Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo khảo sát ban đầu, nghiên cứu về lý luận và phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã được một số nhà nghiên cứu đề cập, nhưng chủ yếu chỉ ở dạng bài viết nhỏ trên báo chí hoặc trong các cuốn sách nghiên cứu chung về văn học dân tộc miền núi.
Nhà nghiên cứu Lâm Tiến đã thảo luận về những vấn đề trong lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số qua các tác phẩm như "Sắc thái riêng hay mặt hạn chế trong lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số" và "Cần thận trọng và nghiêm túc trong nghiên cứu, lý luận phê bình văn học" trong cuốn "Văn học và miền núi" (NXB Văn hóa dân tộc, 2002) Ông cũng chia sẻ những suy nghĩ về lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số và viết về con người, cuộc sống của họ trong cuốn "Tiếp cận văn học các dân tộc thiểu số" (NXB Văn hóa thông tin).
Lý luận và phê bình văn học của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam còn non trẻ, bắt đầu phát triển từ năm 1957 với những bài viết đầu tiên.
Trong tác phẩm “Kể ít chuyện làm thơ” của Nông Quốc Chấn, tác giả nhấn mạnh rằng các nhà văn dân tộc thiểu số thường thiếu những bài lý luận và phê bình văn học hoàn chỉnh Nguyên nhân chính là do hạn chế về trình độ tư duy lý luận của họ chưa phát triển đến mức cao.
Nội dung số hóa từ Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên cho thấy rằng việc thiếu các cuộc tranh luận và trao đổi đã dẫn đến nhiều bài lý luận phê bình mang tính cảm tính hơn là lý tính.
Nhà thơ Lò Ngân Sủn đã nhấn mạnh trong các bài viết của mình rằng việc sáng tác và phê bình văn học các dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm đúng mức Trong cuốn sách “Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu số” (NXB Văn hóa dân tộc, 2002), ông chỉ ra rằng nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học dân tộc thiểu số hiện nay còn hạn chế, thiếu hệ thống và rời rạc, và những vấn đề này xuất phát từ chính bản thân văn học dân tộc thiểu số.
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên trong bài viết "Công tác lý luận, phê bình văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số" đã nhấn mạnh vai trò của đội ngũ lý luận, phê bình và ghi nhận những thành tựu đạt được trong lĩnh vực này qua nhiều bản thảo và sách xuất bản Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng vẫn còn thiếu những tác phẩm chuyên sâu và dấu ấn riêng biệt trong văn học dân tộc thiểu số.
Thể loại lý luận và phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đang dần thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, nhà văn, và nhà thơ thuộc các dân tộc thiểu số Tuy nhiên, hiện tại chỉ có những bài viết nêu lên tình hình nghiên cứu và đề cập đến các tác giả trong lĩnh vực này, mà chưa có một công trình chuyên sâu nào phân tích toàn diện về thể loại văn học này trong bối cảnh đời sống văn học của các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hóa học, dân tộc học và văn học)
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu tổng hợp khác.
Đóng góp mới của luận văn
Luận văn này sẽ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về thể loại nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học của các dân tộc thiểu số Việt Nam trong thời kỳ hiện đại.
Công trình hoàn thành sẽ trở thành tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về văn học của các dân tộc thiểu số Việt Nam, mang lại cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn.
Bố cục luận văn
Vài nét khái quát về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại
Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đã hình thành và phát triển mạnh mẽ từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là từ những năm 60 trở lại đây Mặc dù xuất hiện muộn, nhưng văn học này đã có những bước tiến đáng kể với đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, thể loại phong phú và số lượng cũng như chất lượng tác phẩm ngày càng tăng, hấp dẫn hơn.
Nếu nền văn học Việt Nam hiện đại được hình thành ngay từ đầu thế kỉ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học của các dân tộc thiểu số Sau sự kiện này, nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển, đánh dấu sự hiện đại hóa trong cách thể hiện và nội dung Điều này không chỉ tạo ra một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà còn mở ra một chương mới cho nền văn học đa dạng và phong phú của các dân tộc thiểu số.
Sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt từ khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, nền văn học dân tộc thiểu số đã phát triển mạnh mẽ Cách mạng đã khôi phục và làm sống dậy vốn văn học truyền thống của các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự phong phú của nền văn học Việt Nam Nhà nghiên cứu Hà Văn Thư đã chỉ ra rằng sự phát triển này là kết quả của những nỗ lực bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số.
