17 Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP DẠY ĐỌC - HIỂU THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ LOẠI HÌNH ..... Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng t
Trang 1
(TƯ LIỆU KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TÂY NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2016
Trang 2(TƯ LIỆU KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TÂY NINH)
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2016
Trang 3Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Lê Thị Hồ Quang, người đã định hướng cho tôi trong việc lựa chọn đề tài, đồng thời đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, Đại học Vinh, đặc biệt là các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô trong tổ Phương pháp giảng dạy đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành được luận văn này
Xin được cám ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp, các em học sinh và người thân trong gia đình đã quan tâm, khích lệ, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tâp và nghiên cứu
Xin được tri ân tất cả!
Tây Ninh, tháng 6 năm 2016 Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Kim Chi
Trang 4Cách chú thích tài liệu trích dẫn: Số thứ tự tài liệu đứng trước,
số trang đứng sau Ví dụ: [28; 12] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo là 28, nhận định trích dẫn nằm ở trang 12 của tài liệu này
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi tài liệu khảo sát 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Những đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Những cơ sở lý luận 7
1.1.1 Khái niệm tích cực và phương pháp dạy học tích cực 7
1.1.2 Vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại và loại hình 8
1.2 Khái niệm thơ trữ tình và đặc điểm phần thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT 10
1.2.1 Thơ trữ tình - khái niệm và đặc trưng thể loại, loại hình 10
1.3 Thực tiễn của việc dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại theo đặc trưng thể loại và loại hình (trên tư liệu nghiên cứu, khảo sát việc dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại ở một số trường THPT thuộc địa bàn thành phố Tây Ninh) 15
1.3.1 Về quan điểm, nhận thức của GV và HS 15
1.3.2 Những vấn đề và yêu cầu đặt ra với việc dạy học đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại ở trường THPT hiện nay 17
Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP DẠY ĐỌC - HIỂU THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ LOẠI HÌNH 20
Trang 62.1.1 Giới thuyết khái niệm 20
2.1.2 Một số định hướng dạy đọc - hiểu Thơ mới 1932 - 1945 theo đặc trưng thể loại và loại hình 21
2.1.3 Một số biện pháp dạy đọc - hiểu Thơ mới 1932 - 1945 theo đặc trưng thể loại và loại hình 25
2.2 Định hướng và biện pháp dạy đọc - hiểu thơ Cách mạng 1945 - 1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình 31
2.2.1 Giới thuyết khái niệm 31
2.2.2 Một số định hướng dạy đọc - hiểu phần thơ Cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình 32
2.2.3 Một số biện pháp dạy đọc - hiểu thơ Cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình 37
2.3 Định hướng và biện pháp dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam sau 1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình 45
2.3.1 Giới thuyết khái niệm 45
2.3.2 Một số định hướng dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam sau 1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình 46
2.3.3 Một số biện pháp dạy đọc - hiểu phần thơ Việt Nam sau năm 1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình 48
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Mục đích và yêu cầu của hoạt động thực nghiệm sư phạm 59
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 59
