1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thể loại từ trong văn học cổ điển việt nam

214 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Trần Đình Sử “Do thể loại văn học chữ Hán trung đại của người Trung Quốc đã khá hoàn bị, cho nên sự tiếp thu hệ thống thể loại này ở Việt Nam đã diễn ra một cách toàn diện” ….So sán

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

VŨ THỊ THANH TRÂM

TÌM HIỂU THỂ LOẠI TỪ TRONG VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

VŨ THỊ THANH TRÂM

TÌM HIỂU THỂ LOẠI TỪ TRONG VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS.ĐOÀN LÊ GIANG

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2009

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Xin cám ơn Ba Mẹ, Gia đình vì chưa bao giờ thôi yêu thương động viên và ủng hộ con trên hành trình đi tìm tri thức

Xin cám ơn Thầy Đoàn Lê Giang đã dạy dỗ em suốt mười mấy năm qua Và mong sao những năm sau này em

vẫn được Thầy quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn

Con cám ơn Thầy Nguyễn Khuê đã quan tâm, nhắc nhở con phải cố gắng hoàn thành đề tài

Cám ơn Cô Đoàn Ánh Loan cùng Quý Thầy Cô trong Tổ bộ môn Hán Nôm, Chi đoàn Cán bộ Giảng dạy Trẻ

Khoa Văn học và Ngôn ngữ đã động viên, tạo điều kiện thuận

lợi để em hoàn thành luận văn

Cũng xin cám ơn Thầy Nguyễn Đình Phức đã cung cấp cho em bản Cổ Duệ Từ mà Thầy đã tốn rất nhiều

công sức mới sưu tầm được

Và cuối cùng xin được chia sẻ cảm giác thanh thản sau khi hoàn thành luận văn với XueGe, cám ơn Tú Anh,

Long Hòa, Khánh Vân, Diễm Trang, Trung Thủy đã đồng

hành cùng Trâm trong suốt những năm qua

Vũ Thị Thanh Trâm

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 6

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 7

………

………

………

………

………

………

Trang 8

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 9

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 10

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 11

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 12

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 13

BẢO VỆ NGÀY :

TẠI HỘI ĐỒNG :

ĐIỂM BẰNG SỐ :

ĐIỂM BẲNG CHỮ:

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Trang 14

MỤC LỤC

Trang

PHẦN DẪN NHẬP

1- Lý do chọn đề tài 1

2- Lịch sử vấn đề 2

3- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4- Phương pháp nghiên cứu 4

5- Đóng góp mới của luận văn 10

6- Cấu trúc luận văn 11

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 Từ - một thể loại quan trọng trong thơ ca cổ điển Trung Quốc 1.1 Khởi nguồn của Từ 13

1.2 Diễn trình-khuynh hướng 21

1.3 Thể thức 34

1.3.1 Phân loại Từ 34

1.3.2 Từ bài, Từ điệu, Từ phổ 36

1.4 Đặc điểm của Từ so với thơ 41

CHƯƠNG 2 Từ Việt Nam –những vấn đề chung 2.1 Số lượng Từ Việt Nam 44

2.1.1 Số lượng Từ Việt Nam theo các học giả Trung Quốc 44

2.1.2 Số lượng Từ Việt Nam theo các học giả Việt Nam 46

Trang 15

2.1.3 Số lượng Từ Việt Nam theo thống kê của chúng tôi……… 55

2.2 Diễn trình của Từ Việt Nam 65

2.3 Từ học Việt Nam 73

2.3.1 Bàn luận về thể cách Từ 74

2.3.2 Bàn luận về mối quan hệ giữa Từ và đạo 76

CHƯƠNG 3 Đặc điểm của Từ Việt Nam 3.1 Đặc điểm về đội ngũ sáng tác 81

3.2 Đặc điểm về nội dung 88

3.2.1 Chú trọng chức năng giải trí 88

3.2.2 Tự do thể hiện tình hoài cá nhân 91

3.2.3 Phục vụ cho mục đích bang giao giữa hai nước Trung - Việt 98

3.3 Đặc điểm về nghệ thuật 101

3.3.1 Đặc điểm về dùng điệu 101

3.3.2 Đặc điểm về dùng điển 112

3.4 Nguyên nhân Từ Việt Nam chưa phát triển mạnh 119

3.4.1 Nhân tố xã hội ………119

3.4.2 Nhân tố con người……… 122

3.4.3 Đặc trưng thể loại………123

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 139

Trang 16

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

[8] : Tài liệu tham khảo số 8 [8, 14] : Tài liệu tham khảo số 1, trang số 14 (ví dụ) Nguyễn Lộc, sđd, tr.6: Tác giả Nguyễn Lộc, sách đã dẫn, trang 6

MỘT SỐ QUY TẮC TRÌNH BÀY

-Tên tác phẩm, tên sách, tên bài viết trên báo, tạp chí sẽ in nghiêng

-Tên điệu Từ viết hoa chữ cái đầu tiên Ví dụ: Mãn giang hồng, Cán khê sa,v.v…

-Với tài liệu tiếng Hán, chúng tôi gõ tiếng Hán phồn thể

-Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt xếp theo tên tác giả dựa trên thứ tự chữ cái A, B, C

-Tài liệu tham khảo bằng tiếng Hoa xếp theo họ tác giả, dựa theo tổng số nét của chữ

-Để người đọc dễ theo dõi nội dung được trình bày, khi nhắc đến thể loại Từ chúng tôi sẽ in hoa chữ cái đầu tiên “T” trong chữ “Từ”

-Tài liệu tham khảo gồm các thông tin: tên tác giả, tên tác phẩm, người dịch (nếu là bản dịch), nhà xuất bản, (nơi xuất bản), năm xuất bản

Trang 17

PHẦN DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Năm 2006, chúng tôi được các Thầy Cô trong tổ bộ môn Hán Nôm-Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM phân công góp ý luận văn Giới thiệu và phiên dịch “Từ Dữ Từ Nhân” của sinh viên Đoàn Thị Thu Hằng Trong lúc

tìm kiếm tài liệu liên quan đến thể Từ, chúng tôi thấy rằng mặc dùTừ hình thành và phát triển ở Trung Quốc vào thời Hán-Đường, cực thịnh vào đời Tống, Tống Từ được xếp ngang hàng với Hán Phú, Đường Thi, Nguyên Khúc, nhưng rất ít tư liệu

Từ Trung Quốc được dịch qua tiếng Việt Thế giới của Từ là không gian nhạc điệu, thanh âm, những điệu Từ phong phú, đa dạng tạo nên nét quyến rũ đặc biệt với các thi nhân Trung Quốc Do đó, vào đời Tống thể loại này đạt đến sự thăng hoa và gần như thống trị trên văn đàn Thế nhưng, tại Việt Nam ngoài việc không có nhiều bản dịch về Từ Tống thì so với các thể loại văn học khác số lượng bài viết, công trình nghiên cứu về Từ Tống cũng không nhiều

Nền văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc trên nhiều phương diện, thể hiện rõ nhất là khía cạnh thể tài Các thể loại văn học Trung Quốc

có đều có thể tìm thấy trong nền văn học Việt Nam Chúng ta học tập các thể loại văn học Trung Quốc sau đó dần thay đổi, điểu chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu thực tế Hầu hết các thể loại văn học chữ Hán của Việt Nam như phú, hịch,

chiếu, thơ, sử ký, v.v đều tiếp thu từ Trung Quốc Theo Trần Đình Sử “Do thể loại văn học chữ Hán trung đại của người Trung Quốc đã khá hoàn bị, cho nên sự tiếp thu hệ thống thể loại này ở Việt Nam đã diễn ra một cách toàn diện” ….So sánh một cách tổng quát, có lẽ chỉ có các thể loại Sở từ, Nhạc phủ, các thể khúc gắn với sinh hoạt ca hát của người Trung Quốc là ít được di thực” [23,107] Tại Việt Nam,

trong khi thơ và phú phát triển tại Việt Nam thì riêng thể loại Từ không thể phát triển mạnh

Điều ấy đã khơi gợi trí tò mò của chúng tôi muốn tìm hiểu nguyên do nảy sinh hiện tượng này, đồng thời thu thập các sáng tác Từ của tác giả Việt Nam (nếu

Trang 18

có) Sau khi xác định được “ các tác giả Việt Nam vào các thể kỉ X – XI không hề cảm thấy mình ngoài cuộc với chủng loại văn học giàu tính nghệ thuật và đòi hỏi sự sành điệu ‘nghề chơi cũng lắm công phu ấy” 1, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài

“Tìm hiểu về thể loại Từ trong văn học cổ điển Việt Nam” với mong muốn giới thiệu tới mọi người về thể loại Từ Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

a Lịch sử vấn đề tại Việt Nam

Ở Trung Quốc, Từ được quan tâm nghiên cứu rộng rãi, có rất nhiều công trình tài liệu, bài viết tìm hiểu, phân tích thể loại này Tại Việt Nam so với số lượng

