1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ Thuật Tự Sự Trong Tiểu Thuyết Của Thùy Dương.pdf

122 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Tự Sự Trong Tiểu Thuyết Của Thùy Dương
Tác giả Đỗ Thị Huệ
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Hạnh
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http //lrc tnu edu vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC ĐỖ THỊ HUỆ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG LUẬN VĂN THẠC[.]

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐỖ THỊ HUỆ

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ THỊ HẠNH

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thái Nguyên – 2019

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung

thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Huệ

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng

dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn

TS Vũ Thị Hạnh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tôi

nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp

đỡ, động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Huệ

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa đề tài 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Kết cấu luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1 1 Nhà văn Thùy Dương – cuộc đời và sự nghiệp văn chương 8

1.1.1 Đôi nét về cuộc đời nhà văn Thùy Dương 8

1.1.2 Sự nghiệp văn chương của nhà văn Thùy Dương 8

1.1.3 Quan điểm sáng tác của Thùy Dương 13

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài 16

1.2.1 Khái lược về nghệ thuật tự sự 17

1.2.2 Các phương diện trong nghệ thuật tự sự 17

* Tiểu kết chương 1……… 26

Chương 2:NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG 27

2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết của Thùy Dương 27

2.1.1 Nhân vật hồn ma 27

2.1.2 Nhân vật tự ý thức 33

2.1.3 Nhân vật cô đơn 39

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Thùy Dương 44

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 44

2.2.2 Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật 47

2.2.3 Nghệ thuật khắc họa tâm lýnhân vật 51

* Tiểu kết chương 2 55

Chương 3:NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC KẾT CẤU VÀ XÂY DỰNG KHÔNG – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG 56

3.1 Nghệ thuật tổ chức kết cấu 56

3.1.1 Kết cấu tình huống – tâm lí 57

3.1.2 Kết cấu phân mảnh - dán ghép 62

3.1.3 Kết cấu bổ thuật 67

3.2 Nghệ thuật xây dựng không gian 69

3.2.1 Không gian xã hội xưa cũ 70

3.2.2 Không gian xã hội hiện đại 72

3.2.3 Không gian tâm linh 76

3.3 Nghệ thuật xây dựng thời gian 79

3.3.1 Thời gian đan xen, đồng hiện 80

3.3.2 Thời gian tâm lý 82

* Tiểu kết chương 3 83

Chương 4: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA 84

THÙY DƯƠNG 84

4.1 Đa dạng hóa ngôi kể và điểm nhìn trần thuật 84

4.1.1 Phối hợp nhiều người kể chuyện trên một văn bản trần thuật 84

4.1.2 Phối hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn trần thuật 89

4.2 Giọng điệu trần thuật giàu sắc thái thẩm mỹ 92

4.2.1 Giọng mỉa mai, châm biếm 93

4.2.2 Giọng điệu đồng cảm, xót xa 96

4.2.3 Giọng điệu dí dỏm, hài hước 98

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

4.3 Ngôn ngữ trần thuật 100

4.3.1 Ngôn ngữ vừa truyền thống, vừa hiện đại 100

4.3.3 Ngôn ngữ mang đậm chất trữ tình 105

* Tiểu kết chương 4 109

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sau đổi mới 1986, văn học Việt Nam đã đạt được những thành công trên nhiều lĩnh vực, thể loại Bên cạnh những cây bút kỳ cựu như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng,…sự xuất hiện của lớp nhà văn trẻ như Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo, Đỗ Bích Thúy, Trong đó

có Thùy Dương – một nhà văn nữ có cách viết mới lạ, hoàn toàn mới mẻ, tràn đầy tâm huyết đã thổi vào nền văn học nước nhà một luồng sinh khí mới

Trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, Thùy Dương không còn xa lạ với những độc giả yêu thích văn chương, đặc biệt là tiểu thuyết Không ồn ào trên các diễn đàn văn chương nhưng với số lượng tiểu thuyết được xuất bản đều đặn

(Ngụ cư (2005), Thức giấc (2007), Nhân gian (2009) và gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết có tên Chân trần (2013)), Thùy Dương đang từng bước khẳng định những

trải nghiệm cùng sức viết tiểu thuyết của mình Đặc biệt, Thùy Dương là một trong số ít tác giả viết tiểu thuyết mà tiểu thuyết nào của chị cũng đều dành được

những giải thưởng văn chương: Thức giấc đạt giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết do

Hội Nhà văn tổ chức năm (2008-2010); Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2011

với tiểu thuyết Nhân gian

Với giọng điệu trữ tình, sâu lắng, Thùy Dương viết về cuộc đời con người bằng những trải nghiệm cá nhân, thấm đẫm dấu ấn suy tư về cuộc đời nhân sinh cùng những trạng thái tâm linh hư ảo Tác phẩm của chị có khả năng phản ánh các vấn đề gay gắt, nóng bỏng của xã hội hiện đại, đặc biệt có khả năng khai thác chiều sâu những góc khuất “thế giới bên trong” con người Để làm được điều đó, nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc sống và con người bằng góc nhìn mới đồng thời mạn dạn thực hiện nhiều thể nghiệm trong lối viết Điều này đã khiến cho nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thùy Dương chứa đựng nhiều yếu tố đổi mới, sáng tạo, mang lại giá trị và những hiệu quả nghệ thuật nhất định

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Với những đổi mới, sáng tạo trong nghệ thuật tiểu thuyết, những sáng tác của Thùy Dương cần được nghiên cứu một cách hệ thống nhằm ghi nhận đúng mức những đóng góp của Thùy Dương trong dòng chảy văn học Việt Nam đương

đại Đó cũng chính là lý do vì sao chúng tôi lựa chọn Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thùy Dương làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tiểu thuyết là thể loại “máy cái”, giữ vị trí trung tâm của một nền văn học Bất cứ một nền văn học lớn nào cũng không thể nào vắng bóng tiểu thuyết Bởi thế, tiểu thuyết góp phần quan trọng trong việc làm nên diện mạo của một nền văn học Đặc biệt, với đặc trưng tiêu biểu của thể loại, nói như Bakhtin – tiểu thuyết

là thể loại văn học tiếp nhận hiện thực đời sống ở thì hiện tại chưa hoàn thành –

là thể loại văn chương luôn biến đổi, “nòng cốt thể loại chưa hề rắn lại” và chúng

ta chưa thể đoán định được hết những biến đổi của nó, thì gắn liền với sức sống của thể loại này chính là những đổi mới không ngừng trong nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết để vượt qua những khuôn khổ sẵn có của thể loại Chính vì thế mà những nghiên cứu về tiểu thuyết nói chung cũng như nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại luôn là một vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm bàn luận của các nhà nghiên cứu, các học viên, sinh viên và độc giả yêu mến văn chương

Tác giả Nguyễn Văn Long và Lã Nhâm Thìn đã có nhiều ý kiến về tiểu thuyết và được ghi lại trong cuốn Văn học Việt Nam sau nam 1975 - những vấn

đề nghiên cứu và giảng dạy Trong công trình Văn học Việt Nam sau năm 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy cũng tập hợp nhiều bài nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam đương đại như: Bùi Việt Thắng với bài viết Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - nhìn từ góc độ thể loại; Nguyễn Hòa với Một cách lý giải về thực trạng tiểu thuyết Việt Nam đương đại; Nguyễn Bích Thu với Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975; Nguyễn Thị Bình với Về một huớng thử nghiệm

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay…Các tác giả khẳng định tiểu thuyết Việt Nam đang phát triển theo hướng hiện đại hóa với nội dung và cách thức thể hiện mới phức tạp, đa chiều Ở đó, các tác giả cũng nhận thấy, hướng đi này vấp phải nhiều hoài nghi từ giới phê bình song nó đã đánh thức nền văn học của chúng ta, tạo nên một sinh khí mới Những tác giả trên ngoài khẳng định ý thức cách tân của tiểu thuyết Việt Nam đương đại thì cũng đã đề cập khái quát về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì này Các tác giả nhận thấy sự

cố gắng học tập của tiểu thuyết Việt Nam để bắt kịp những đổi mới nghệ thuật tự

sự của tiểu thuyết đương đại Việt Nam với thế giới, nổi bật nhất là trong việc tạo điểm nhìn của người kể và ngôi kể chuyện Xuất phát từ nhu cầu đổi mới tự thân nhằm khám phá các phương diện của đời sống, các nhà văn đều ít nhiều có những đổi mới nhất định trong cách viết, cách nhìn so với văn học trước đây

Bên cạnh những công trình đề cập đến những đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết nói chung là những ý kiến bàn luận đến tác phẩm của Thùy Dương

Với những thành công nhất định, ít nhiều đã được thừa nhận, Thùy Dương

đã trở thành cái tên được nhiều sự quan tâm của độc giả cũng như nhà phê bình Một số nhà phê bình đã đi sâu tìm hiểu những đề tài, những ý tưởng, những cách viết khá táo bạo và mới mẻ của chị cũng như nhận thấy ở nữ nhà văn này một vốn hiểu biết, một vốn sống phong phú và nhiều nét sắc sảo, độc đáo

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhận xét đúng về thông điệp mà Thùy

Dương muốn gửi đến người đọc Sau khi đọc Thức giấc – một tiểu thuyết nổi tiếng của Thùy Dương, ông đã nhận xét như sau: “đọc hấp dẫn và xúc động như một lối kể linh hoạt mà điềm đạm, nhờ một giọng điệu văn chương gợi được xúc cảm và trầm tưởng, nhờ tính nữ và tính mẫu thấm đẫm bên trong Thức giấc sau một cơn mê ngủ Thức giấc sau một thời lầm lạc Thức giấc sau những dối lừa, giả trá Thức giấc sau những khổ đau Thức giấc sau những hạnh phúc Thức giấc