3.2 Kế hoạch thực nghiệm 60
3.2.1 Thời gian thực nghiệm 60
Trang 73.2.4 Quy trình thực nghiệm 61
3.3 Thiết kế giáo án bài học TN 62
3.3.1 Giáo án thực nghiệm 1: Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử (SGK 11, tập 2) 62
3.3.2 Giáo án thực nghiệm 2: Tây Tiến - Quang Dũng (SGK 12, tập 1) 72
3.3.3 Giáo án thực nghiệm 3: Đàn ghi ta của Lor-ca - Thanh Thảo (SGK 12, tập 1) 83
3.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 92
3.4.1 Tiêu chí đánh giá 92
3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía GV 93
3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía HS 93
3.4.4 Đánh giá chung 94
3.5 Kết luận thực nghiệm 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngữ văn là một trong những bộ môn có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống các môn học của nhà trường và cũng là một trong những bộ môn luôn đứng trước yêu cầu đổi mới nhiều mặt (từ nội dung, chương trình, SGK đến phương pháp dạy học) để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn xã hội Đặc biệt, đối với môn Ngữ văn, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học càng trở nên cấp thiết bởi đây là một môn học có tính đặc thù Cần có những định hướng đổi mới phương pháp dạy học tích cực, phù hợp, đem lại hiệu quả cho bộ môn này
1.2 Thơ trữ tình Việt Nam hiện đại chiếm một số lượng đáng kể trong chương trình Ngữ văn THPT Do đặc trưng của thể loại, thơ trữ tình có khả năng phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu, lại thường có dung lượng hàm súc, ngắn gọn, dễ cảm, dễ thuộc Mỗi loại hình thơ lại mang những đặc thù riêng Do đó, dạy học thơ trữ tình nói chung, thơ trữ tình Việt Nam hiện đại nói riêng, là một hoạt động đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của giáo viên và học sinh
1.3 Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay chưa có tài liệu nào trực tiếp bàn về việc dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình Vì những lý
do trên đây, chúng tôi quyết định chọn Dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình (tư liệu khảo sát trên địa bàn thành phố Tây Ninh) làm đề tài nghiên cứu của
luận văn
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề phương pháp dạy học văn nói chung và dạy học văn bản thơ Việt Nam hiện đại nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Sau đây chúng tôi xin điểm qua những công trình nghiên cứu chủ yếu
Trước hết là công trình Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại
thể (1971) của nhóm tác giả Trần Thanh Đạm (chủ biên), Đàm Gia Cẩn,
Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai Công trình này đã giới thiệu được một số kiến thức cơ bản nhất về thể loại văn học chủ yếu trong chương trình Ngữ văn ở bậc THPT Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất những biện pháp, phương pháp dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại khá cụ thể và chi tiết Trong dạy học thơ Việt Nam hiện đại, theo các tác giả, cần chú ý đến đặc trưng của thơ, mạch cảm xúc chủ đạo của nhân vật trữ tình trong thơ: “Trong quá trình phân tích, thật ra không phải bao giờ cũng có thể tiến hành phân tích được cùng một lúc vừa hình vừa nhạc của bài thơ mà nhiều lúc phải làm cái trước cái sau, nhưng điều cần thiết là từ sự phân tích đó, phải tổng hợp lại làm cho hình tượng toàn đoạn hay toàn bài là một cái gì đó hữu cơ, hoàn chỉnh và qua sự phân tích đó, hình tượng thơ trở nên sâu sắc hơn, sáng tỏ hơn trong cảm thụ và nhận thức của HS” [11; 87]
Công trình thứ hai là Phương pháp dạy học văn (1988) của nhóm tác