đồ sộ bài viết, bản dịch, công trình, luận văn, đề tài nghiên cứu Đường thi thì số lượng bài nghiên cứu và các bản dịch Từ Tống ra tiếng Việt còn khá kiêm tốn

Trung Quốc là mảnh đất nảy sinh thể tài văn học này nên có thể tìm hiểu về

Từ trong các sách văn học sử như Trung Quốc Văn Học Sử, tập 2 của Chương Bồi

Hoàn, Lạc Ngọc Minh (Phạm Công Đạt phiên dịch), công trình 74 tác giả biên soạn

Khái Yếu Lịch Sử Văn Học Trung Quốc (Bùi Hữu Hồng dịch),v.v…Ngoài ra có một

số bản dịch Từ Tống qua tiếng Việt hoặc giới thiệu sơ lược về thể loại Từ như Quốc Văn Cụ Thể của Ưu Thiên Bùi Kỷ; Thơ Văn Cổ Trung Hoa Mảnh Đất Quen Mà Lạ

của Nguyễn Khắc Phi (giải thích sơ lược về thể loại Từ, dịch mười một bài Từ

Trung Quốc); Hoàng Trung Thông, Nam Trân dịch Mao Trạch Đông Thơ Và Từ; Nguyễn Xuân Tảo dịch Tống Từ; Nguyễn Chí Viễn với Tuyển Tập Từ Trung Hoa – Nhật Bản; Khổng Đức, Đinh Đức Dung có quyển Từ Tống; Trương Chính dịch thơ, Thơ Tống; Thơ Đường-Từ Tống, Với Một Số Tác Phẩm Triều Đại Khác” 2 của Lý

Phúc Điền; Phan Văn Các giới thiệu và dịch chú phần Từ Tống trong Ngữ Văn Hán Nôm tập 3- Hán văn Trung Quốc; Thể loại Từ ở Trung Quốc: nguồn gốc và sự vận động của nó xét về phương diện sáng tác của Phạm Văn Ánh trên Thông Báo Hán Nôm Học, năm 2009

Trang 19

Bàn về thể loại Từ Việt Nam thì có quyển Thơ Ca Việt Nam Hình Thức Và Thể Loại của Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức nhưng tác giả lại gộp chung giới thiệu

sơ lược Từ khúc, một số bài Từ minh họa cho thể loại Từ Việt Nam trong sách lại không phải của Việt Nam

Sáng tác Từ được các học giả trao đổi, tranh luận nhiều nhất đó là bài Từ viết theo điệu Nguyễn Lang Quy của thiền sư Khuông Việt Tìm hiểu, nghiên cứu bài

Từ này có Phạm Thị Tú, Về bài từ đầu tiên và tác giả của nó: sư Khuông Việt; Nguyễn Tài Cẩn, Lập trường đối với nhà Tống trong bài Vương Lang Quy của Ngô Chân Lưu; Nguyễn Đăng Na, Về bài Vương Lang Quy Từ- Khảo sát và giải mã văn bản, Tạp Chí Văn học số 1-1995; Nguyễn Đình Phức, Về bài từ Ngọc Lang Quy của Khuông Việt, Tạp Chí Hán Nôm 5/2005; Alexandre Lê, Bài Từ Ngọc Lang Quy của Khuông Việt đại sư (933-1010) và vấn đề văn bản học trên Tạp Chí Thời đại, số 6-

2002 Trong Một Số Vấn Đề Văn Bản Học Hán Nôm, Hoàng Văn Lâu cũng bàn về

bài Từ này từ góc độ nghiên cứu văn bản Từ góc độ giới tính để bàn về yếu tố nữ, (hoặc giọng nữ trong bài Từ) có Phạm Văn Ánh với bài viết Có hay không yếu tố nữ trong bài từ điệu Nguyễn Lang Quy của Khuông Việt đại sư 3 Bài viết gần đây nhất

về bài Nguyễn Lang Quy này là Một số phát hiện mới về bài Từ của thiền sư Khuông Việt của Nguyễn Đình Phức trong Hội nghị nghiên cứu Hán Nôm và Văn

hóa Việt Nam tháng 5-2009 Như vậy, một số vấn đề về văn bản học, tên gọi của bài Từ này đến nay vẫn chưa ngã ngũ

Giới thiệu về “Từ nhân” Việt Nam như Miên Thẩm có Phan Văn Các với bài

viết Về một chùm Từ của Miên Thẩm đăng trên Tạp Chí Văn học số 3, 1998 Một năm sau đó, ông xuất bản sách sưu tầm phiên dịch, Bạch Hào Tử: Khúc Hát Gõ Mái Chèo (Cổ Duệ Từ) Tuy nhiên đó chỉ mới là giới thiệu 14 bài Từ trong tổng số 104 bài trong Cổ Duệ Từ Con đường lưu truyền tại thế của Cổ Duệ Từ khá đặc biệt, đây

là Từ tập của Việt Nam nhưng hiện nay trong nước không còn lưu giữ nhưng tại

3

Trang web Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội, mục Hội thảo Giới:

http://nguvan.hnue.edu.vn/HoithaoGioi/tabid/99/ArticleID/92/Default.aspx

Trang 20

Thượng Hải-Trung Quốc có một bản chép tay Cổ Duệ Từ, có thể tìm hiểu thêm về

nguồn gốc Từ tập này trong bài viết của nhà nghiên cứu Trần Nghĩa đăng trên

Thông Báo Hán Nôm Học 2001

Ngoài ra, Đào Tấn cũng được xem là một nhà sáng tác Từ Việt Nam Năm

1988, Đỗ Văn Hỷ trong bài viết Đào Tấn, một nhà viết Từ khúc lỗi lạc trên Tạp Chí Văn học, số 2, phân tích cái khó của việc điền Từ trên phương diện hình thức, nghệ thuật để đi đến kết luận tuân theo những quy luật “cực kỳ phiền toái” đó là Từ luật

và Khúc luật, chứng tỏ Đào Tấn một nhà viết Từ khúc lỗi lạc của quê hương Bình Định nói riêng, và của Việt Nam nói chung trong giai đoạn cận đại Ngoài ra, còn

có quyển Thơ và Từ Đào Tấn do Vũ Ngọc Liễn (chủ biên), Nxb Văn học, xuất bản năm 1987 Năm 2003, Nxb Sân khấu tái bản có chỉnh sửa Đào Tấn thơ và Từ cũng

do Vũ Ngọc Liễn chủ biên, riêng phần phụ lục bổ sung thêm nguyên văn chữ Hán thơ và Từ Đào Tấn Nghiên cứu văn bản Từ Đào Tấn có bài viết Vấn đề văn bản học của một số bài Từ Đào Tấn của Trần Văn Tích [45, 85] và Thơ và Từ của Đào Tấn dưới góc nhìn văn bản học trên Tạp Chí Hán Nôm số 4(95)-2009 Gần đây nhất

là bài viết Sự thực nào cho Mộng Mai Từ Lục của Đào Tấn của Phạm Văn Ánh trên

Tập báo cáo Hội nghị khoa học Nghiên cứu Hán Nôm và Văn hóa Việt Nam, tổ

chức vào tháng 5-2009 Qua đó cho thấy trong Mộng Mai Từ Lục chép lẫn số lượng

lớn Từ Trung Quốc Theo khảo sát của Phạm Văn Ánh có đến 38 trong số 60 bài

trong Mộng Mai Từ Lục là sáng tác của Trung Quốc

Tuy những sáng tác Từ của Miên Thẩm và Đào Tấn được giới nghiên cứu đặc biệt chú ý, tìm hiểu nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều công trình phiên dịch, nghiên cứu Từ phẩm của hai ông

Đặt thể loại Từ Việt Nam trong mối tương quan với Từ Trung Quốc sớm

nhất là bài viết của Thế Anh trên Tạp chí Hán Nôm số 1-2001, Từ Trung Hoa và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam; khảo sát thống kê Từ điệu mà các nhà viết Từ Việt Nam thường sử dụng của PGS.Trần Nghĩa Thể loại Từ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với văn học bản địa, đăng trên Tạp Chí Hán Nôm, số 5-2005

Trang 21

PGS.TS Trần Ngọc Vương và ThS Đinh Thanh Hiếu trong Văn Học Việt Nam Thế Kỉ X-XIX Những Vấn Đề Lí Luận Và Lịch Sử, lược thuật một số bước phát

triển và những tên tuổi lớn, những thành tựu cơ bản của chủng loại Từ ở Trung Quốc; nêu lên những nhận định về thực tại nghiên cứu Từ Việt Nam trong bài viết

Từ - một chủng loại văn học còn ít được biết tới Có thể mượn lời hai nhà nghiên cứu này để nói về lịch sử nghiên cứu Từ như sau: “So với việc dịch thơ hay tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc thì việc dịch Từ, một trong ba thành tựu chủ yếu xuyên suốt lịch sử nền văn học vĩ đại đó ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn….Các công trình nghiên cứu về Từ ở Trung Quốc thì hầu như chưa hề được giới thiệu Cũng cho đến nay, chưa có một tuyển tập – dù thật khiêm tốn và “còn nhiều hạn chế” đi nữa – được dành cho chủng loại Từ ở Việt Nam, nói gì đến chuyện nghiên cứu nó”