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

để biết mình còn biết đau, buồn, giận dữ và yêu thương Thức giấc để sống như một con người bình thường” [21]

Nhà văn Tô Hoàng lại có đánh giá riêng về tiểu thuyết Nhân gian của Thùy Dương Đọc Nhân gian, Tô Hoàng vẫn nhận ra "một thế mạnh rất riêng, một dòng cảm xúc không phải người viết nào cũng khơi nguồn được, một điều gì như một mảng hiện thực đầy ám ảnh - dù ngổn ngang, bề bộn trăm điều phải quan tâm trong cuộc sống hôm nay - nữ nhà văn cũng không thể gạt bỏ sang một bên" [15]

Đọc tiểu thuyết của Thùy Dương, người đọc nhận ra một thế giới riêng, không thể trộn lẫn Đó là thế giới của cuộc đời thực phức tạp xen lẫn với thế giới tâm linh lẩn khuất, thế giới cõi âm chưa từng biết đến và thế giới của dòng ý thức, của

sự đồng cảm Thế giới ấy được chị dày công tạo dựng từ đức tin, từ cảm hứng về những con người, cuộc đời gần gũi quanh chị

Tác giả Cẩm Thúy khi nhận xét về Ngụ cư - tiểu thuyết được giải B Hội nhà văn Việt Nam năm 2002 – 2005 của Thùy Dương lại cho rằng đây là "bước tiến mới của Thùy Dương" Tác giả khẳng định giọng văn của Thùy Dương "vẫn nhẹ nhàng, chải chuốt câu chữ, vẫn bảng lảng tình quê" và "đã có một bước chuyển, một sự trải nghiệm già dặn trong cách nhìn và cảm nhận về cuộc đời, về con người của tác giả" [32]

Nhà thơ Hữu Thỉnh trong Báo cáo tổng kết cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004

đã nhấn mạnh đến: “Một thành công khác là mảng tiểu thuyết tiếp cận đời sống ngày nay với sự quan tâm chung về chủ đề đạo đức xã hội…"Ngụ cư" của Thùy Dương, "Tường thành" của Võ Thị Xuân Hà đề cập đến cuộc sống đô thị trong đó nhiều giá trị mới đang được hình thành nhưng cũng ngầm chứa biết bao nhiêu hiểm họa” (Báo Văn Nghệ số 37; 10-9-2005)

Nhà phê bình Phong Lê nhận thấy: “Trong "Ngụ cư", Thùy Dương đã làm rõ lên một mảng sống đô thị, với dấu ấn đặc trưng của nó, khiến ai là dân

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cư đô thị hôm nay đọc vào cũng cứ thấy như là chuyện của mình và những người quanh mình” [19]

Nhà văn Lê Minh Khuê đánh giá: "Trong khi lối viết của Y Ban là kể nhiều hơn tả, tỷ lệ chênh lệch giữa động từ và tính từ trong tác phẩm của chị hẳn phải cao hơn nhiều so với bất cứ tác giả nào khác thì lối viết của Thùy Dương nghiêng

về phía nhẹ nhàng, trữ tình, từ trong giọng kể đến từng câu văn Tiểu thuyết

"Nhân gian" của chị là câu chuyện đan xen giữa chiến tranh và thời bình; là những giọng kể luân phiên giữa người sống và người chết, là những cảm xúc vừa giận hờn, trách móc vừa thông cảm đau xót với cuộc đi tìm mộ của người

em sinh đôi đã hy sinh" [17]

Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, trong khi đánh giá những tiểu thuyết lọt vào vòng chung khảo giải thưởng của Hội đã nhận xét về

Nhân gian - cuốn tiểu thuyết thứ ba của Thùy Dương như sau: “Văn Thùy Dương nhẹ nhàng nhưng không nhẹ nhõm, chị gây được cuốn hút cho người đọc qua sự phối hợp ba giọng kể khéo léo, nghệ thuật Hòa điệu ba giọng kể là giọng tác giả

- một giọng văn trữ tình chiều sâu” [21]

Thạch Thảo nhận xét về tiểu thuyết Thức giấc là "một cuốn sách nóng về

thời gian và dịu dàng tâm cảm", "Bối cảnh của cuốn tiểu thuyết khá rộng dài về không gian và thời gian, từ một làng quê Bắc Bộ đến Hà Nội và những thành phố lớn, từ trước ngày giải phóng miền Bắc năm 1954 đầy không khí mơ màng của lễ nghi và bổn phận, đến hôm nay với sự sôi động của thị trường chứng khoán…"

[28] Còn với Nhân gian là cuộc sống ở cõi trần, cõi âm và ranh giới giữa hai cõi

ấy - là những số phận được soi chiếu suốt một khoảng dài thời gian và đôi khi bị chi phối bởi những ràng buộc định mệnh Ba nhân vật của ba thế hệ với những hạnh phúc và cả những bi kịch của mỗi thời: con người không thể vứt bỏ quá khứ cũng như không thể từ chối tương lai

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhìn chung qua các bài viết, có thể thấy Thùy Dương được đánh giá là tác giả có khả năng nắm bắt và phản ánh hiện thực nhạy bén, sâu sắc, có giọng văn đặc biệt Nhưng một điều có thể nhận thấy là các ý kiến phần lớn bàn về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của chị nói chung mới là những nhận xét, đánh giá mang tính khái quát ở những khía cạnh khác nhau mà hầu như chưa tìm hiểu và xem xét một cách hệ thống Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt về đặc điểm tự sự trong tiểu thuyết Thùy Dương Chọn đề tài này, chúng tôi

sẽ dựa trên cơ sở thành tựu của người đi trước, từ đó triển khai vấn đề để làm nổi bật đặc điểm nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thùy Dương, trên cơ sở đó ghi nhận đóng góp của chị với thể loại tiểu thuyết nói riêng và với văn học Việt Nam đương đại nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thùy Dương Tuy nhiên, do nghệ thuật tự sự là có nội hàm khá rộng nên trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi đi sâu tìm hiểu nghệ thuật tự sự trên các phương diện: thế giới nhân vật, kết cấu, không gian, thời gian và nghệ thuật trần thuật

Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm ba tiểu thuyết đã được xuất bản của

Thùy Dương gồm: Thức giấc (2007), Nhân gian (2009), Chân trần (2013)

4 Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa đề tài

Chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu về Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thùy Dương nhằm những mục đích cụ thể sau:

Thứ nhất: chỉ ra những đặc điểm tiểu thuyết Thùy Dương trên các phương diện tiêu biểu của nghệ thuật tự sự như nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật kết cấu, nghệ thuật xây dựng không gian, thời gian và nghệ thuật tổ chức trần thuật

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thứ hai: khẳng định thành tựu và những đóng góp của Thùy Dương với thể loại tiểu thuyết và với văn học Việt Nam đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: các khái niệm thi pháp học như nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng không gian, thời gian nghệ thuật,…được lấy làm tiền đề để soi chiếu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thùy Dương

- Phương pháp tiểu sử, phương pháp xã hội học: luận văn đã đặt những sáng tác của Thùy Dương vào bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể để có những lý giải về những vấn đề được Thùy Dương đề cập đến trong tiểu thuyết Ngoài ra, những dữ liệu về cuộc đời (tiểu sử, sự nghiệp sáng tác văn chương…) được sử dụng nhằm

đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Thùy Dương

- Vận dụng lý thuyết tự sự học, trần thuật học, lý thuyết phê bình nữ quyền: được dùng để soi chiếu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thùy Dương ở nhiều chiều, nhiều khía cạnh hơn

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Thùy Dương Chương 3 Nghệ thuật tổ chức kết cấu và xây dựng không - thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Thùy Dương

Chương 4 Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Thùy Dương

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Nhà văn Thùy Dương – cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.1.1 Đôi nét về cuộc đời nhà văn Thùy Dương

Nhà văn Thùy Dương sinh năm 1960 tại mảnh đất có truyền thống hiếu học Hải Dương Cha của Thùy Dương là một kiến trúc sư còn mẹ làm công tác trong ngành Y Tuy nhiên, sự nghiệp của Thùy Dương lại bước sang hẳn một lĩnh vực hoàn toàn khác biệt – chị vừa làm báo, vừa viết văn và ở vai nào, chị cũng đều ghi dấu sự trưởng thành và thành công nhất định

Thùy Dương được biết đến với vai trò là Phó Tổng biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp kiêm Tổng biên tập Tạp chí Thương gia và là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam (kết nạp năm 2001) Mặc dù đã từng có ước mơ nối nghiệp mẹ hoặc trở thành giáo viên dạy Văn nhưng sau khi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Dương, Thùy Dương lại tiếp tục thi vào Trường Viết văn Nguyễn Du như một cái duyên không báo trước Năm 1992, chị tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khóa IV và chính thức được bạn đọc biết đến với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp với những tác phẩm đều đặn xuất bản mỗi năm

1.1.2 Sự nghiệp văn chương của nhà văn Thùy Dương

Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khóa IV năm 1992 song tên tuổi của Thùy Dương đã được bạn đọc biết đến qua những sáng tác xuất bản trước đó khá lâu Thùy Dương đã bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình với thể loại tự

sự cỡ nhỏ - truyện ngắn Tập truyện đầu tiên gắn liền với tên tuổi của Thùy Dương

là Trong hộp kẹo sáng tác năm 1987 – khi đó Thùy Dương 27 tuổi Và như thể

một nhà văn đã khơi đúng mạch ngầm sáng tạo, kể từ sau tác phẩm ấy, Thùy

Dương cứ đều đặn cho ra đời các tập truyện tiếp theo: Hạnh phúc mong manh -

1994, Nước mắt chàng khổng lồ - 1994, Mưa thiếu nữ - 1997, Những người đàn

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

bà đang sống - 2000 và Truyện ngắn Thùy Dương - 2003 Đây đều là các tập

truyện ngắn mang màu sắc trẻ trung, nữ tính nhưng cũng sắc sảo, mạnh mẽ Chiến tranh trở thành một đề tài cứ trở đi trở lại trong truyện ngắn của Thùy Dương với những ám ảnh mãnh liệt Những tác phẩm được xuất bản được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận và đã mang lại cho nhà văn nhiều giải thưởng văn chương quan trọng ở lĩnh vực sáng tác truyện ngắn như:

- Giải Ba cuộc thi truyện ngắn Báo phụ nữ TP HCM 1997

- Giải C cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ 1999 – 2001

- Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Thiếu Niên Tiền Phong 2001

Mặc dù đã có những “dấu ấn” ghi nhận những thành công nhất định ở thể loại truyện ngắn nhưng sự nghiệp văn chương của Thùy Dương dường như mới thực sự khởi đầu từ đó Với những khát khao sáng tạo, Thùy Dương thử sức mình

ở một thể loại tự sự dài hơi hơn – thể loại tiểu thuyết Dường như, tiểu thuyết mới

là mảnh đất thích hợp nhất chị thể hiện hết sức viết cũng như tâm huyết sáng tạo văn chương của mình Với 5 tiểu thuyết xuất bản đều đặn, Thùy Dương đã chứng minh rằng chị không chỉ là cây bút truyện ngắn mà còn là nhà tiểu thuyết thành công Trong một tầm vóc tự sự cỡ lớn, Thùy Dương có thể thỏa sức viết về cuộc đời con người bằng những trải nghiệm cá nhân thấm đẫm dấu ấn suy tư về cuộc đời nhân sinh cùng những trạng thái tâm linh hư ảo, phản ánh các vấn đề gay gắt, nóng bỏng của xã hội hiện đại, đặc biệt có khả năng khai thác chiều sâu những góc khuất của con người Nhà văn đã mạnh dạn thể nghiệm nhiều lối viết mới nhằm đổi mới nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết song vẫn giữ lại chất văn khi nhẹ nhàng, không hề mất đi hơi ấm nữ tính Các tiểu thuyết đã xuất bản, bao gồm: tiểu thuyết

Tam giác muôn đời - 1992, tiểu thuyết Ngụ cư - 2004, tiểu thuyết Thức giấc -

2007, tiểu thuyết Nhân gian - 2009 và gần đây là Chân trần - 2013

Điều cần phải khẳng định rằng, sự thành công trong địa hạt tiểu thuyết của Thùy Dương không chỉ được khẳng định ở số lượng mà còn ở chất lượng tiểu

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thuyết Tiểu thuyết của chị đạt được nhiều giải thưởng do Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng như:

- Giải B cho Ngụ cư - cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2001 –

2004

- Giải C cho Tiểu thuyết Thức giấc - Cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt

Nam 2007 – 2010

- Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2010 cho Tiểu thuyết Nhân gian

Ở đây chúng tôi xin đi sâu vào ba tiểu thuyết gần đây nhất của Thùy Dương

và cũng là ba tiểu thuyết thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tiểu thuyết đầu tiên, gây tiếng vang lớn nhất, là tiểu thuyết Thức giấc –

2007 Thức giấc là câu chuyện thời bao cấp cho đến thời kinh tế thị trường Ở đó,

tác giả xây dựng lại hai thời kì qua chân dung hai người phụ nữ: bà của Thao – người đại diện cho sự vươn lên của những người phụ nữ Việt Nam trong thời bao cấp đói khổ và Thao - cháu gái của bà – người phụ nữ hiện đại đại diện cho những

tư tưởng, quan điểm mới, khẳng định sự vươn lên làm chủ bản thân trong thời kinh tế thị trường Bà nội của Thao – một người mạnh mẽ và thức thời, trong thời bao cấp, bà lẳng lặng và kín đáo, làm tất cả mọi thứ để có thể kiếm tiền nuôi gia đình qua những hoàn cảnh túng khó Thậm chí, bà còn chắt chiu dành dụm, giấu

kĩ vàng trong từng đụn vá áo bông để có chút của làm vốn liếng cho con cháu sau này Bà đã truyền cho Thao – người cháu gái nội của bà cái khí chất mạnh mẽ, can trường sự nhanh nhạy, mau lẹ ấy để sau này dám dấn thân và thực sự thành công trong chốn thương trường bất động sản thời kinh tế hàng hóa – nơi mà người

ta vẫn nghĩ đó là “mảnh đất dụng võ” của đấng mày râu Bằng cái nhìn sáng suốt

cô đã dùng số tiền bà cho đầu tư bất động sản thành công

Mặc dù thành công trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản nhưng cuộc đời Yên Thao không tránh khỏi những “sóng gió” của cuộc đời đàn bà Cô lấy một kiến

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trúc sư tài ba và những tưởng hạnh phúc đã thật sự vẹn tròn Tuy nhiên, cuộc sống lại thường không giống như người đàn bà ấy nghĩ Chứng kiến cảnh chồng n goại tình trong chính ngôi nhà của mình, cô đau khổ đến cùng cực, có những lúc tưởng chừng như không còn gì nữa Cô rơi vào lòng luẩn quẩn của biết bao người đàn bà trong hoàn cảnh ấy – đau khổ, bất hạnh, cô lại rơi vào một hoàn cảnh trớ trêu hơn – cô có con với người đàn ông khác khi trong cô tình yêu và sự thù hận với người chồng vẫn đều trào dâng đỉnh điểm Cô quyết định giữ lại đứa bé như một sự trả thù sự phản bội của chồng, nhưng cô cũng vô cùng đau đớn khi đúng lúc ấy cô mới càng nhận rõ cô vẫn còn yêu chồng rất nhiều Cô đau khổ khi nhận thấy bóng dáng của người đàn bà khác đang “lờ mờ” hiện ra trong cuộc đời chồng cô trong những năm đằng đằng anh đi vắng không trở về nhà Và cuối cùng, như một lẽ tự nhiên nhất, cô để trái tim mình dẫn lối, cô mạnh mẽ vượt lên trên những nỗi đau đã qua

để sống với hiện tại – bỏ qua để tìm lại sự bình yên cho mình

Tiếp theo là tiểu thuyết Nhân gian Tiểu thuyết kể về cuộc sống trên cõi

dương của gia đình liệt sĩ Hoàng (gồm mẹ liệt sĩ Hoàng cùng gia đình người anh trai song sinh của liệt sĩ) cùng những mối quan hệ họ hàng làng xóm của họ Hoàng đã ra trận và gửi lại thân mình trên chiến trường bom đạn ác liệt Từ ngày nghe tin báo tử của Hoàng, mẹ Hoàng chưa bao giờ tin đó là sự thật Mẹ anh vẫn giữ vững niềm tin rằng anh còn sống và ngày đêm mong ngóng anh trở về Người anh trai vì thế cũng vất vả nhiều lần vào lại chiến trường tìm lại di hài anh Thảo – chị dâu của Hoàng, với một năng lực tâm linh đặc biệt, là nơi các liệt sỹ thường

“mượn thân xác” để “nhập hồn” qua đó trò chuyện với dương gian Người hành xóm của gia đình liệt sĩ Hoàng - cô gái bất hạnh vì chồng ngoại tình và bỏ rơi, đã tìm mọi cách để trả thù – khiến cho cho người chồng phải đau khổ, hối hận Khi

ý định trả thù được toại nguyện, thay vì hả hê chiến thắng cô lại cảm thấy đau khổ chán chường Bên cạnh dương gian của những người đang sống là cõi âm của những người liệt sĩ trên chiến trường Trường Sơn – Hoàng và những đồng đội bỏ lại thân mình nơi chiến trường Nhà văn Thùy Dương đã để cho nhân vật Hoàng

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tự kể về mình, tự mình “vén tấm màn bí ẩn” về cuộc đời của mình Anh tự kể về cái chết của mình, về sự trôi dạt của linh hồn sau khi chết Ngay lúc đó, linh hồn anh cũng có những cảm giác như con người khi chứng kiến mọi điều xảy ra trong cuộc sống Ba nhân vật của ba thế hệ với những hạnh phúc và cả những bi kịch của mỗi thời

Tiểu thuyết mới nhất của Thùy Dương - Chân trần (2013) kể về câu

chuyện của một gia đình sống trong xã hội phong kiến với người chồng làm bác

sĩ và năm bà vợ, trong đó bà vợ ba chính là người kể chuyện Song hành với cuộc sống của gia đình này là cuộc sống trong xã hội hiện đại của nhân vật nữ nhà báo Những người đàn bà có một mối dây liên lạc máu mủ xa xôi nhưng lại rất gần về đường dây tâm linh và những giấc mơ gắn liền với lịch sử thăng trầm của dòng

họ Bà ba được ông đốc tờ cưới về trong sự cảm mến từ hai phía ngay cả khi ông

đã có hai bà vợ trước đó Lịch sử cuộc tình của bà không được nói rõ như tạo thêm

sự bí ẩn cho câu chuyện Tuy xuất hiện trong gia đình vừa phức tạp, vừa hài hước của ông đốc tờ đa thê nhưng bà là người còn lại duy nhất sau những biến cố của gia đình và đó là nơi neo giữ linh hồn của ngôi nhà Bà đã chết và đi vào dĩ vãng

từ lâu Nhân vật nữ nhà báo là nhân vật sống trong thế giới thực tại nhưng bị nhấn chìm trong những giấc mơ gặp gỡ với người họ hàng của mình – trong đó có bà

vợ ba của ông đốc tờ Thùy Dương đã xây dựng cuộc gặp gỡ qua giấc mộng giữa

bà vợ ba với cô nhà báo - hai người là hai thế giới: người sống và người chết, giữa cõi dương và cõi âm, giữa người “đời trước” với người “đời sau” Họ là những số phận, những đôi chân trần nhọc nhằn trên con đường đời đầy sỏi đá, đầy những chông gai trên cõi thế vô cùng Người vợ thứ ba (cụ Ca) phải chịu sự đẩy đưa của thời thế: đất nước loạn lạc, chồng chết, gia đình tan nát song bà vẫn nhìn nhận được phải trái, đúng sai; là người sống biết trước biết sau và có trách nhiệm với gia đình của mình Nữ nhà báo cũng là người đối diện với những rối ren của xã hội hiện đại song cô vẫn giữ được chính kiến và con người mình

