ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ HUYỀN CÁC HÌNH THỨC BẢO TỒN NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ HUYỀN
CÁC HÌNH THỨC BẢO TỒN NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
THÁI NGUYÊN, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ Các kết quả và số liệu đảm bảo tính khách quan, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Huyền
Xác nhận của người hướng dẫn khoa học
Xác nhận của khoa Tâm lý giáo dục
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy GS.TSKH Nguyễn Văn
Hộ -Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu
đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, khoa Tâm lý - Giáo dục và phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và các em học sinh trường Tiểu học Hoá Thượng 1 và trường Tiểu học Linh Sơn (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và khảo nghiệm
Xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị học viên lớp Giáo dục học K19, những người luôn động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Huyền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BẢO TỒN NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 6
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 9
1.1.3 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và ngôn ngữ dân tộc 12
1.2 Những khái niệm công cụ 18
1.2.1 Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc 18
1.2.2 Bản sắc văn hoá dân tộc 22
1.2.3 Khái niệm bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học 25
1.2.4 Bảo tồn ngôn ngữ DTTS thông qua quá trình dạy hoc 25
1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo tồn ngôn ngữ DTTS 30
1.4 Đặc điểm của học sinh tiểu học trong quá trình dạy học 32
Kết luận chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN NGÔN NGỮ 37
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC 37
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG ĐÔNG BẮC 37
2.1 Một số đặc điểm về vùng Đông Bắc Việt Nam 37
Trang 62.2 Khảo sát thực trạng bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học ở
trường tiểu học vùng Đông Bắc 40
2.2.1 Mục đích khảo sát 40
2.2.2 Đối tượng khảo sát 40
2.2.3 Nội dung khảo sát 41
2.2.4 Phương pháp khảo sát 41
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học ở trường tiểu học 42
2.3.1 Thực trạng bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong cuộc sống hàng ngày của học sinh và phụ huynh học sinh 42
2.3.2 Thực trạng bảo tồn ngôn ngữ DTTS ở trường tiểu học Hoá Thượng 1 và Linh Sơn 51
Kết luận chương 2 65
Chương 3 MỘT SỐ HÌNH THỨC BẢO TỒN NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG ĐÔNG BẮC 67
3.1 Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất các hình thức bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học ở trường tiểu học 67
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu của giáo dục tiểu học (được quy định tại điều 27, chương II luật giáo dục 2005) 67
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tôn trọng nhân cách đối tượng và yêu cầu hợp lý với đối tượng giáo dục 67
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường 68
3.1.4 Nguyên tắc tự nguyện, lồng ghép và có chọn lọc 68
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 69
3.2 Một số hình thức bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học ở
Trang 73.2.1 Tổ chức bài học trên lớp thông qua giao tiếp giữa giáo viên và
học sinh có sử dụng ngôn ngữ DTTS 69
3.2.2 Dạy tiếng DTTS như một môn học tự chọn 71
3.2.3 Thăm quan học tập 72
3.2.4 Học nhóm 73
3.3 Mối quan hệ giữa các hình thức 74
3.4 Khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các hình thức 74
3.4.1 Mục đích khảo sát 74
3.4.2 Đối tượng khảo sát 74
3.4.3 Nội dung khảo sát 75
3.4.4 Phương pháp khảo sát 75
3.4.5 Kết quả khảo sát 75
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc thiểu số 42Bảng 2.2: Hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số của phụ huynh
học sinh 49Bảng 2.3: Hoàn cảnh sử dụng tiếng mẹ đẻ của học sinh người dân tộc
thiểu số 50Bảng 2.4: Mức độ cần thiết của việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số
trong dạy học 51Bảng 2.5: Những ngôn ngữ học sinh nên học ở nhà trường trong giai đoạn
hiện nay 52
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 2.1: Khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số của phụ huynh
học sinh 43
Biểu đồ 2.2: Các kênh thông tin sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại địa phương mà phụ huynh được tiếp xúc 44
Biểu đồ 2.3 : Các kênh thông tin sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại địa phương mà học sinh được tiếp xúc 46
Biểu đồ 2.4: Khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số của giáo viên 54
Biểu đồ 2.5: Mức độ hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong quá trình dạy học 56
Biểu đồ 2.6: Mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của các hình thức sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học 58
Biểu đồ 3.1: Ý kiến của giáo viên về mức độ cần thiết của các hình thức 75
Biểu đồ 3.2: Ý kiến của giáo viên về mức độ khả thi của các hình thức 77
Biểu đồ 3.3: Ý kiến của giáo viên về mức độ hiệu quả của các hình thức 78
Trang 11đó đặc biệt có sự tiếp xúc giữa các nền văn hoá đã tác động mạnh mẽ đến tiếp xúc ngôn ngữ Hệ quả của các cuộc tiếp xúc này đã hình thành một xu hướng chung là, ngôn ngữ của các quốc gia lớn hơn, có nền kinh tế phát triển mạnh hơn cũng như ngôn ngữ của các DT phát triển mạnh hơn sẽ tác động đến ngôn ngữ của các quốc gia, DT còn lại.Kết quả của sự tác động này có thể làm cho ngôn ngữ các DTTS nghèo đi và tất yếu sẽ dẫn tới nguy cơ suy thoái
Việt Nam là một quốc gia đa DT Trong 54 DT, tuy có khác nhau về quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế- xã hội, nhưng mỗi DT đều có bản sắc văn hóa truyền thống với phong tục, tập quán, ngôn ngữ riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Việt Nam Trong đó có 53 DTTS với trên 13 triệu người, chiếm 13,8% dân số cả nước Mỗi DT đều có tiếng nói riêng, một
số DT có chữ viết riêng (gần 30 DTTS có chữ viết, tiêu biểu như: Tày, Thái, Hoa, Khơme, Nùng, H’Mông, Giarai, Êđê, Bana,…) Tuy nhiên, ngôn ngữ các DT ở nước ta phát triển không đồng đều, ngoài ngôn ngữ phổ thông, một
số ngôn ngữ DTTS đang có nguy cơ bị mai một
Trang 12Trong suốt thời kỳ đấu tranh cách mạng, giành độc lập tự do cho DT dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chữ quốc ngữ luôn đồng hành cùng với mọi thắng lợi của cuộc cách mạng Song song với dạy và học chữ quốc ngữ, Đảng và Chính phủ cũng rất quan tâm đến bảo tồn và phát huy ngôn ngữ, chữ viết của các DTTS Có rất nhiều văn bản pháp luật có nội dung liên quan đến công tác bảo tồn, phát huy việc học và dạy ngôn ngữ, chữ viết của các DTTS Mới đây nhất, ngày 14/1/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác DT, trong đó khẳng định một trong những nguyên tắc cơ bản của công tác DT là: “Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc” Nghị định 05/2011/NĐ-CP cũng đề cập đến chính sách phát triển giáo dục