Chế độ hiện tại không chỉ phát triển những tài năng mới mà còn chú trọng vào việc khai thác và gìn giữ di sản văn học nghệ thuật quý giá của các dân tộc.
Văn học cổ phong phú của các dân tộc thiểu số Việt Nam, bao gồm nhiều thể loại như truyện cổ, tục ngữ, dân ca, và thơ, cần được trân trọng và bảo tồn Sau Đại hội Văn Nghệ toàn quốc lần thứ hai năm 1957, nhiều tác phẩm văn học dân gian đã được dịch sang tiếng phổ thông và phát hành rộng rãi Các tác phẩm tiêu biểu như truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” của dân tộc Thái và các trường ca của các dân tộc Ê đê, Gia Rai đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ cộng đồng Cuốn “Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số” xuất bản năm 1962 đã chứng minh sự phong phú và đặc sắc của nền văn học này, thể hiện qua những bản tình ca đầy cảm xúc và hồn nhiên của các dân tộc.
Mường…đến những bài lượn, bài sli trong trẻo, tươi mát của dân tộc Tày,
Cách mạng không chỉ hồi sinh văn học cũ mà còn xây dựng nền văn học mới với sự đóng góp của nhiều tác giả từ các dân tộc thiểu số Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954), đội ngũ sáng tác văn học ngày càng phong phú, với nhiều tên tuổi tiêu biểu đại diện cho sự đa dạng văn hóa của các dân tộc khác nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đã ghi nhận sự xuất hiện của nhiều nhà văn tiêu biểu như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Nông Viết Toại, Lương Quý Nhân, và Hoàng Nó Những tác giả này đã góp phần quan trọng trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1954.
Sau năm 1975, bên cạnh những nhà văn nổi bật từ trước, đã xuất hiện nhiều cây bút mới như Triều Ân, Hoàng Hạc, Vi Hồng, và Mã Thế Vinh Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển của nhiều tác giả trẻ tài năng như Mã A Lềnh, Triệu Lam Châu, và Lò, tạo nên một bức tranh văn học đa dạng và phong phú.
Cao Nhum, Inrasara, Y Phương, Lâm Quý, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Dương Thuấn, Cao Duy Sơn, Lâm Quý, Ma Trường Nguyên, Hoàng Thị Cành, Hơ
Trong số các nhà văn nổi bật như Triệu Kim Văn và Bùi Thị Tuyết Mai, sự phân bố nhà văn giữa các dân tộc lại không đồng đều Đặc biệt, dân tộc Tày có số lượng nhà văn đông đảo nhất, bao gồm những tên tuổi như Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Triều Ân, Nông Viết Toại, Lâm Ngọc Thụ, Hoàng An, Hoàng Hạc, Vi Hồng, Vi Thị Kim Bình và Nông Ích Đạt.
Bế Sĩ Uông, Bế Dôn, Y Phương, Dương Thuấn, Ma Trường Nguyên, Hà Lâm
Kỳ, Mai Liễu, Cao Duy Sơn, Dương Khâu Luông là những địa danh nổi bật, cùng với cộng đồng dân tộc Thái, bao gồm các nhân vật như Cầm Biêu, Hoàng Nó, Vương Trung, Lò Văn Cậy, Cầm Bá Lai và Lò Cao, tạo nên sự đa dạng văn hóa và lịch sử phong phú của khu vực này.
Nhum, Lương Quý Nhân, La Quán Miên là những đại diện tiêu biểu của các dân tộc thiểu số, trong khi dân tộc Mường có Vương Anh, Quách Ngọc Thiên, Hà Lý, Bùi Minh Chức, Hà Thị Cẩm Anh và Bùi Thị Tuyết Mai Dân tộc Nùng cũng nổi bật với các nhân vật như Mã Thế Vinh, Hoàng Quảng Uyên, Địch Ngọc Lân và Lâm Tiến Ngoài ra, còn nhiều dân tộc khác như Bana, H’rê, Chăm cũng góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa đa dạng của Việt Nam.