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy, Thùy Dương có số lượng sáng tác khá dày dặn và phong phú Các sáng tác của chị bao gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết: sáu tập truyện ngắn và năm tiểu thuyết đã được xuất bản Với số lượng tác phẩm đáng kể ở nhiều thể loại, cùng với đó là những giải thưởng văn chương dành được ở cả lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết, Thuỳ Dương đã để lại những dấu ấn nhất định trong đời sống văn chương đương đại Việt Nam

1.1.3 Quan điểm sáng tác của Thùy Dương

Những giải thưởng văn chương mà Thùy Dương đã nhận được ở cả lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết đã phần nào ghi nhận những đổi mới trong quan điểm sáng tác của Thùy Dương

Với Thùy Dương, viết văn trước hết là vì mục đích tự thân, viết để mang lại cảm giác được hạnh phúc, được đau khổ, được chiêm nghiệm, được trăn trở, suy tư Bởi vậy, viết là một hành trình nhận thức với đầy đủ cung bậc cảm xúc sáng tạo Nhà văn chia sẻ: “viết mang lại cảm giác hạnh phúc, vì mình nói được điều mình tâm huyết, trăn trở, chiêm nghiệm Mỗi cuốn sách ra đời giống như mình đã xây dựng được một vương quốc riêng, một đời sống riêng, hoặc là chạm tới những giấc mơ mà đời thường mình không chạm tới” [32, 40] Chị tâm sự:

“Mỗi cuốn sách có số phận của nó Con đường văn chương vốn dài, tôi không sốt ruột cũng không kỳ vọng nhiều quá Tôi chỉ biết mình đến chặng này thì phải viết cái này, chặng kia thì phải viết cái kia Không viết không chịu được, vì lòng mình

nó đầy ứ lên” [32, 40]

Với quan điểm sáng tạo rất nghiêm túc và chân thành, Thùy Dương không chạy theo thị trường để viết mà viết để thể hiện mình và tìm sự đồng cảm Chị tâm sự: “Rõ ràng là nhuận bút một cuốn tiểu thuyết (với số lượng in khoảng 2.000 cuốn) thật thấp so với một truyện ngắn in ở những tờ báo có lượng phát hành lớn

Và lượng người đọc tiểu thuyết giờ đây cũng không còn được như xưa Nhưng tôi không viết để chạy theo số lượng in hay nhuận bút Viết là viết thôi – một nhu

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cầu tự thân” [32, 40] Mặc dù viết văn nói chung và viết tiểu thuyết nói riêng là một công việc nặng nhọc nhưng với sự chiêm nghiêm và suy tư, nhà văn Thùy Dương đã phản ánh cuộc sống thực sự - vừa phức tạp, vừa sâu sắc, đòi hỏi sự tự vấn, sự phê phán nghiêm khắc: “Truyện của tôi cần "cái đọc" cẩn thận của những người sống chậm, sâu sắc nên vì thế cũng kén người đọc Nó không phải là "món

ăn nhanh" để người ta có thể "ăn" trong lúc chờ xe Nó cũng không gây sốc bằng tình dục Nhưng dù sao, tôi vẫn có một lượng độc giả riêng, những người ở lứa tuổi chín chắn và đã trải qua nhiều vui buồn của cuộc sống, những người có đủ độ

để "thấm", để đồng cảm” [32, 40]

Vì là một nhà báo nên chị đã đưa vào văn chương của mình tinh thần của một nhà báo Chị khẳng định nghề báo giúp chị va đập thực tế nhiều, cho chị những trải nghiệm và có những mối quan hệ phong phú qua đó kho tư liệu sống của chị cũng được làm đầy hơn Với chị, báo là nghề và văn là nghiệp Trong vai trò kép – cầm bút vừa như một nhà văn, vừa như một nhà báo, chị không ngần ngại nói về những vấn đề xã hội, thậm chí mặt trái, những mặt tiêu cực trong đời sống Qua lăng kính của một nhà báo nữ, đời sống hiện đại với tất cả những bộn

bề, dở dang, tốt xấu hiện lên với đầy đủ “chất đời” nóng hổi: mâu thuẫn giữa việc chịu sức ép của truyền thông hiện đại, việc chạy theo thị hiếu độc giả và việc làm báo chân chính để giúp ích thiết thực cho số đông công chúng… Tuy nhiên, sự

bề bộn của thông tin lại đem đến cho người viết văn những thuận lợi nhất định Ở

đó, báo chí phản ánh xã hội, cung cấp tư liệu cho văn chương, còn văn chương kết lắng, suy tư, đào sâu vào những vấn đề đó để mang lại cái nhìn sâu sắc hơn, mang tính thẩm mỹ hơn về vấn đề được phản ánh Nhà văn không thể chỉ phản ánh sự việc, nhà văn cần đào sâu vào thân phận con người và các giá trị nhân sinh Qua những trang viết của mình, Thùy Dương thể hiện sự day dứt chuyện đời, chuyện xã hội và cả chuyện về thân phận Xuất hiện trong nhiều tiểu thuyết của chị là chân dung các nhà báo nữ Đó cũng chính là bóng dáng của Thùy Dương - một người nữ nhà báo

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thùy Dương còn quan niệm văn chương phải vươn tới chia sẻ, cảm thông với những cảnh ngộ khác nhau của con người Chị viết về những góc khuất của con người như một sự “cố hiểu” để cảm thông và chia sẻ với con người Chị tâm sự: có những lúc con người không thể ngờ được, rất khó đoán và phức tạp Trong mỗi người đều có một ranh giới mỏng manh giữa thiện và ác Nhà văn nhạy cảm cả với cái tốt và cái xấu, nhìn thấy những điều mà người khác có thể bỏ qua Nhà văn quan sát được những chi tiết mà cuộc đời găm vào mỗi người và trăn trở với nó Những chi tiết đó "ăn" vào nhà văn và "bật" ra rất tự nhiên trong các tác phẩm Chị thường day dứt và nghiêng về phần đau khổ của nhân sinh, thương xót những thân phận, tìm thấy ở những con người, những cuộc đời giá trị riêng mà khi chăm chú quan sát, lắng nghe và nhìn kỹ hơn mọi người sẽ thấy Chị rất thích câu nói của Andersen:

“Trong bất kỳ cống rãnh nào cũng có ngọc trai”, nghĩa là ngay cả những lúc đau khổ nhất cũng có những điều tốt đẹp, những điều đáng để hy vọng [32, 40]

Thùy Dương cũng đặc biệt ưu ái đối với phái nữ Phần lớn nhân vật chính trong tiểu thuyết của chị là nữ giới – những người phụ nữ không chỉ đẹp mà còn

là những người gánh vác, đảm nhiệm vai trò của người trụ cột, là chốn neo đậu cuối cùng của đời sống, gắn kết cuộc sống mọi người lại với nhau Chị tâm sự:

“Trong mắt tôi, người đàn bà ở xứ sở mình là những người đáng trọng nhất thế giới Họ phải gắng gỏi gánh vác những sứ mệnh, trách nhiệm, có tấm lòng hy sinh cao cả Gánh trên vai người đàn bà rất nặng, phải hoàn thành công việc, giữ gìn những điều tốt đẹp để trao lại cho con cái, người mẹ luôn là người dạy con những điều tốt đẹp nhất Tư chất và nghị lực của đàn bà Việt Nam tuyệt vời Đàn bà Việt Nam nhân hậu, dù nghịch cảnh tăm tối nhưng giá trị tốt đẹp của đàn bà Việt Nam luôn tỏa sáng Những người đàn bà của tôi ngay trong lúc đau khổ, tăm tối nhất vẫn tỏa sáng Tôi vẫn cho rằng, để có được ngày hôm nay, có được những điều tốt đẹp còn lưu truyền lại là do những người mẹ từ hàng ngàn năm nay của chúng

ta Họ gìn giữ và trao truyền cho con cháu và gắng gỏi không biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ cho sự tốt đẹp của những thế hệ tiếp sau” [32, 40] Chị thương số phận

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

những người phụ nữ phải gồng gánh, mang vác trên vai quá nhiều trách nhiệm, quá nhiều lo toan Họ gánh trên vai thiên chức làm vợ, làm mẹ, còn phải lo đối nội, đối ngoại trong gia đình Vợ với chồng cùng ra ngoài công tác nhưng khi về đến nhà người phụ nữ lại gồng mình làm biết bao nhiêu công việc không tên khác

Họ đã phải hy sinh rất nhiều và nhiều khi không được sống với ý thích của mình Chị cũng đặc biệt trân trọng những người phụ nữ làm báo – những người phụ nữ say nghề, ham hiểu biết và rất sắc sảo trong tư duy, bản lĩnh trong xử lý vấn đề, nhân văn, có học, có trách nhiệm với cuộc sống

Thùy Dương cũng là người bị ám ảnh bởi chiến tranh dù cho phần lớn cuộc đời chị đã được sống trong bầu không khí hòa bình Những kí ức về chiến tranh gắn liền với tuổi thơ bé của Thùy Dương nhưng nó lại có sức nặng khủng khiếp – đeo bám tác giả cho tới khi trưởng thành Chị kể: “Tôi là người rất hay bị quá khứ