[27,610] Lý do dẫn đến thực trạng này là vì các bài Từ Việt Nam vẫn chưa được thu thập, thống kê và phiên dịch đầy đủ, nên rất khó đánh giá và xác định diện mạo

Từ Việt Nam Đến nay, chỉ mới có luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Ánh (PVA), Thể loại Từ thời Lê Trung Hưng (bảo vệ năm 2007) Có thể nói đây là một công trình có

giá trị khoa học cao, là tài liệu tham khảo khi tìm hiểu về thể loại Từ Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến những năm 80 của thế kỷ XVIII Tuy nhiên, những con số thống kê trong luận văn dựa trên số lượng bài Từ mà tác giả đề tài thu thập được đến nay đã không còn chuẩn xác Ví như Phát hiện một số tác phẩm mới thuộc thể

từ thời Lê Trung Hưng của Lê Tùng Lâm trên thông báo Hán Nôm học năm 2009,

hoặc những bài Từ Việt Nam mà các học giả Trung Quốc tìm được trong văn học Việt Nam 4 Do đó cần cẩn trọng khi trích dẫn hay tham khảo các con số được PVA thống kê trước đó Tuy nhiên, vẫn không thể phủ nhận đóng góp to lớn của luận văn thạc sĩ PVA cho những người nghiên cứu thể loại Từ Việt Nam

Phát hiện mới của thế hệ sau có thể làm đảo ngược hay phủ nhận các kết luận của người đi trước là một hiện tượng đã xảy ra và sẽ tiếp tục xảy ra khi nghiên cứu

về thể loại Từ Ví như từ hai bài viết Nguyễn Húc và bộ Cưu đài thi tập hiện còn, Tạp Chí Nghiên Cứu Văn Học, số 2-2006 và Cổ Điệu Ngâm Từ không phải là một

4

Tham khảo chương 1 –luận văn

Trang 22

Từ tập của Việt Nam, Tạp Chí Hán Nôm, số 3 (82)-2007 của PVA cho biết cần phải

loại những sáng tác này ra khỏi danh mục các bài Từ Việt Nam vì cả hai đều là Từ Trung Quốc Từ trước đến nay, có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tác giả của 150

đơn vị sáng tác trong Cưu Đài Thi Tập bao gồm ca dao, thơ viết theo luật Đường,

Khúc, Từ …chính là Nguyễn Húc Trong đó, thể loại Từ chiếm hơn bai mươi bài được viết theo hơn hai mươi từ điệu như Bồ tát man, Tây giang nguyệt, Ngu mỹ nhân, Điệp luyến hoa, Giá cô thiên tạo nên giá trị đặc sắc cho tập thơ Nhưng khi chúng ta biết rằng thi tập này hoàn toàn là văn bản ngụy tạo, sao chép các tác phẩm của Thang Truyền Doanh, một tác giả cuối thời Minh rồi lấy tên thi tập của Nguyễn Húc, một thi tập từ Lê Quý Đôn đã nói là thất truyền, để đặt tên cho bộ sách thì những bài viết đánh giá về thi Từ Nguyễn Húc trước đây ít nhiều mất đi giá trị và ý nghĩa khoa học Hoặc con số thống kê những Từ điệu thường được các tác giả Việt

Nam sử dụng của PGS.Trần Nghĩa bị sai lệch đi khi Cổ Điệu Ngâm Từ không phải

là Từ phẩm của Việt Nam

Tóm lại, ngoài luận văn thạc sĩ của PVA về Từ Việt Nam giai đoạn độc lập

đến hết đời Lê và chín trang viết Một số nét cơ bản về thể loại Từ ở Việt Nam trên Tạp chí Hán Nôm số 4-2009, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu về thể

loại Từ đời Nguyễn, chưa có một công trình nghiên cứu nào cung cấp cái nhìn toàn diện về thể loại Từ trong văn học cổ điển Việt Nam

b Lịch sử vấn đề tại Trung Quốc

Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ Việt Nam tại Trung Quốc, không phải lịch sử nghiên cứu Từ Trung Quốc của các học giả Trung Quốc Người nghiên cứu có thể mang quốc tịch Trung Quốc, Đài Loan hoặc Việt Nam Sách hoặc công trình được liệt kê dưới đây xuất bản tại Trung Quốc lục địa và đảo Đài Loan

Hạ Thừa Đào tuyển chọn và hiệu đính,Trương Chân Hoài, Hồ Thụ Miểu chú

thích, Vực Ngoại Từ Tuyển, Thư mục Văn hiến xuất bản xã, Bắc Kinh, năm 1981 5

Trang 23

Sách giới thiệu các tác phẩm Từ Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam Phần Từ Việt Nam chỉ có một tác gia duy nhất là Miên Thẩm với mười bốn bài Từ

Trong tập kỷ yếu hội thảo học thuật quốc tế lần thứ tư tại Đài Loan về thư tịch chữ Hán ở khu vực ngoài Trung Quốc, xuất bản tháng 8 năm 1991, có bài viết

của Hoàng Khải Phương Tòng Kim Hoa Thi Thoại Kí khán An Nam Lê triều đích Hán thi phát triển (Sự phát triển thơ chữ Hán ở triều Lê nước An Nam qua tập Kim Hoa Thi Thoại Kí) trong đó đề cập đến bốn bài Từ Việt Nam của Ngô Chi Lan

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Việt Nam Từ nhân Bạch Hào Tử cập kỳ Cổ Duệ Từ, (Từ nhân Việt Nam Bạch Hào Tử và tập Cổ Duệ Từ) Tri Thức Văn học Cổ điển, số

3, năm 2001 6 Bài viết gồm 4 trang, chúng tôi thấy rằng những bài Từ được dẫn

chứng đa phần trích từ Vực Ngoại Từ Tuyển, chỉ là 14 trong tổng số 104 bài thuộc

Cổ Duệ Từ Ở đây, tác giả bài viết có nhầm lẫn khi cho rằng “Cổ Duệ Từ, 1 quyển,

có 14 bài Từ, tổng cộng 13 điệu” 7 Liên quan đến vấn đề lưu truyền Cổ Duệ Từ nên

đến nay ở trong nước vẫn chưa có công trình dịch toàn bộ Từ tập này Do đó chân dung từ nhân Miên Thẩm vẫn chưa được giới thiệu một cách hoàn chỉnh đến người đọc

Hà Thiên Niên 8 trong bài viết Việt Nam đích điền Từ cập Từ học – Hán văn học di dân bối cảnh đích văn thể án lệ (Điền Từ và Từ học Việt Nam, những ví dụ

về văn thể dưới bối cảnh di thực văn học chữ Hán) 9 trên tạp chí đại học Quảng Tây

9

何仟年,越南的填詞及詞學-漢文學移民背景的文體案例。

Trang 24

số 3, tháng 6 năm 2008, bàn về Từ và Từ học Việt Nam trên ba phương diện: sơ lược tình hình sản sinh sáng tác Từ Việt Nam, thư mục Từ Việt Nam, Từ học Việt Nam Cũng học giả này trong luận văn tiến sĩ bảo vệ tháng 6 năm 2003 tại Đại học

Dương Châu với đề tài Việt Nam Cổ Điển Thi Ca Truyền Thống Đích Hình Thức- Mạc Tiền Thi Ca Nghiên Cứu (Hình thức truyền thống của thơ ca cổ điển Việt Nam,

nghiên cứu thơ ca trước thời Mạc) ở chương 3 “Thơ chữ Hán đời Lý” đề cập đến

những sấm thơ và Từ trước đời Lý trong đó nhắc đến bài Ngọc Lang Quy [72, 29 -

30]

Tháng 9 năm 2004, trên tạp chí số 5 của Học viện ngoại ngữ Giải phóng quân, Tưởng Quốc Học 10 có bài viết Từ tại Việt Nam vị năng hưng thịnh đích nguyên nhân thám tích (Tìm hiểu nguyên nhân thể loại Từ chưa thể phát triển tại

Việt Nam) 11 Tác giả cho rằng Từ Việt Nam chưa thể phát triển là vì ba nguyên nhân: thứ nhất là do thiếu môi trường văn hóa; thứ hai là do giới hạn của thể loại, và cuối cùng là do Việt Nam đã phát triển loại hình văn học riêng có tính âm nhạc

Trong Hán văn văn học tại An Nam đích hưng thế (Quá trình phát triển của

văn học chữ Hán tại An Nam) của Trịnh Vĩnh Thường trong mục 2, chương 4, khi giới thiệu văn học chữ Hán thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã giới thiệu chân dung, tài văn của Miên Thẩm qua một số bài Từ của ông

Bàn về Từ luận Việt Nam có hai học giả Trung Quốc là Vương Tiểu Thuẫn,

Hà Thiên Niên trong bài viết Việt Nam cổ đại thi học thuật lược (Khái lược về thi

học cổ đại Việt Nam) 12 trên kỳ 5, Văn Học Bình Luận Tùng San, năm 2002

Tóm lại, thể loại Từ Việt Nam chỉ mới được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu kĩ trong vài năm gần đây Từ năm 2000 về trước, các bài viết về Từ chỉ là giới thiệu tác giả, tác phẩm, dịch thơ, dịch nghĩa Do thế khi