và đào tạo đối với các DTTS đã khẳng định: "Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng
và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc"
Đông Bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là vùng Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng ) Đây là vùng có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và an ninh, quốc phòng Với những nét đặc thù về tự nhiên, lịch sử- xã hội, lại là nơi sinh sống của nhiều đồng bào DTTS, Đông Bắc là vùng có nền văn hoá, ngôn ngữ phong phú, đa dạng và đặc sắc Ngày nay, ngôn ngữ DTTS đã, đang và sẽ tiếp tục chịu một sức ép rất lớn trước ngôn ngữ của DT đa số để tồn tại Bên cạnh
đó, một bộ phận người DTTS cũng từ bỏ phong tục của mình và hòa nhập với những người không cùng ngôn ngữ Bởi thế, họ càng ít có cơ hội để sử
Trang 13dụng tiếng mẹ đẻ Kết quả là ngôn ngữ của họ dần bị quên lãng và biến mất theo mức độ và thời gian hội nhập
Nhận thức được vị trí, vai trò của ngôn ngữ DTTS trong việc duy trì và phát triển văn hoá của đồng bào DTTS Ở một số địa phương đã và đang đưa tiếng DTTS vào trong nhà trường, thực hiện quá trình dạy học
và giáo dục học sinh bằng cả ngôn ngữ phổ thông và ngôn ngữ DTTS nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh DTTS hình thành và phát triển nhân cách Tuy nhiên việc đưa ngôn ngữ DTTS vào quá trình dạy học cũng gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức,…
Như vậy, bảo tồn ngôn ngữ DTTS nói chung, bảo tồn ngôn ngữ DTTS
ở vùng Đông Bắc nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng Ngôn ngữ tộc người
có được duy trì và phát triển hay không phụ thuộc phần nhiều vào chính đồng bào DTTS, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người có vai trò quyết định đối với sự tồn vong của nền văn hoá, ngôn ngữ tộc người trong tương lai
Xuất phát từ những điều đã trình bày trên đây cũng như góp phần bảo tồn văn hoá, ngôn ngữ DTTS, nâng cao chất lượng đào tạo học sinh DTTS, tôi
đã lựa chọn: “Các hình thức bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học
ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam” làm vấn đề nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam nhằm đề xuất một số hình thức bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học Qua đó, góp phần bảo tồn ngôn ngữ DTTS và nâng cao chất lượng đào tạo HS nói chung, HS DTTS nói riêng
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong quá trình dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam
Trang 14Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam
4 Giả thuyết khoa học
Bảo tồn ngôn ngữ DTTS có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở trường tiểu học Nếu đề xuất được một hệ thống các hình thức
tổ chức tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng bảo tồn ngôn ngữ DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam trong điều kiện hội nhập hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học
Khảo sát thực trạng hoạt động bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc
Xây dựng một số hình thức bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích tài liệu lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 15Phương pháp điều tra bằng ankét, phương pháp quan sát, phương pháp
trò chuyện, phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong quá trình dạy học ở trường tiểu học
Chương 2: Thực trạng bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc
Chương 3: Một số hình thức bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc
Ngoài ra, luận văn còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BẢO TỒN NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, trên thế giới có gần 7000 thứ tiếng khác nhau, song số lượng ngôn ngữ được nói trên trái đất đang có xu hướng giảm nhanh Theo đánh giá của UNESCO, có khả năng đến cuối thế kỷ XXI, số lượng các thứ tiếng khác nhau sẽ giảm còn một nửa Mỗi tháng, trên thế giới mất đi hai ngôn ngữ, mà phần đông là những thứ tiếng của các DTTS Có tới 96% ngôn ngữ chỉ được 4% dân số thế giới nói Chính vì vậy UNESCO quyết định lấy ngày 21 tháng
2 là Ngày tiếng mẹ đẻ quốc tế nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Mác – Lê-nin coi những vấn đề về chính sách ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ các DTTS nói riêng là vấn đề sống còn của một quốc gia Trên cơ
sở những tư tưởng vĩ đại của Mác – Ăng ghen, Lê-nin đã kế thừa và phát triển mang tính biện chứng vấn đề về DT và chính sách ngôn ngữ
Theo Lê-nin, sử dụng tiếng mẹ đẻ là quyền của các DT trong quốc gia
đa DT, đa ngôn ngữ Người viết: “Một nhà nước dân chủ phải thừa nhận vô điều kiện quyền tự do hoàn toàn của các ngôn ngữ dân tộc khác nhau và gạt
bỏ bất cứ đặc quyền nào của một trong những ngôn ngữ đó” [25, tr 50]
Là nhà tư tưởng dân chủ triệt để, Lê-nin phản đối việc bắt buộc sử dụng một ngôn ngữ đối với mọi người dân Người cho rằng mọi người đều yêu Tổ quốc của mình, đồng thời họ cũng yêu tiếng nói của DT mình, sự bắt buộc người dân phải nói ngôn ngữ khác không phải là ngôn ngữ DT mình sẽ làm cho họ đánh mất tình cảm và lòng tự hào DT Chính vì vậy, Lê-nin đã đưa quyền học tập bằng tiếng mẹ đẻ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo
Trang 17điều kiện cho người DT học tập bằng tiếng mẹ đẻ vào cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô
Ở Nga, đạo luật về ngôn ngữ của Liên bang Nga được thông qua năm
1990 công nhận rằng tất cả các ngôn ngữ là một phần di sản văn hoá, lịch sử
DT được Nhà nước bảo hộ Nhà nước thực hiện một chính sách ngôn ngữ trên
cơ sở khoa học có khả năng bảo tồn mọi ngôn ngữ của các DT Nga và đảm bảo sự phát triển và nghiên cứu ngang bằng tất cả các ngôn ngữ đó Mọi sự tuyên truyền thù địch và xúc phạm bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều bị ngăn cấm Đạo luật chú ý đặc biệt tới việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các
DT ít người [14, tr 120]
Trung Quốc là một quốc gia đa DT, các DTTS có số lượng quá ít so với DT đa số nhưng lại chiếm tới 60% lãnh thổ của đất nước Mỗi DT có ngôn ngữ riêng dẫn tới tình trạng đa ngữ ở nước này Cùng với sự phân tán lãnh thổ của ngôn ngữ các DT, tình trạng khác biệt giữa nhiều vùng khác nhau của ngôn ngữ phổ thông là đặc điểm quan trọng ảnh hưởng tới chính sách ngôn ngữ của quốc gia này Chính vì vậy, chính phủ nước này thực hiện phương châm là bình đẳng trong quyền lợi và trách nhiệm giữa các DT Theo phương châm đó, chính sách bình đẳng ngôn ngữ được lựa chọn và được hợp thức hoá về mặt pháp luật Điều 4, Hiến pháp 1984 của quốc gia này nêu rõ: “Mọi dân tộc đều có quyền tự do sử dụng và phát triển ngôn ngữ và chữ viết riêng của mình” Trong đạo luật của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1984 về vấn đề tự trị của các DT, Nhà nước đã có những quy định cụ thể về chính sách ngôn ngữ Trong điều 49 của đạo luật này, Nhà nước “nêu yêu cầu có sự học tập qua lại của các ngôn ngữ, nghĩa là các cán bộ không phải là dân tộc Hán cần học tập và
