ngơi Đó là số phận tất yếu của kẻxâm lược

Cuộc

đời

- Tên chữ Tố Như, hiệu là Thanh Hiên

- Quê quán: làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

- Xuất thân: đại quý tộc, họ Nguyễn Tiên Điền; nhiều đời làm quan, truyền thống văn học

- Cùng với sự biến động của lịch sử gia đình sa sút+ Cha mẹ mất sống cùng người anh khác mẹ Nguyễn Khản+ Khi Lê – Trịnh sụp đổ phải sống khổ cực: phiêu bạt 10 năm, rồi về ở ẩn tại Hà TĨnh+ 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, ông bất đắc dĩ ra làm quan với triều Nguyễn

Con

người

- Vốn tri thức sâu rộng, đặc biệt am hiểu văn học Việt Nam và Trung Quốc

- Vốn sống phong phú, rất từng trải bởi đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều con người và cácmảnh đời khác nhau

- Đồng cảm sâu sắc với những khổ đau của nhân dân

Xuất xứ Nguồn gốc từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc)

HCST Phỏng đoán: bắt đầu sáng tác cuối TK XVIII (năm 1976), hoàn thành đầu TK XIX (năm

1802)Thể loại Truyện thơ Nôm

Trang 11

CHỊ EM THÚY KIỀU

1 Vị trí đoạn trích: Nằm ở phần I (Gặp gỡ và đính ước)

Giới thiệu vẻ đẹp chung của 2

chị em (4 câu đầu)

“Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn

- Mỗi người mang 1 vẻ đẹp riêng (câu 4)Gợi được cảm xúc về chị em Kiều: thanh tao, xinh đẹp từ hình thức đếntâm hồn

Miêu tả vẻ đẹp của Vân:

“Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn nét ngày nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu

da.”

Thúy Vân là cô gái có vẻ đẹp đoan

trang, phúc hậu Vẻ đẹp của Vân là vẻ

đẹp mang tính cách, số phận hài hòa với

thiên nhiên, tạo hóa Thiên nhiên

“nhường”, “thua” trước vẻ đẹp ấy, dự

báo một cuộc đời êm ả, bình yên

- Giới thiệu khái quát vẻ đẹp của Vân (câu 1) cao sang, quý phái

- Chân dung Vân được miêu tr bằng bút pháp ước lệ: so sánh vớinhững gì đẹp nhất của thiên nhiên trời đất: trăng, hoa, ngọc, mây,tuyết

- Biện pháp nghệ thuật liệ kê với các tính từ làm cho vẻ đẹp hiện lêntoàn vẹn: từ khuôn mặt, nét mày, làn da, mái tóc, nụ cười, phong thái

+ “khuôn trăng đầy đặn”: đẹp như trăng rằm+ “nét ngày nở nang”: lông mày sắc nét, đậm

- Các biện pháp ẩn dụ, so sánh kết hợp với thành ngữ dân gian đểlàm nổi bạt vẻ đẹp của Vân, qua đó dựng lên một chân dung với khánhiều chi tiết có nét hình, có màu sắc, âm thanh, tiếng cười, giọng nói

Vẻ đẹp của Vân sanh ngang với vẻ đẹp kiều diễm của cây lá, ngọcngà, mây tuyết – những báu vật tinh khôi, trong trẻo của trời đất

Vẻ đẹp nhan sắc và tài năng của Kiều:

“Kiều càng sắc sảo, mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn:

Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một tài đành họa hai

Thông minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm,

Nghê riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.”

Chân dung của Kiều mang tính cách

số phận, vẻ đẹp của Kiều khiến tạo hóa

phải “hờn, ghen” Cuộc đời của Kiều là

cuộc đời hồng nhan bạc mệnh

1 Vẻ đẹp nhan sắc

- Gợi tả vẻ đẹp của Kiều, tác giả vẫn dùng những hình ảnh ước lệ

“xuân sơn”, “hoa”, “liễu”, “thu thủy” Đặc biệt khác với Vân, Nguyễn Duchỉ đặc tả đôi mắt theo lối “điểm nhãn” – vẽ hồn cho chân dung

- H/a “làn thu thủy, nét xuân sơn” là hình ảnh ước lệ, ẩn dụ, gợi đôimắt long lanh, linh hoạt như làn nước mùa thu, lông mày thanh tú nhưnét mùa xuân Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần tinh anh củatâm hồn và trí tuệ

- Vẻ đẹp Kiều không được miêu tả trực tiếp mà thông qua sự ghenghét của thiên nhiên thì đó quả là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức cuốnhút lạ lùng

2 Vẻ đẹp tài năng và tâm hồn

- Vẻ đẹp của Kiều ẩn chứa bên trong phẩm chất cao quý, cái tài và cáitình đặc biệt Kiều là người thông minh, đa tài: “Thông minh vốn sẵntính trời”

- Tài năng của Kiều đạt tới mức lý tưởng theo quan niệm thẩm mĩphong kiến: “Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”

- Tác giả đặc tả tài đàn – sở trưởng, nghề riêng của nàng (câu 9, 10).Cung đàn của Kiều là tiếng lòng của 1 trái tim đa cảm (câu 11, 12) Vẻđẹp của nàng là sự kết hợp của sắc, tài và tình

Trang 12

CẢNH NGÀY XUÂN

Khung cảnh ngày xuân:

“Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chịu đã ngoài sáu

mươi

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

Với bút pháp chấm phá, tác giả đã rất

thành công khi phác họa bức tranh ngày

xuân khoáng đạt và đầy sức sống Đồng

thời, nhà thơ cũng gợi lên bao cảm xúc

tươi vui, phấn khởi cũng như một chút

bâng khuân, tiếc nuối của nhân vật trữ

tình

1 Hai câu thơ đầu khắc họa khung cảnh ngày xuân tuyệt đẹp

- H/a “con én đưa thoi”:

+ Tả cánh én bay rộn ràng: đây là hình ảnh quen thuộc, gần gũi,thường thấy vào mùa xuân

+ Thời gian trôi nhanh, không gian cao rộng của bầu trời gợi không khí

ấm áp của mùa xuân

- “Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi”:

+ Tả ánh sáng đẹp+ Gợi không gian tràn đầy nắng ấm, gợi thời điểm 3 tháng mùa xuân,thiên nhiên đạt tới độ viên mãn nhất, rực rỡ nhất, gợi tâm trạng tiếcnuối của chị em Kiều khi ngày xuân trôi qua nhanh

Nhà thơ khắc họa khung cảnh mùa xuân đang độ chín, rất đỗi ngọtngào Qua đó, ông gợi lên nỗi niềm tâm trạng của nhân vật trữ tình

2 2 câu tiếp, Nguyễn Du tái hiện 1 bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và tràn đầy sức sống:

- “Cỏ non xanh tận chân trời”

+ Tả không gian mênh mông, một màu xanh non của cỏ+ Gợi đến sức sống tràn trề của mùa xuân

- “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa:

+ Đảo ngữ “trắng điểm” để tô đậm sức trắng của hoa lê+ Động từ “điểm” gợi sự thanh thoát của 1 vài bông hoa lêThiên nhiên mùa xuân mang vẻ đẹp trong trẻo, thanh khiết

3 So sánh 2 câu thơ cổ: “Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa”

- Thơ cổ chú ý đến hương thơm của cỏ, Nguyễn Du lại quan tâm đếnsắc màu “non xanh” của cỏ

- Thơ cổ chú ý tới chuyển động của hoa lê, Nguyễn Du lại tạo ấntượng về sắc trắng tinh khôi của hoa lê

- Nguyễn Du vận dụng sáng tạo 2 câu thơ cổ với những gam màu đặcsắc Màu xanh của cỏ, sắc trắng của hoa lê rất đỗi hài hòa gợi lên mộtkhông gian trong trẻo, tinh khôi và tràn đầy sức sống

“Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bọ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhanh,

Ngựa xe như nước áo quần như

nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.”

Qua 8 câu thơ, tác giả đã khắc

họa thành công truyền thống văn

hóa lễ hội của dân tộc Đây cũng là

1 dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du

để mở ra cuộc gặp gỡ đặc biệt quan

trọng trong đời Kiều: Cuộc gặp gỡ

Kim – Kiều

1 Lời giới thiệu khái quát trong 2 câu thơ đầu

- Tiểu đối (câu 2): điệp ngữ, điệp cấu trúc

- TÍnh từ ghép “lễ hội” miêu tả 2 hoạt động cùng diễn ra 1 lúc trong ngàyxuân

+ “lễ tảo mộ” là sự tri ân về quá khứ của nam thanh nữ tú đi chơi xuân+ “hội đạp thanh” là ngày hội của mùa xuân

2 Miêu tả không khí lễ hội trong 6 câu tiếp

a Không khí tưng bừng, tấp nập của ngày hội trong 4 câu đầu:

- Kết hợp các từ ghép “gần xa”, “chị em”, “yến anh” và các từ láy “nô nức”,

“dập dìu”, tác giả đã tái hiện được tâm trạng tươi vui, náo nức, rộn ràngcủa lòng người đi chơi xuân

- Biện pháp so sánh: “ngựa xe như nước”, “áo quần như nêm” góp phầnmiêu tả sự đông đúc của từng đoàn người đi chơi xuân

- Ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi tả hình ảnh doàn người đi chơi xuân đôngvui, dập dìu, gợi những cuộc trò chuyện xôn xao, tình tứ, gợi cả nhữngnáo nức, tình tứ của đôi uyên ương trong ngày xuân

b Khoảng lặng trong ngày hội xuân được tái hiện qua 2 câu thơ cuối:

- Khoảng lặng ấy để miêu tả lễ thanh minh: truyền thống văn hóa đẹp củangười Việt: con cháu thăm viếng, sửa sang, rắc vàng vó, đốt tiền giấy chongười thân đã khuất

- Gợi truyền thống đạo lí rất đẹp: Truyền thống “uống nước nhớ nguồn”,gợi cả lối sống đẹp, lối sống ân nghĩa, thủy chung

Trang 13

Cảnh buổi chiều ngày hội xuân (6

câu cuối)

“Tà tà bóng ngả về tay,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh

thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc

- H/a được lựa chọn để miêu tả, khung cảnh thiên nhiên buổi chiều ngàyhội xuân “tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ”

+ Không gian lắng vào chiều sâu, gợi k hung cảnh nhỏ bé hơn, thân thuộchơn

- Hệ thống từ láy rất giàu giá trị biểu cảm đã được tác giả sử dụng để táihiện buổi chiều ngày xuân “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ”