Trang 25

tiến hành tìm hiểu thể loại Từ trong văn học cổ Việt Nam, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn về tài liệu tham khảo Thứ nhất là các công trình chuyên khảo về Từ Trung Quốc bằng tiếng Trung tại Việt Nam không nhiều Thứ hai, hầu hết các tư liệu phục vụ cho đề tài đều lưu trữ tại Hà Nội, các bài Từ Việt Nam là những bản Hán văn đa phần chưa được ngắt đoạn, phiên âm, dịch nghĩa ra tiếng Việt, như thế đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình độ Hán văn chuyên sâu để khảo sát văn bản cùng các kĩ năng đọc, hiểu chữ Hán Đây quả là một thử thách to lớn với chúng tôi

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Do mục đích của đề tài là “Tìm hiểu thể loại từ trong văn học cổ điển Việt

Nam” nên chúng tôi chỉ thu thập những bài Từ trong văn học chữ Hán, chữ Nôm Việt Nam Văn học chữ quốc ngữ cũng có vài tác giả sáng tác Từ nhưng những bài

Từ đó không là đối tượng tìm hiểu của luận văn Còn những bài Từ là đối tượng nghiên cứu thì đều viết bằng chữ Hán có khi xen kẽ Nôm nên ở đây lại phát sinh vấn đề phải khảo cứu văn bản Do không có điều kiện thu thập tất cả các dị bản cùng trình độ hạn hẹp nên chúng tôi chỉ dùng bản Hán văn đã được nhiều nhà nghiên cứu chọn hoặc lấy bản đó làm bản nền khi khảo cứu tác giả, tác phẩm Những bài Từ mà chúng tôi dẫn chứng trong luận văn được thu thập từ các công trình đã công bố về Từ Việt Nam, ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm (HN), Thư viện

Quốc Gia (HN), Thư viện KHXH (TP.HCM)… riêng Cổ Duệ Từ của Miên Thẩm là

do TS Nguyễn Đình Phức 13 sao chụp từ Trung Quốc Có thể thấy nguồn tư liệu của đề tài gần như là những bản Hán văn chưa được phiên dịch Ở Việt Nam, Từ thường chép lẫn trong các thi tập nên dưới bài nào có ghi Từ điệu, chúng tôi mới nhìn nhận bài đó thuộc thể loại Từ, để tránh nhầm lẫn với thơ, Nhạc phủ hoặc

khúc Một số bài có tên là Từ khúc như trường hợp Bình Ninh Thực Lục có bài

“Ngự chế Quốc âm từ khúc” của Trịnh Sâm, nhưng nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện trên tạp chí Hán Nôm số 1-2004 đã phân tích và chứng minh không thuộc thể loại Từ, do đó những bài này chúng tôi loại ra và không tiến hành khảo cứu nữa

13

Giảng viên trường Đại học KHXH & NV TP.HCM, bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học & Ngôn ngữ

Trang 26

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài tìm hiểu những vấn đề liên quan đến thể loại Từ trong suốt chín thế kỷ văn học cổ điển Việt Nam, người viết cho rằng cần kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để cho một cái nhìn toàn diện Từ Việt Nam là một thể thơ mô phỏng theo Từ Trung Quốc nhưng đặt những bài Từ ấy trong dòng văn học cổ điển Việt Nam để thấy nó là bộ phận của văn học dân tộc nên phương pháp nghiên cứu lịch sử sẽ được quan tâm sử dụng Tiếp theo là thống kê những tài liệu thu tập được rồi dùng phương pháp tổng hợp-phân tích Áp dụng phương pháp so sánh, đối chiếu

để đưa ra những nhận xét, kiến giải hợp lý và minh họa cho các luận điểm Ngoài

ra, không thể không chú ý đến phương pháp văn bản học vì như đã nói ở trên, các bài Từ Việt Nam trong văn học cổ điển đều viết bằng chữ Hán – Nôm Như vậy, ba phương pháp được chúng tôi sử dụng chủ yếu là: nghiên cứu lịch sử, thống kê, so sánh, đối chiếu để hoàn thành vấn đề luận văn đặt ra

5 Đóng góp mới của luận văn

Qua việc tìm hiểu về thể loại Từ trong văn học cổ điển Việt Nam, chúng tôi

cố gắng nêu lên những vấn đề chung nhất liên quan đến thể loại này trong chín thế

kỷ Trong cố gắng nhất định, chúng tôi tiến hành tìm hiểu thể loại này từ góc độ lịch

sử tồn tại, quá trình sáng tác, phát triển, vị trí của nó trong nền văn Việt Nam Và để minh họa cho những luận cứ của mình, chúng tôi sẽ phiên dịch một số bài Từ và những tư liệu Hán văn Việt Nam đề cập đến Từ chưa được dịch ra chữ quốc ngữ

Dựa trên những phân tích về quá trình phát triển và tồn tại của thể Từ Việt Nam, chúng tôi thử lí giải căn nguyên tại sao Từ không có điều kiện hưng thịnh trong nền văn học nước ta Để nói về ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài

này, chúng tôi xin mượn lời PGS.TS Trần Ngọc Vương: “vì nhiều lí do khác nhau

và khá phức tạp, đấy sẽ là một mảng công việc không hề dễ dàng chút nào Nhưng chắc chắn là hay, là đáng làm, nên làm, hơn thế dù muốn dù không cũng là một công việc phải làm” [27,610]

Trang 27

Tóm lại, luận văn sẽ cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng thể về Từ trong văn học cổ điển Việt Nam và lý giải những vấn đề liên quan đến tác giả, tác phẩm thuộc thể loại Từ Việt Nam

6 Cấu trúc luận văn

Với tên gọi là “Tìm hiểu thể loại Từ trong văn học cổ điển Việt Nam”, chúng tôi tiến hành triển khai đề tài theo hướng thống kê những bài Từ trong giai đoạn thế

kỷ X-XIX rồi từ góc độ tác phẩm, tác giả, hoàn cảnh sáng tác và quá trình phát triển, tìm hiểu những vấn đề xoay quanh thể loại này trên hai mặt nội dung và nghệ thuật

Luận văn được chia làm 5 phần: Phần dẫn nhập, Nội dung chính, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục

Nội dung chính gồm 3 chương, mỗi chương cụ thể như sau:

Chương một: Từ - một thể loại quan trọng trong thơ ca cổ điển Trung Quốc Trong chương này chúng tôi sẽ giới thiệu về thể loại Từ Trung Quốc trên bốn khía cạnh: sự xuất hiện, diễn trình-khuynh hướng, thể thức và đặc điểm của Từ khi so với thơ Khi đề cập đến sự phát triển của thể loại này, chúng tôi sẽ giới thiệu

sơ lược Từ Trung Quốc qua các giai đoạn Sơ Đường –Thịnh Đường, Trung Đường, Ngũ Đại, Nam Đường, Bắc Tống, Nam Tống, Nguyên, Minh, Thanh Sau đó đề cập đến những vấn đề liên quan đến Từ Trung Quốc như tên gọi, Từ điệu, tính chất

Chương hai: Từ Việt Nam-những vấn đề chung

Ở chương này để cung cấp cho người đọc cái nhìn rõ hơn về diện mạo Từ Việt Nam, chúng tôi sẽ trình bày số lượng Từ Việt Nam mà các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được, sau đó liệt kê những số bài Từ chúng tôi đã thu thập tại các thư viện

ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng trình bày những vấn đề xoay quanh văn bản, tác giả Trên cơ sở đó phác thảo quá trình diễn trình của Từ Việt Nam (từ thế

kỷ X đến cuối thế kỷ XIX)

Chương ba: Đặc điểm của Từ Việt Nam

Trang 28

Chương này được triển khai theo bốn hướng Thứ nhất là tìm hiểu về những tác giả sáng tác Từ Việt Nam, quan niệm sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, để khái quát thành đặc điểm của đội ngũ Từ nhân Việt Nam Thứ hai là tìm hiểu đặc điểm nội dung của những bài Từ Việt Nam Thứ ba, tìm hiểu đặc điểm thể thức Từ Việt Nam trên hai phương diện cách chọn Từ điệu, và nghệ thuật dùng điển Và cuối cùng trên

cơ sở những đặc điểm đã phân tích ở trên, chúng tôi thử lý giải nguyên nhân thể loại

Từ chưa phát triển mạnh ở Việt Nam

Trang 29

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1

TỪ - MỘT THỂ LOẠI QUAN TRỌNG TRONG THƠ CA CỔ ĐIỂN TRUNG QUỐC

Thơ ca cổ điển Trung Quốc bất luận là cổ thể, luật thể, trường thiên hay đoản

cú vào đời Đường đã phát triển đến độ thành thục Trong lịch sử quá trình phát triển thơ ca vào đời Đường lại nảy sinh một hình thức thơ mới có liên quan mật thiết với