ám ảnh Đúng là khi tôi trưởng thành thì chiến tranh đã kết thúc, nhưng sao tôi hay nhớ về những ngày ấu thơ cùng cha mẹ đi sơ tán Nhớ những buổi máy bay ném bom, mẹ tôi lùa chị em chúng tôi xuống hầm Cả tuổi thơ tôi chỉ mong khi nào hết chiến tranh, không còn tiếng máy bay để mình không phải trốn dưới hầm Tôi nhớ làng quê mình thời đó, chỉ toàn đàn bà sống với nhau, vì đàn ông đã đi ra trận cả Rồi những phận người sau chiến tranh, đầy trong gia đình dòng họ nhà mình, những cô, những dì… Bao nhiêu là mất mát, di chứng dai dẳng” [32, 40]

Vì thế, Thùy Dương viết nhiều về chiến tranh, về những chuyến ra đi để chấp nhận không bao giờ trở lại của người lính thời chống Mỹ, về hậu phương của anh

em với sự chịu đựng, đức hy sinh không gì đong đo được của những bà mẹ, những người vợ trẻ, của những cô gái mãi mãi mang trong lòng nỗi ân hận vì nhiều lẽ không dám dâng hiến cho người tình những giây phút đam mê Truyện ngắn của Thùy Dương xuất hiện vào cái thời buổi đề tài chiến tranh đã quá nhiều nhưng chị viết vẫn hay

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.2.1 Khái lược về nghệ thuật tự sự

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tự sự là một phưong thức tái hiện đời

sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời của con người Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện, gắn với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình” [14, 390] Như vậy, nghệ thuật tự sự là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự việc theo cái nhìn nhất định, có tác dụng soi sáng nội dung tư tưởng của tác phẩm và thể hiện sự sáng tạo độc đáo của nhà văn

Bên cạnh đó, mỗi nhà nghiên cứu có cách định nghĩa khác nhau về nghệ

thuật tự sự Đầu tiên, J.H.Miller, nhà giải cấu trúc Mĩ (1993) cho rằng: “Tự sự là cách để ta đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có một ý nghĩa Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố” Còn Jonathan Culler (1998) lại nhận dịnh: “Tự sự là phưong thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật” [38, 39] Tiếp theo, Giáo sư Trần Ðình Sử thì khẳng dịnh: “Tự sự là hệ thống những

sự kiện, cách thức tổ chức sự kiện, các mô típ truyện, sự phân loại các mô típ, diễn ngôn, lời kể với những người kể, điểm nhìn, thời, thức” Ðặng Anh Ðào cho rằng: “Tự sự là một khái niệm rất rộng và có thể xét ở hai bình diện Bình diện thứ nhất: Tự sự như sự đồng nghĩa với “câu chuyện kể” đối lập với miêu tả Bình diện thứ hai: Tự sự được xem xét theo hành động kể chuyện” [38, 40]

Hiện văn xuôi hiện đại đang nỗ lực làm mới nghệ thuật tự sự như một tất yếu của thời đại toàn cầu hóa, thể hiện trên nhiều mặt của thi pháp tự sự trên nhiều thể

loại Văn chương đã dịch chuyển, hoán đổi từ đại tự sự sang tiểu tự sự và làm mới

ngôi kể, cốt truyện, điểm nhìn, giọng điệu trần thuật, lời của người trần thuật

1.2.2 Các phương diện trong nghệ thuật tự sự

1.2.2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nghệ thuật xây dựng nhân vật là cách thức tạo dựng nhân vật nhằm biểu đạt ý đồ của tác giả Để xây dựng nhân vật, nhà văn thường chú ý tới các phương diện sau:

- Nghệ thuật miêu tả ngoại hình: là cách miêu tả toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bên ngoài của nhân vật, từ diện mạo, trang phục, hình dáng cho đến

cử chỉ, tác phong…nhằm nói lên đặc điểm của nhân vật Ngoại hình của nhân vật đóng vai trò khá quan trọng, bởi gợi liên tưởng tới tính cách, phẩm chất con người Các chi tiết để miêu tả chân dung, ngoại hình của nhân vật, sự miêu tả ấy có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người kể chuyện hoặc qua cái nhìn của một nhân vật khác

- Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật: là khái niệm nhằm chỉ việc miêu

tả việc làm của nhân vật để nói lên đặc điểm, tính cách của nhân vật đó Nhiều nhân vật có hành động cao cả, vị tha nhưng cũng có nhân vật thể hiện hành động thiếu văn hóa Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật Có thể coi đây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc

về thế giới tinh thần của người đó Hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện

- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật: Tâm lí con người là thứ khó hình dung,

do vậy nó cần một bút pháp tài hoa đề miêu tả, làm nổi rõ Nhưng tác phẩm hiện đại nào cũng phải xây dựng tâm lí nhân vật, coi đấy là sự sống còn của tác phẩm Một tác phẩm không có sự hấp dẫn từ tâm lí nhân vật thì đó chỉ là liệt kê sự việc Khắc họa tâm lý đóng vai trò cực kì quan trọng, nhất là với những nhân vật có cá tính, có đời sống nội tâm phong phú Tác giả chú ý đến các chi tiết thể hiện con người bên trong của nhân vật, đó là các trạng thái cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng;

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

những phản ứng tâm lí của bản thân nhân vật trước cảnh ngộ, tình huống mà nhân vật chứng kiến hoặc từng trải qua cuộc đời mình Cuộc sống bên trong ấy của nhân vật là những hoạt động nội tâm Cuộc sống hiện đại không phải bao giờ cũng được phản ánh một cách trực tiếp mà nó được khúc xạ, cảm nhận thông qua suy nghĩ của nhân vật với thế giới nội tâm vô cùng phức tạp

1.2.2.2 Nghệ thuật xây dựng không gian và thời gian nghệ thuật

a Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật chính là không gian, nơi chốn có tính độc lập với không gian vật chất địa lý, được miêu tả lại trong tác phẩm với một dụng ý nghệ thuật nhất định Nó chính một tín hiệu nghệ thuật mang những giá trị nghệ thuật riêng Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó đồng thời thể hiện quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của thời gian hay của một giai đoạn văn học Vì thế, không gian nghệ thuật trở thành một phương tiện thẩm mỹ để thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm và ý muốn chủ quan của nhà văn Qua đó, nhà văn có thể gửi gắm những ý nghĩa, thông điệp nào đó góp phần tạo nên hiệu quả nghệ thuật cho tác phẩm Sự đối lập, liên hệ hay lặp lại giữa các yếu tố không gian góp phần nói lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm

Một số không gian thường được xây dựng trong văn xuôi là:

- Không gian sinh hoạt đời thường: nó thường xuất hiện trong các tác phẩm văn xuôi viết về vấn đề đời tư thế sự Do đó không gian trần thuật thường là không gian sinh hoạt đời thường Đó là không gian để nhân vật sống, hoạt động và tự thể hiện mình trong cuộc sống thường ngày Trong không gian ấy, con người bộc lộ đến cùng bản chất nhiều mặt: tốt, xấu,…

- Không gian phố phường: xây dựng không gian này các tác giả muốn đề cập đến mối quan hệ và những xung đột phức tạp giữa những con người trong gia

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đình, trong từng khu phố

- Không gian làng quê: những bức tranh chốn thôn quê gợi cảm giác thật yên bình Từ đó cho ta hiểu về cuộc sống của những người dân quê – một mảnh

đề tài chưa bao giờ bị lãng quên

- Không gian tâm lí: đây là không gian mà mọi sắc thái, mọi biểu hiện của không gian ngoại cảnh đều được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhân vật cảm nó, nắm bắt nó và bộc lộ mình trong nó Đó là thứ không gian hướng nội, không gian thể hiện nỗi lòng nhân vật, gắn với nội tâm nhân vật Vì thế, nó được

sử dụng như một phương tiện hữu hiệu soi tỏ mọi ngõ ngách tâm tư, mã hóa cung bậc cảm xúc của nhân vật

- Không gian tâm linh : đây là không gian có yếu tố thần bí liên quan tới

tâm linh như không gian có ma quỷ, cõi âm,…Ở đó, các nhà văn muốn khai mở một con đường giữa thực tại, giữa một trần gian hiện sinh với một thế giới tâm linh bí ẩn, thế giới phiêu diêu của những linh hồn người bằng trực giác rất rõ và mạnh Nhưng qua thế giới tâm linh ấy, tác giả thực ra đang muốn nói về chính cõi dương của con người

b Thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật là thời gian trong tác phẩm nhằm thể hiện một dụng ý nghệ thuật của tác giả Nếu thời gian vật lí tồn tại một cách khách quan và được

đo bằng những con số, những lát cắt đều đặn: giờ, ngày, tháng, năm thì thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện sự cảm thụ độc đáo của thời gian về phương thức tồn tại của con người trong thời gian Nếu thời gian vật lí không có sự khác biệt giữa hôm qua và hôm nay, giữa ngày này với ngày khác và chảy trôi đều đặn và theo đúng tuần tự ba chiều quá khứ, hiện tại, tương lai thì thời gian nghệ thuật có thể thay đổi tùy theo sự kiện, nhân vật, tâm trạng, nó được sử dụng như một phương tiện hữu hiệu để biểu đạt thế giới cảm

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

xúc, cảm giác của con người cũng như sức sáng tạo của nhà văn, đồng thời bộc

lộ rõ tính quan niệm của tác phẩm

Có nhiều loại thời gian nghệ thuật Ở đây, xin nêu một số loại chính như sau:

- Thời gian tâm tưởng về với quá khứ: dùng thời gian như là một yếu tố điểm mốc để nêu các sự kiện, các biến cố của cuộc đời nhân vật Ta sẽ hay bắt gặp ở đó một thời điểm xã hội xưa cũ được hiện lên qua những kí ức chắp nối của các nhân vật

- Thời gian hiện tại: dùng thời gian để làm rõ biến cố, sự kiện trong hiện tại, đang diễn ra Ở đó, các tác giả thường vận dụng lối viết tái hiện sự kiện nhanh chóng để gây ấn tượng về sự kiện diễn ra nhanh, gợi sự chân thực của cuộc sống hiện tại