+ Cảnh vật như có linh hồn, phảng phất một nỗi buồn man mác và xinhxắn

2 Tả cành hoàng hôn phản chiếu tâm trạng con người

- Đầu tiên là tâm trạng tràn đầy lưu luyến, tiếc nuối

- Đó còn là tâm trạng trầm lắng, suy tư của con người

- Người đọc thấy bồi hồi, xao xuyến trong tâm hồn nhân vật

Trang 14

KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH

1 Vị trí: Nằm trong phần 2: “Gia biến và lưu lạc”

Cảnh ngộ và nỗi niềm của Kiều:

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

b Quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích:

+ “non xa”: không gian dài rộng, cao sâu vô tận+ “trăng gần”: gợi sự chênh vênh, trơ trọi của lầu Ngưng Bích+ láy “bát ngát”: không gian “bốn bề”, tô đậm hơn cái vô cùng vô tận củakhông gian

rộng lớn, mênh mông, bát ngát

c.Trống trải, hoang hắng, không có dấu hiệu của sự sống:

- Liệt kê “cát vàng”, “bụi hồng”

+ không tồn tại sự sống+ sự ngổn ngang của cảnh vật và tâm trạng

- Tiểu đối “mây sớm”, “đèn khuya”: gợi nỗi hắt hiu, trống vắng của thiênnhiên

d Nỗi niềm của nàng Kiều

- Sự cô đơn, lẻ loi đến tột cùng: Bị giam lỏng một mình và bầu bạn vớinhững vật vô tri vô giác

- Ngổn ngang trăm mối, day dứt nỗi lo:

+ “xa trông”: sự trông ngóng, hướng về sự sống, tìm một dấu hiệu ấm ápnhưng không tìm được

+ “cát vàng”, “bụi hồng”, “đèn”, “mây” ngổn ngang

- Nỗi chua xót, bẽ bàng cho thân phận+ Nỗi đau cốt nhục chia cắt, tình yêu tan vỡ, nhân phẩm bị chà đạp+ Bị đày đọa trong một không gian vô cùng, một thời gian vô tận, 1 nỗi côđơn đến cùng cực

+ Tương lai mù mịt

Nỗi nhớ chàng Kim:

“Tưởng người dưới nguyệt chén

đồngTin sương những luống rày trông

mai chờBên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”

Với tài năng sử dụng ngôn ngữ

độc thoại nội tâm và lời thơ có nhịp

thổn thức, tác giả đã diễn tả nỗi nhớ

khôn nguôi và sự xót xa, ân hận của

Kiều (câu 4) “Tấm son” là hình ảnh

ẩn dụ cho tấm lòng son sắt, thủy

chung của Kiều nhưng giờ đây nó

đã bị vùi dập, hoen ố, không biết

đến bao giờ mới gột rửa cho được

Kiều có lòng vị tha, thủy chung

đáng trân trọng Trong nỗi nhớ

chàng Kim có cả nỗi đau vò xé tâm

- “tưởng” là nhớ, mơ tưởng

từ này hay hơn từ “nhớ” vì nó gợi lên những kỉ niệm vẹn nguyên, vốnsống động trong tâm hồn nàng

- Gợi nhớ về đêm trăng đẹp nhất trong cuộc đời Kiều, đó cũng chính làquá khứ hạnh phúc, gợi lại cả lời thề vàng đá, sắt son:

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời,Đinh ninh hai miệng một lời song song

Tóc tơ căn vặn tấc lòng,Trăm năm tạc một chữ tòng đến xương.”

Thực tại đau đớn, đen tối và sự mặc cảm có lối của Kiều

- Nhớ để xót xa:

+ Xót xa cho Kim Trọng ở nơi xa vẫn mong tin nàng+ Xót xa cho mình khi phải dấn thân vào bước lạc lõng, bơ vơ nơi chântrời góc bể

+ Xót xa cho cả tình yêu, cho lòng thủy chung không phai nhạt

Nỗi nhớ cha mẹ:

“Xót người tựa cửa hôm mai,

Quạt nồng ấm lạnh những ai đó

giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

- Nhớ cha mẹ Kiều thấy “xót” sự xót thương, lo lắng cho cha mẹ Xót vìtưởng tượng ra cảnh cha mẹ ngày đêm tựa cửa ngóng trông, lo lắng chonàng

- Tự trách (3 câu cuối)

Trang 15

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”

Người con hiếu thảo

+ vì chưa tròn chữ hiếu, không thể ở bên hầu hạ, nâng giấc bên gối cha

mẹ Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” cho thấy nàng day dứt khôn nguôi và

lo lắng không biết ai sẽ chăm sóc cha mẹ thay nàng

+ vì ý thức được sự chảy trôi của thời gian, “gốc tử” đã vừa người ôm, cha

mẹ ngày càng già yếu, càng cần bàn tay chăm sóc của nàng+ vì khoảng cách xa xôi, đầy nắng mưa cách trở, nàng không thể vượt qua

để về bên cha mẹ Cụm từ “cách mấy nắng mưa” là 1 ẩn dụ vừa gợi ra sự

xa cách bao mùa mưa nắng vừa gợi sự tàn phá của thời gian, của thiênnhiên với con người và cảnh vật

Tâm trạng đau buồn, âu lo của

Kiều thể hiện qua cái nhìn cảnh

vật

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm

xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới xa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh

xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế

ngồi.”

- Cảnh được nhìn theo quy luật:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu –

Người buồn cảnh có vui đâu bao

giờ”

- Cảnh được nhìn từ xa đến gần,

màu sắc từ đậm đến nhạt, âm thanh

từ tĩnh đến động, diễn tả một nỗi

buồn từ man mác, mông lung đến lo

âu kinh sợ, dồn nén bão táp nội tâm

- Nguyễn Du đã thể hiện một nỗi

buồn ôm trọn 3 nỗi buồn, tạo nên

một đoạn thơ tuyệt bút, khắc họa

thế giới nội tâm sâu sắc và đầy bi

kịch của Kiều

Cảnh vật được nhìn qua con mắt của Kiều gợi lên trong nàng nàng những nỗi buồn da diết bằng cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, biện pháp điệp ngữ tạo âm hưởng trầm buồn cho đoạn thơ:

- “buồn trông” có nghĩa là buồn mà nhìn ra xa ngóng đợi một điều gì đó mơ

hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại nhưng mà vô vọng

- Điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đó, với các từláy (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm) đã diễn tảnỗi buồn ngày càng tăng với nhiều sắc độ khác nhau Nỗi buồn ấy đượctái hiện qua 4 cánh

+ Cảnh 1 (2 câu đầu) Cảnh chiều hôm muôn thuở đã gợi ra nỗi buồn, tác

giả sử dụng 1 hình ảnh rất đắt thể hiện nội tâm của nàng Kiều Một cánhbuồm nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông, trong ánh sáng le lóicuối ngày của mặt trời sắp tắt, con thuyền vẫn lênh đênh trên mặt nướcmỗi lúc một xa, chưa có bến bờ neo đậu cũng như Kiều còn lênh đên giữadòng đời, không biết bao giờ mới trở về đoàn tụ, sum họp với nhữngngười thân yêu

+ Cảnh 2 (2 câu tiếp) Hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi” gợi nỗi buồn lo da diết.

Nhìn những cánh hoa tàn lụi, trôi man mác giữa dòng nước, Kiều càngbuồn lo cho thân phận lênh đênh, chìm nổi, không biết rồi sẽ trôi dạt điđâu, dập vùi ra sao Câu hỏi tu từ nhấn mạnh nỗi băn khoăn, thấp thỏmnhư 1 tiếng than

+ Cảnh 3 (2 câu tiếp) Đây là cách gợi liên tưởng đến cảnh xuân trong tiết

thanh minh, nhưng không còn cái “xanh tận chân trời” mà thay vào đó là

“nội cỏ rầu rầu”, “xanh xanh” – xanh héo úa, xanh mù mịt, nhạt nhòa và trảidài từ mặt đất tới chân mây Cảnh ấy gợi cho Kiều nỗi chán ngán, vô vọng

về cuộc sống cô quạnh và những ngày vô vị, tẻ nhạt không biết kéo dàiđến bao giờ

+ Cảnh 4 (2 câu cuối) Dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng, tăng dồn

dập Thiên nhiên dữ dội, cái âm thanh “ầm ầm tiếng sóng” chính là ẩn dụchỉ âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp, đã và đang đổ ậpxuống cuộc đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấytrong xã hội phong kiến cổ hủ Tất cả những đợt sóng đang gầm rít tronglòng nàng, Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ như rơi vào vực thẳm của sựbất lực

Trang 16

LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA

Nguyễn

Đình

Chiểu

Thời đại 1822 – 1888 TK XIX, xã hội có nhiều biến động

Quê Quê cha: Thừa Thiên Huế, quê mẹ: Sài Gòn (Gia Định)Con

Thể loại Truyện thơ Nôm – 2082 câu thơ lục bát

Mục đích

- Truyện được viết ra nhằm mục đích trực tiếp là truyền bá đạo lí làm người

- Tác phẩm đáp ứng được nhu cầu của nhân dân cho nên ngay từ khi ra đời được nhândân Nam Bộ đón nhận nồng nhiệt, lưu truyền rộng rãi

Nội dung

- Giá trị hiện thực:

+ Phản ánh xã hội phong kiến khủng hoảng nghiêm trọng+ Phản ánh hiện thực đời sống nhân dân TK XIX

- Giá trị nhân đạo:

+ Đề cao nghĩa khí, sẵn sàng cứu khổ phò nguy+ Ca ngợi đạo lí trọng tình nghĩa giữa người với người trong xã hội+ Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trongcuộc đời

Nghệthuật

- Kết thúc có hậu motip quen thuộc của truyện dân gian

- Xây dựng nhân vật: chủ yếu thông qua hành động, cử chỉ, lời nói để bộc lộ những phẩmchất cao đẹp của nhân vật chính diện và những nét xấu của nhân vật phản diện

Trích đoạn “Lục

Vân Tiên cứu

Kiều Nguyệt

Nga”

- Vị trí: nằm ở phần đầu của “Truyện Lục Vân Tiên”

- Nội dung: Trên đường trở về thăm mẹ, trước khi quay trở lại kinh đô dự thi, gặp bọn cướpPhong Lai hoành hành, Lục Vân Tiên một mình đánh tan bọn cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga và

cô hầu Kim Liên

- Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp bộc lộ tư cách của con người chính trực, hàohiệp, khiêm tốn, giản dị, trọng nghĩa khinh tài và cũng rất từ tâm nhân hậu Thấy 2 cô gái còn chưa hếthãi hùng, Vân Tiên tìm cách an ủi: “Ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần hỏi han cho thấy Vân Tiên rất đànghoàng, chững chạc Khi nghe họ muốn lạy tạ ơn, Tiên đã gạt đi ngay, từ chối lời mời về thăm nhà củaNguyệt Nga để cha nàng đền đáp: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” Vân Tiên quan niệm làm việcnghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi – Làm người thế ấy cũng phi anhhùng.”