âm nhạc đó là thể loại Từ Vào đời Tống, Từ là thể loại văn học được ưa chuộng đứng đầu văn đàn, chính những thành tựu của thể loại này trong giai đoạn đó đã giúp Tống Từ có vị trí nhất định trong nền văn học cổ đại Trung Quốc sánh ngang với Hán phú, Đường thi, Nguyên khúc, hí kịch đời Minh và tiểu thuyết đời Thanh Vào đời Thanh, thể loại này đặc biệt thu hút sự chuyên tâm nghiên cứu, san định của nhiều học giả Như vậy, có thể nói Từ là một thể loại quan trọng trong lịch sử thơ ca cổ điển Trung Quốc

1.1 Khởi nguồn của Từ

Về khởi nguồn của Từ, đến nay các học giả Trung Quốc vẫn không ngừng nghiên cứu và tranh luận, thế nhưng tựu chung có bốn quan điểm Một là, Từ có

nguồn gốc từ Kinh Thi 14 Từ Uyển Tùng Đàm của Từ Cửu 15 trích dẫn một đoạn

14

Kinh Thi 詩經là tập thơ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, thu tập 305 bài từ những năm đầu đời Tây Chu (TK XI trước công nguyên) đến giữa thời kỳ Xuân Thu (TK VII

trước công nguyên) Kinh Thi chia thành ba bộ phận là Phong, Nhã, Tụng Phong có 160

bài gồm những bài hát dân gian của 15 nước chư hầu; Nhã gồm 105 bài hát của các khu vực lân cận nhà Chu; Tụng 40 bài bao gồm bài hát tế lễ, thơ ca ngợi,v.v

15

Từ Cửu徐釚 (1636-1708) tự Điện Phát, hiệu Hồng Đình, người Ngô Giang, tỉnh Giang

Tô Trong Dư Điện Phát Nam Châu Tập Tự và Thanh Sử Cảo - Chu Di Tôn truyện ghi lại

vào năm Khang Hy thứ 18, Dư Cửu cùng với Chu Di Tôn cùng thi Bác học hồng từ và

cùng vào làm ở viện Hàn lâm, biên soạn Minh Sử

Trang 30

trong Dược Viên Nhàn Thoại của Đinh Bành 16 như sau: “Li Tao của Khuất Nguyên cũng có tên là Từ, bài Thu Phong của Hán Võ Đế cũng gọi là Từ, Từ là phần dư ra

của thơ Thế thì Từ với thơ có phải là một không? Đáp rằng cứ xem điệu của nó mà

biết vậy Trong Kinh Thi, bài Ẩn Lôi có câu “Ẩn kỳ lôi, tại nam sơn chi dương” ngắt

theo nhịp 3 chữ/5 chữ, bài Ngư Lệ có câu “Ngư lệ, vưu lữu thường sa” ngắt theo

nhịp 2 chữ /4 chữ, bài Hoàn có câu “Tao ngã hồ Nạo chi gian hề Tịnh khu tòng

lưỡng kiên hề” theo nhịp 7 chữ /6 chữ, bài Giang Phiếm lặp lại câu “bất ngã dĩ, bất ngã dĩ”… Chẳng phải ba trăm bài Kinh Thi là ông Tổ của Từ sao?” [85, 532]. Còn theo Uông Sâm 17, mười tám bài thuộc phần Tụng trong Kinh Thi đã có hình thức là

những câu dài ngắn Cho nên, những câu đó chính là khởi phát cho hình thức Từ đời

sau Các học giả nghiên cứu Kinh Thi cho biết những sáng tác trong Kinh Thi đa

phần đều dùng để hát xướng, mà giai đoạn đầu của thể loại Từ cũng là phối hợp với nhạc khúc để các nhạc công và ca kỹ biểu diễn; xét ở góc độ này thì Từ và những

bài thơ trong Kinh Thi có điểm tương đồng Trong Từ Học Khái Thuyết, học giả

Ngô Trượng Thục lại cho rằng những lập luận trên chưa xác đáng; dù những bài thơ

trong Kinh Thi là những bài thơ sớm nhất còn lưu truyền và Từ là một thể loại của thơ nên “Từ có nguồn gốc từ Kinh Thi” xét theo nghĩa rộng cũng hợp lí Thế nhưng, những sáng tác trong Kinh Thi tuy dùng để diễn xướng, nhưng có thơ trước rồi sau

phối hợp với âm nhạc và không cố định nhạc điệu nên không đồng nhất với Từ ở điểm có nhạc khúc cố định trước rồi sau mới điền Từ

Quan điểm thứ hai cho rằng Từ có nguồn gốc từ Nhạc phủ 18 như trong Khốn Học Kỷ Văn của Vương Ứng Lân 19 và Nghệ Uyển Chi Ngôn của Vương Thế Trinh

16 Đinh Bành丁澎 (1622-1686), tự Phi Đào, hiệu Dược Viên, người Nhân Hòa, tỉnh Chiết Giang

17

Uông Sâm汪森 (1653-1726), tự Tấn Hiền, hiệu Bích Sào, người Chiết Giang, người đời

Thanh, tác giả Từ Tổng Ông từng làm quan đến chức Hộ bộ Giang Tây tư lang trung,

sau xin từ quan về quê vui với việc soạn sách

18

Hoàng đế thời Tây Hán cho thiết lập cơ quan âm nhạc, chức năng đi thu tập những dân

ca sau đó về chỉnh sửa, phối hợp thêm âm nhạc, sử dụng trong các nghi thức lễ lạc triều

Trang 31

Người đời Tống để khu biệt với cổ Nhạc phủ mà gọi Từ là “cận đại Nhạc phủ” Vốn dĩ, Nhạc phủ là những bài ca có nguồn gốc từ chốn dân gian dùng để diễn xướng, mà Từ ở giai đoạn đầu cũng sản sinh từ chốn dân gian và cũng để ca hát diễn xướng Thơ Nhạc phủ do những câu dài ngắn tổ hợp thành, một bài thơ có thể chuyển vần Xét ở góc độ này thì nói khởi nguồn của Từ là Nhạc phủ cũng có yếu tố hợp lí Thế nhưng, Lý Mộ Như 21 trong Các Thể Văn Tuyển giải thích rằng Từ và

Nhạc phủ Lục triều xét về hình thức đều là những câu dài ngắn tương đối giống

nhau, nhưng thanh luật có khác Thời Lục triều khi Lương Vũ Đế viết Giang Nam Lộng đã có hình thức cố định những câu dài ngắn như hình thức của thể Từ Nhưng

thanh luật nhạc khúc của Từ của thời Trung Vãn Đường không phải là của Lục Triều cũ, do nhạc thời Nam Triều, trong loạn lạc Vĩnh Gia 22 đã thất lạc Do đó, Nhạc phủ thời Lục triều và Từ không có quan hệ gì về mặt âm nhạc [74] Còn theo

đình hoặc hát xướng khi yến hội Do đó, tên gọi “Nhạc phủ” dần thành một tên gọi cho thể thơ Bất luận là ca dao, dân ca thu thập được từ chốn dân gian hay thi ca do các văn nhân sáng tác chỉ cần có thể kết hợp với âm nhạc đều gọi là Nhạc phủ, về sau, nhà văn dựa trên

đề tài sẵn có của Nhạc phủ mà sáng tác thơ ca, không nhập vào âm nhạc mà vẫn gọi là Nhạc phủ

19 Vương Ứng Lân王應麟 (1223-1296), tự Bá Hậu, hiệu Thâm Ninh cư sĩ, Hậu Trai tiên sinh, là học giả nổi danh đời Nam Tống Ông bác học đa tài, làm quan đến chức Sử bộ thượng thư, thiên văn địa lí, chính trị hay kinh sử, ông đều nghiên cứu Sau khi nhà Nam Tống sụp đổ, ông ẩn cư nơi quê nhà, đóng cửa không tiếp khách, chuyên tâm viết sách, để

lại cho người đời sau khoảng 600 quyển Ngoài Khốn Học Kỉ Văn là tập hợp thành quả tâm huyết nghiên cứu kinh sử của ông còn có các sách như Hán Nghệ Văn Chí Khảo Chứng, Hán Chế Khảo, Ngọc Hải, Tập Giải Chu Thư Vương Hội Thiên, Từ Học Chỉ Nam,v.v

20 Vương Thế Trinh王世貞(1526-1590) là nhà nhà văn, nhà sử học đời Minh, tự là Nguyên Mỹ, hiệu Phượng Châu hay Yểm Châu Sơn Nhân Ông là người Thái Thương, Giang Tô, đậu tiến sĩ năm Gia Tĩnh thứ 26, nhận chức Hình bộ chủ sự, sau làm quan đến Nam Kinh làm Hình bộ Thượng thư

Trang 32

(265-Ngô Trượng Thục trong Từ Học Khái Thuyết [73] thì với Nhạc phủ trước tiên là có thơ rồi sau mới phối hợp với âm nhạc, không phải là dựa vào thanh để điền từ vào, cho dù số câu, dùng vần đều không có giới hạn, không chịu cách luật câu thúc nhưng cũng không phải là điệu quy định cách thức, số chữ và vần định thanh như