Hoa, Vân Kiều …với các tên tuổi như: Kim Nhất, Inrasara, Dư Thị Hoàn, Lý
Nhiều dân tộc thiểu số như Lan, Thao Khằm, Hồ Chư, Hơ Vê vẫn chưa có nhà văn đại diện cho dân tộc mình, cho thấy sự thiếu hụt trong việc phát triển văn học và văn hóa của các nhóm này.
Sự phát triển mạnh mẽ của đội ngũ sáng tác đã dẫn đến việc gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng các tác phẩm văn học của các dân tộc thiểu số.
Số hóa tài liệu văn học Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt từ những năm 60 và 70, khi nhiều tập thơ từ các tác giả đa dạng về dân tộc bắt đầu xuất hiện Kể từ năm 1987, nhiều tác phẩm đã giành được giải thưởng cao, minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của thơ ca trong văn học Việt Nam, chẳng hạn như tập thơ "Ánh hồng Điện" của Cầm Biêu.
Năm 1984, tác phẩm “Biên” đã giành giải A của Hội VHNT Việt Nam; tập thơ “Tiếng hát tháng giêng” của Y Phương cũng được vinh danh là một trong hai tập thơ xuất sắc nhất năm 1987 Dương Thuấn nhận ba giải khuyến khích từ Hội nhà văn, Tạp chí văn nghệ quân đội và Tuần báo Văn nghệ, trong đó tập thơ “Cưỡi ngựa đi săn” (1991) đạt giải nhất về văn học cho thiếu nhi Tác giả Hơvê với tập thơ “Đóa hoa rừng” (1990) đã giành giải B của Hội nhà văn Việt Nam năm 1992 Lò Ngân Sủn cũng được công nhận với hai tập thơ: “Những người con của núi” (1990) và “Tôi là ngọn gió” (1998), đều đạt giải B của Hội nhà văn Việt Nam.
Nam (năm 1990, 1998); tác giả Mai Liễu với hai tập thơ: “Tìm tuổi” – tập thơ
(1998) đạt giải C Hội VHNT các DTTS Việt Nam (năm 1998) và “Giấc mơ của núi” – Tập thơ đạt giải B Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam (năm
2001); Lương Định với “Dòng sông khao khát”– Tập thơ đạt giải C Hội
VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam (năm 2001); Inrasara với “Tháp nắng” – Thơ và trường ca (1996) đạt giải B Hội nhà văn Việt Nam (năm 1997),
LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
Khái quát về hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại
2.1.1 Về đội ngũ và tác phẩm
Trong đời sống văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, một đội ngũ tác giả đã hình thành, bao gồm những người vừa sáng tác vừa nghiên cứu, lý luận và phê bình, tiêu biểu như Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Triều Ân và Hoàng An.
Số lượng tác giả viết lý luận và phê bình văn học dân tộc thiểu số, như Lò Ngân Sủn, Hoàng Quảng Uyên, và Lâm Tiến, đang ngày càng gia tăng Các tác phẩm nghiên cứu và phê bình trong lĩnh vực này không chỉ phong phú về số lượng mà còn nâng cao về chất lượng, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của văn học dân tộc thiểu số.
Trước năm 1986, chúng ta mới chỉ thấy xuất hiện một vài cây bút nghiên cứu, lý luận, phê bình người dân tộc thiểu số đó là: Nông Quốc Chấn,
Y Điêng, Vi Hồng, Triều Ân, và Bùi Nhị Lê là những tác giả không chỉ sáng tác mà còn tham gia nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học Các công trình nghiên cứu lý luận và phê bình nổi bật bao gồm "Đường ta đi" (1972), "Một vườn hoa nhiều hương sắc" (1977), và "Chặng đường mới" (1985) của Nông Quốc Chấn, cùng với những đóng góp của Triều Ân.
Thơ ca cách mạng Việt Bắc 1936 – 1945 (1977) chủ yếu tập trung vào các tác phẩm nghiên cứu, lý luận và phê bình trong giai đoạn này, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc khảo cứu, sưu tầm và biên dịch văn hóa, văn học truyền thống của dân tộc Một ví dụ điển hình là Y Điêng với tập “Trường ca Tây Nguyên” đồ sộ, được xuất bản vào năm 1961.