- Một con người đằm thắm, ân tình, cư xử có trước có sau Với nàng, Vân Tiên không chỉ cứu mạng màcòn cứu cả cuộc đời

Trang 17

- 1946, ông tham gia vào Trung đoàn Thủ đô

- Các sáng tác của ông tập trung chủ yếu vào hình ảnh người lính trong 2 cuộc kháng chiến.Đặc biệt là tình đồng chí, đồng đội

- Phong cách thơ: bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha, trầm hùng, vừa sầu lắng, cảm xúc

Đồng

chí

HCST

- Năm sáng tác: 1948, xuất xứ: in trong tập “Đầu súng trăng treo”

- Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

- Sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc 1947

- “Quê hương anh nước mặn, đồng chua – Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

- Thủ pháp đối, được sử dụng chặt chẽ, gợi lên sự đăng đối, tương đồng trong cảnh ngộ củangười lính Từ những miền quê khác nhau, họ đã đến với nhau trong một tình cảnh mới mẻ

- Giọng thơ bình dị, nhẹ nhàng, gần gũi như lời thủ thỉ, tâm tình của 2 con người “anh” và “tôi”

- Thành ngữ “nước mặn đồng chua” để nói về những vùng đồng chiêm nước trũng, ngập mặnven biển khó làm ăn Cái đói, cái nghèo khó như manh nha từ trong làn nước

- H/a “đất cày lên sỏi đá” để gợi về những vùng trung du, miền núi, đất đá bị ong hóa, bạcmàu, khó canh tác Cái đói, cái nghèo như ăn sâu từ trong lòng đất

- “quê hương anh” – “làng tôi”: tuy có khác nhau về địa giới, người miền xuôi, kẻ miền ngượcthì cũng đều khó làm ăn canh tác, đều chung cái nghèo, cái đói Đó chính là cơ sở đồng cảmgiai cấp của những người lính

Anh bộ đội cụ Hồ là những người có nguồn gốc xuất thân từ nông dân Chính sự tươngđồng về giai cấp là sợi dây tình cảm đã nối họ lại với nhau, họ trở thành những người đồngchí, đồng đội

- Trước ngày nhập ngũ, họ sống ở mọi phương trời xa lạ:

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu,”

- Những con người chưa từng quen biết, đến từ những phương trời xa lạ đã gặp nhau ở mộtđiểm chung: cùng chung nhịp đập trái tim, cùng chung một lòng yêu nước, cùng chung lítưởng Cách mạng Những điều đó đã thôi thúc họ nhập ngũ

- H/a thơ “súng bên súng, đầu sát bên đầu” mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc, diễn tả sựgắn bó của những người lính trong quân ngũ:

+ “súng bên súng”: là cách nói giàu hình tượng để diễn tả về những người lính cùng chung lítưởng, nhiệm vụ chiến đấu Họ ra đi để chiến đấu và giải phóng quê hương, dân tộc, đấtnước; đồng thời giải phóng số phận của họ

+ “đầu sát bên đầu”: là cách nói ẩn dụ, tượng trưng cho ý chí, quyết tâm chiến đấu của nhữngngười lính trong cuộc chiến đấu trường kì của dân tộc

+ điệp ngữ “súng”, “bên” và “đầu” khiến câu thơ trở nên chắc khỏe thể hiện sự gắn kết, cùngchung lí tưởng, nhiệm vụ của người lính

- Nếu ở cơ sở 1, “anh” và “tôi” đúng trên từng dòng thơ như 1 kiểu xưng danh khi gặp gỡ, vẫncòn xa alj thì ở cơ sở 2 này, “anh” và “tôi” trong cùng 1 dòng thơ Từ những người xa lạ, họ

đã gắn kết với nhauChính lí tưởng, mục đích là điểm chung lớn nhất, là cơ sở để họ gắn kết với nhau trở thànhđồng chí, đồng đội

- Bằng 1 h/a cụ thể, giản dị mà giàu sức gợi, tác giả đã miêu tả rõ nét tình cảm của những

người lính: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.”

- “Đêm rét chung chăn” có nghĩa là chung gian khổ, khó khăn của cuộc đời người lính, chunghơi ấm để vượt qua cái giá lạnh của núi rừng Đó là h/a đẹp, chân thực, đầy ắp kỉ niệm

- H/a “chung chăn” trở thành biểu tượng của tình đồng chí Nó khiến cho “người xa lạ” sát gầnlại bên nhau, truyền cho nhau hơi ấm và trở thành “tri kỉ”

Trang 18

- Tác giả đã khéo léo trong việc lựa chọn từ ngữ khi sử dụng từ “đôi” ở câu thơ trên:

+ Không sử dụng từ “hai” mà dùng từ “đôi” vì “đôi” cũng có nghĩa là 2 nhưng đôi còn thể hiện

sự gắn kết không thể tách rời

+ Từ “đôi người xa lạ” đến “đôi tri kỉ”, thành đôi bạn tâm tình, hiểu bạn như hiểu mình

- Khép lại đoạn thơ là 1 câu thơ có cấu tạo đặc biệt, được cấu tạo bằng hai tiếng: “Đồng chí!”+ Nó vang lên như 1 phát hiện, 1 lời khẳng định, 1 định nghĩa về đồng chí

+ Thể hiện cảm xúc dồn nén, được thốt ra như 1 cao trào của cảm xúc, trở thành tiếng gọithiết tha của tình đồng đội

+ Gợi sự thiêng liêng, sâu lắng của tình đồng chí+ Dòng thơ như 1 bản lề gắn kết, nâng cao ý thơ trước và mở ra ý thơ sau Dấu “!” đi kèm 2tiếng ấy bỗng như chất chứa bao trìu mến, thương yêu

Đoạn thơ đã đi sâu khám phá, lí giải về cơ sở hình thành tình đồng chí Đồng thời, tác giả

đã cho thấy sự biến đổi kì diệu từ những người nông dân hoàn toàn xa lạ trở thành nhữngngười đồng chí, đồng đội sống chết có nhau

- Trước hết, họ thấu hiểu cảnh ngộ, mối bận tâm về chốn quê nhà:

+ Đó là một hoàn cảnh còn nhiều khó khăn: neo người, thiếu sức lao động Các anh ra línhđánh giặc để lại nơi hậu phương bộn bề công việc đồng áng, phải nhờ người thân giúp đỡ.+ Cuộc sống vốn đã khốn khó, nay lại càng thêm thiếu thốn:

++ Hình ảnh “gian nhà không” diễn tả được cái nghèo về mặt vật chất trong cuộc sống giađình các anh

++ Diễn tả sự thiếu vắng các anh – người trụ cột trong gia đình

- Tiếp theo, họ thấu hiểu lí tưởng và ý chí lên đường để giải phóng quê hương, dân tộc+ “ruộng nương”, “gian nhà” là những tài sản quý giá, gắn bó nhất vậy mà họ sẵn sàng bỏ lạinơi hậu phương, hi sinh hạnh phúc riêng tư vì lợi ích chung, vì độc lập, tự do của dân tộc+ Tác giả sử dụng những từ ngữ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi:

++ Từ “mặc kệ” chỉ thái độ dứt khoát, quyết tâm của người lính++ Thể hiện thái độ sẵn sàng hi sinh một cách thầm lặng của các anh vì đất nước

- Họ thấu hiểu nỗi nhớ quê nhà luôn thường trực trong tâm hồn người lính+ Họ ra đi để lại 1 trời thương nhớ: nhớ nhà, nhớ quê và trên tất cả là nỗi nhớ người thân+ H/a “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” vừa được sử dụng như 1 h/a hoán d ụ, vừađược dùng như 1 phép nhân hóa diễn tả một cách tự nhiên và tinh tế tâm hồn người lính+ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính là tấm lòng người ra lính luôn canh cánhnhớ quê hương và do đó họ như đã tạo cho “giếng nước gốc đa” một tâm hồn

Người ra lính thời kì đầu kháng chiến chống Pháp hiện lên với khí thế, tràn đầy ý chí quyết

ra đi bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc

- Bút pháp tả thực thể hiện bức tranh sống động về người lính với sự đồng cảm sâu sắc

Trang 19

+ Sử dụng thủ pháp liệt kê để miêu tả một cách cụ thể và chính xác những thiếu thốn củangười lính: áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày Đó là những chi tiết rất thật,được chắt lọc từ thực tế cuộc sống của người lính.

+ Những khó khăn, gian khổ được tô đậm khi tác giả đặt sự thiếu thốn bên cạnh sự khắcnghiệt của núi rừng: sự buốt giá của những đêm rừng hoang sương muối

- Họ vẫn giữ được tinh thần lạc quan Cách mạng: H/a “miệng cười buốt giá” cho thấy thái độlạc quan, coi thường thử thách để vượt qua khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ

- Tác giả tạo dựng những hình ảnh sóng đôi, đối xứng nhau để diễn tả sự gắn kết, đồng cảmgiữa những người lính

Cái hay trong cách viết của Chính Hữu là nói về cảnh ngộ của người này nhưng lại thấyđược tấm lòng yêu thương sâu sắc của người kia TÌnh yêu đó lặng lẽ mà thấm sâu vô hạn.Biểu

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

- Những cái nắm tay chứa biết bao yêu thương, trìu mến Rõ ràng tác giả đã lấy sự thiếu thốnđến vô cùng về vật chất để tô đậm sự giàu sang về tinh thần

- Những cái nắm tay là lời động viên chân thành để những người lính cùng vượt qua khókhăn, thiếu thốn

- Những cái nắm tay của sự cảm thông, mang hơi ám để truyền cho nhau thêm sức mạnh Đócòn là lời hứa lập công của ý chí, quyết tâm chiến đáu và chiến thắng quân thù

Có lẽ không ngôn từ nào có thể diễn tả được tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng Chínhtình đoàn kết, tình cảm, gắn bó đã nâng đỡ bước chân người lính và nâng đỡ tâm hồn họtrên mọi nẻo đường chiến đấu

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”

- Được xây dựng trên nền không gian, thời gian đặc biệt: “Đêm nay rừng hoang sương muối”

+ Thời gian “đêm nay”, một đêm phục kích giặc

+ Không gian “rừng hoang sương muối”, căng thẳng, trong 1 khu rừng hoang vắng lặng và phủ đầysương muối

- Trên nền hiện thức khắc nghiệt ấy, những người lính xuất hiện: “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”+ H/a “đứng cạnh bên nhau” cho thấy tinh thần đoàn kết, luôn sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh+ H/a “chờ giặc tới” cho thấy tư thế chủ động, hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu của người lính