Từ, cho nên vẫn không thể cho rằng Từ có nguồn gốc từ Nhạc phủ

Quan điểm thứ ba thì cho rằng Từ có nguồn gốc từ thơ Tạp ngôn Lục Triều Người chủ trương thuyết này là Từ Cửu, trong Từ Uyển Tùng Đàm ông nói rằng

“Bài thơ thứ 3 trong bài Lục Ức Thi của Thẩm Ước 23 có các câu thơ “ức miên thì, nhân miên cưỡng vị miên Giải la bất đãi khuyến, tựu chẩm cánh tu khiên Phục khủng bàng nhân kiến, kiều tu tại chúc tiền” (Nhớ lúc ngủ, người ngủ (em) chưa

ngủ, chàng nhẹ vén mạng che, nắm tay vào khuê phòng, chỉ e kẻ khác thấy trước ánh nến thẹn thùng) chính là khởi nguồn của Từ” Học giả Ngô Trượng Thục thì cho

rằng Thẩm Ước dựa theo cách thức bài Giang Nam Lộng của Lương Vũ Đế mà viết nên Lục Ức Thi Thế nhưng sáng tác này của Lương Vũ Đế vẫn chưa hoàn thiện về

mặt thanh luật, không căn cứ theo tính cố định nhạc khúc của điền Từ Cho nên việc dựa theo cách thức viết thơ của người trước mà sáng tác không như việc dựa vào Từ bài mà viết nên từ, so với cách thức “ỷ thanh điền từ” (dựa vào thanh mà điền chữ) của Từ vẫn có khác biệt

Và cuối cùng là quan điểm Từ có nguồn gốc từ thơ cận thể đời Đường, trải qua quá trình tăng thêm tán thanh 24, phiếm thanh 25 và hòa thanh 26 mà thành, của

23 Thẩm Ước沈約 (441-513), tự là Hưu Văn, người Vũ Khang, Ngô Hưng (nay là Vũ Khang, Chiết Giang) Ông là văn học gia và sử học gia sống vào thời Vĩnh Minh (483-

493), nước Tề đời Nam Bắc Triều, là tác giả sách Tứ Thanh Phổ

24 Tán thanh 散聲: thuật ngữ âm nhạc, chỉ âm thanh thấp nhất do gảy đàn

25

Phiếm thanh 泛聲: còn gọi tán thanh Trong Chu Tử Ngữ Loại-quyển 14 -Luận Văn Hạ

có ghi “Nhạc phủ xưa chỉ là thơ, trong đó có nhiều phiếm thanh Người đời sau sợ mất đi những phiếm thanh đó, nên cứ một thanh thêm một thực từ, thành ra những câu dài ngắn, chính là khúc ngày nay”

Trang 33

Phương Thành Bồi 27 trong Hương Nghiên Cư Từ Chủ và Chu Hi 28 trong Chu Tử Ngữ Loại Bởi vì thơ tuyệt cú năm bảy chữ có hình thức chỉnh tề, còn nốt điệu trong

nhạc phổ thì không được chỉnh tề như thế, cho nên khi ca xướng để cho câu chữ trong bài thơ và âm nhạc phối hợp hài hòa thì lúc diễn tấu phải thêm vài âm thanh ngoài nhạc phổ, những âm thanh này được gọi là tán thanh Để phổ biến tán thanh phải dùng một thực từ để ghi lại, mục đích việc dùng tán thanh hay phiếm thanh hoặc hòa thanh để tăng cường hiệu quả âm nhạc, nhưng từ đó hình thành nên những câu dài ngắn

Có thể thấy Từ không chỉ là một hình thức khác của thơ mà còn có quan hệ mật thiết với âm nhạc, trước tiên phải có khúc phổ rồi sau mới thêm ca từ, chính là lấy khúc phổ làm chủ, từ phụ thêm, ca từ phải theo khúc phổ Xét từ góc độ này, thì bốn quan điểm trên về nguồn gốc của Từ chỉ chứng minh được Từ do thơ diễn biến, phát triển thành, chưa thể hiện rõ tại sao thể loại này xuất hiện Bất luận cách giải

thích Từ có nguồn gốc từ Kinh Thi, Nhạc phủ, Tạp ngôn Lục triều, hay thơ cận thể

đời Đường đều dẫn đến kết luận trước tiên phải có Từ, rồi sau phối với khúc để diễn

26

Hòa thanh 和聲: lập lại một nhạc khúc đã diễn xướng Thẩm Quát trong Mộng Khê Bút Đàm cho biết ví như lập lại hà hà hà 何何何 hay hạ hạ hạ 賀賀賀 là một dạng của hòa thanh

27

Phương Thành Bồi 方成培: nhà hí khúc đời Thanh, sinh khoảng những năm Ung Chính, không rõ năm mất, tự Ngưỡng Tùng, hiệu Tụ Vân Từ Dật, người Huy Châu, nay là huyện An Huy Ông lúc nhỏ nhiều bệnh nên không thể ứng thí khoa cử, suốt

đời thanh hàn Chương Thành Bồi giỏi Từ, Khúc, Từ luật, tác phẩm có Tính Dịch Hiên Tiểu Cảo, Hương Nghiên Cư Từ Chủ, Hương Nghiên Cư Đàm Chỉ, Phương Ngưỡng Tùng Từ Củ Tồn v v Hương Nghiên Cư Từ Chủ kể lại cuộc sống sinh hoạt

thường nhật và quá trình học nghệ của ca kỹ và liệt kê cùng thuyết minh nguồn gốc tên khoảng hơn 320 khúc ca múa

28 Chu Hi 朱熹 (1130-1200), tự Nguyên Hối, sau đổi tên là Trọng Hối, về già có hiệu là Hối Ông, rồi lại có hiệu Hối Am, Tử Dương, khi mất tên thụy là Văn Hậu thế xưng tụng ông là Chu Tử hoặc Chu Văn Công Năm Bảo Khánh, ông được ban tặng Thái Sư, truy phong là Tín Quốc Công, Huy Quốc Công Trong việc học ông chủ trương phải tìm hiểu đến tận cùng mọi lí lẽ Ông là nhà lí học đời Tống

Trang 34

xướng, so với phương pháp “dựa vào thanh để điền từ” chưa hoàn toàn tương đồng

Từ là kết quả của sự kết hợp giữa văn học và âm nhạc, do đó bàn về nguồn gốc sản sinh ra Từ không thể không nhắc đến âm nhạc

Sau loạn lạc Vĩnh Gia vào đời Tấn, âm nhạc ngoại tộc dần dần truyền nhập vào Trung Quốc thông qua con đường thương nghiệp, ngoại giao, hôn nhân, chiến

tranh,v.v làm thay đổi diện mạo âm nhạc bản địa Trung Quốc Trong Cựu Đường Thư - Âm Nhạc Chí có ghi lại “Thời Trương Trùng Hoa, các vị sư Thiên Trúc tiến cống con hát, sau đó các Sa môn là vương tử nước đó mỗi khi đi qua lại truyền dạy

âm của vùng ấy” và sự kiện “Chu Vũ Đế lấy con gái tù binh làm vợ, các nước Tây Vực đi theo hầu phu nhân xuất giá đến hậu cung, tụ tập tại Trường An có nhạc của nước Cưu Tư, Sơ Lạc, An Quốc, Khang Quốc…”29 Khi nhà Tùy được kiến lập, thống nhất cục diện phân chia Nam Bắc thì ca khúc Yên nhạc 30 của vùng Tây Vực

đã bước vào giai đoạn kết hợp với các ca khúc dân gian tại bản địa sản sinh những nhạc khúc mới Một khi đã có nhạc khúc thì tất yếu phải có ca từ để phối hợp diễn xướng, cho nên loại câu dài ngắn phối hợp với ca khúc bắt đầu xuất hiện Từ ra đời chủ yếu do sự phối hợp ca từ với những nhạc khúc mới nổi này, từ đó đương thời còn gọi Từ là “Khúc tử” hay “Khúc tử từ” Đến đời Đường, cùng với sự truyền nhập của đàn tì bà, một nhạc khí chủ yếu của Tây Vực, các ca khúc dân gian phát triển mạnh Vô số những thanh âm của tân nhạc khúc lưu hành từ cung đình đến chốn dân gian là sáng tạo dựa trên sự kết hợp giữa âm nhạc của vùng Tây Vực và những khúc

ca dân gian Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh cho biết “Ca Từ của Yên Nhạc dựa vào nhạc khúc viết ra, chính là nguồn gốc của Từ, một thể tài văn học Trước hết, do Yên Nhạc trên từ cung đình, quý tộc cho tới dưới là bình dân bá tánh, ai ai cũng ưa thích cho nên nội dung ca từ của nó rất rộng lớn và phức tạp” [7, 485]