sử dụng tiếng Hán, còn những người dân tộc Hán thì phải học ngôn ngữ dân tộc của các vùng mà họ đang cư trú” Như vậy, quy định trên đã nêu một giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm sự bình đẳng thật sự về ngôn ngữ ở
Trang 18quốc gia đa DT này Qua đó, góp phần giữ gìn và phát triển ngôn ngữ của các DT, đặc biệt là ngôn ngữ của các DTTS [14, tr 126]
Singapore là một quốc gia sử dụng nhiều ngôn ngữ Trong đó, 75%
số dân nói tiếng Trung Quốc, 15% nói tiếng Melayu và 7% nói các thứ tiếng Ấn Độ Chính sách giáo dục trẻ em của Singapore quan tâm tới định hướng không quên cội nguồn trong khi vẫn tiếp tục đổi mới và duy trì khả năng phát triển công nghệ Ở trường, HS được học ít nhất là hai thứ tiếng: Tiếng anh và tiếng mẹ đẻ Tiếng mẹ đẻ có thể là tiếng Tamin, tiếng Hoa hoặc là tiếng Melayu rất được chú trọng Cách làm của Chính phủ Singapore thể hiện sự cố gắng nhằm gìn giữ và phát triển các giá trị văn hoá riêng của các DT sống trên lãnh thổ của quốc gia này Với một bối cảnh ngôn ngữ trong đó người Trung Quốc chiếm số đông, nhưng ngôn ngữ của các DTTS khác vẫn được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày và giảng dạy trong nhà trường mà không cản trở sự phát triển bền vững của xã hội Ngược lại, tình trạng đó lại làm tăng thêm nét văn hoá độc đáo của đất nước, đồng thời góp phần quan trọng cho quá trình bảo tồn và phát triển ngôn ngữ DT [14, tr 151]
Ở Tây Ban Nha, Chính phủ thiết kế chương trình giáo dục dành cho cộng đồng DTTS nhằm mục đích đưa tiếng DTTS xứ Catalan và xứ Basque vào trong giảng dạy cùng với tiếng Tây Ban Nha Ví dụ như chương trình ở xứ Catalan được thiết kế theo ba kiểu với các đặc điểm sau: (a) Dạy bằng tiếng Tây Ban Nha, còn tiếng Catalan được dạy như một môn học; (b) Dạy bằng tiếng Catalan, còn tiếng Tây Ban Nha được dạy như một môn học; (c) Tiếng Tây Ban Nha được sử dụng như một phương tiện dạy học chủ yếu, tiếng Catalan được dạy như một môn học và dần dần được dạy cho phần lớn các khoá học Như vậy, các DTTS trong vùng được học tập bằng cả ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ phổ thông Qua
Trang 19đó, cộng đồng DTTS nơi đây vừa bảo tồn được ngôn ngữ của DT mình
mà vẫn theo kịp sự phát triển của các DT đa số khác [14, tr 159]
Google- một công ty Internet tầm cỡ thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ đang thực hiện một dự án có tên “Những ngôn ngữ có nguy cơ biến mất” nhằm bảo
vệ hơn 3.000 ngôn ngữ thoát khỏi nguy cơ "tuyệt chủng" Trang web của dự
án có tên endangeredlanguages.com là nơi phối hợp trực tuyến nhằm bảo vệ tính đa dạng của ngôn ngữ trên thế giới Thông qua trang web này mọi người
có thể kiểm tra và chia sẻ nội dung về các ngôn ngữ có nguy cơ biến mất Ông Rissman- người thực hiện dự án cho biết người sử dụng có thể tải lên trang web này các đoạn video, âm thanh hay những văn bản về các loại ngôn ngữ hiếm gặp, đồng thời nhấn mạnh việc bảo vệ hơn 3000 ngôn ngữ có nguy cơ biến mất này chính là bảo vệ tính đa dạng của văn hóa Nó thể hiện sự tôn trọng những lớp người đi trước và cũng là sự khích lệ đối với thế hệ trẻ [28]
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, DT Việt Nam luôn phát huy tinh thần anh dũng, kiên cường, bất khuất, không cúi đầu trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào Cũng trong quá trình ấy, DT Việt Nam ý thức rất rõ ràng
về lòng tự hào, tự tôn DT, trong đó có việc bảo tồn, phát huy vốn ngôn ngữ, chữ viết riêng Có rất nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học, bài báo bàn về vấn đề ngôn ngữ và bảo tồn ngôn ngữ DTTS, có thể
kể đến một số công trình như sau:
Công trình “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc” của tác giả Nguyễn Văn Lộc (chủ biên) đã khẳng định: “Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá các DTTS không chỉ là nhu cầu, nguyện vọng của đồng bào DTTS mà còn là nhu cầu, nguyện vọng của mọi quốc gia, dân tộc trong xu thế phát triển bền vững hiện nay Trong điều kiện nền kinh
tế thị trường và giao lưu hội nhập toàn cầu hoá, văn hoá ngôn ngữ các DT bên cạnh việc tiếp thu được những yếu tố tích cực tiên tiến, cũng không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực làm suy giảm, tổn hại những giá trị, bản sắc vốn
có Trước thực tế đó, để bảo tồn, phát huy những giá trị ngôn ngữ, văn hoá của
Trang 20các DTTS, cần phải tiến hành triển khai đồng bộ các giải pháp: Về pháp chế, về
tổ chức quản lý, về chuyên môn, về giáo dục- đào tạo,…” [14, tr 747]
Khi nghiên cứu “Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu
số và vấn đề đặt ra cho giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường ở Việt Bắc”, tác giả Trần Trí Dõi và Nguyễn Văn Lộc nhận thấy rằng: Có dấu hiệu những người DT gắn liền với đô thị hóa giảm dần việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình Nói cách khác, kinh tế xã hội càng phát triển, sự mai một tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng DT càng lớn Bên cạnh đó, hiện nay lớp trẻ của cộng đồng
DT sử dụng tiếng mẹ đẻ không bằng những người đã ở tuổi trưởng thành Nếu tình hình này tiếp tục tiếp diễn, đến một giai đoạn nhất định, tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng sẽ bị mai một mà không thể tránh khỏi [5, tr 191]
Tác giả Trần Trí Dõi trong bài báo cáo “Chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam và giá trị của nó trong phát triển bền vững vùng lãnh thổ” cho rằng người DT sử dụng thành thạo tiếng phổ thông sẽ là nguồn nhân lực
có trình độ lao động cao hơn, có thu nhập xã hội cao hơn Người đồng thời sử dụng thành thạo tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ sẽ có đời sống văn hoá phong phú và đa dạng hơn Chính vì thế, ở Việt Nam, người DTTS có nhu cầu cao trong việc sử dụng cả tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ của mình Và đồng thời người ta cũng nhận ra vai trò nghiêng về chức năng “Phát triển” kinh tế- xã hội đối với tiếng phổ thông và ưu tiên về chức năng “Nâng cao giá trị văn hoá” cho việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình đối với người DT [4]
Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã thông qua “Đề án dạy tiếng Thái, Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến năm 2020”, do Sở GD – ĐT tỉnh Điện Biên thực hiện Đề án nhằm mục tiêu bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của DT Thái, Mông trên địa bàn tỉnh Điện Biên Theo đó sẽ hoàn chỉnh bộ chương trình và tài liệu dạy tiếng Thái, Mông; triển khai thực hiện chương trình dạy cho HSTH, trung học cơ
sở theo quy mô, nội dung và lộ trình; đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên dạy
Trang 21tiếng Thái, Mông phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu tiếng DT…Đề án thống nhất, đối với tiếng Thái sẽ sử dụng ngôn ngữ ngành Thái đen (Tay Đăm) và mẫu chữ Thái cổ; đối với tiếng Mông thì sử dụng ngôn ngữ ngành Mông đỏ (Mông Lềnh - Mông Hoa) và sử dụng mẫu chữ do Bộ GD-ĐT quy định Theo đánh giá của Ban dân tộc tỉnh Điện Biên việc triển khai đề án để bảo tồn, phát huy chữ viết, ngôn ngữ Thái, Mông là nhu cầu cấp thiết Vì vậy, ngoài yêu cầu có một bộ sách giáo khoa chuẩn, đòi hỏi nguồn giáo viên tham gia công tác giảng dạy phải được sàng lọc kỹ, hội tụ các yếu tố tâm huyết, yêu nghề, hiểu biết văn hóa DT [22]