- Kết thúc đoạn thơ là một h/a độc đáo, là điểm sáng của 1 bức tranh về tình đồng đội, rất thực và cũngrất lãng mạn

+ Chất hiện thực gợi về những đêm hành quân, phục kích chờ giặc, nhìn từ xa vầng trăng như hạ thấpngang trời Trong tầm ngắm, người lính đã phát hiện một điều rất thú vị và bất ngờ: trăng lơ lửng nhưtreo đầu mũi súng

+ Chất lãng mạn: giữa ko gian căng thẳng, khắc nghiệt đang sẵn sàng giết giặc mà lại “treo” một vầngtrăng lung linh Chữ “treo” rất thơ mộng, nối liền mặt đất và bầu trời

- H/a “đầu súng trăng treo” rất giàu ý nghĩa:

+ “Súng” là biểu tượng cho cuộc chiến đấu

+ “trăng” là biểu tượng cho cuộc chiến đấu

+ “trăng” và “súng” cùng đặt trên một bình diện đã gợi cho người đọc nhiều liên tưởng phong phú: hiệnthực và mộng tưởng, chiến sĩ và thi sĩ, gần và xa

+ Gợi lên vẻ đẹp của tình đồng chí, giúp tâm hồn người lính bay lên giữa lúc cam go ác liệt

+ Gợi vẻ đẹp tâm hồn của người lính: trong chiến tranh gian khổ, họ vẫn rất yêu đời và luôn hướng về 1tương lai tươi sáng

“Đầu súng trăng treo” xứng đáng là biểu tượng của thơ ca kháng chiến: một nền thơ có sự kết hợpcủa chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn

Trang 20

BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

- Thơ ông tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua 2 hìnhtượng: người lính lái xe và cô thanh niên xung phong

- Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc

- Được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969 và được đưa vào tập thơ

“Vầng trăng quầng lửa” của tác giả

Nhan

đề

- Nhan đề đặc biệt Thoạt nghe như có chỗ thừa, thừa 2 chữ “bài thơ” nhưng chính chỗ thừa

ấy tạo nên sức hút cho người đọc ở vẻ khác lạ và độc đáo ở sức gợi, chất thơ của cuộc sốngnơi chiến trường

- H/a “tiểu đội xe không kính” được đưa vào nhan đề:

+ Gợi hiện thực phổ biến, quen thuộc trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm khángchiến chống Mĩ cứu nước

+ Gợi hiện thực chiến tranh cam go, ác liệt+ Gợi vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe Trường Sơn, vẻ đẹp của lòng dũng cảm, của ý chí, nghịlực của sự kiên cường

- Xưa nay, xe cộ đi vào thơ ca rất hiếm, nếu có cũng thường được thi vị hóa, lãng

mạn hóa, nhưng chiếc xe không kính của PHạm Tiến Duật vào thơ lại thực đến mức

trần trụi

- Điệp ngữ, điệp từ “không” điệp lại 3 lần cộng với chất văn xuôi đậm đặc và lối nói

khẩu ngữ khiến cho câu thơ mở đầu trở thành một lời giải thích, thanh minh của

người lính lái xe về những chiếc xe không kính Đồng thời, gợi tâm trạng vừa xót xa,

vừa tiếc nuối với chiếc xe của mình

- Câu thơ còn nhắc lại 2 lần từ “bom” với những động từ mạnh “giật”, “rung” càng làm

tăng gấp đôi sự dữ dội của cuộc chiến đấu

- Các từ phủ định “không có không phải” đi liền với điệp ngữ “bom giật bom rung”

không chỉ mang ý nghĩa khẳng định mà còn khiến cho âm điệu câu thơ trở nên hùng

tráng, làm cho sự xuất hiện của những chiếc xe trở nên ngang tàng

Hai câu thơ đầu

đã làm hiện lênnhững chiếc xevận tải quân sựmang trên mìnhđầy thương tíchcủa chiến tranh

Nó chính là bằngchứng cho sựtàn phá khủngkhiếp của 1 thời

đã qua

“Ung dung buồng lái ta ngồi – Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”

- Xây dựng thành công người chiến sĩ lái xe Trường Sơn trên nền chiến tranh gian

khổ, ác liệt với tư thế ung dung, hiên ngang, sẵn sàng ra trận

- Thủ pháp đảo ngữ, đưa từ “ung dung” đứng đầu câu thơ gợi tư thê vững vàng, đầy

tự tin, sự bình thản, điềm tĩnh đến kì lạ của người lính

- “nhìn thẳng” là cái nhìn tự chủ, trang nghiêm, bất khuất, không thẹn với trời, trực

diện đối mặt với gian khổ, hi sinh không run sợ

- Điệp từ “nhìn”được nhắc lại 3 lần cộng với nhịp thơ nhanh, dồn dập, giọng thơ

mạnh mẽ, dứt khoát, thể hiện cái nhìn khoáng đạt, bao la giữa chiến trường của

người lính

- Điệp từ “nhìn” kết hợp với cum từ “nhìn thẳng” tạo nên sự bình tĩnh, tập trung cao

độ, chủ động đón nhận tất cả các khó khăn trên chiếc xe không kính

- Thủ pháp liệt kê: “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng” cho thấy tư thế vững vàng,

dũng cảm của người chiến sĩ Họ nhìn thẳng vào bom đạn của kẻ thù, nhìn thẳng vào

con đường đang bị bắn phá để lái xe vượt qua

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng – Thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim – Như sa như ùa vào buồng lái.”

Những câu thơmột mặt miêu tảhiện thực căngthẳng của chiếntrường chânthực đến từngchi tiết, một mặtmiêu tả tinh thần,

tư thế, bản lĩnhchiến đấu vữngvàng, hiênngang, dũngcảm, phi thườngcủa người línhlái xe Trường Sa

Trang 21

- Tác giả mở ra một không gian rộng lớn với những con đường dài phía trước, có gió

thổi, có cánh chim chiều và cả những ánh sao đêm Dường như cả thiên nhiên, vũ trụ

ùa vào buồng lái

- Điệp ngữ “nhìn thấy nhìn thấy thấy” đã gợi tả được những đoàn xe không kính

nối đuôi nhau ra chiến trường Từ “nhìn” được lặp đi lặp lại còn gợi ra một sự sảng

khoái đến bất tận

- H/a nhân hóa kết hợp với ẩn dụ chuyển đổi cảm xúc “vào xoa mắt đắng” thể hiện

tinh thần dũng cảm, bất chấp khó khăn của người lính lái xe

- H/a “con đường chạy thẳng vào tim”:

+ Gợi đến những chiếc xe phóng với tốc độ nhanh như bay Lúc đó giữa các anh vào

con đường dường như không có khoảng cách

+ Đồng thời cho thấy tinh thần khẩn trương của các anh đối với sự nghiệp giải phóng

miền Nam

- Đặc biệt, h/a so sánh “Như sa như ùa vào buồng lái” đã diễn tả tốc độ phi thường

của đoàn xe khi ra trận Cả 1 bầu trời đêm ùa vào buồng lái

- Cả khổ thơ không 1 từ nào nói đến tốc độ của đoàn xe nhưng nhịp thơ nhanh, gấp

khiến người đọc cảm nhận rõ những chiếc xe lao nhanh về phía trước

điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài

trời Chưa cần thay, lái trăm cây số

nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau

thôi.”

- H/a “gió”, “bụi”, “mưa” tượng trưng cho sự gian khổ khó khăn nơichiến trường Đó dường như là những thử thách tất yếu mà ngườilính phải đón nhận: “Không có kính ừ thì có bụi Mưa tuôn mưaxối như ngoài trời Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi.” Bất chấpgió, bụi, mưa rừng khiến người lính bị nhuộm trắng cả mặt mũi, đầutóc, lúc thì bị những cơn mưa rừng làm ướt áo

- Điệp cấu trúc “Không có ừ thì” (giống từ “mặc kệ” trong bàiĐồng chí) đi liền với kết cấu phủ định: “Chưa cần rửa chưa cầnthay” ở khổ thơ đã thể hiện thái độ bất chấp khó khăn, coi thườnggian khổ của những người chiến sĩ lái xe Trường Sơn

- H/a so sánh kết hợp với các động từ mạnh “phun”, “tuôn”, “xối”trong 2 câu thơ: “Bụi phun tóc trắng như người già” và “Mưa tuônmưa xối như ngoài trời” nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thời tiết và

sự khốc liệt của chiến trường, đồng thời cho thấy sự ngang tàng,phơi phới lạc quan, dũng mãnh tiến về phía trước của người línhTrường Sơn

- H/a “phì phèo châm điếu thuốc” và “lái trăm cây số nữa” cho thấyngười lính coi thường những hiểm nguy, thử thách Từ láy “phìphèo” rất giàu tính tạo hình gợi động tác hút thuốc vừa tinh nghịch,trẻ trung vừa có chút gì để “phớt đời”

- Ngôn ngữ giản dị như lời nói thường ngày, giọng điệu thản nhiên,hóm hỉnh làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính cất lênmột cách tự nhiên giữa gian khổ của cuộc chiến đấu Tiếng cười

“ha ha” vang lên trên khuôn mặt lấm lem (h/a: “những con quỷ mắtđen” trong Những ngôi sao xa xôi), đó là tiếng cười của tuổi trẻ, tinhthần lạc quan, đẩy lùi khó khăn, gian khổ về phía sau Câu thơ

“Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” chủ yếu là thanh bằng diễn tảtâm thế nhẹ nhàng, thanh thản, tinh thần phơi phới thênh thang đầynghị lực

Tiểu đội xe ko kính tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng Cáchmạng và thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ

Trang 22

Sau những cung đường vượt qua hàng nghìn, hàng vạn cây số trong mưa bom, bão đạn họ lại gặp nhau

để họp thành tiểu đội với những cái bắt tay vô cùng độc đáo (dẫn thơ khổ 5)

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”

- H/a: “Những chiếc xe từ trong bom rơi” là 1 h/a tả thực về những chiếc xe vượt qua bao thử thách khốcliệt của bom đạn chiến trường trở về

- H/a: “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” rất giàu sức gợi

+ Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc trong tâm hồn những người lính

+ Là những lời động viên ngắn ngủi, thầm lặng mà họ dành cho nhau

+ Là sự chia sẻ vội vàng tất cả những vui buồn kiêu hãnh trong cung đường đã qua

+ Những ô cửa kính vỡ đã khiến họ gần nhau thêm, khiến cái bắt tay của họ thêm chặt hơn, tình đồngđội càng thêm thắm thiết