- Thời gian tâm lí: thời gian được khúc xạ qua tâm lí nhân vật, góp phần thể hiện tâm trạng nhân vật Thời gian này mang tính hướng nội, gắn với nội tâm nhân vật và trở thành một phương tiện hữu hiệu mã hóa cung bậc cảm xúc của nhân vật

- Thời gian sinh hoạt: là thời gian sinh hoạt hàng ngày của con người, như các thời gian ăn, ngủ, làm việc,…Thời gian này gắn với hoạt động hàng ngày mang tính lặp đi lặp lại của nhân vật nên dễ dàng trong thể hiện tâm lí của nhân vật Ví dụ: thời điểm đêm khuya dễ gợi cảm xúc buồn, dễ khiến người ta sống thật với chính mình, vì thế mà khi xây dựng trong tác phẩm, nó thường thể hiện nhân vật ở trạng thái luôn thấy buồn

1.2.2.3 Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật

a Ngôn ngữ nghệ thuật

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Nhà văn sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện

để xây dựng hình tượng nghệ thuật Vì vậy ngôn ngữ có vai trò quan trọng tạo nên tính đặc sắc của một tác phẩm văn học, đồng thời cũng góp phẩn làm nên nét cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả Ngôn ngữ người trần thuật chẳng

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

những có vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu cá tính của tác giả Ngôn ngữ trần thuật có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình tượng tác phẩm, thể hiện tư tưởng nội dung của tác phẩm Bởi vậy, trong sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn luôn quan tâm lựa chọn ngôn ngữ trần thuật để tạo lập một phong cách ngôn ngữ riêng cho các tác phẩm của mình

Xây dựng ngôn ngữ của văn xuôi có một số điểm khác biệt Văn xuôi là một thể loại chứa đựng trong lòng mình tất cả mọi hình thức ngôn ngữ của các thể loại khác Trong đó, nhà văn có thể sử dụng nhiều kiểu câu dài, ngắn khác nhau; câu tỉnh lược, câu mệnh lệnh, câu đặc biệt… làm cho ngôn ngữ trở nên linh hoạt và phong phú Ngôn ngữ văn xuôi cũng nói lên đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa thời

đó Thời trung đại, văn xuôi vẫn chịu sự quy định của hệ thống thi pháp văn học trung đại: mang tính ước lệ, tượng trưng, nên ngôn ngữ dày đặc những điển tích, điển cố, được viết theo kết cấu chương hồi… Ngày nay, ngôn ngữ văn xuôi hiện đại ngày càng trở nên gần gũi với ngôn ngữ đời thường, mang hơi thở của bộn bề cuộc sống Các lớp từ tồn tại trong xã hội như: lớp từ tình thái, lớp từ địa phương, tục ngữ, quán ngữ… đều được các nhà văn vận dụng vào trong sáng tác góp phần thể hiện phong cách độc đáo của mình trong tác phẩm Các nhà văn lấy ngôn ngữ

từ cuộc sống, mã hóa nó để đưa vào tác phẩm văn học nhằm thể hiện cách cảm nhận cuộc sống và ý đồ sáng tạo của nhà văn và hướng tính nghệ thuật và tính thẩm mĩ cao Ngôn ngữ văn xuôi hiện đại ngày càng giản dị, gần gũi với cuộc sống nhưng cũng uyên bác, thấm đẫm tính chất triết lí sâu sắc Các tác giả vận dụng đầy

đủ và phù hợp các biện pháp tu từ, nhằm tạo ra các tầng nghĩa cho ngôn từ, làm đậm đặc thêm quá trình mã hóa tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật Càng về sau, văn xuôi hiện đại càng thể hiện rõ tính đa thanh của mình trong các tác phẩm, tạo dư

âm vang vọng trong lòng người đọc Ngôn ngữ văn xuôi cũng phải thể hiện được phong cách nhà văn Phong cách nhà văn là kết quả của một quá trình miệt mà sáng tạo nghệ thuật, được tạo dựng từ tính cá thể của ngôn ngữ nghệ thuật Dựa

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

theo khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó mà tác giả đưa nó vào tác phẩm

b Giọng điệu nghệ thuật

Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn qui định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,…

Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc; nó mang đậm cá tính sáng tạo của tác giả Vì vậy, mỗi nhà văn luôn nói bằng giọng điệu riêng của mình Tìm được giọng điệu phù hợp sẽ giúp cho nhà văn kể chuyện hấp dẫn hơn, thể hiện sâu sắc hơn tư tưởng Giọng điệu là nơi nhà văn biểu hiện những quan niệm cá nhân trước cuộc đời, là chất keo vô hình tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa nhà văn, tác phẩm và độc giả Quả thực, giọng điệu có vai trò rất lớn đối với trần thuật và sự hình thành phong cách nhà văn

Giọng điệu còn ảnh hưởng chung lên toàn bộ tác phẩm; quyết định nhiều khâu, nhiều yếu tố trong việc xây dựng tác phẩm, chi phối phương thức, cách thức xây dựng nhân vật Giọng điệu là phương tiện để người kể chuyện đi sâu phản ánh bức tranh hiện thực đời sống của con người vì thế, giọng điệu là một yếu tố không thể thiếu để cấu thành hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học, nó là một phương diện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của tác phẩm tự sự, cũng

là thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc đáo của người

nghệ sỹ PGS.TS Bích Thu trong bài viết Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn

Nguyễn Khải những năm 80 đến nay quan niệm: “Giọng điệu trần thuật là một

trong những yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn trong các sáng tác tự sự của nhà văn” [31, 81]

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Có những sắc thái giọng điệu trần thuật cơ bản: giọng điệu ngợi ca, giọng điệu xót xa ngậm ngùi, giọng điệu triết lý, tranh biện, giọng điệu hóm hỉnh trào lộng Ví dụ: văn học Việt Nam trước năm 1975, văn học Việt Nam đứng trước yêu cầu đa dạng của xã hội: một mặt phải đáp ứng nhu cầu tất yếu của con người trong công cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam nên có một giọng điệu chủ đạo: khẳng định, ngợi ca với tinh thần lạc quan, tin tưởng Sau năm 1975, khi chiến tranh đi qua, nhịp sống đời thường trở lại với tất cả những biểu hiện phong phú của đời sống: ích kỷ, vị tha, cao thượng, thấp hèn, cao cả, phàm tục,…vì thế văn chương không thể chỉ có cảm xúc ngợi ca mà còn có đối thoại

1.2.2.4 Hình tượng người trần thuật và điểm nhìn nghệ thuật

a Hình tượng người trần thuật

Hình tượng người trần thuật thường mang “bóng hình” tác giả Tác giả không lộ diện trong tác phẩm nhưng thông qua việc xây dựng hình tượng người trần thuật (người kể chuyện) vẫn thể hiện rõ sự tự ý thức về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm Ví dụ: tác giả bài cáo, bài chiếu, tự thể hiện mình như một bậc đế vương Tác giả bài biểu, bài tấu phải thể hiện mình như một thần dân Tác giả thiên sử ký phải là một sử gia đầy trách nhiệm Tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm phải thể hiện hình tượng người suy ngẫm và tu dưỡng đạo đức Ngược lại Hồ Xuân Hương làm hiện lên một kiểu tác giả trữ tình khiêu khích, cợt nhả, lật tẩy Còn Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm lại thể hiện một kiểu tác giả giãi bày oán thán trước cuộc đời

Khi bàn đến hình tượng người kể chuyện trong tác phẩm, chúng ra quan tâm đến người kể chuyện lộ diện hay giấu mặt Người kể chuyện lộ diện thường xuất hiện ở kiểu truyện kể ở ngôi thứ nhất – người kể chuyện hiện diện như một nhân vật trong truyện (trực tiếp xưng tôi trong tác phẩm – có thể là cái tôi vai chính (nhân vật chính tham gia vào tiến trình tự sự) hoặc là cái tôi chứng nhân (vai phụ, đảm nhận vai trò là người quan sát và kể lại) Người kể chuyện giấu mặt

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

(thường ở kiểu truyện kể ở ngôi thứ ba Lúc này, người kể chuyện không xưng tôi trong tác phẩm, chỉ đảm nhận vai trò tường thuật lại câu chuyện Tùy thuộc vào hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba mà câu chuyện được kể mang tính khách quan hay chủ quan nhiều hơn

b Điểm nhìn trần thuật

Điểm nhìn trần thuật chính là “góc nhìn”, là vị trí mà ở đó câu chuyện được

kể lại Mỗi một truyện kể thường được kể bởi một người kể chuyện theo một dạng thức ngôi kể (ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba hoặc phối hợp) và điểm nhìn trần thuật nhất định Nó được quy định bởi người kể và tính chủ quan, cảm nghĩ của nhân vật ấy

Có các loại điểm nhìn chính như sau:

- Điểm nhìn bên ngoài: điểm nhìn bên ngoài tạo ra cái nhìn khách quan trước sự kiện, nhân vật trong tác phẩm; từ đó làm nổi bật những khía cạnh khác nhau của xã hội Điểm nhìn bên ngoài cho phép người đọc biết được những thông tin cơ bản diễn biến hành động, cử chỉ, động thái, dáng hình, không gian, thời gian… Hạn chế của điểm nhìn bên ngoài là người đọc không thể biết được tâm

sư, suy nghĩ cũng như những dằn vặt nội tâm của nhân vật

- Điểm nhìn bên trong: đây là điểm nhìn được đặt vào nhân vật Nếu ở điểm nhìn bên ngoài, người trần thuật có thái độ khách quan, điềm nhiên, lạnh lùng thì

ở điểm nhìn bên trong, khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật đã được rút ngắn lại để có thể thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng của nhân vật, nhìn thế giới theo con mắt của nhân vật