Hội thảo ngôn ngữ học toàn quốc "Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về ngôn ngữ trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế" được tổ chức vào ngày 26,27/11/2009 đã đề cập tới vai trò, chức năng của ngôn ngữ DTTS trong đời sống của mỗi DT và trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá DT Hội thảo làm rõ một số vấn đề chính sau: Chức năng của các ngôn ngữ DTTS trong giao tiếp nội bộ DT; mối quan hệ giữa tiếng Việt và ngôn ngữ các DTTS tại vùng DTTS; việc bảo tồn và phát huy tiếng nói chữ viết các ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam [12]
Ngày 17 tháng 12 năm 2010, tại Hà Nội , Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội cùng với Trường Đại học Bansomdejchaopraya Rajabhat, Thái Lan phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế
"Bảo tồn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc phục vụ phát triển bền vững”, vấn
đề ngôn ngữ tại vùng DTTS được bàn luận sôi nổi tại hội thảo, trong đó có những nội dung đáng chú ý là: Tình hình đô thị hoá đang làm cho việc sử dụng tiếng DT giảm đi rõ rệt; xu hướng thanh niên DTTS không biết tiếng mẹ
đẻ ngày một tăng; khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh DT còn yếu, điều kiện học tập của học sinh DT còn gặp nhiều khó khăn; ngôn ngữ DTTS với tư cách là ngôn ngữ vùng ngày càng "mờ" thay vào đó là tiếng Việt [13]
Trang 22Bảo vệ ngôn ngữ các DT chính là bảo vệ bản sắc văn hóa DT, mất một ngôn ngữ là thế giới mất đi một phần đa dạng văn hóa nhân loại Hơn nữa, chính con người chịu sự tác động trực tiếp của hậu quả tiêu vong ngôn ngữ Mất ngôn ngữ là mất đi nét đặc thù của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng Mất ngôn ngữ có thể đưa đến những mất mát khác như gia đình bị tan vỡ, thất bại trong giáo dục nhà trường, xã hội bị xáo trộn, Các ngôn ngữ bị đe dọa tiêu vong chỉ xảy ra ở những cộng đồng có vị thế xã hội thấp, kém phát triển, nói
rõ hơn là những sắc dân rất cần tựa vào văn hóa truyền thống để sống còn và
để nói lên sự có mặt của mình ( bởi họ không có một nền văn minh khoa học,
kỹ thuật để phô trương) Do đó bảo vệ, duy trì các ngôn ngữ còn mang ý nghĩa nhân bản, nhân quyền
1.1.3 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và ngôn ngữ dân tộc
1.1.3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề DT và thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta ngay từ khi thành lập cho đến nay luôn coi vấn đề DT và xây dựng khối đại đoàn kết toàn DT có tầm quan trọng đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt Nam là một, DT Việt Nam là một, đồng bào các DT đều là anh em ruột thịt, là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các DT Người còn khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước luôn coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề DT là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng của từng DT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Chính sách DT là hệ thống các quan điểm chính trị của một giai cấp, đại diện là chính đảng và nhà nước của nó, để giải quyết mối quan hệ giữa các
Trang 23DT Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản của chính sách
DT đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện Trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc cơ bản này tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: Đoàn kết, bình đẳng giữa các DT thì từ Đại hội VI trở đi các nguyên tắc này
đã được xác định là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI,
VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X) [7]
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước, hơn 70 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách đúng đắn về vấn đề DT Đường lối chính sách của Đảng đã được thể chế hoá bằng Hiến pháp và các chính sách cụ thể của Chính phủ Điều 5 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 ghi rõ: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đoàn kết toàn dân, ngăn cấm mọi hành vi miệt thị chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, gìn giữ bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”[9] Điều này đã được khẳng định lại một lần nữa trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, qua đó chỉ rõ vị trí, quyền lợi, nghĩa vụ của các DT cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, nguyên tắc cơ bản về mối quan hệ giữa các DT và mục tiêu đưa DTTS đứng lên
Nghị quyết số 03/NQ- TƯ ngày 16/7/1998 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 8) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc DT cũng đã thể hiện sự nhất quán trong chính sách DT của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực văn hoá: “Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Trang 24Hơn 50 dân tộc trên đất nước ta đều có giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam
và củng cố thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em” [2, tr 18]
Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã nêu rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong
sự nghiệp cách mạng Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đi đôi với “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng”, kiên quyết “Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc” [6]
Ngoài ra còn có những văn bản quan trọng có liên quan đến miền núi
và vùng DT đã được ban hành: Nghị quyết Bộ Chính trị số 22- NQ/TƯ, (ngày 27/11/1989)- Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi; Nghị quyết số 23 Hội nghị Trung ương lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX (ngày 12/3/2003) về công tác DT trong thời kì đổi mới, tiếp tục thể hiện sự nhất quán trong đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vấn đề DT
Như vậy, chính sách DT của Đảng và Nhà nước mang tính toàn diện, tổng hợp, xuyên suốt các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến mỗi DT
và quan hệ giữa các DT trong cả cộng đồng quốc gia Phát triển kinh tế- xã hội của các DT là nền tảng để tăng cường đoàn kết và thực hiện quyền bình đẳng DT, là cơ sở để từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các DT Do đó, chính sách DT còn mang tính cách mạng và tiến bộ, đồng thời còn mang tính nhân đạo, bởi vì nó không bỏ sót bất cứ DT nào,
Trang 25không cho phép bất cứ tư tưởng khinh miệt, kỳ thị, chia rẽ DT; nó tôn trọng quyền làm chủ của mỗi người và quyền tự quyết của các DT Mặt khác, nó còn nhằm phát huy nội lực của mỗi DT kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả của các DT anh em trong cả nước
1.1.3.2 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề ngôn ngữ dân tộc