Trang 35

Nhìn về thể loại này các nhà nghiên cứu Việt Nam như Nguyễn Khắc Phi cũng cho

rằng “Từ là một thể thơ cách luật của Trung Quốc, xuất hiện vào đời Đường, phát triển mạnh ở đời Tống, có số chữ trong bài cố định, câu dài, câu ngắn và phối hợp chặt chẽ với âm nhạc” [20, 270]

Xuất phát từ những quan điểm khác nhau về nguồn gốc Từ mà thể loại này

có những tên gọi khác nhau như:

- Khúc tử từ: là tên gọi sớm nhất cũng là cách gọi chính xác nhất của thể loại này Đời Ngũ đại, lưỡng Tống thường gọi là Khúc tử từ Là do “khúc tử” (ca khúc)

và từ (ca từ) hợp lại thành Trước đây chế khúc rồi sau mới phối hợp từ vào thành một thể loại văn học mang đậm tính âm nhạc, lấy khúc làm chủ Đời Thanh, Lưu

Hi Tải 31 từng nói: “Từ tức là từ của khúc, khúc tức là khúc của từ” Từ và khúc có quan hệ mật thiết khó phân biệt Sau đó từ và âm nhạc dần dần phân li, khúc tử từ mới chỉ còn tên gọi là Từ

-Thi dư: tên gọi này xuất hiện vào đời Nam Tống Từ kế thừa thơ, bản chất là nói lên duyên tình, ngôn chí, chú trọng nhất là tả tình Do Từ vẫn mang âm hưởng của thơ nên người ta gọi đó là “thi dư”, người đời sau gọi từ là “thi dư” (phần thừa

ra của thơ) Dựa trên ý này có thể hiểu theo hai cách, hoặc thơ đã bị giáng xuống một bậc thành Từ hoặc Từ là do thơ cận thể biến hóa mà thành Tên gọi “thi dư” cũng thể hiện hai quan điểm, trước là bao hàm ý không coi trọng Từ, sau là giải thích khởi nguồn của Từ, tất cả đều không chuẩn mực, Mao Tiên Thư 32 đời Thanh

31 Lưu Hi Tải 劉熙載 (1813 – 1881), hiệu là Dung Trai, tự Bá Giản, về sau còn có hiệu là Ngộ Nhai Tử, người tỉnh Giang Tô-Hưng Hóa Ông đậu tiến sĩ năm Đạo Quang, làm quan đến chức Tả xuân phường tả trung duẫn, Quảng Tây học chính và nhiều năm chủ giảng ở Thượng Hải Long môn Học viện Ông là nhà ngôn ngữ học, nhà lí luận văn nghệ của Trung Quốc thế kỷ XIX, được mệnh danh là “Hegel của Phương Đông”

32

Mao Tiên Thư毛先舒 (1620-1688), tự Trì Hoàng, sau đổi thành Tiên Thư, tự là Trĩ Hoàng, người Nhân Hòa (nay là Hàng Châu) Từ nhỏ đã thông tuệ hơn người, sáu tuổi có thể phân biệt bốn thanh, tám tuổi biết làm thơ, mười tuổi có thể viết văn, đến năm mười

tám tuổi đã có tác phẩm Bạch Du Đường Thi

Trang 36

trong Điền Từ Danh Giải và Uông Sâm trong lời tựa Từ Tông đều phản đối cách

gọi tên này, nhưng cách gọi từ là “thi dư” vẫn lưu truyền

- Trường đoản cú: do Từ bao gồm những câu thơ dài ngắn phối hợp âm nhạc

mà thành, đả phá các thể thơ năm, bảy chữ chỉnh tề do đó còn có tên gọi là “trường đoản cú” Một số Từ tập đời Tống đề tên là “trường đoản cú”, Tần Quán 33 có Hoài Hải Cư Sĩ trường đoản cú, Triệu Sư Hiệp 34 có Thản Am trường đoản cú, v.v…

Ngoài số cách gọi như trên, Từ còn được người đời Tống gọi là “Nhạc phủ”,

ví như Đông Sơn ngụ thanh Nhạc phủ của Hạ Chú 35; hoặc gọi là “ca khúc” như Khương Quỳ 36 có Bạch Thạch đạo nhân ca khúc; cũng có thể gọi Từ là “cầm thú

ngoại thiên” như Âu Dương Tu 37 có Túy Ông cầm thú ngoại thiên, Hoàng Đình

33Tần Quán秦觀 (1049-1100), tự Thiếu Dụ, Thái Hư, hiệu Hoài Hải cư sĩ, người Dương Châu, đậu tiến sĩ nên được tiến cử làm Thái học bác sĩ kiêm sử quan, về cuối đời nhiều lần

bị biếm chức, sau mất ở Quảng Châu Ông có Từ tập Hoài Hải Cư Sĩ Trường Đoản Cú,

ngôn ngữ tinh luyện, tả cảnh như vẽ, âm luật hài hòa, uyển chuyển, người đương thời ca ngợi những câu từ của ông là “dù người không biết chữ cũng hiểu những lời nói hay như thế là do trời sinh” Tô Thức từng khen Thiếu Du có tài Khuất Nguyên, Tống Ngọc

34 Triệu Sư Hiệp趙師俠 (không rõ năm sinh năm mất), tự Giới Chi, hiệu Thản An, dòng dõi hoàng tộc, sống ở Tân Cam (nay thuộc Giang Tây) Năm 1175 đỗ tiến sĩ, mười lăm năm là Giang Hoa quận thừa

Bá Dương, nay là huyện Tây Bá Dương ở Giang Tây Ông là Từ nhân đời Tống, lúc nhỏ

gia cảnh bần hàn, thi cử nhiều lần không đỗ đạt nhưng nổi danh văn tài Tác phẩm có Ám Hương, Sơ Ảnh mượn chuyện than vịnh hoa để cảm thương cho thân phận. Ông tinh thông

âm nhạc, từng dâng thư lên triều đình luận nhã nhạc và viết Đại nhạc nghị bàn luận về nhạc cùng đưa ra ý định khảo cứu nghiên cứu đàn cầm, đàn sắt Do đó có thể tự chế khúc nhạc, ông chú thích kĩ càng từng chữ, từng nốt nhạc được sử dụng trong các bài Từ, là cơ

sở cho người đời sau nghiên cứu về cách hát Từ đời Tống

37Âu Dương Tu 歐陽 (1007-1072), tự Vĩnh Phúc, về già lấy tên là Lục Nhất cư sĩ, về phương pháp sáng tác ông chịu ảnh hưởng của Phùng Diên Tị, ông không chỉ viết về ái tình

Trang 37

Kiên 38 có Sơn cốc cầm thú ngoại thiên, và cuối cùng còn có thể gọi từ là “nhạc chương”, ví như Liễu Vĩnh Nhạc chương tập, v.v…

1.2 Diễn trình- khuynh hướng

Vào đời Đường, Từ như một thể loại văn học dần phát triển Sơ Đường có

Lý Cảnh Bá 39, Thẩm Thuyên Kỳ 40 và Bùi Đàm 41 viết theo một điệu là Hồi Ba Nhạc, như vậy đã có cách thức từ điệu cố định Đến đời Trung Tông các nhạc quan dựa trên điệu Hồi Ba Nhạc của Lý Cảnh Bá viết lại điệu Hồi Ba Nhạc để diễn xướng

trong cung đình, chứng tỏ đã có hình thức dựa vào khúc điền Từ Đời vua Huyền Tông (685-762) là giai đoạn Thịnh Đường, xã hội ổn định, sản sinh nhiều khúc tử

từ Bằng chứng là vào năm Quang Tự đời Thanh phát hiện ở Đôn Hoàng hang Mạc

Cao, động Thiên Phật một bản Vân Dao Tập là Từ tập chép tay có nguồn gốc từ dân

nam nữ mà mở rộng ra viết về tình bạn và những cảm xúc chân thực của con người, ngữ điệu ôn hòa, uyển chuyển nhưng vẫn mang đậm nét thung dung, thâm trầm

38 Hoàng Đình Kiên 黃廷堅 (1045-1105), tự Lỗ Trự, biệt hiệu Sơn Cốc đạo nhân, Phù ông, người Phân Ninh, Hồng Châu (thuộc Giang Tây ngày nay) Ông là thư hoạ gia và thi gia trứ danh, và là một trong những người viết chữ đẹp nhất thời Bắc Tống, tề danh cùng thầy ông là Tô Thức, người đời thường gọi Tô-Hoàng Ông đỗ tiến sĩ, có làm một số chức quan Ông là người cầm đầu thi phái Giang Tây, chú trọng đến kỹ xảo làm thơ mà chưa quan tâm đúng mức đến nội dung tư tưởng của tác phẩm

39

Lý Cảnh Bá李景伯 (không rõ năm sinh, mất năm đầu đời Đường Huyền Tông), người Bách Nhân, Hình Châu (nay là Long Nghiêu, tỉnh Hà Bắc) Truyện về ông có ghi trong