+ Câu thơ gợi liên tưởng tới cái “nắm tay” đầy cảm thông giữa những người lính thời kì kháng chiếnchống Pháp: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” (Chính Hữu)

Cuộc trú quân dã chiến của tiểu đội xe không kính ngắn ngủi mà thắm tình đồng đội (dẫn thơ khổ 6):

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”

- Cách định nghĩa về gia đình rất lính, thật tếu táo mà tình cảm thật chân thành Con người xích lại gầnnhau hơn trong cái chung: chung bát, chung đũa, nắm cơm, bếp lửa, chung con đường với vô vàn thửthách, gian nguy phía trước Dường như tình đồng chí, đồng đội đã hóa thành tình cảm gia đình trongnhững giờ phút nghỉ ngơi, sinh hoạt như thế Gắn bó với nhau trong chiến đấu, họ càng gắn bó với nhautrong đời thường

- Những phút giây nghỉ ngơi thoáng chốc và bữa cơm dã chiến rất vội vã nhưng chính giây phút hạnhphúc hiếm hoi đó đã xóa mọi khoảng cách, giúp họ có cảm giác gần gũi, thân thương như ruột thịt Cáibếp Hoàng Cầm không khói dựng giữa trời, chiếc võng dù mỏng manh mà bền chắc cũng cho người línhnhững giây phút nghỉ ngơi hiếm có

- Từ láy “chông chênh” gợi cảm giác bấp bênh, không bằng phẳng – đó là những khó khăn, gian khổ trêncon đường ra trận Song, với các chiến sĩ càng gian giản thì càng gần đến ngày thắng lợi

- Điệp ngữ “lại đi, lại đi” và nhịp thơ 2/2/3 khẳng định đoàn xe không ngừng tiến tới, khẩn trương và kiêncường Đó là nhịp sống, chiến đấu và hành quân của tiểu đội xe không kính mà không một sức mạnhtàn bạo nào của giặc Mĩ có thể ngăn cản nổi

- Nghệ thuật ẩn dụ “trời xanh thêm” gợi ra tâm hồn lạc quan của người lính Màu xanh đó là màu củaniềm tin, tin vào ngày chiến thắng đang đến gần

Khổ thơ cuối là kết tinh vẻ đẹp của hình tượng những chiếc xe không kính và những chiếc sĩ lái xe:

“Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

- Cách ngắt nhịp 3/5, 4/4 khiến khổ thơ gợi lên cái gập ghềnh, khúc khuỷu đầy chông gai của nhữngcung đường với bom đạn, khúc cua mà những người lính đang đi

- Trên cung đường ấy, h/a những chiếc xe không kính 1 lần nữa lại được tác giả miêu tả chân thực vàsinh động:

+ Tác giả sử dụng thủ pháp liệt kê: “không có kính”, “không có đèn”, “không có mui”, “thùng xe có xước”

để gợi lên một chiếc xe không vẹn toàn, thiếu thốn nhiều thứ

+ Phản ánh sự khốc liệt và dữ dội của chiến trường qua kết cấu đối lập Bom đạn đã làm cho chiếc xetrở nên trơ trụi, thiếu những thứ cần thiết cho những chiếc xe bình thường và tưởng như không hoạtđộng được Nhưng kì diệu thay những chiếc xe ấy vẫn băng ra chiến trường, giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước

-“Vì miền Nam phía trước” vừa là lối nói cụ thể vừa giàu sức gợi: Gợi về ngày mai chiến thắng, ngày maigiải phóng miền Nam, Bắc Nam sum họp một nhà

Trang 23

- Tác giả lí giải niềm tin thật bất ngờ, nói lên chân lí sâu xa của sức mạnh yêu nước và lí tưởng Cáchmạng: “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước – Chỉ cần trong xe có một trái tim”

+ Mọi thứ của xe không nguyên vẹn, chỉ cần nguyên vẹn trái tim yêu nước, trái tim vì miền Nam thì xevẫn băng băng ra trận, vẫn tới đích

+ Đó là sự dũng cảm, ngoan cường, ý chí chiến đấu quật khởi

+ H/a hoán dụ “trái tim” cho thấy trái tim thay thế cho tất cả khiến chiếc xe trở thành cơ thể sống, hợpnhất với người chiến sĩ để tiếp tục tiến lên phía trước Biện pháp hoán dụ đã đưa ra một nguyên lí vậnhành cho những chiếc xe, mọi thứ trên xe có thể không còn nguyên vẹn chỉ cần vẹn nguyên trái tim yêunước, trái tim vì miền Nam thì xe không kính vẫn cứ tiến lên

+ H/a “trái tim” cũng là một ẩn dụ cho vẻ đẹp tâm hồn và những phẩm chất của người lính: tình yêunước, lẽ sống cao đẹp mà thiêng liêng, tất cả vì miền Nam thân yêu, trái tim chứa đựng bản lĩnh hiênngang, lòng dũng cảm tuyệt vời, trái tim mang tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt vào ngày thống nhấtBắc Nam

Trái tim yêu thương, trái tim can trường (gan dạ), trái tim cầm lái đã giúp người lính chiến thắng bomđạn và kẻ thù Trái tim ấy trở thành nhãn tự của bài thơ và để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng nhữngngười đọc

Trang 24

- Gương mặt xuất sắc của nền thi ca hiện đại:

+Trước CMT8: Là 1 trong những tên tuổi nổi bật của phong trào Thơ mới, với đề tài mang cảmhứng vũ trụ và nỗi sầu nhân thế

+ Sau CMT8: Thơ Huy Cận có nhiều tìm tòi với đề tài mang cảm hứng vũ trụ tràn đầy niềm vui

- Phong cách: Vận động nhiều đối cực: Vũ trụ và cuộc đời, sự sống và cái chết, hiện thực vàlãng mạn, niềm vui và nỗi buồn, giọng điệu mộc mạc, tâm tình, hình ảnh thâm trầm, khơi gợi

3 Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

* Khung cảnh thiên nhiên

- Đoàn thuyền ra khơi trên phông nền cảnh hoàng hôn

- Điểm nhìn trần thuật đặc biệt: điểm nhìn di động trên

con thuyền đang tiến ra khơi

- Hình ảnh so sánh độc đáo: “Mặt trời xuống biển như

hòn lửa” tả vầng mặt trời đỏ rực, từ từ chìm xuống

lòng biển, khép lại vòng tuần hoàn của 1 ngày

+ Tả vầng mặt trời đỏ rực từ từ chìm (như thế nào)

+ Gợi quang cảnh kì vĩ, tráng lệ của bầu trời và mặt

trời lúc hoàng hôn

+ Gợi bước đi của thời gian trong sự vận động của

đoàn thuyền đánh cá

- H/a nhân hoá: “sóng đã cài then, đêm sập cửa.”

+ Tả những con sóng xô bờ như chiếc then cài cửa

của vũ trụ đã chìm vào trạng thái nghỉ ngơi

+ Gợi cảm giác gần gũi, thân thương bởi vũ trụ như 1

ngôi nhà lớn của con người

* Đoàn thuyền ra khơi

- Trên nền thiên nhiên tuyệt đẹp ấy, con người xuấthiện:”đoàn thuyền … cùng gió khơi”

- Từ “lại” tạo đc điểm nhấn ngữ điệu và sức nặngtrong câu thơ

+ Gợi tư thế chủ động của con người và cho biết côngviệc ra khơi vẫn lặp đi lặp lại hàng ngày

+ Đồng thời miêu tả 1 hành động đối lập: hoạt độngcủa vũ trụ với con người

- H/a: “câu hát …”

+ Cụ thể hoá niềm vui phơi phới, sự hào hứng, hăm

hở của người lao động+ Gợi liên tưởng tới sức mạnh giúp con thuyền vượttrùng ra khơi

+ NT chuyển đổi cảm giác “câu hát căng buồm” gợi vẻđẹp tâm hồn của người lao động gửi trong lời hát

→ Huy Cận yêu thiên nhiên và yêu cuộc đời, trântrọng công việc lao động của người dân chài

KHỔ 2:

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như hòn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”

- Từ láy “hát” gợi niềm vui của người dân chài, hứa hẹn 1 chuyến

ra khơi bội thu

- Thủ pháp liệt kê “cá bạc”, “cá thu” và so sánh “như đoàn thoi”mang đến âm hưởng ngợi ca, tự hào về sự giàu có của biển cả

- H/a nhân hoá: “đêm ngày …”

+ Cho thấy ko khí lao động miệt mài, hăng say, ko kể ngày đêmcủa người lao động

+ Gợi h/a những đoàn cá dệt những tấm lưới được tạo ra khi đoàn

cá bơi lội dưới trăng

→ Tác giả đã phác hoạ thành công bức tranh thiên nhiên kì vĩ, thơmộng và qua đó gợi đc tâm hồn phóng khoáng, tình yêu lao động

Tác

phẩm

HCST - Được viết năm 1958, miền Bắc bắt tay vào xây dựng CNXH

- Bài thơ này là kết quả của chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng NinhXuất xứ In trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” năm 1958

Nhan

đề

- Hình ảnh đoàn thuyền gợi về 1 sự đoàn kết, có sự đồng lòng chung sức của các thành viên

- Phản ánh không khí lao động sôi nổi, hăng say của những người dân chài

- Gợi thành quả lao động, góp phần xây dựng CNXH ở miền Bắc

Trang 25

và niềm hi vọng của người dân chài

KHỔ 3: Đoàn thuyền đánh cá giữa

khung cảnh biển đêm

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng,

Ra đậu dặm xa dò bụng biển,

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”

- Đoàn thuyền đánh cá được tái hiện trên nền thiên nhiên rộng mởvới chiều cao của gió, của trăng, chiều rộng của mặt biển, còn cảchiều sâu của lòng biển

- Với cảm hứng nhân sinh vũ trụ, Huy Cận xây dựng hình ảnh đoànthuyền đánh cá tương xứng với không gian:

+ Cách nói khoa trương phóng đại qua h/a: “lái gió với buồm trăng”,

“lướt giữa mây cao với biển bằng” cho thấy con thuyền đánh cávốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ,khổng lồ, hoà nhập với ko gian rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ.+ Khi con thuyền buông lưới như dò thấu đáy đại dương Rõ ràngcon thuyền cũng như con người đang làm chủ không gia này.+ Hệ thống động tự được rải đều trong mỗi câu thơ: lái, lướt, dò,dàn cho thấy hoạt động của đoàn thuyền và con thuyền đang làmchủ biển trời

→ Khổ thơ như gợi lên bức tranh lao động thật đặc sắc và tráng lệ.Bức tranh ấy thể hiện trọn vẹn ko gian vũ trụ và nâng con người lênngang tầm vũ trụ ấy

KHỔ 4: Đoàn thuyền đánh cá giữa

khung cảnh biển đêm

“Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.”