Việt Nam là quốc gia đa DT thống nhất gồm 54 DT, nhưng người Kinh chiếm gần 87% dân số cả nước, các DT còn lại chiếm khoảng 13% dân số Trước Cách mạng tháng Tám, tiếng Pháp giữ vị trí ngôn ngữ chính thức ở Việt Nam, được sử dụng trong hành chính và giáo dục Tiếng Việt tuy đã phát triển nhưng chỉ được dùng trong báo chí, văn học nghệ thuật Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức của Việt Nam Từ đây, tiếng Việt được sử dụng ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của người Việt Nam, từ công văn, giấy tờ hành chính
ở trung ương và địa phương đến giáo dục, văn hoá và khoa học, từ công sở, trường học đến toà án, quân đội đều sử dụng tiếng Việt Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ý thức rõ rằng "Những nhu cầu về kinh tế sẽ tự quyết định ra một ngôn ngữ chung cho toàn quốc, ngôn ngữ mà đa số người vì lợi ích liên hệ mậu dịch sẽ thấy
là có lợi nếu biết được ngôn ngữ đó" [26, tr 95]
Bên cạnh việc xác định vai trò ngôn ngữ phổ thông của tiếng Việt, Đảng và Nhà nước còn hết sức quan tâm đến ngôn ngữ của các DTTS, Đảng
và Nhà nước chủ trương tôn trọng tiếng mẹ đẻ của các DT, bảo đảm sự phát triển tự do và bình đẳng của tất cả các ngôn ngữ DT ở Việt Nam Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua ngày 9/11/1946, có viết:
– "Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình" (điều 15) [11]
– "Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước toà án" (điều 66) [11]
Trang 26Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1992 bổ sung thêm như sau:
– "Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình" (điều 5) [10]
Luật Phổ cập giáo dục tiểu học ban hành ngày 06/8/1991, khẳng định: – "Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học".(điều 4) [16]
Luật Giáo dục tiểu học ngày 10/12/1998 viết rõ hơn: "Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ" [15]
Trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục năm 2009, tại khoản 2, Điều 7 khẳng định: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ” [17]
Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ đều nhằm vào thực hiện ba vấn đề: Cải tiến và xây dựng chữ viết cho các DTTS, sử dụng tiếng nói và chữ viết DT sao cho thích hợp, hiệu quả, duy trì bảo vệ ngôn ngữ và văn hoá DT Quyết định của Hội đồng Chính phủ về chủ trương đối với chữ viết của các DT, số 53-CP ngày 22/02/1980 khẳng định vị trí, tiếng nói, chữ viết của các DTTS:
"Nhiều dân tộc thiểu số chưa có chữ viết có yêu cầu xây dựng bộ vần chữ riêng để có thể ghi tiếng nói của dân tộc mình Một số dân tộc thiểu số có
Trang 27chữ viết lối cổ muốn có chữ viết mới theo chữ cái Latin cho gần gũi với chữ phổ thông Những yêu cầu này cần được coi trọng, và từng bước giải quyết"
"Để việc dạy và học chữ dân tộc và chữ phổ thông được dễ dàng, nhanh chóng, thuận tiện cho cả đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào người Kinh muốn học chữ dân tộc, cần xây dựng mới hoặc cải tiến chữ viết dân tộc theo
bộ vần gần gũi với bộ vần chữ viết phổ thông” [23]
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 38 ngày 09/11/2004 về việc đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng tiếng DTTS đối với cán bộ công chức công tác ở vùng dân tộc miền núi chỉ rõ “Yêu cầu của công tác quản lý và phát triển kinh
tế xã hội, an ninh, quốc phòng đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức công tác ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số phải biết tiếng dân tộc để giao tiếp và
sử dụng trong công tác…đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, đặc biệt là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, xã, công chức nhà nước, sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an, quân đội công tác ở các vùng dân tộc, miền núi Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng và yêu cầu bắt buộc” [3]
Thực hiện Chỉ thị số 38 ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 24/01/2006, Bộ Giáo dục đã ban hành Quyết định số 03 về việc Ban hành Chương trình khung dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán
bộ, công chức công tác ở vùng DTTS Ngày 15/7/2010 Chính phủ đã ban hanh Nghị định số 82 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Thông tư liên tịch số 50, ngày 03/11/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Nội vụ – Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số
82 ngày 15/7/2010 của chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 28Quyết định số 124/2003/QĐ- TTg ngày 17/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án bảo tồn, phát triển văn hoá các DTTS Việt Nam cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dùng tiếng nói, chữ viết của các DTTS để phổ cập văn hoá thông tin, khoa học kĩ thuật: “Cùng với việc phổ cập tiếng Việt, cần sử dụng rộng rãi hơn tiếng nói, chữ viết của từng dân tộc trong việc truyền bá, giao lưu văn hoá, thông tin kinh tế, khoa học kĩ thuật, luật pháp trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số” [3, tr 408]
Có thể nói, quan điểm của Nhà nước ta về vấn đề ngôn ngữ của các DTTS trong quốc gia đa DT là rõ ràng và nhất quán Quan điểm ấy là đồng thời phát triển tiếng DT bên cạnh phát triển tiếng phổ thông Giá trị văn hoá truyền thống và giá trị sử dụng ngôn ngữ của một số DTTS trong tương lai có thể sẽ giảm đi, nhưng giá trị lịch sử của nó là mãi mãi Do đó, bảo tồn ngôn ngữ DT là bảo tồn kho báu vô giá của văn hoá các DTTS, của quốc gia, và cũng là bảo tồn văn hoá của nhân loại Chúng ta cần phải trân trọng và giữ gìn văn hoá, ngôn ngữ truyền thống của các DTTS ở Việt Nam trong bất kì điều kiện, ở thời đại nào
1.2 Những khái niệm công cụ
1.2.1 Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc
1.2.1.1 Khái niệm dân tộc
Cho đến nay, khái niệm DT được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được sử dụng phổ biến nhất:
Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau
bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc
và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của cư dân cộng đồng đó Theo nghĩa thứ nhất, DT được hiểu như “một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia
đa dân tộc” Với nghĩa hiểu này, Việt Nam gồm 54 DT hay 54 tộc người
Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước,
có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về
Trang 29sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh
tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Theo nghĩa thứ hai, “dân tộc đồng nghĩa với quốc gia dân tộc” [1, tr 202- 203]
Với nghĩa thứ nhất, DT là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai,
DT là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia DT Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm DT theo nghĩa thứ nhất, DT là một tộc người hay một DT trong một quốc gia đa DT
1.2.1.2 Khái niệm bảo tồn ngôn ngữ dân tộc
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì bảo tồn là “giữ lại
không để cho mất đi”[24, tr 39] Ngôn ngữ là “hệ thống những âm, những từ