giả gồm Phan Trọng Luận (chủ biên), Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt soạn và được Hội đồng thẩm định của Bộ giáo dục cho phép dùng chung cho tất cả các trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm trong cả nước Công trình này cũng đóng vai trò mở đường cho các công trình nghiên cứu về vấn đề phương pháp dạy học văn một cách tổng thể, toàn diện về phương pháp dạy học văn: “Đối với thơ trữ tình mà lại loay hoay phân tích cốt truyện, nhân vật, biến thơ thành một tác phẩm văn xuôi Đến với bài thơ
Trang 10trữ tình mà lại coi nhẹ, bỏ qua hình tượng cảm xúc, nhân vật trữ tình thì nhất định người đọc không thể tiếp nhận được sáng tác của nhà thơ Cho nên có được những năng lực nói trên, nhưng khi đi vào từng loại thể lại phải có những năng lực nhận diện loại thể và khả năng vận dụng thi pháp từng loại thể vào việc chiếm lĩnh tác phẩm văn học” [27; 127]
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh trong cuốn Thi pháp học và
vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường đã chỉ ra một số yếu tố thi pháp
thơ và gợi dẫn phân tích văn bản thơ từ góc nhìn của thi pháp học: “Nếu nói văn học phản ánh hiện thực thì hiện thực trong thơ trữ tình chủ yếu là hiện thực tâm hồn của chính nhà thơ, người tạo ra văn bản Đây chính là sự khác biệt căn bản giữa phương thức tự sự và trữ tình: Tự sự chủ yếu là kể chuyện ngoài đời (khách thể), trữ tình chủ yếu để bày tỏ, bộc lộ cảm xúc của chủ thể (…) Đối với thơ trữ tình, một thể loại mang tính chủ quan đậm nét, giàu nhạc tính, và có sự tham dự đáng kể của yếu tố vô thức, thì vấn đề cảm thụ, vấn đề đọc, nhất là đọc thành tiếng phải được quan tâm trước nhất trong dạy và học văn Quá trình ấy cũng phù hợp với quy luật nhận thức có tính biện chứng trong nhận thức nói chung” [24; 99]
Tác giả Nguyễn Viết Chữ, trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm
văn chương (theo loại thể) đã trình bày một số phương pháp, biện pháp dạy
học tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể, trong đó có thơ Việt Nam hiện đại Theo tác giả, khi dạy tác phẩm văn chương nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nói riêng, cần phải xác định được “chất của loại trong thể” Nếu xác định sai thể loại sẽ khiến GV khi dạy rất lúng túng, tựa như “mở nhầm cửa, khiến người dạy, người học không đến được hành lang đầy châu báu” [6; 94]
Cuốn Thơ mới trong trường phổ thông của tác giả Phan Huy Dũng, Lê
Huy Bắc là một công trình nghiên cứu công phu và hữu ích trong việc giảng
Trang 11dạy các tác phẩm Thơ mới trong nhà trường Trong cuốn sách này, các tác giả biên soạn theo chương trình tích hợp của SGK hiện hành, bao gồm các tác phẩm Thơ mới được tuyển chọn trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT Ngoài phần tổng quan Thơ mới 1932 - 1945, giới thiệu chung về Thơ mới và các đặc trưng cơ bản của Thơ mới, cuốn sách còn có sự đóng góp đáng kể trong việc tiếp cận các tác phẩm Thơ mới trong SGK Ngữ văn THPT, gồm phân tích, bình giảng tác phẩm có trong chương trình
SGK và SGV Ngữ văn vừa là công cụ để dạy học, vừa là tài liệu tham khảo rất bổ ích đối với chúng tôi Bộ SGK Ngữ văn chương trình chuẩn do tác giả Phan Trọng Luận tổng chủ biên và bộ SGK Ngữ văn nâng cao do tác giả Trần Đình Sử tổng chủ biên đã có nhiều thay đổi hơn so với bộ SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000 Bộ SGK Ngữ văn đã giúp ích rất nhiều cho người dạy và người học đi sâu vào phân tích tác phẩm bằng những câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài, có mục yêu cầu cần đạt và mục ghi nhớ trong SGK Phần hướng dẫn học bài giúp HS định hướng và tiếp cận bài học Phần yêu cầu cần đạt giúp GV xác định được trọng tâm của bài học Những phương pháp này rất cụ thể, tuy nhiên đây là phương pháp cho mỗi tác phẩm, chứ không phải là những phương pháp luôn có tính bao quát Ngoài ra, còn có những tài liệu tham khảo, thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, 11, 12 của Nguyễn Văn Đường, các sách học tốt, tài liệu chuẩn kiến thức kỹ năng,… Tuy nhiên những công trình này chỉ dừng lại ở mức khám phá, phân tích một tác phẩm, không đưa ra được phương pháp dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT
Ngoài ra, những công trình nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Thị
Tiểu Phượng (2011), Vận dụng tri thức lí luận văn học trong dạy đọc - hiểu
thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông; Nguyễn Thị Thanh Lâm (2012), Dạy đọc hiểu thơ trữ tình hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo
Trang 12hướng tích cực hóa hoạt động của HS,… là những công trình nghiên cứu ứng
dụng việc dạy đọc - hiểu thơ trữ tình hiện đại ở trường trung học phổ thông cũng khá có ý nghĩa và giá trị
tài liệu nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ về hoạt động dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình để phát huy sự sáng tạo, ý thức tự học cho HS
Vì vậy khi lựa chọn nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ nhằm tạo sự hứng thú cho HS trong việc khám phá tác phẩm và góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có những nhiệm vụ chính sau đây:
- Chỉ ra những cơ sở khoa học của hoạt động dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT
- Đề xuất những nghiên cứu có tính định hướng và có tính khả thi về việc dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình
- Thực nghiệm sư phạm
4 Phạm vi tài liệu khảo sát
Do tính chất của đề tài, chúng tôi sẽ chủ yếu tập trung tìm hiểu, khảo sát việc dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn
THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Xuất xứ từ đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, luận văn được
tiến hành với các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp thống kê - phân loại
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra - phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đi sâu tìm hiểu vấn đề dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Định hướng và biện pháp dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện
đại trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại và loại hình
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Những cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm tích cực và phương pháp dạy học tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội đã là củng cố một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
1.1.1.1 Về mặt thuật ngữ, theo tiếng Latinh, tích cực là actives, được
hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất: Tích cực là trạng thái hoạt động, khi tính tích cực gắn liền với hoạt động của chủ thể Thứ hai: Tính tích cực bao hàm tính chủ động có ý thức của chủ thể
Nhìn chung, tính tích cực là một phẩm chất đáng quý của con người trong cuộc sống hàng ngày và trong đời sống xã hội, nó thể hiện sự chủ động
và sáng tạo của chủ thể trong cách tiếp cận và ảnh hưởng tới môi trường xung quanh nhằm hướng tới hiệu quả cao trong lĩnh vực hoạt động Tích cực chính
là phát huy khả năng tự chủ của người học, là một bước “dân chủ hóa” trong giáo dục nhà trường hiện nay
1.1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức
Trang 15của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạy học theo phương pháp thụ động Nhìn chung thì tính tích cực học tập được thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao như sau:
Bắt chước: HS sẽ gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy cô và của bạn bè
Tìm tòi: HS thì độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề
Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
Trong dạy học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, từ đó chủ động hơn để đạt các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp học, HS hoạt động là chính, GV đóng vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS Lúc này đòi hỏi người dạy phải có trình
độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV
1.1.2 Vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
và loại hình
Thể loại văn học là một hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học Tác phẩm văn học nào cũng có một chỉnh thể, có một thể cấu tạo thể thức ngôn từ nhất định Các hình thức cá biệt ấy hết sức đa dạng, song giữa các khác biệt
Trang 16ấy lại thấy có những đặc điểm gần gũi nhau về ngôn từ, hình tượng, cấu tạo hình thành nên những loại nhất định Đó là những nét tương đồng loại hình làm nên thể loại văn học Theo một nhà nghiên cứu, “Thể loại cho thấy phương thức và cách thức chiếm lĩnh đời sống, thể hiện quan hệ thẩm mỹ của nhà văn đối với hiện thực Thể mang đặc trưng của loại Các thể không cùng loại dĩ nhiên là rất khác nhau Sự khác nhau này thể hiện trên nhiều phương diện hoặc ở hình thức lời văn, hoặc ở dạng lượng ngôn từ, hoặc ở nội dung cảm hứng Thể loại văn học thực sự mang trong mình nó sự thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống Không thể xem thể loại chỉ như là yếu tố hình thức Mỗi thể loại có chức năng, nội dung và thi pháp riêng (…) Thể loại văn học là nơi thể hiện rõ nhất đặc trưng loại hình của văn học Nhưng loại hình văn học có một hệ thống thể loại riêng Có thể thấy đây chính là phương diện phân biệt rõ nhất hai loại hình văn học trung đại và hiện đại” [1; 115]
Dựa theo những tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân thơ ra nhiều loại (loại hình) tác phẩm khác nhau Chẳng hạn, theo tiêu chí lịch sử - loại hình, người ta có thể phân loại thành các loại hình thơ dân gian, thơ trung đại, thơ hiện đại và thơ hậu hiện đại; theo phương thức phản ánh, có thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tình Dựa vào thể luật có thể chia ra thơ cách luật và thơ
tự do Xét về mặt gieo vần, có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần Hoặc phân loại theo nội dung cảm hứng như thơ trữ tình, thơ triết lí
Trong dạy học văn bản văn học ở phổ thông, nắm vững được đặc trưng thể loại và loại hình sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi để HS có thể khám phá
có hiệu quả giá trị, ý nghĩa tác phẩm Từ đó, giúp HS biết cách phân biệt về thể loại, tránh cách hiểu sai lầm, lệch lạc về tác phẩm Xa rời bản chất loại thể của tác phẩm chính là xa rời tác phẩm cả về linh hồn và thể xác Chính vì việc xác định loại, thể là vấn đề mấu chốt trong việc dạy học tác phẩm văn
Trang 17chương Khi đi vào tìm hiểu một tác phẩm, chúng ta cần xác định loại thể, xác định “chất của loại” trong thể trong tác phẩm
Trong mỗi một loại hình thơ, nhà thơ thường sử dụng những phương thức chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau, các phương thức ấy đều ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của con người Từ đó làm cho tác phẩm bao giờ cũng có sự chặt chẽ, thống nhất về đề tài, cảm hứng, hình thức kết cấu và hình thức lời văn, đem lại hoạt động nhận thức khác nhau cho con người Nếu trong quá trình dạy học, chưa nắm được đặc trưng loại hình thì các phương pháp, biện pháp dạy học sẽ không đem lại hiệu quả mong muốn
1.2 Khái niệm thơ trữ tình và đặc điểm phần thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT
1.2.1 Thơ trữ tình - khái niệm và đặc trưng thể loại, loại hình
1.2.1.1 Khái niệm thơ trữ tình
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ trữ tình là “thuật ngữ chỉ chung
cho các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học” [44, 312]
1.2.1.2 Đặc trưng thể loại thơ trữ tình
Đặc trưng cơ bản nhất của thơ trữ tình đó chính là sự thể hiện trực tiếp của chủ thể trữ tình hay còn gọi là nhân vật trữ tình Thơ trữ tình có các đặc trưng cơ bản như tính chủ quan, tính cá thể và tính hàm ẩn, khêu gợi