- Dịch chuyển và kết hợp các điểm nhìn trần thuật: là sự đan cài các điểm nhìn trần thuật Trong một số tác phẩm, nhà văn không duy trì trọn vẹn từ đầu đến cuối một điểm nhìn khách quan bên ngoài mà còn dịch chuyển vào điểm nhìn bên trong của nhân vật Từ điểm nhìn của nhân vật này chuyển sang điểm nhìn của

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nhân vật khác Việc dịch chuyển điểm nhìn giúp nhà văn phản ánh hiện thực muôn màu của đời sống Vì thế tác phẩm trở nên đa dạng, sinh động và có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với độc giả Nhờ sự dịch chuyển điểm nhìn, người đọc có thể đến với một thế giới nhân vật với mọi phương diện thể hiện: cả hình thức bề ngoài và

bề sâu tâm hồn con người

2 Nghệ thuật tự sự có tầm quan trọng lớn đối với một tác phẩm văn chương Đó là phương tiện để nhà văn giãi bày, phản ánh, soi chiếu hiện thực đời sống vào trong từng trang viết và là nơi gửi gắm những suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm của mình về con người, về đời sống, về xã hội Sau năm 1975, đất nước chuyển đổi trên nhiều phương diện trong đó có đời sống văn hoá, tư tưởng kéo theo việc nghệ thuật tự sự cũng có sự thay đổi với sự sáng tạo, thể hiện được bản ngã của người viết

Từ những nhận định trên về tác giả Thùy Dương và nghệ thuật tự sư, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của tác giả Thùy Dương

để làm rõ phong cách đặc trưng này

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2 NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU

THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG 2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết của Thùy Dương

2.1.1 Nhân vật hồn ma

Mọi nền văn học đều luôn hướng đến nhận thức và phản ánh những vấn đề liên quan đến hiện thực đời sống con người Tuy nhiên, ở mỗi nhà văn khác nhau lại có những cách xử lý và hướng lựa chọn riêng Trong khi phần lớn nhà văn hướng đến “con người trần thế” để phản ánh hiện thực sinh tồn của con người trong đời sống hiện tại thì Thùy Dương lại chọn cho mình một hướng đi riêng Trong những sáng tác của Thùy Dương, nhân vật hồn ma (linh hồn của con người sau khi chết) luôn giữ một vị trí vô cùng quan trọng – thậm chí trở thành một trong những nhân vật chính tham gia vào tiến trình tự sự từ đầu đến cuối tác phẩm – trở thành một yếu tố quan trọng góp phần truyền tải thông điệp chính của tác phẩm

Điều đầu tiên mà chúng ta cần phải khẳng định đó là: trong lịch sử văn học Việt Nam, nhân vật hồn ma đã xuất hiện từ khá sớm Thậm chí, chúng ta còn thấy

sự tồn tại bên cạnh một thế giới hiện tại có thể tri giác bằng các giác quan của con người là một thế giới chất chứa đầy những bí ẩn với những nhân vật hồn ma trong nhiều sáng tác của Nguyễn Dữ, Nguyễn Du…Tuy nhiên, nếu trong sáng tác của Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, nhân vật hồn ma thường chỉ thấp thoáng xuất hiện trong tác phẩm như một nhân vật chức năng thì trong sáng tác của Thùy Dương, nhân vật hồn ma lại xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm, tham dự vào tiến trình tự sự của

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tiểu thuyết, chi phối tới sự phát triển của cốt truyện và đặc biệt, đó là những tính cách phức tạp với đời sống tâm lý, tâm linh khá phong phú

Như vậy, kiểu nhân vật hồn ma không phải là sáng tạo độc đáo riêng có trong sáng tác của Thùy Dương Điều đặc biệt là, chỉ khi đặt kiểu nhân vật này trong mối tương quan so với nhân vật hồn ma trong sáng tác dân gian và trung đại chúng ta mới thấy được những đổi mới trong cách nhìn và xây dựng nhân vật của nhà văn nữ Thùy Dương Trong tiểu thuyết của Thùy Dương, kiểu nhân vật tâm linh xuất hiện ở cả ba tác phẩm song xuất hiện tập trung và tiêu biểu nhất là ở

Nhân gian, Chân trần Tần suất các nhân vật này xuất hiện khá cao, theo thống

kê các nhân vật chính là nhân vật hồn ma chiếm tới 7 nhân vật trong hai tiểu thuyết Đặc biệt, còn có cả những nhân vật đám đông là những hồn ma Điều này cho thấy nhà văn Thùy Dương đã rất ý thức việc xây dựng kiểu nhân vật này như một nét riêng – độc đáo – gây ấn tượng mạnh mẽ đối với độc giả mỗi khi đọc tiểu thuyết của chị Đặc biệt, xây dựng kiểu nhân vật này, Thùy Dương không chủ ý củng cố niềm tin hay sự mê tín của con người vào sự tồn tại của một thế giới của những linh hồn mà chỉ coi đó như một phương tiện nghệ thuật giúp con người nhìn thấu hơn về đời sống thực tại đồng thời đặt ra một khả năng của hiện thực cùng với những vấn đề mà trong hiện thực cuộc sống chúng ta vẫn còn chưa thể

lý giải nổi Nói cách khác, từ nhân vật hồn ma, nhà văn giúp người đọc hiểu hơn

về con người trong đời sống hiện tại, hiểu hơn về thế giới thực với thế giới tâm

lý, tâm linh, tiềm thức khó có thể lý giải được Nhờ đó, nhân vật hồn ma mở ra khả năng mới trong việc khám phá góc khuất và chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống theo bề sâu trong tâm hồn con người và đời sống, bổ sung cho cách nhìn về hiện thực đời sống, khắc họa đậm nét hơn, nhiều chiều kích hơn về thế giới con người Quan niệm nghệ thuật về con người có thể coi là xuất phát điểm khiến cho kiểu nhân vật tâm linh xuất hiện khá phổ biến trong sáng tác của Thùy Dương Thùy Dương nhận thấy sự bất an và khủng hoảng tinh thần như là một trạng thái

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

khá phổ biến đang xảy ra đối với con người trong xã hội hiện nay Trong trạng thái khủng hoảng tinh thần ấy, thế giới tâm linh chính là nơi con người luôn hướng tìm tới để “giải cứu” chính mình, để tìm niềm an ủi hay tìm một con đường để giải thoát bản thân khỏi những trạng thái khủng hoảng ấy

Trước hết, nhân vật hồn ma xuất hiện trong tiểu thuyết của Thùy Dương với vai trò là “nhân vật phù trợ” cho nhân vật chính trong tiến trình sự kiện Vai trò “phù trợ” này khiến chúng ta liên tưởng đến bóng dáng của những ông Bụt, bà Tiên trong những truyện cổ tích Tuy nhiên, trong những sáng tác của Thùy Dương, dù trước hết vẫn là một sự tiếp nối motíp “cứu giúp” trong văn học dân gian nhưng ít nhiều chúng ta đã thấy sự xóa bỏ khoảng cách dân gian để tiến đến một sự kết nối gần gũi hơn giữa những nhân vật trong đời sống thực tại với những nhân vật tâm linh Nói cách khác, trong tiểu thuyết của Thùy Dương, những nhân vật hồn ma luôn có mối quan hệ “máu thịt”, hết sức gần gũi với những nhân vật sống trong “thế giới hiện thực” Có lẽ bởi khi xây dựng kiểu nhân vật này, Thùy Dương cũng giống như bao nhiêu con người Việt Nam khác – đều có niềm tin rằng những người thân của chúng ta sau khi chết sẽ tiếp tục sống ở một thế giới khác và ở nơi đó, những người thân của chúng ta vẫn lặng lẽ quan sát, phù hộ cho cuộc sống của chúng ta Điều này được thể hiện khá rõ nét qua những nhân vật

tâm linh trong tiểu thuyết Thức giấc

Trong tiểu thuyết Thức giấc, Thùy Dương xây dựng những nhân vật từ thế

giới bên kia hiện về để phù trợ cho những con người đang sống Đó là nhân vật ông nội Thu Ba dù đã mất nhưng vẫn hiện lên để báo trước số mệnh của Yên

Thao: "Cả khu đất có mảnh đất này đẹp nhất Khí vượng lắm tụ cả vào đây Cô hợp với đất này Rồi từ đây cô sẽ có rất nhiều đất đai…thoắt cái ông già đã đi như gió, mất hút ở đâu đó đầu ngõ"[7, 156-157] Rõ ràng, nhân vật hồn ma ông

nội Thu Ba đã xuất hiện với vai trò “dẫn đường chỉ nối” cho những người còn sống biết nắm bắt những cơ hội để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bên cạnh nhân vật ông nội Thu Ba, trong Thức giấc, Thùy Dương còn xây dựng hình tượng thằng bé đi theo phù hộ cho cô: "Có thằng cu cứ bám lẵng nhẵng

ở bên Cô bỏ nó nhưng nó không giận, vẫn theo phù hộ đấy Đấy, thằng cu đang toét miệng cười Đẹp quá Cứ như con tiên con phật ấy" [7, 266] Như vậy, ngoài

vai trò phù trợ, các nhân vật tâm linh ấy còn góp phần làm rõ một góc bí mật trong đời sống nhân vật Thu Ba và mang đến cho người đọc cái nhìn nhiều chiều về hiện thực, qua đó thấy được niềm tin và sự nối kết trong cuộc sống giữa những người đang sống và những người đã khuất

Nếu như ở Thức giấc nhân vật hồn ma mới chỉ xuất hiện với vai trò phù trợ, tạo sự kết nối giữa thế giới hiện thực và tâm linh thì đến Nhân gian, một thế

giới tâm linh đã thực sự mở ra với cả một cõi âm sinh động song hành cùng với cõi dương trần thế được tác giả xây dựng bằng trí tưởng tượng, sáng tạo độc đáo Thùy Dương xây dựng tập trung hình ảnh những linh hồn liệt sĩ tuy chết nhưng

họ luôn dõi theo cuộc sống trần thế với bao trăn trở, ám ảnh Không còn xuất hiện

với vai trò phù trợ cho nhân vật chính, nhân vật hồn ma trong Nhân gian đã thực

sự đã trở thành nhân vật chính của tiểu thuyết – trực tiếp tham gia vào cốt truyện

và là một trong những yếu tố then chốt, quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện đi đến cao trào và kết thúc