- Bằng thủ pháp liệt kê, tác giả đã miêu tả sự phong phú và giàu cócủa biển cả quê hương qua những loài cá vừa ngon vừa quý hiếmcủa biển

- H/a ẩn dụ: “Cá song lấp lánh đuốc đen hồng”

+ Tả thực loài cá song, thân dài, trên vây có 1 đuốc lấp lánh dướiánh trăng đêm đã tạo nên 1 cảnh tượng thật kì vĩ, lộng lẫy

- H/a nhân hoá: “cái đuôi …”

+ Miêu tả động tác quẫy đuôi của 1 chú cá dưới ánh trăng vàngchiếu rọi

+ Gợi 1 đêm trăng đẹp mà ánh trăng như thếp đầy trên mặt biểnkhiến cho đàn cá quẫy nước mà như quẫy trăng

-H/a “đêm thơ ”

+ Tả nhịp điệu của những cánh sóng+ Gợi nhịp thở của biển và vũ trụ lúc đêm về: Biển như mang linhhồn của con người, như 1 sinh thể cuộn trào sức sống

KHỔ 5:

“Ta hát bài ca gọi cá vào,

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.”

- H/a so sánh: “biển …như lòng mẹ”

+ Biển là nguồn sống khổng lồ, đã nuôi dưỡng con người từ baođời

+ Thể hiện sâu sắc niềm tự hào, và lòng biết ơn của người dânchài với biển cả quê hương

KHỔ 6:

“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông,

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”

- Hệ thống từ tượng hình: “kéo xoăn tay”, “lưới xếp”, “buồm lên”làm hiện lên cụ thể, sinh động công việc kéo lưới của người ngưdân

- H/a ẩn dụ: “Ta kéo xoăn …”

+ NHững nét tạo hình gân guốc, chắc khoẻ, cơ bắp cuồn cuộn gợi

ra vẻ đẹp khỏe khoắn của người dân chài trong lao động

+ Gợi 1 mẻ lưới bội thu

- H/a “vẩy bạc”,”đuôi vàng” đầy ắp khoang thuyền:

+ Cho thấy sự giàu có của biển cả quê hương và niềm vui phơiphới của người lao động

Trang 26

+ Màu bạc, màu vàng như loé cả rạng đông cho thấy bút pháp sửdụng màu sắc đại tài của Huy Cận.

KHỔ 7:

“Câu hát căng buồm với gió khơi,

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới,

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”

- Câu đầu của khổ thơ cuối lặp lại như nguyên vẹn câu cuối củakhổ thơ đầu, chỉ khác chữ với thay thế cho chữ cùng như điệp khúccủa khúc ca Đoàn thuyền ra khơi trong tiếng hát, làm việc trongtiếng hát, trở về vẫn hát vang Tiếng hát sau 1 đêm lao động vẫnhào hùng, mạnh mẽ Bài thơ điệp lại nhiều lần từ hát khiến nó thật

sự như 1 bài ca Bằng tiếng hát nhà thơ đã khắc hoạ được cái hồncủa không khí lao động phơi phới của những con người làm chủbiển trời, quê hương, đất nước

- Đoàn thuyền trở về trong tư thế hào hùng, khẩn trương: “chạyđua cùng mặt trời” H/a nhân hoá, nói quá, diễn tả sức dồi dào,hăng say, mạnh mẽ sau đêm lao động vất vả của người dân chài

Họ trở về với tư thê sánh ngang với vũ trụ và trong cuộc chạy đuanày, con người đã chiến thắng Khi mặt trời đội biển nhô màu mớithì đoàn thuyền đã về bến Ánh mặt trời tô điểm cho thành quả laođộng thêm rực rỡ, muôn mắt cá như muôn mặt trời toả ánh sánghuy hoàng H/a mặt trời mở ra tứ thơ và khép lại tứ thơ vẫn là mặttrời nhưng ánh sáng của nó rực rỡ và lan toả mãi

- H/a bình minh lên còn gợi ra ý nghĩa ẩn dụ về một ngày mới, vềtương lai của đất nước Thuyền và người luôn nổi bật giữa vũ trụlớn lao và niềm vui chiến thắng cũng mang tầm vóc lớn khiến lờithơ mang vẻ đẹp huyền thoại, để lại nhiều dư ba

Trang 27

TIẾNG VIỆT

- Từ Hán Việt không có từ láy

- Từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng

VD: tri kỉ và đồng chí là từ Hán Việt thể hiện sự thiêng liêng, cao quý mà bất cứ ai cũng trân trọng khi đi lính

- Văn bản “ánh trăng” sử dụng những từ ngữ chỉ sắc thái tuyệt đối

+ “rưng rưng” chỉ cảm xúc nghẹn ngào

+ Từ láy “phăng phắc” chỉ sự im lặng đến tuyệt đối

+ “trần trụi” có 2 dấu cùng nhóm nhưng tách ra có nghĩa → từ ghép

- Thuộc cùng 1 nhóm là từ láy: -, ?, /, `,~,

- “Huy hoàng” là từ ghép, hoàng trong màu vàng

- “ung dung” gợi tư thế vũng vàng, đầy tự tin, bình thản, điềm tĩnh đến kì lạ

-”phì phèo” gợi động tác hút thuốc tinh nghịch, trẻ trung, có chút gì để phớt đời

- “chông chênh” gợi cảm giác không bằng phẳng, bấp bênh, đó là những khó khăn, gian khổ trên con đường ratrận

- Việt gian là hoán dụ

- nơi đó (chỉ từ) khác với đó là nơi (đại từ)

- anh là danh từ, anh và tôi là đại từ

- tần tảo là từ ghép (loại từ - có từ đứng trc), tính từ (từ loại - có từ đứng sau)

- Sa Pa là từ ghép tiếng dân tộc

- khô khan là từ ghép khác khó khăn (từ láy)

- Nguồn gốc của từ là thuần Việt và từ mượn

Các biện pháp tu từ

- so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, chơi chữ, liệt kê, nói quá, nói giảm nói tránh, nghĩa gốc nghĩachuyển

- “trái tim”: hoán dụ cho h/a người lính, ẩn dụ cho lòng yêu nước, nhiệt huyết Cách mạng

- “áo anh rách vai”

- “nước mặn đồng chua”: ẩn dạ cho nghèo đói, hoán dụ cho làng quê

Câu theo cấu tạo

- Câu theo mục đích nói: Câu trần thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến, câu nghi vấn

- Hành động nói: trình bày, bộc lộ cảm xúc, cầu khiến, hỏi

- Câu khẳng định,câu phủ định có từ phủ định: chưa, ko, chẳng …(câu đơn)

Trang 28

Câu phủ định là câu đơn = Chủ ngữ + từ phủ định + nội dung.

- Câu bị động (câu đơn) = Đối tượng + đc/ bị + hành động + chủ thể hành động.

VD: A đc thể hiện/ khắc hoạ/ miêu tả [rõ nét/ chân thực/ sống động] trong B của C → diễn dịch

Nhân vật ông Hai được Kim Lân miêu tả trong truyện ngắn “Làng” → Quy nạp

Nhân vật … Miêu tả chân thực từng diễn biến tâm lý trong …

Câu mở rộng thành phần (câu đơn)

Chủ ngữ + Tân ngữ

Tác giả A sử dụng B làm cho/ khiến cho C trở nên D

VD: Tác giả Huy Cận sử dụng biện pháp so sánh mặt trời xuống biển như hòn lửa khiến cho mặt trời trở nên sinhđộng và gợi cảm

Phép nối: đồng thời, hơn nữa, ngoài ra, mặt khác

- Đứng đầu mỗi câu văn

- Dùng từ nối: 1 từ (QHT: và, nhưng, nếu …) hoặc 1 cụm từ → phân biệt thế và nối

Phép thế: thêm vào đó, không những vậy

- Dùng từ đồng nghĩa: nghĩa cụ thể → khái quát

Ông - Nhà văn → sai

Kim Lân - Nhà văn - tác giả → đúng

- Sử dụng ở nhiều câu văn khác nhau

Phép lặp: Lặp lại từ ngữ ở 2 câu văn liền nhau

- A được B sử dụng trong C

A mà B sử dụng C rất D

Khi/ lúc/ dạo/ hội A sáng tạo B

Diễn dịch: Tên vb + Tên tác giả + Từ ngữ chủ đề

Quy nạp: Thơ: Tên vb + Tên tác giả + Dẫn thơ

Truyện: Tên vb + Tên tác giả + Nhân vật chính

- Gọi tên + dấu hiệu NT + phân tích

Câu chủ động

Chủ ngữ + Hành động → Đối tượng: Chủ thể + VỊ ngữ → yếu tố bắt buộc

VD: Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ qua hình ảnh …

Câu phủ định

- Chủ ngữ + từ phủ định + nội dung → câu đơn

- Không (chỉ) những → QHT

- Không sử dụng trường hợp phủ định 2 lần (ko thể ko) → TH đặc biệt

Cấu tạo từ tiếng Việt

Từ

láy

tố nga vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn trong

trắng, xinh đẹp của 2 chị e Thuý Kiều,hai người con gái đang tuổi cập kê

Trân trọng, ngợi ca, yêu mến vẻ đẹp của thiếu

nữ tuổi trăng tròn

trang trọng Vẻ đẹp cao sang, quý phái của Vân Nâng niu, tài quan sát tinh tế của Nguyễn Du

Biện pháp tu từ tiếng Việt

1 So sánh

2 Nhân hoá

3 Ẩn dụ: tương đồng (có ít nhất 1 điểm chung)

4 Hoán dụ: gần gũi (đặt gần nhau nên trở thành biểu tượng của nhau)

Trang 29

- mặt trời (Viếng lăng Bác): chỉ Bác (từ điển ko có) → biện pháp tu từ

- vai (Đồng chí): chuyển nghĩa (có trong từ điển) > phương thức chuyển nghĩa

- Theo cặp - không theo cặp

- Cùng loại - Không cùng loại

8 Nói quá (ngoa dụ, khoa trương, phóng đại)

9 Nói giảng , nói tránh

Trang 30

BẾP LỬA

Bằng

Việt

Thời đại Sinh 1941 (cùng năm với Phạm Tiến Duật)

Tên khai sinh: Nguyễn Việt Bằng (bút danh giống Thế Lữ)Quê Hà Nội

Con

người

- Làm thơ từ đâu năm 1960

- Phong cách: Trong trẻo, mượt mà, chân thành, tươi sáng, thường khai thác những kỉ niệmtuổi thơ gợi ước mơ tuổi trẻ