Trang 18Trong tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, về số phận của các nhân vật Còn trong tác phẩm thơ trữ tình thì khác Có thể nói, tính chủ quan là đặc trưng nổi bậc nhất của thơ trữ tình Nhà triết học, mĩ học Đức G Hegel cũng khẳng định: “Nội dung của thơ trữ tình là cái chủ thể cá nhân” Tính chủ quan chi phối tới mọi phương diện nghệ thuật của thơ trữ tình từ nội dung cho tới hình thức thể hiện và tạo nên mối quan hệ biện chứng chặt chẽ giữa các yếu tố cấu thành nên tác phẩm Ví dụ trong một bài thơ, không chỉ xuất hiện những cảnh thiên nhiên, hay một mối tình thơ mộng nào đó mà còn có hình tượng một con người đang suy tư về cuộc sống Trong thơ trữ tình, chức năng chính của các hệ thống sự kiện là dựng lại các đối tượng để chủ thể bộc lộ quá trình cảm xúc và suy tưởng của chính mình Như vậy, từ những biểu hiện trực tiếp sự suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm thơ trữ tình
Nói đến thơ cũng là nói đến cái tôi của nhà thơ, nói đến một tạng chất tâm hồn, một kiểu phản ứng và thể hiện cảm xúc thẩm mĩ mang tính cá thể, cá biệt trước thực tại của mỗi một tác giả trước tác phẩm của mình Nói đến cái tôi là nói đến sự đánh giá và lí giải của hiện thực mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ nhưng trong đó cái tôi không chỉ thể hiện ý thức của một cá nhân mà còn là đại diện cho ý thức xã hội nhất định Cái tôi trữ tình trong thơ thường được khách quan hóa và thể hiện một cách tập trung nhất qua hình tượng nhân vật trữ tình Đó chính là tác giả, là người trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng, cảm xúc trong tác phẩm thơ trữ tình Nhân vật trữ tình không có hành động, lời nói cụ thể, trực tiếp như nhân vật tự sự và kịch nhưng nhân vật trữ tình lại
cụ thể trong cách cảm và cách nghĩ
Thơ thường nói bằng biểu tượng, đó chính là những hình ảnh tượng trưng Trong thơ cái ý nghĩa của tính thơ là ý nghĩa ngoài lời, ngoài hình ảnh nhưng tất cả những cái đó là do chính lời và hình ảnh khêu gợi nên người ta
Trang 19gọi đó là “ý tại ngôn ngoại” Chính vì vậy, nhiều người quan niệm rằng thơ thường không nói lên những điều mà nó viết ra, ở những khoảng trống, khoảng lặng giữa các câu chữ trong câu
Nói đến thơ trữ tình là một phương thức phản ánh đời sống và một cách
tổ chức văn bản đặc thù Ở thơ nổi lên tính chủ quan màu sắc, cảm xúc và ngôn ngữ giàu nhạc tính
1.2.1.3 Một số loại hình thơ trữ tình
Tùy theo những tiêu chí phân loại khác nhau ta có thể phân ra nhiều loại hình thơ khác nhau như dân gian (ca dao), thơ trung đại và thơ hiện đại,… Trong đó, ca dao là một bộ phận nằm trong văn học dân gian, kết quả sáng tạo của tập thể nhân dân lao động, xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn học Có lẽ ban đầu, bộ phận thơ này cũng kết hợp với nhiều loại hình nghệ thuật khác như nhạc, vũ và các hoạt động diễn xướng Còn thơ cổ điển phương Đông nói chung, thơ Việt Nam nói riêng là loại hình thơ được hình thành trong thời kì trung đại (cụ thể ở Việt Nam nó được hình thành từ thế kỉ
X đến hết thế kỉ XIX) Nhìn chung, thơ cổ điển Việt Nam bị chi phối đậm nét bởi hệ ý thức phong kiến, học thuyết Nho giáo và các tôn giáo Thơ hiện đại
là sự tiếp nối loại hình thơ trữ tình cổ điển Về mặt thời gian, ở phương Tây, thơ hiện đại được tính từ mốc thế kỉ XIX về sau Còn ở phương Đông, trong
đó có Việt Nam, được tính bắt đầu từ đầu thế kỉ XX Riêng trong thơ Việt Nam, thơ hiện đại được tính chính thức từ sự ra đời của phong trào Thơ mới với những cách tân, đổi mới táo bạo trên phương diện thi pháp theo hướng phương Tây hóa Về mặt lịch sử - xã hội, thơ trữ tình hiện đại xuất hiện trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phát triển, xu hướng toàn cầu hóa về mặt kinh tế, thương mại, văn hóa,… thúc đẩy sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các loại hình văn học nghệ thuật