Cựu Đường Thư và Tân Đường Thư quyển 11 Toàn Đường Thi ghi lại Đường Trung Tông

du ngoạn hồ Hưng Khánh, trong bữa yến tiệc ca múa, nhân lúc vui say ra lệnh cho mọi người sáng tác Hồi ba từ, ai làm hay sẽ thăng chức Các quan vì muốn thăng chức mà làm những bài xiểm nịnh, chỉ riêng Cấp sự trung Lý Cảnh Bá an nhiên, ca lên bài Từ chê trách chuyện ấy Thế nên được xưng tụng là “chân gián quan” (vị quan chân chính dám can gián)

Trang 38

gian, tổng cộng thu được 30 bài Từ Tác giả khuyết danh, nội dung và phạm vi miêu

tả rộng lớn, bao gồm các phương diện sinh hoạt trong cuộc sống Qua nghiên cứu của các học giả, đây có thể là tác phẩm thời Thịnh Đường hoặc sớm hơn; những đề tài được sử dụng không phải là những đề tài mà các văn nhân đương thời thường sáng tác, do đó có thể đoán định những khúc tử từ này có nguồn gốc từ dân gian Mặt khác, Từ bài và hình thức câu, số chữ, thanh vận được sắp xếp giống như hình thức Từ bài của Từ đời sau Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng vào giai đoạn này,

Từ như một hình thức của thơ ca đã chính thức xuất hiện và phát triển Hơn nữa,

Giáo Phường Ký của Thôi Lệnh Khâm 42 ghi lại đời Đường Huyền Tông có bài Từ

điệu Bồ tát man, chứng minh khúc điệu này vào thời đó đã lưu truyền, ngoài ra theo Bích Khê Mạn Chí của Vương Chước 43 , những năm Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông đã lưu truyền khúc Niệm nô kiều Thế nhưng dựa trên kết cấu ca từ của những nhạc khúc này đều là những câu dài ngắn không đồng nhất, không giống như thói quen sáng tác câu thơ năm, bảy chữ chỉnh tề của các thi nhân đương thời Có thể thấy, các văn nhân thời đó vẫn quen với việc sáng tác thơ năm, bảy chữ, chưa hoàn toàn chú tâm thử nghiệm sáng tác khúc tử từ có hình thức câu dài ngắn như chốn

nhân gian Ví như ba bài Thanh Bình Điệu của Lí Bạch, tuy để phối hợp với nhạc

khúc để diễn xướng nhưng vẫn là những câu bảy chữ Ngoài những bài Từ trên,

tương truyền Lí Bạch còn sáng tác hai bài Bồ tát man và Ức Tần Nga mà Hoàng

42

Thôi Lệnh Khâm崔令欽không rõ năm sinh năm mất, đoán định sống vào những năm

Thiên Bảo Đường Huyền Tông Truyện về ông được ghi trong Tân Đường Thư-Nghệ Văn Chí

43

Vương Chước 王灼không rõ năm sinh năm mất, đoán định ông sinh khoảng năm 34 đời Tống Thần Tông (1081), mất vào năm thứ 30 đời Tống Cao Tông (1160) Vương Chước gia cảnh bần hàn, thời thanh niên từng đến kinh đô học tập rồi ứng thí Tuy học thức uyên bác nhưng đường khoa cử lận đận, không đỗ đạt Về già chuyên tâm viết sách, ông là học

giả nổi danh đời Tống Dựa theo tài liệu ghi lại, sáng tác của ông bao gồm 57 quyển Di Đường Văn Tập, 12 quyển Chu Thư Âm Huấn và Sơ Thực Phả,v.v nhưng đa số đều thất tán, hiện chỉ còn Thảo Đường Tiên Sinh Văn Tập, Bích Khê Mạn Chí, Thảo Đường Từ và Đường Sương Phổ,v.v Trong Bích Khê Mạn Chí thuật lại diễn biến ca khúc từ thượng cổ

đến đời Đường, khảo chứng nguồn gốc quan hệ nhạc khúc đời Đường và Từ Tống, bình luận phong cách Từ nhân đời Bắc Tống, nghiên cứu Từ điệu từ góc độ âm nhạc

Trang 39

Thăng 44 đời Tống trong Hoa Am Từ Tuyển gọi hai bài này là “bách đại từ khúc chi

Tổ” (tổ của Từ khúc trăm đời) Thế nhưng, vấn đề tác giả của hai bài Từ này đến nay vẫn còn tranh luận Bởi vì tuy thủ pháp công phu nhưng khí phách lại yếu, hơn

nữa khi Lí Bạch tại thế chưa có điệu này, khảo sát trong Lý Bạch Tập và Nhạc Phủ Thi Tập của Quách Mậu Thiến 45 đều không thấy ghi lại, khiến cho người đời tranh luận và nghi ngờ là Từ nhân đời Vãn Đường, Ngũ đại giả danh Lí Bạch

Các thi nhân đời Đường như Vương Duy, Bạch Cư Dị đều có những sáng tác được người đời phối hợp với âm nhạc để diễn xướng, một số nhà thơ xem chuyện các sáng tác của mình được đem ra diễn xướng là niềm tự hào Thế nhưng những sáng tác ấy đa phần có hình thức gồm những câu thơ năm, bảy chữ tề chỉnh, không như hình thức Từ bao gồm những câu dài ngắn tổ hợp lại mà thành, do đó có không

ít khó khăn cho việc diễn xướng Các thi nhân nhận ra rằng nếu muốn các sáng tác

có thể phối hợp với nhạc khúc để hát thì phải “ỷ thanh” dựa trên hình thức thanh

luật các nhạc khúc đang lưu hành mà “điền từ” Minh chứng là đầu đề bài Ức Giang Nam, Lưu Vũ Tích 46 viết “tạo câu dựa theo khúc phách bài Ức Giang Nam”, cho thấy văn nhân có ý muốn mô phỏng theo khúc điệu để điền chữ, khởi nguồn việc điền Từ Và họ cũng có ý thức viết những câu dài ngắn không chỉnh tề như Vi Ứng Vật 47 cũng viết Điệu Tiếu Lệnh, Tam Đài Từ gồm những câu dài

phủ, đóng góp to lớn trong việc tập hơp phân loại ca khúc theo điệu khúc

46 Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842), tự Mộng Đắc, người Bành Nhân

47Vi Ứng Vật韋應物 (737-792), người Kinh Triệu, lúc đầu làm Tam Vệ lang cho Đường Huyền Tông (712-755), về sau chịu khó đọc sách, đến đời Đức Tông (780-804) làm quan thứ sử Tô Châu Ông tính cao khiết, thích đốt hương ngồi một mình Thi tập của ông gồm

10 quyển

Trang 40

ngắn; Đái Thúc Luân 48 viết Chuyển Ứng Từ, Trương Chí Hòa viết Ngư Ca Tử v.v Trương Tông Thu đời Thanh trong Từ Lâm Ký Sự ghi: “Chí Hòa có bài Từ Ngư Ca Tử 49, thứ sử Nhan Chân Khanh cùng Lục Hồng Tiệm, Dư Sĩ Hoành, Lý Thành Cử khi tương hợp đã xướng họa” Như vậy, đến Trung Đường văn nhân viết

Từ đã có phong cách xướng họa Ở giai đoạn này, người viết nhiều bài nhất là Lưu

Vũ Tích với 41 bài, Bạch Cư Dị có 29 bài Cuối đời Đường, thể loại này tiến thêm một bước phát triển mới khi đội ngũ sáng tác cũng như số lượng tác phẩm gia tăng, nhiều thi nhân cũng là Từ nhân

Như vậy, Từ - một văn thể - chính thức được thành lập vào đời Đường

Sau loạn An Sử 50 năm 755 và phong trào chiến tranh nông dân cuối Đường khiến nhà Đường mất ngôi Trung Quốc rơi vào tình trạng bị chia cắt trầm trọng, lịch sử gọi là thời Ngũ đại Thập quốc 51 Thế nhưng, số lượng Từ nhân vào thời này lại gia tăng vượt bậc, chủ yếu tập trung ở vùng Tây Thục và Nam Đường Bởi vì,

trong tình cảnh chiến tranh loạn lạc “ở hai vùng Tây Thục và Nam Đường, tuy lực lượng quân sự yếu nhưng kinh tế và văn hóa lại phát đạt hơn hết trong cả nước, do vậy, nó đã trở thành căn cứ địa lớn để nhà viết Từ hội tụ” [7, 501] Các nhà văn trốn

mình trong ca tửu để quên đi hiện thực chính là nguyên nhân khiến cho thể loại Từ

48

Đới Thúc Luân 戴叔倫 (732-789) tên chữ là Ấn Công, người Giang Tô, làm quan đến thứ sử Phủ Châu

49 Trương Chí Hòa 張志和 (730-810) tự Tử Đồng, ban đầu có tên Quy Linh, người Chiết

Giang Ngư Ca Tử là từ điệu, sau còn gọi là Ngư Phủ Ca, có trong Giáo Phường Khúc đời

Đường, bao gồm đơn điệu và song điệu Đơn điệu 27 chữ, 5 câu, bốn vần bằng, song điệu

Ngày đăng: 16/05/2021, 13:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w