Bếp

lửa

HCST - Sáng tác năm 1963- Đang là sinh viên Luật trường ĐH Ki-ep (Liên Xô)

Xuất xứ - Hương cây - bếp lửa (1968), tập thơ viết chung với Lưu Quang Vũ (chồng Xuân Quỳnh- tácgiả của Tiếng gà trưa)

++ Biểu tượng cho hơi ấm gia đình, quê hương, đất nước, cội nguồn - điểm tựa nâng đỡ tâmhồn cháu

- Bếp lửa là 1 nhan đề hay, thể hiện được chủ đề của tp: Tình bà cháu giản dị, thiêng liêng,tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc

Ba câu thơ đầu: Lời giới thiệu về bếp lửa

và tình bà cháu:

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

- H/a “bếp lửa chờn vờn sương sớm”

+ Gợi tả 1 h/a bếp lửa có thật, được cảm nhận bằng thị giác, ẩnhiện trong sương sớm “chờn vờn”

+ Từ láy “chờn vờn” gợi hình ảnh ngọn lửa lúc ẩn lúc hiện, khi mờkhi tỏ trong làn sương sớm, đồng thời giúp ta hình dung làn sươngsớm bay nhè nhẹ quanh bếp lửa, gợi cả sự nhạt nhoà của kí ứctheo thời gian

- Bếp lửa “ấp iu nồng đượm” gợi bàn tay dịu dàng, khéo léo và tấmlòng chi chút của người nhóm lửa đồng thời diễn tả chính xác, cụthể công việc nhóm bếp

+ ấp iu là sự kết hợp giữa hai từ ấp ủ và nâng niu

- Điệp ngữ “một bếp lửa” kết hợp với từ láy “chờn vờn”,”ấp iu” gợilên hình ảnh sống động, lung linh của bếp lửa, gần gũi, thân thuộctrong mỗi gia đình người VN Nhấn mạnh và khẳng định h/a bếplửa đã khơi nguồn cảm xúc nhớ thương người bà của người cháu

- H/a bếp lửa rất tự nhiên đã đánh thức dòng hồi tưởng của cháu

về bà - người nhóm lửa mỗi sớm mai - một h/a trong bài thơ lúcnào cũng chập chờn, lay động:”Cháu thương bà biết mấy nắngmưa” Cụm từ “biết mấy nắng mưa” là cách nói ẩn dụ về cuộc đờivất vả lo toan, cực nhọc của bà Trong lòng đứa cháu xa nhà tràodâng cảm xúc thương bà mãnh liệt, thương người bà lặng lẽ, âmthầm trong khung cảnh “biết mấy nắng mưa”, chữ “thương” đi với

bà là hai thanh bằng đi liền với nhau tạo ra âm vang như ngân dàixao xuyến, như nỗi nhớ trải dài của người cháu dành cho bà

Tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn và

nhọc nhằn:

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy

Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” gợi cái đói làm mỏi mệt, kiệt sức, hìnhảnh con ngựa gầy rạc cùng với h/a người bố đánh xe có lẽ cũnggầy khô gợi nỗi xót xa ám ảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945

Trang 31

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Khi tu hú kê, bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”

→ Trong hồi tưởng về QK tuổi thơ,

người cháu luôn thể hiện nỗi nhớ

thương vô hạn và lòng biết ơn bà sâu

lặng

Quá khứ hiện về h/a những người chết đói trên đường làng Nhàthơ Bằng Việt với những h/a tiêu biểu đã gợi cho ta cả 1 QK đauthương đầy những thảm cảnh của dân tộc Dường như h/a ấy đãtrở thành kỉ niệm in sâu trong tiềm thức để rồi khi nhớ về bà cháunhớ về khói bếp hun nhèm mắt:”Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”Lên tám tuổi, đó là những năm tháng cháu sống trong sự cưumang, dạy dỗ của bà

- Gợi khoảng tg 9 năm cháu nhận đc sự yêu thương, che chở, baobọc của bà

- Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng ngậptràn yêu thương

- Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như

sự cưu mang, đùm bọc đầy chi chút của bà

Đó là những năm tháng hồn nhiên, trong sáng và vô tư qua h/a tâmtình với chim tu hú (Khi con tu hú - Tố Hữu, Lượm - Tố Hữu, CaHuế trên sông Hương - Hà Ánh Minh)

+ Tiếng tu hú - âm thanh quen thuộc của đồng quê mỗi độ hè về đểbáo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cành

+ Tiếng chim tu hú như giục giã, như khắc hoạ điều gì da diết lắmkhiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong Tiếng tu húgợi nhớ gợi thương là về 8 năm k.c chống Pháp: “Mẹ cùng chacông tác bận không về”, bà vừa là cha vừa là mẹ gợi về nhữngnăm tháng tuổi thơ, cháu cùng bà nhóm lửa được sống trong sựyêu thương, đùm bọc, cưu mang trọn vẹn của bà: “Cháu ở cùng bà,

bà bảo cháu nghe/ Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học” Các động

từ bảo, dạy, chăm đã diễn tả sâu sắc tấm lòng bao la, sự nâng niu,chăm chút của bà đối với các cháu nhỏ Các từ bà, cháu được điệplại 4 lần, đan xen vào nhau như gợi tả tình bà cháu quấn quýt, yêuthương Bà vừa là bà, vừa là sự kết hợp cao quý của tình cha,nghĩa mẹ, ơn thầy

Tình yêu, sự kính trọng bà của người cháu được thể hiện chânthành, sâu sắc qua câu thơ: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khónhọc”

H/a con chim tu hú xuất hiện liên tục ở cuối khổ thơ với câu hỏi tu

từ là sáng tạo độc đáo của Bằng Việt nhằm diễn tả nỗi lòng da diếtcủa mình khi nhớ về tuổi thơ, về bà: “Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùngbà/ Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

+Gợi h/a chú chim đang lạc lõng, bơ vơ, côi cút, khao khát đc ủ ấp,che chở

+ Đứa cháu đc sống trong tình yêu thương, đùm bọc của bà đãchạnh lòng thương con tu hú Và thương con tu hú bao nhiêu, tácgiả lại biết ơn những ngày đc bà yêu thương,chăm chút bấy nhiêu

Kỉ niệm thời chiến tranh Từ trong khói lửa của chiến tranh tàn khốc, người bà càng sáng lên

những phẩm chất cao đẹp:”Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi/Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi/ Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”H/a “cháu tàn cháy rụi” gợi sự tàn phá, huỷ diệt khủng khiếp củachiến tranh

Trước hiện thực khó khăn, bà vẫn kiên cường, mạnh mẽ, khôngkêu ca, phàn nàn Điều đó đc thể hiện qua lời dặn dò cháu: “Vẫnvững lòng bà dặn cháu đinh ninh:/ Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,/Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,/ Cứ bảo nhà vẫn được bìnhyên!”

+ Bà đã gồng mình, lặng lẽ gánh vác mọi lo toan để các con yêntâm công tác

+ Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là

Trang 32

điểm tựa vững chắc cho tiền tuyến+ Bà đã góp phần làm sáng ngời vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữViệt nam vốn giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh.

Những suy ngẫm về h/a bếp lửa

→ Thông qua những suy ngẫm về h/a

bếp lửa, tác giả đã khẳng định, ngợi ca

vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại đầy tình yêu

thương của bà hiện lên lấp lánh như 1

thứ ánh sáng diệu kỳ

- ko thể thay bếp lửa thành ngọn lửa vì

ngọn lửa đc bà truyền bằng tình yêu

thương ấp áp chan hoà, chỉ có bếp lửa

mới đủ ấm áp, sức nặng để liên tưởng

đến niềm tin mà bà truyền lại

- Trong bài thơ, trên dưới mười lần tác giả nhắc đến bếp lửa vàhiện diện cùng bếp lửa là h/a người bà với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại

và đầy tình yêu thương Và đến đây tác giả giành 1 khổ thơ để nóilên những suy ngẫm về bếp lửa:”Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bànhen/ Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn/ Một ngọn lửa chứa niềmtin dai dẳng…”

- H/a bếp lửa ở dòng thơ đầu là h/a tả thực ở sự vật hữu hình, cụthể, gần gũi và gắn liền với gian khổ của người bà

- Từ h/a bếp lửa hữu hình, tác giả đã liên tưởng đến ngọn lửa vôhình lòng bà luôn ủ sẵn với ý nghĩa trừu tượng và khái quát (vì sao

ko dùng ngọn lửa mà dùng bếp lửa)+ Bếp lửa bà nhóm lên không chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài màcòn bằng chính ngọn lửa trong lòng bà Ngọn lửa của tình yêuthương, niềm tin dai dẳng, bền bỉ và bất diệt

+ Ngọn lửa bền bỉ và bất diệt ngày ngày bà nhóm cũng chính lànhóm niềm vui, niềm tin, niềm yêu thương để nâng đỡ cháu trênsuốt chặng đường dài

+ Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn truyền lửa ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp

Các động từ nhen, ủ sẵn, chứa đã khẳng định ý chị, bản lĩnh sốngcủa bà, cũng là 1 người phụ nữ VN

Điệp ngữ ẩn dụ một ngọn lửa cùng kết cấu song hành đã làm chogiọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động và tự hào

Suy nghĩ về bà và cuộc đời bà - H/a bà luôn gắn với bếp lửa và ngọn lửa Bà là người nhóm lửa

cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và toả sáng để mỗikhi nhớ lại, người cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa (xuất hiện lần 2)Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm.”

- Cụm từ chỉ thời gian”đời bà”, “mấy chục năm” đi liền với từ láytượng hình “lận đận” và hình ảnh ẩn dụ “biết mấy nắng mưa” đãdiễn tả sâu sắc và trọn vẹn về cuộc đời gian nan, vất vả của bà

- Thời gian có thể trôi qua, mọi sự có thể thay đổi, song chỉ duynhất 1 sự ko biến đổi: Suốt cuộc đời lận đận, bà vẫn giữ thói quendậy sớm để làm công việc nhóm lửa, nhóm lên tình yêu thương,niềm tin yêu cho con cháu TÌnh thương mà tác giả dành cho bàthể hiện trong từng câu chữ, tình cảm ấy chân thành, giản dị màsâu nặng, thiết tha

- Bà ko chỉ nhóm lửa bằng đôi tay khẳng khiu, gầy guộc mà cònbằng tất cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nồng đượm” đối với con cháu:

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượmNhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùiNhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi thơ.”