và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau; hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo; cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất riêng”.[24, tr 688]
Theo quan niệm của ngành nhân học hoặc xã hội học, ngôn ngữ là một thành tố của văn hoá Nó là phương tiện sáng tạo và truyền tải văn hoá Mỗi
DT có thể sử dụng ngôn ngữ chung hoặc ngôn ngữ riêng của DT mình trong đời sống xã hội
Bảo tồn ngôn ngữ là lưu giữ lại vốn ngôn ngữ đã có Một DT nào đó, nếu ngôn ngữ của họ bị mai một thì nền văn hoá cũng sẽ bị mai một theo Ngôn ngữ DT của một cá nhân càng phong phú, năng lực văn hoá của cá nhân
ấy càng phát triển thì vốn văn hoá của cá nhân đó càng đa dạng Vậy là, ngôn ngữ DT ở mỗi cá nhân sẽ là phương tiện cho họ làm giàu thêm vốn văn hoá của mình Chính vì vậy, việc làm giàu ngôn ngữ của mỗi cá nhân trong cộng đồng sẽ góp phần quan trọng cho việc bảo tồn văn hoá của DT đó Ngôn ngữ DT giữ một vai trò quan trọng trong việc lưu giữ văn hoá truyền thống của DT
Hiện nay, trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển văn hoá, ngôn ngữ các DTTS có nhiều quan điểm khác nhau Dựa vào các quan điểm này, có thể
Trang 30phân ra làm hai nhóm quan điểm chính: Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và quan điểm bảo tồn kế thừa và phát triển
* Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn
Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn gồm những nội dung sau:
- Về mục đích: Bảo tồn toàn bộ những gì có thể bảo tồn được
- Về nguồn lực: Các nguồn di sản là căn cứ bất di bất dịch; các địa điểm di tích có căn cứ lịch sử nhất định của nó; các sản phẩm được xác định
và tạo ra trên cơ sở nguồn gốc của di sản
- Về tiêu chí lựa chọn di sản: Tiêu chí lựa chọn phụ thuộc vào bản chất của di sản Về nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn có thể quyết định một cách khách quan thông qua sự đồng thuận của tập thể Tính chân thực của di sản là yếu tố quyết định giá trị
- Về các sản phẩm thuyết minh cho di sản: Các địa điểm, đồ tạo tác được bảo tồn có thị trường và ý nghĩa toàn cầu, ổn định
- Về chiến lược bảo tồn: Có sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển, tăng việc sử dụng các sản phẩm được bảo tồn trong giai đoạn hiện thời phải phù hợp với công việc quản lý và nếu cần thiết phải giới hạn nhu cầu
Trong thực tế, quan điểm này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt
là các học giả trong lĩnh vực di sản văn hoá vật thể
* Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo của quá khứ dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay Trên thực tế, mỗi
di sản đều thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở xã hội đương thời, nó cần phát huy những mặt tích cực, loại bỏ những mặt còn hạn chế để phù hợp với những giá trị của xã hội hiện tại
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa có những đặc điểm sau:
- Về mục đích, không chỉ những đồ tạo tác, những toà nhà mà cả các bộ sưu tập và các di sản khác cũng được bảo tồn dựa vào kế thừa
Trang 31- Về tiêu chí lựa chọn, không chỉ phụ thuộc vào bản chất bên trong của
di sản mà còn phụ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài, không thuộc về bản chất của chúng
Bảo tồn trên quan điểm kế thừa không chỉ quan tâm đến hình thức mà còn quan tâm đến các chức năng của di sản
* Quan điểm bảo tồn và phát triển di sản văn hoá hiện nay
- Về mục đích: Có nhiều mục đích có thể xảy ra và trái ngược nhau Di sản là một sự lựa chọn có thể theo hoặc không theo, không có mục đích nào được xem là hoàn toàn đúng
- Về nguồn lực: Nhu cầu tạo ra nguồn lực Vì vậy, các nguồn lực không
có giới hạn Các di sản có cơ sở nguồn lực thay đổi Nguồn lực được tạo ra bởi nhu cầu của thị trường sản phẩm
- Về tiêu chí lựa chọn: Sự lựa chọn được xác định bởi thị trường, tức là phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài
- Về chiến lược bảo tồn: Không có sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển Kế hoạch bảo tồn di sản không tách rời khỏi các chiến lược phát triển khác Việc tăng cầu đối với sản phẩm phù hợp với tăng cung sản phẩm
Như vậy, quản lý một di sản không đơn thuần chỉ là tìm những biện pháp để bảo tồn nguyên vẹn di sản mà còn là quá trình xem xét quản lý di sản theo hướng khai thác dựa vào hoàn cảnh kinh tế- chính trị- xã hội và văn hoá nhất định
Sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với quá trình lao động xã hội, với điều kiện, trình độ phát triển của mỗi xã hội ở những thời kỳ nhất định Chính vì lẽ đó, người ta rất khó xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu
là yếu tố phát sinh trong quá trình phát triển Do đó, rất khó để bảo tồn ngôn ngữ theo quan điểm bảo tồn nguyên vẹn Bảo tồn trên cơ sở kế thừa có ưu điểm là giúp chúng ta lựa chọn những yếu tố hợp lý để đưa ra những giải pháp thúc đẩy ngôn ngữ phát triển phục vụ xã hội Tuy nhiên, trong ngôn ngữ để xác định đâu là yếu tố tích cực cần bảo tồn, đâu là yếu tố cần loại bỏ là vấn đề
Trang 32không dễ dàng Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên quan điểm nghiên cứu bảo tồn ngôn ngữ DTTS theo hướng tiếp cận quản lý di sản, coi nó như một yếu tố lịch sử, luôn biến động
* Về mặt kỹ thuật bảo tồn ngôn ngữ, có hai hướng chủ yếu sau:
- Bảo tồn trong trạng thái “tĩnh”: Tiến hành điều tra, sưu tầm, thu thập các ngôn ngữ theo quy trình khoa học nghiêm túc, lưu giữ chúng trong sách
vở, các ghi chép, trong các băng hình, băng tiếng Đây sẽ là căn cứ để các nhà khoa học có thể nghiên cứu, phục hồi các ngôn ngữ đã bị mai một
- Bảo tồn trong trạng thái “động”: Ngôn ngữ được bảo tồn trong chính đời sống cộng đồng Cộng đồng là nơi sản sinh ra các ngôn ngữ và nó sẽ là nơi tốt nhất để bảo tồn và phát triển ngôn ngữ
Như vậy, có thể hiểu bảo tồn ngôn ngữ dân tộc là lưu giữ lại, làm giàu thêm và phát huy vốn ngôn ngữ đã có của mỗi dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc
1.2.2 Bản sắc văn hoá dân tộc
1.2.2.1 Khái niệm văn hoá
Theo ước tính cho đến nay, trên thế giới có khoảng trên 400 định nghĩa
về văn hoá Tuy nhiên, mỗi học giả lại có cách tiếp cận vấn đề khác nhau nên thường đưa ra những quan niệm khác nhau về văn hoá
Thuật ngữ “văn hoá” trong ngôn ngữ phương Tây, như tiếng Anh (Culture); tiếng Nga (Kultura); tiếng Đức (kulur); đều bắt nguồn từ tiếng
La Tinh (Cultura) có nghĩa là trồng trọt, nuôi dưỡng, luyện tập, Về sau, cùng với sự phát triển của nhân loại thì hàm nghĩa của thuật ngữ này ngày càng được mở rộng
Thuật ngữ “văn hoá” chúng ta đang sử dụng hiện nay có gốc từ chữ Hán và đã được Việt hoá Theo nguyên gốc, văn hoá được ghép bởi hai từ văn
và hoá Văn để chỉ những con người có học vấn, văn vẻ, văn chương, Hoá để
Trang 33chỉ sự thay đổi một cách tự nhiên hay có chủ ý, sự biến hoá của vạn vật, sự giáo hoá của con người
Tuy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, song khái niệm văn hoá có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian, Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật, ) Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh ) Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ, ) Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hoà Bình, văn hóa Đông Sơn, )
Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những gì
do con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [19, tr 401]
Trong luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng Như vậy, có thể hiểu văn hoá là toàn bộ hệ thống giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo nên và tích luỹ được trong quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân với môi trường tự nhiên và xã hội loài người
1.2.2.2 Khái niệm bản sắc văn hoá dân tộc
Trang 34Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật”, tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó Trong thực tế, khi nói "bản sắc" thường là nói tới cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt nó với các
sự vật khác trong thế giới khách quan [21]
"Bản sắc" là một từ ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc" Theo đó,
"bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật;
"sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài Theo cách tiếp cận này khái niệm "bản sắc" được nhận thức trên cả 2 mặt: mặt bản chất bên trong và mặt biểu hiện bên ngoài và giữa hai mặt
đó có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, mặt bên trong phản ánh tính đồng nhất, bản chất của một lớp đối tượng sự vật nhất định và mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu, những sắc thái riêng của sự vật
để làm cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác
Thuật ngữ “bản sắc” thường được sử dụng gắn với văn hóa và DT Có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của
nó có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và biến đổi hơn
Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thì bản sắc văn hoá DT là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được DT sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo rất riêng của DT này so với DT khác Đây được coi
là “dấu hiệu khác biệt về chất” giữa DT này với DT khác Tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Venise, F.Mayor - nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra khái niệm văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh tính đặc
Trang 35thù của bản sắc văn hoá DT: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [20, tr 798]
Như vậy, có thể hiểu bản sắc văn hóa DT là tổng thể các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa DT, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá
trình lịch sử lâu dài của DT Các giá trị đặc trưng ấy mang tính trừu tượng và
tiềm ẩn Do vậy, muốn nhận biết nó, phải thông qua vô số các sắc thái văn
hóa, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy Nếu bản sắc văn hóa
là cái gì trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững, thì các sắc thái biểu hiện của nó thường tương đối cụ thể, bộc lộ và khả biến hơn
Cũng giống như bất kỳ những hiện tượng tự nhiên và xã hội khác, bản sắc văn hóa của một DT không ngừng vận động, phát triển, luôn tiếp thu, bổ sung những yếu tố làm phong phú thêm bản sắc, đồng thời gạn lọc, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, không thích hợp Nói đến bản sắc văn hóa DT hoàn toàn không có nghĩa là nói đến một cái gì đã trở thành khuôn mẫu, cố định, bất biến Trái lại, đây là một khái niệm động, luôn vận động, chuyển biến để
tự hoàn thiện, nâng cao
1.2.3 Khái niệm bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học
Trong luận văn này, chúng tôi nhìn nhận các hình thức bảo tồn ngôn ngữ DTTS ở góc độ là các biện pháp bảo tồn Như vậy, có thể hiểu bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học là những cách thức tác động cụ thể của giáo viên đến HS nhằm thực hiện mục tiêu bảo tồn ngôn ngữ DTTS đã đề ra
1.2.4 Bảo tồn ngôn ngữ DTTS thông qua quá trình dạy hoc
Ngôn ngữ nói riêng và những di sản văn hoá nói chung được sản sinh
ra trong đời sống cộng đồng Nếu như những giá trị văn hoá vật thể có thể lưu giữ trong các nhà trưng bày, viện bảo tàng,…thì ngôn ngữ cũng như các di sản văn hoá phi vật thể khác chỉ được bảo tồn ở chính nơi đã sinh ra nó, đó là đời sống cộng đồng
Trang 36Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của người Kinh, đồng thời là ngôn ngữ phổ thông của cả nước, được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, gia đình, nhà trường, các cơ quan tổ chức,…Còn ngôn ngữ DTTS được đồng bào DT
sử dụng chủ yếu trong cuộc sống hàng ngày Nó được sử dụng trong một số hoàn cảnh sau:
Trong gia đình, đồng bào DTTS dùng ngôn ngữ của DT mình để trao đổi về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày, các vấn đề xã hội phát sinh tác động đến cuộc sống gia đình Đồng thời, người DT còn sử dụng tiếng mẹ đẻ để thể hiện hay trao đổi tâm tư, tình cảm của mình với tự nhiên, với xã hội, với người khác và với chính bản thân mình Bên cạnh đó, gia đình cũng chính là nơi người DTTS giao tiếp hay tổ chức các hoạt động văn hoá truyền thống của DT mình Như vậy, gia đình là một trong những nơi mà ở đó tiếng mẹ đẻ của đồng bào DT được sử dụng nhiều nhất
Tiếng mẹ đẻ không chỉ được đồng bào DTTS sử dụng trong gia đình
mà còn được dùng trong những hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất cộng đồng bằng hữu Nói một cách cụ thể, đây là lúc người DTTS giao tiếp với nhau khi đi chợ, trao đổi buôn bán, trong lúc những bà con thuộc các tộc người khác nhau trao đổi với nhau Hoàn cảnh giao tiếp này có phần giống với hoàn cảnh giao tiếp trong gia đình nhưng nó khác với hoàn cảnh giao tiếp
ấy bởi phạm vi xã hội rộng lớn hơn Tuy nhiên, dù phạm vi giao tiếp có rộng hơn, có tính xã hội hơn thì môi trường giao tiếp này vẫn mang tính chất nội bộ tộc người là chủ yếu
Bên cạnh việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong gia đình, trong những hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất cộng đồng bằng hữu, người DTTS còn dùng tiếng mẹ đẻ trong các cuộc họp thôn bản Khi cán bộ thôn bản trình bày những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các vấn đề cần giải quyết của thôn bản bằng tiếng phổ thông hay tiếng DTTS thì đồng bào trao
Trang 37đổi, bàn luận với nhau bằng tiếng mẹ đẻ Khi trình bày ý kiến, quan điểm của mình trong cuộc họp, họ cũng thường nói tiếng mẹ đẻ
Người DTTS còn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí,…Hàng năm, đồng bào DT tổ chức rất nhiều lễ hội như: Lễ hội Lùng Tùng (Lồng Tồng- Xuống đồng), lễ hội Lượn hai, Phài Lừa,…Mỗi
lễ hội thường được chia làm hai phần chính: Phần lễ với những nghi lễ cúng bái hết sức trang nghiêm; phần hội với các trò chơi dân gian như đánh quay, đánh yến, ném còn,…hay tổ chức ca hát: hát sli, lượn, sình ca,…Tiếng mẹ đẻ
là phương tiện giao tiếp chủ yếu của bà con DTTS khi tham gia vào các lễ hội của DT mình
Ngoài ra, tiếng mẹ đẻ cũng được sử dụng trong đám cưới, đám ma,…của đồng bào DT