Trong Nhân gian, Thùy Dương đã xây dựng cả một cõi âm với sự tồn tại

của một đám đông nhân vật hồn ma Trong đám đông ấy, nổi bật hơn cả là nhân vật Hoàng – một chiến sĩ giải phóng quân đã hy sinh Nhà văn Thùy Dương đã để cho nhân vật Hoàng tự kể về mình, tự mình “vén tấm màn bí ẩn” về cuộc đời của mình, về những trải nghiệm duy nhất một lần trong đời – trải nghiệm “cái chết” –

trải nghiệm mà không ai có thể thay thế nhân vật để kể lại: "Lúc tôi bị pháo dập, dính tới hơn chục mảnh đạn, chỉ kịp kêu hai tiếng mẹ ơi rồi thấy mình nhẹ bỗng bốc thẳng lên cao Một làn khói nhẹ nâng hai chân tôi" [8, 101]

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Khi xây dựng kiểu nhân vật tâm linh này, Thùy Dương như một lần thử sức trong việc khám phá về một “vùng lãnh địa” mà bản thân cũng chưa thể trải nghiệm nó Bằng cách xây dựng nhân vật hồn ma, nhà văn đã để cho các nhân vật được tự do miêu tả về đời sống của những linh hồn – đời sống mà người trần mắt thịt khó ai có thể thấy được Đó là một cuộc sống sau khi chết, những linh hồn có thể tồn tại dưới những hình dạng khác nhau, như linh hồn Hoàng được miêu tả giống con đom đóm, ngồi ngay trên cành cây trứng gà Rồi hành động cũng rất đặc biệt, lúc nào cũng nhẹ bỗng, lướt tà tà, êm ru Bên cạnh trải nghiệm của nhân vật Hoàng là linh hồn các liệt sĩ khác Linh hồn các anh được miêu tả như các

chấm sáng xanh: "linh hồn mình nhẹ bỗng, lơ lửng giữa thinh không… Không còn thân thể với bộ quân phục xanh, không còn những gương mặt xám xanh hốc hác, những vết thương ngưng đọng chưa lành Tất cả chỉ còn những đốm linh hồn sáng xanh" [8, 101] Các anh cũng có cuộc sống riêng nơi cõi âm, vẫn sinh hoạt chính

trị theo tiểu đội hàng tuần và thảo luận, nói chuyện với nhà ngoại cảm, rồi cử người đi dự đại lễ cầu siêu…

Điều đáng nói là, bên cạnh những khác biệt ấy, Thùy Dương lại nhìn thấy một điểm tương đồng, sự kết nối giữa nhân vật tâm linh với những con người trần thế qua thế giới tâm lý, tình cảm Cũng giống như “thế giới bên này”, những nhân vật đến từ thế giới tâm linh cũng có đời sống tình cảm, cũng ân hận, ăn năn cũng ước mơ và khát vọng… Như nhân vật Hoàng, sau nhiều hành trình về thăm nhà,

thăm mẹ, anh cảm thấy đau như cắt từng khúc ruột: "có hôm ngồi chồm hổm ngay bên cạnh, nghe trong ngực bà gọi con ơi, mà muốn đứt ruột Tôi níu vai bà, ôm lưng bà…Hôm sau nghe bà than đau lưng và sã cả vai, nhận ra hơi lạnh của mình…đôi khi sự gần gũi quá của mình cũng không tốt lắm cho người sống đâu"

[8, 136] Khi chứng kiến một lễ cưới người trần tổ chức cho người âm (Quân -

Ngần), Hoàng đã xúc động và suy nghĩ mãi: "người ta bày một bó hoa cưới tết bằng hoa giấy Lay ơn trắng lá xanh bọc nilông trong suốt Bánh kẹo, trà thuốc thật…Quân dắt tay Ngần Bộ trang phục mới và chiếc áo dài quần trắng cháy đến

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mảnh cuối cùng thì bay đến phủ lên hai người Cả hai xúng xính trong bộ đồ mới…Chúng tôi vỗ tay rầm trời…Cả khối lính ngồi nhấp nhô xanh xanh kín vạt rừng khẽ rung động" [8, 168] Khi được gọi hồn, linh hồn Hoàng cũng bộc lộ bao nỗi niềm: "tôi rùng mình một cái - cái giọng oai vệ không còn nữa Là một giọng khác cao hơn,trẻ hơn đầy hấp tấp: Anh Hải ơi, em đây mà Lần nào anh vào em cũng biết hết Thương mẹ và thương anh chị lắm…" [8, 176] Ngay cả các chiến

sĩ khi được gọi hồn, họ cũng nói về sự hy sinh và cống hiến, nói về sự trở về và

nỗi buồn bị lãng quên: "nếu chỉ có mấy anh em chúng tôi về còn ngàn ngạt người xương thịt trộn với đất rừng thế này liệu chúng tôi có đành tâm?" Cuộc đối thoại

âm - dương đã chứng tỏ "Con người chết không có nghĩa là chấm hết…nếu có thế giới bên kia thật thì cái chết không đến nỗi đáng sợ lắm Mọi thứ sẽ nhẹ nhàng hơn" [8, 197]

Trong Nhân gian, bên cạnh nhân vật hồn ma, Thùy Dương còn xây dựng

nhân vật tâm linh Thảo như một chiếc cầu nối giữa cõi âm và cõi dương, kết nối với linh hồn Hoàng để gửi gắm, nhắn nhủ một thông điệp với dương gian Thảo

là người chuyên được các liệt sỹ nhập hồn để nói chuyện với người sống theo đúng tinh thần cõi âm vẫn tồn tại và cùng song hành với dương gian như người đời vẫn nghĩ "trần sao âm vậy" Sự kết hợp ấy khiến câu chuyện trở nên hư - thực và làm cho câu chuyện gần hơn với thực tế đời sống hôm nay

Tới tiểu thuyết Chân trần, thế giới nhân vật hồn ma trở nên đậm đặc hơn

với những người đàn bà có một mối dây liên lạc máu mủ xa xôi nhưng lại rất gần

về đường dây tâm linh và những giấc mơ gắn liền với lịch sử thăng trầm của dòng

họ Họ là những số phận, những đôi chân trần nhọc nhằn trên con đường đời đầy

sỏi đá, đầy những chông gai trên cõi thế vô cùng Trong Chân trần, Thùy Dương

đã xây dựng mối quan hệ giữa nhân vật hồn ma bà vợ ba với nhân vật nữ nhà báo

Bà ba được ông đốc tờ cưới về trong sự cảm mến từ hai phía ngay cả khi ông đã

có hai bà vợ trước đó Lịch sử cuộc tình của bà không được nói rõ như tạo thêm

Ngày đăng: 05/10/2023, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Tạp chí văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1996
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học QGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học QGHN
Năm: 2003
3. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
10. Phan Cự Đệ (Chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Hà Minh Đức (2001), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
13. Cao Xuân Hải (2004), Các hành động nhân vật qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai, Luận văn thạc sỹ Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hành động nhân vật qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai
Tác giả: Cao Xuân Hải
Năm: 2004
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển Thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
16. Nguyễn Thúy Huệ (2007), Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Chu Lai, Luận văn thạc sỹ Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh, NA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Chu Lai
Tác giả: Nguyễn Thúy Huệ
Năm: 2007
17. Lê Minh Khuê Y Ban, Thùy Dương cùng nhau ra sách mới, Báo đời sống văn nghệ, Thứ bảy, 30/01/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo đời sống văn nghệ
19. Phong Lê, "Từ cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004 của Hội nhà văn Việt Nam" , Báo Văn nghệ số 38, 17/9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004 của Hội nhà văn Việt Nam
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 2005
21. Phạm Xuân Nguyên, Lời giới thiệu (bìa 4), Nhân gian, Nxb Hội Nhà văn, 2010 22. Vương Trí Nhàn (1996), Phụ nữ và sáng tác văn chương, Tạp chí Vănhọc, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và sáng tác văn chương
Tác giả: Vương Trí Nhàn
Nhà XB: Tạp chí Vănhọc
Năm: 1996
24. Nhiều tác giả (1999), Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Viện văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Viện văn học Hà Nội
Năm: 1999
25. Hoàng Phê (Chủ biên, 2000), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
26. Trần Đình Sử (2005), Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
27. Trần Đình Sử (2002), Tự sự học tập 1, 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học tập 1, 2
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2002
28. Thạch Thảo (2007), Thức giấc, tiểu thuyết mới của nhà văn nữ Thùy Dương, Báo Nhân dân, số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nhân dân
Tác giả: Thạch Thảo
Năm: 2007
29. Bùi Việt Thắng (1999), Bình luận truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội 30. Hữu Thỉnh, Báo cáo tổng kết cuộc thi tiểu thuyết 2002- 2004 của Hộinhà văn Việt Nam, Báo Văn nghệ (số 37), 10/9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận truyện ngắn", NXB Văn học, Hà Nội 30. Hữu Thỉnh, Báo cáo tổng kết cuộc thi tiểu thuyết 2002- 2004 của Hội nhà văn Việt Nam, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
32. Cẩm Thúy (2008), Bước tiến mới của Thùy Dương, Báo Phụ nữ, số 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Phụ nữ
Tác giả: Cẩm Thúy
Năm: 2008
12. Bùi Như Hải (2010), Văn học Việt Nam sau 1975 với nhu cầu đạo đức tối đa, nguồn: www.vovanhoaqt.vnweblogs.com Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w