- Điệp từ nhóm được nhắc lại 4 lần, đan xen với những chi tiết tảthực mang đến những ý nghĩa liên tưởng khác nhau:

+ Nhóm bếp lửa,nhóm nồi xôi gạo mới là h/a tả thực công việc của

Trang 33

+ Nhóm niềm yêu thương, nhóm dậy cả những tâm tình là h/a ẩn

dụ về công việc thiêng liêng và cao quý của bà Bà đã khơi dậytrong tâm hồn cháu và những người xung quanh niềm yêu thương,

sự sẻ chia

- Có thể nói, cảm xúc của nhà thơ trào dâng khi nghĩ về bà và bếplửa Lời thơ như 1 sự tổng kết để ngợi ca và khẳng định: Bà làngười phụ nữ tần tảo, giàu đức hi sinh và luôn chăm lo cho mọingười

“Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”

- Bếp lửa kì lạ: Nghĩa chuyển của từ nhóm: h/a ẩn dụ về công việcthiêng liêng và cao quý của bà

- Bếp lửa thiêng liêng:

+ Biểu tượng tình bà cháu như tình phụ mẫu

+ Biểu tượng cho tình yêu quê hương, đất nước

- ‘-bếp lửa”: thành phần phụ chú

+ Bếp lửa là cầu nối giữa người cháu xa nhà với người bà ở quênhà

+ Nối hiện tại với quá khứ, nối cháu với đất nước

→ Bếp lửa là h/a ẩn dụ mang nghĩa biểu tượng sâu sắc

“Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa? …”

- Dấu chấm như 1 cái nấc nghẹn của cảm xúc khi sống ở cuộcsống hiện đại mà nhớ về quá khứ gian lao, nghĩa tình

- Điệp ngữ, liệt kê “trăm tàu”,”trăm nhà”,”trăm ngả”

- QHT nhưng cho thấy dù thời gian thay đổi nhưng tình cảm củacháu ko thay đổi

-Dấu 3 chấm thể hiện nhiều băn khoăn, trăn trở mà cháu chưa thểthổ lộ hết của tình cảm của cháu với bà sẽ ko bao giờ thay đổi

- Câu hỏi tu từ nhấn mạnh bà vẫn sống mãi, tần tảo sớm khuya đểgiữ lửa, truyền lửa hi vọng

Trang 34

ÁNH TRĂNG

Nguyễn

Duy

Thời đại Sinh 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ

Quê Thanh Hoá

- Phong cách sáng tác: có sự thống nhất của nhiều yếu tố đối lập: mộc mạc, dân dã mà tinh

tế, sâu sắc, ngang tàng, tếu táo mà thiết tha, sâu lắng, tự nhiên, ngẫu hứng mà trau chuốt,công phu

Bếp lửa

HCST

- Bài thơ ra đời năm 1978 tại TP HCM, in trong tập thơ cùng tên của Nguyễn Duy được giải

A của Hội nhà văn Việt Nam

- Ba năm sau ngày kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ko phải

ai cũng nhớ năm tháng chiến tranh gian khổ và những kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ.Nguyễn Duy viết ánh trăng như 1 lời tâm sự, nhắn nhủ với chính mình với mọi người bởi lẽsống thuỷ chung nghĩa tình

- Nhan đề trước hết là 1 phần của thiên nhiên gần gũi, thân thuộc

- Ánh trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thuỷ chung, gắn với lịch sử hào hùng củadân tộc

- Ánh trăng gợi cho ta liên tưởng đến những con người giản dị mà thuỷ chung, nghĩa tình:đồng đội, nhân dân …

- Ánh trăng chỉ 1 thứ ánh sáng dịu hiền, có thể len lỏi vào những nơi khuất lấp trong tâm hồncon người để thức tỉnh họ nhận ra những điều sai trái, hướng người ta đến với những giá trịđích thực của cuộc sống

→ Ánh trăng là ánh sáng làm bừng lên 1 góc tối của con người, thức tỉnh sự ngủ quên củacon người về nghĩa tình với quá khứ về năm tháng gian lao nhưng rất hào hùng của đờilính

Chủ đề Từ 1 câu chuyện riêng, bài thơ cất lên lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối vớinhững năm tháng quá khứ gian lao mà nghĩa tình đối với thiên nhiên, đất nước bình dị.

- Vì sao ánh trăng chỉ xuất hiện 1 lần?

+ Vầng trăng là h/a của thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, là người bán suốt thời tuổi nhỏ rồichiến tranh ở rừng

+ Vầng trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, hơn thế, trăng còn là vẻ đẹp bình dị,vĩnh hằng của đời sống

+ Trăng tượng trưng cho quá khứ vẹn nguyên, là nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắcnhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta, con người có thể vô tình, lãng quên nhưng thiên nhiên,quá khứ thì luôn tràn đầy bất diệt

- Ko gian được sắp xếp theo trình tự động dần thể hiện sự sông pha, trưởng thành củacon người trong cuộc sôngs

- Những câu thơ ngắn với giọng điệu tâm tình, thủ thỉ cộng với biện pháp tu từ liệt kê đãgợi lại cả 1 tuổi thơ trong trẻo, chan hoà và đắm mình ko cái mát lành của quê hương,giữa thiên nhiên khoáng đạt và hào phóng

- Điệp từ với được lặp lại 3 lần để nhấn mạnh sự gắn bó thắm thiết giữa con người vàthiên nhiên

- Thời gian quá khứ hiện về thật giản dị trong 1 thông báo: “hồi chiến tranh ở rừng” gợi

Trang 35

nhiều liên tưởng:

+ Gợi liên tưởng về sự trưởng thành của nhân vật trữ tình, từ cậu bé thiếu niên nay đã vácsúng ra chiến trường

+ Gợi về những năm tháng gian khổ, ác liệt của chiến tranh

- Trên nền đau thương nhưng hào hùng ấy, h/a vầng trăng xuất hiện thật trịnh trọng với 1niềm xúc động nghẹn ngào trong NT nhân hóa: “vầng trăng thành tri kỉ” (Đêm rét chungchăn thành đôi tri kỉ)

+ Gợi liên tưởng về những đêm hành quân hay những phiên gác ở rừng, có trăng chiếu rọi+ Trăng trở thành người bạn thân thiết, tri âm tri kỷ luôn đồng cam cộng khổ để chia sẻ vuibuồn của đời lính

+ Tri kỷ là hiểu bạn như hiểu mình, là bạn thân thiết, cùng thấu tỏ nỗi lòng của nhau Biệnpháp nhân hoá gợi vẻ đẹp tình nghĩa giữa trăng và người lính, gắn liền trong những nămtháng chiến tranh: “Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm (HCM)”, “giữa rừng khuyasương muối chờ giặc”, “đầu súng trăng treo” (Chính Hữu)

- Ở khổ thơ tiếp theo, vầng trăng hiện lên với vẻ đẹp hoang sơ mà gần gũi: “Trần trụi vớithiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ/ ngỡ ko bao h quên/ cái vầng trăng tình nghĩa”

- H/a ẩn dụ: “Trần trụi với thiên nhiên”, và h/a so sánh: “hồn nhiên như cây cỏ”

+ Gợi vẻ đẹp bình dị, vô tư, trong sáng của vầng trăng+ Đó cũng là cốt cách, vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc trong tâm hồn người lính

→ Trăng hiện diện như h/a của quá khứ, là hiện thiên của kí ức chan hoà, nghĩa tình bởi

sự gắn bó nghĩa tình ấy, nv trữ tình đã tâm niệm “ngỡ ko bao h quên” Từ “ngỡ” đưa ý thơsáng 1 lối khác Nó gợi sự bâng khuâng, tiếc nuối như báo trước 1 sự thay đổi lớn laotrong câu chuyện cũng như tình cảm của con người

- Tác giả đã tạo ra sự đối lập trong hoàn cảnh sống của con người giữa hiện tại với QK: Từnhững nhà tranh, vách nữa chốn rừng sâu, nay trở về trong những toà nhà khang trang,hiện đại của thành phố Sự thay đổi ko gian sống giữa QK và HT, từ rừng trở về thành phố

có thể coi là một cột mốc cho hàng loạt những thay đổi tiếp theo trong cuộc sống củangười lính

- Thay cho thiên nhiên, cây cỏ với đồng, sông, bể, rừng và vầng trăng là cuộc sống ở thànhphố với “ánh điện cửa gương” H/a ảnh điện cửa gương là cách nói hoán dụ để tô đậmcuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại

- H/a nhân hoá, so sánh: vầng trăng đi qua ngõ/ như ng dưng qua đường diễn tự thay đổitrong tình cảm của con người: vầng trăng vẫn tròn đầy, thuỷ chung, nghĩa tình nhưng conngười thì hờ hững, thờ ơ, ko nhận ra

- Vầng trăng đi qua ngõ có nghĩa là trăng vẫn ở khoảng cách rất gần, vẫn theo sát, đồnghành cùng con người vậy mà con người lại lãng quên, vô tình, hờ hững Thì ra khi hoàngcảnh sống thay đổi, kho con người sống cuộc sống cá nhân, nhỏ bé thì có thể dễ dàngquên đi những người đã cùng mình sẻ chia bát nước củ khoai: “Bát nc uống chung/ Nắmcơm bẻ nửa/ Là chia nhau 2 mẩu tin nhà/ Chia nhau cuộc đời/ Chia nhau cái chết” (ChínhHữu)

- Song, cái sự quên ấy cũng là lẽ thường tình bởi những lo toan thường nhật của cuộcsống Tác giả đã đặt con người vào 1 tình huống bất ngờ để bộc lộ cảm xúc: “Thình lìnhđèn điện tắt/ Phòng buyn-đinh tối om/ vội bật tung cửa sổ/ đột ngột vầng trăng tròn”

- Hai từ thình lình và đột ngột và cách đảo trật tự cú pháp trong câu đã góp phần diễn tảchính xác ấn tượng về 1 sự việc bất thường “đèn điện tắt tối om” đồng thời như báo trước

sự gặp gỡ bất ngờ và kì diệu Sự kiện mất điện có thể coi là 1 biến cố nhỏ, quen thuọcnhưng có nghĩa với nhận thức, tình cảm của con người, tạo ra 1 bước ngoặt để nhân vậttrữ tình bộc lộ cảm xúc

- Trong tình huống khi con người đã quen với ánh điện, cửa gương thì hành động vội bậttung cửa sổ là 1 phản xạ tự nhiên khi mất điện Ba động từ mạnh vội, bật, tung đã diễn tả

Ngày đăng: 20/10/2023, 00:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình bóng cha, mong muốn con được sống trong cảnh đoàn viên người mẹ hiền - Ôn tập chương trình văn 9 vào 10
Hình b óng cha, mong muốn con được sống trong cảnh đoàn viên người mẹ hiền (Trang 6)
Hình ảnh vị vua lẫm liệt trên chiến trận - Ôn tập chương trình văn 9 vào 10
nh ảnh vị vua lẫm liệt trên chiến trận (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w