Như vậy, tiếng mẹ đẻ được sử dụng chủ yếu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người DT Tuy nhiên, mức độ và phạm vi của việc sử dụng của mỗi người, mỗi vùng là khác nhau, bà con ở vùng thị trấn, ven đường quốc lộ,…sẽ sử dụng ít hơn bà con sống ở vùng sâu, vùng xa
Từ những điều đã nêu trên có thể thấy, đời sống cộng đồng không chỉ
là nơi sản sinh ra ngôn ngữ DTTS mà còn là nơi tốt nhất để bảo tồn và phát huy
nó trong đời sống xã hội Bảo tồn ngôn ngữ DTTS phải được tiến hành trong cuộc sống thường ngày của người DTTS và do chính người DTTS thực hiện
Bảo tồn ngôn ngữ DTTS không chỉ được thực hiện thông qua hoạt động sống mà còn được thực hiện thông qua quá trình dạy học của nhà trường
Trước hết, ở chương trình chính khoá, ngôn ngữ DTTS được đưa vào chương trình với 2 hình thức: Dạy như một chuyển ngữ (dạy song ngữ) và dạy như một môn học Đối với hình thức dạy như một chuyển ngữ, trẻ em đến trường được học hoàn toàn bằng tiếng mẹ đẻ, sau đó chuyển dần sang học tiếng Việt đối với một số môn học, tiếng mẹ đẻ tiếp tục được dạy cho tới cuối cấp học Hoặc sử dụng tiếng mẹ đẻ như một phương tiện hỗ trợ quá trình học
Trang 38tiếng việt nói riêng và quá trình học tập nói chung Trẻ em DTTS bao giờ cũng học nói tiếng DT mình trước hết bởi môi trường ngôn ngữ xung quanh đứa trẻ luôn là tiếng DT Mặc dù trẻ đã được làm quen với tiếng Việt ở lớp mẫu giáo lớn nhưng khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ còn nhiều hạn chế Khi vào lớp 1, tuy các em chưa thông thạo tiếng Việt nhưng vì chỉ học vần nên số lượng từ tiếng Việt cần dạy, cần giải thích không nhiều Nhưng đến lớp 2, lớp 3 đã có các bài học, bài tập đọc nên số lượng từ tiếng Việt tăng lên
Số lượng từ cần dạy và giải thích rất lớn Để khắc phục khó khăn này, trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ của các em để giảng, đối chiếu giúp các em hiểu được, nắm được bài Đối với HS lớp 4, lớp
5, giáo viên có thể giảng dạy bằng tiếng DT trong một vài tiết học của một số môn học như: Lịch sử, địa lý, đạo đức,… nhất là khi bài học có nội dung nói
về lịch sử, phong tục, tập quán, truyền thống,… của các DTTS hay nơi các em đang sống Bên cạnh đó, giáo viên có thể lồng ghép nội dung bảo tồn ngôn ngữ DTTS vào những bài học có liên quan, đặc biệt là phần liên hệ với thực tiễn và với bản thân Qua đó giúp HS nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo tồn ngôn ngữ DTTS
Ở bậc tiểu học, ngôn ngữ DTTS đã được đưa vào giảng dạy như một môn học Bộ chữ DTTS được đưa vào dạy học trong trường học là bộ chữ DTTS đang sử dụng, đảm bảo một trong hai tiêu chí: Chữ viết đã xuất hiện từ lâu đời và được cộng đồng thừa nhận là chữ viết của DT mình, thường gọi là chữ cổ truyền; các chữ viết đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn Với các DTTS có nhiều bộ chữ, lựa chọn bộ chữ đã được sử dụng rộng rãi hơn trong đời sống hàng ngày để dạy trong trường học Chương trình và sách giáo khoa tiếng DTTS do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn Phương pháp, kế hoạch dạy tiếng DT được quy định trong từng chương trình tiếng DTTS cụ thể do Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định Giáo viên tham gia giảng dạy các chương trình dạy tiếng DTTS phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với
Trang 39giáo viên dạy cùng cấp học Ngoài ra, cần có chứng chỉ đào tạo giáo viên dạy tiếng DTTS Năm học 2008- 2009, cả nước có 17 tỉnh, thành phố thực hiện việc dạy học tiếng DTTS trong trường phổ thông như: Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ, Đắc Lắc, Gia Lai, Lào Cai, Yên Bái…Việc dạy tiếng DTTS được triển khai ở 646 trường, 4.518 lớp với 105.638 học sinh Trong năm học 2009- 2010, cả nước có 1.223 giáo viên dạy tiếng DTTS, hầu hết đều là người DTTS [29]
Ở chương trình ngoại khoá, ngôn ngữ DTTS được sử dụng trong các hoạt động như:
Hội thi, nhân dịp các ngày lễ lớn trong năm nhà trường thường tổ chức các hội thi như: văn nghệ; thể dục, thể thao; trò chơi dân gian;… Khi tổ chức những hoạt động này thầy cô giáo luôn khuyến khích và tạo điều kiện để HS DTTS được sử dụng tiếng mẹ đẻ Điều đó giúp các em thấy tự tin, thoải mái khi tham gia hoạt động
Vào giờ ra chơi của một số ngày nhất định, loa phát thanh của nhà trường phát những bài hát thiếu nhi mà các em yêu thích Những bài hát đó vừa có của người Kinh, vừa có của người DTTS được hát bằng tiếng việt hay tiếng DTTS Việc phát các bài hát vào giờ ra chơi không chỉ giúp các em thư giãn sau những tiết học căng thẳng mà còn tạo điều kiện để các em biết thêm nhiều ca khúc mới và thêm yêu lời ca, tiếng hát của DT mình
Ngoài những hoạt động nêu trên, nhà trường còn tổ chức một số hoạt động khác như: Tham quan, dã ngoại; múa hát tập thể;….Khi tham gia vào các hoạt động này, HS DTTS có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ của DT mình để giao tiếp
Như vậy, trong những năm đầu của bậc tiểu học, khi đến trường, một
số trẻ em DTTS vẫn thường dùng tiếng mẹ đẻ làm phương tiện giao tiếp Các em sử dụng tiếng DT mình để học bài, để trao đổi tâm tư, tình cảm với bạn bè, thầy cô giáo,…Như vậy, trường học là một trong những hoàn cảnh
Trang 40giao tiếp sử dụng tiếng DTTS Do đó, nó cũng là nơi thuận lợi cho việc lưu giữ và phát huy ngôn ngữ DTTS
1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo tồn ngôn ngữ DTTS
Việt Nam là một quốc gia đa DT thống nhất với 54 DT Mỗi DT có nền văn hoá và ngôn ngữ riêng của mình hợp thành văn hoá DT Việt Nam Cũng như văn hoá và ngôn ngữ của người Kinh và các DTTS khác, văn hoá và ngôn ngữ của đồng bào DTTS Đông Bắc luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hoá, ngôn ngữ DT Việt Nam, làm cho kho tàng văn hoá, ngôn ngữ của cộng đồng ngày càng phong phú, đa dạng
Văn hoá và ngôn ngữ các DTTS là thành tựu sáng tạo trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, là sự ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội
để tồn tại và phát triển của đồng bào các DT Do vậy, văn hoá và ngôn ngữ
DT có vai trò quan trọng trong việc nhận biết, khám phá nguồn gốc của từng tộc người nói riêng, góp phần tạo nên những cứ liệu để tìm hiểu, nghiên cứu nguồn gốc quốc gia DT nói chung
Giữ gìn và phát triển ngôn ngữ DTTS giúp đồng bào có thêm hiểu biết
về cội nguồn của DT, có trình độ nhận thức để cảm nhận, khám phá cũng như khai thác, sử dụng các giá trị của nền văn hoá truyền thống của DT mình
Bảo tồn ngôn ngữ DTTS có tác dụng giáo dục quan trọng và ý nghĩa thiết thực trong giải thích và chinh phục tự nhiên, khám phá và xây dựng cuộc sống Đây là cơ sở để đồng bào DTTS thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội khu vực miền núi
Kho tàng văn hoá của các DT chứa đựng rất nhiều bài học, kinh nghiệm quý giá về việc dựng nước và giữ nước, kinh nghiệm sản xuất, phong tục, tập quán, lối sống,… của từng tộc người Trong đó, hệ thống luật tục của tộc người có vai trò giáo dục và cố kết cộng đồng sâu sắc, có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết các mâu thuẫn thường nhật của con người, bình ổn cuộc sống, bồi dưỡng ý thức và đạo đức con người Một khi luật tục của đồng bào