Các tác phẩm văn học dân gian như Trường ca Xinh Nhã, Đăm Di, Kinh Dú, Y Ban, Y Prao đã được dịch từ tiếng Ê đê sang tiếng phổ thông Bùi Nhị Lê đã thực hiện công trình sưu tầm và biên dịch “Truyện cổ tích Mường” vào năm 1968, trong khi Vi Hồng giới thiệu “Sli lượn dân ca trữ tình Tày- Nùng” vào năm 1979 Lâm Quý cũng có đóng góp với “Truyện cổ Cao Lan” xuất bản chung vào năm 1982.
Bài viết "Kể ít chuyện làm thơ" (2/1957) của Nông đánh dấu sự khởi đầu cho hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học dân tộc thiểu số, mở ra một hướng đi mới trong việc khám phá và phát triển văn hóa văn học của các cộng đồng này.
Đến cuối những năm 80, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học của Quốc Chấn chủ yếu thể hiện qua những bài viết nhỏ lẻ và các cuốn sách mang tính chất hỗn hợp, bao gồm giới thiệu, nghiên cứu và bình giá văn chương, cũng như sưu tầm và biên dịch, mà chưa có cuốn sách lý luận hoặc phê bình thực sự nào được xuất bản.
Vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90, văn học các dân tộc thiểu số đã có sự khởi sắc và phát triển mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình Đội ngũ tác giả lý luận, phê bình ngày càng đông đảo, với nhiều cây bút vừa nghiên cứu vừa sáng tác Các tác phẩm lý luận, phê bình không chỉ dừng lại ở việc khảo cứu và giới thiệu văn học truyền thống mà còn phản ánh kịp thời hoạt động sáng tác của văn học dân tộc thiểu số trong thời kỳ hiện đại Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học dân tộc thiểu số.
Công trình nghiên cứu, tổng kết đánh giá mang tính lý luận, phê bình
Cuốn sách “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” (1995) đã khẳng định tên tuổi của Lâm Tiến, một nhà lý luận và phê bình văn học chuyên nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Năm 1996, Lâm Tiến đã được vinh danh với giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam nhờ những đóng góp và thành công nổi bật trong lĩnh vực văn học.
- trao tặng cho một nhà lý luận, phê bình văn học người dân tộc thiểu số
Lò Ngân Sủn, với sự sáng tạo vượt bậc và đam mê trong lĩnh vực thơ ca cũng như lý luận, phê bình, đã giới thiệu đến độc giả tác phẩm "Hoa văn thổ cẩm".
(4 tập) trong đó tập 2 (1999) đạt giải B Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Hoàng An mang đến những phát hiện sáng tạo và cái nhìn mới mẻ, thể hiện rõ bản sắc dân tộc qua các bài thơ và phê bình sắc sảo của ông Những tác phẩm này không chỉ định hướng cho việc đánh giá văn học Lạng Sơn, quê hương của ông, mà còn cho văn học dân tộc thiểu số nói chung Điều này được thể hiện rõ trong bộ sách “Nép đẹp văn hóa trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc” – 3 Tập (1999, 2003, 2008), đã nhận nhiều giải thưởng, trong đó Tập 1 đạt giải C Hội văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số Việt Nam và Tập 3 đạt giải B, Giải thưởng Hoàng Văn Thụ, UBND tỉnh Lạng Sơn lần thứ nhất (năm 1995).
Inrasara, qua các tác phẩm “Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo” (2006) và “Song thoại với cái mới” (2008), đã nghiên cứu và đánh giá các trào lưu văn học đương đại, đặc biệt là văn học hậu hiện đại Phong cách phê bình của ông mang tính độc đáo và chuyên nghiệp, thể hiện sự kết hợp giữa sáng tác và lý luận phê bình của một cây bút dân tộc Chăm.
Giai đoạn này chứng kiến sự ra đời của hàng chục cuốn sách nghiên cứu tổng kết và đánh giá văn học các dân tộc thiểu số, bao gồm cả văn học truyền miệng và văn học thành văn, do nhiều cây bút nghiên cứu và phê bình thực hiện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Triều Ân đã có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu văn học dân gian và ngôn ngữ các dân tộc, tiêu biểu là các tác phẩm như “Ca dao Tày Nùng” (nghiên cứu, biên soạn, 1994), “Truyện thơ Nôm Tày” (nghiên cứu, biên soạn, 1994) và “Truyện cổ dân tộc Mông”.
(1995); “Từ điển thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày” (Biên soạn, in chung, 1996);