Trang 201.2.2 Đặc điểm phần thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT
Thơ hiện đại Việt Nam có thể coi như xuất hiện từ đầu thế kỉ XX khởi đầu bằng một cuộc “cách mạng thơ” Thơ mới (1932-1945), thơ Cách mạng (1945 - 1975) và thơ sau 1975 Điểm khác biệt của loại hình thơ hiện đại là yếu tố cá nhân, cá thể Vì các nhà thơ hiện đại rất chú ý đến việc thể hiện cái tôi của mình trong tác phẩm Khi dạy đọc - hiểu thơ hiện đại cần chú ý đến đặc trưng của thơ hiện đại so với ca dao và thơ trung đại Thơ hiện đại Việt
Nam chủ yếu tập trung chủ yếu ở lớp 11, 12
So sánh với SGK văn học chỉnh lí hợp nhất năm 2000 và SGK Ngữ văn
cơ bản đang hiện hành thì thấy rõ SGK hiện hành sắp xếp chương trình phù hợp với xu thế dạy học hiện đại, giảm hẳn tính hàn lâm lí thuyết, tăng tính thực hành ứng dụng Các văn bản thơ Việt Nam hiện đại được sắp xếp theo đặc trưng thể loại, được bố trí thành cụm để thuận tiện cho việc hướng dẫn đọc - hiểu văn bản
Bảng 1
Các đơn vị bài học thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình THPT
Trang 21- Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao
Bá Quát)
- Lẽ ghét thương (trích Lục Vân
Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
- Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)
- Bài ca phong cảnh Hương Sơn
- Tương tư (Nguyễn Bính)
- Chiều xuân (Anh Thơ)
- Bài thơ số 28 (Tago)
- Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao
Bá Quát)
- Lẽ ghét thương (trích Lục Vân
Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
(Nguyễn Đình Chiểu) Đọc thêm
- Khóc Dương Khuê (Nguyễn
Khuyến)
- Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế
Xương)
- Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)
- Bài ca phong cảnh Hương Sơn
- Tương tư (Nguyễn Bính)
- Chiều tối (Hồ Chí Minh)
- Tôi yêu em (Puskin)
- Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)
- Thơ duyên (Xuân Diệu)
- Chiều xuân (Anh Thơ)
- Tống biệt hành (Thanh Tâm)
- Bài thơ số 28 (Tago)
Trang 221.3.1 Về quan điểm, nhận thức của GV và HS
1.3.1.1 Về quan niệm nhận thức của GV
Đứng về góc độ người GV là chủ thể chịu trách nhiệm tổ chức toàn bộ quá trình dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Trên cơ sở quan niệm, nhận thức của GV, có thể rút ra một số nhận định về thực trạng cũng như thuận lợi và khó khăn trong thực tế các trường THPT hiện nay trên địa bàn thành phố Tây Ninh như sau:
Trang 23Có một thực tế đáng buồn, đáng lo ngại là chúng ta cứ nghĩ rằng đối với người GV dạy môn văn, việc giảng dạy thơ nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nói riêng có sự hứng thú Nhưng khi khảo sát thực tế lấy ý kiến từ
GV trong tổ văn của các trường THPT Tây Ninh, THPT Lý Thường Kiệt và THPT Trần Đại Nghĩa (30 người) trên địa bàn thành phố Tây Ninh thì kết quả
là 60% GV đứng lớp cảm thấy hứng thú khi dạy thơ Việt Nam hiện đại, 20%
GV đứng lớp cảm thấy bình thường hoặc ít hứng thú, 20% GV cảm thấy hoàn toàn không hứng thú khi dạy thơ Việt Nam hiện đại vì số lượng bài nhiều (xem kết quả điều tra khảo sát ở bảng 2) Trong đó có nhiều nguyên nhân như
HS thì thờ ơ với bài học, GV về mặt thời gian cũng bị ảnh hưởng đến quá trình truyền đạt kiến thức Nhiều GV trong tổ bộ môn của 03 trường (như trên) tâm sự rằng bản thân họ có kiến thức, có cảm xúc, có đầu tư nhiều cho bài giảng nhưng thời gian lên lớp quá ít ỏi Bên cạnh đó, một số GV tự nhận trách nhiệm về mình do chưa có sự đầu tư kỹ lưỡng cho bài học và năng lực
sư phạm cá nhân còn hạn chế
1.3.1.2 Về quan điểm nhận thức của HS
Lứa tuổi HS THPT bao gồm những em HS có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, đây là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, nhận thức, tâm lý phát triển rất phức tạp, nhưng đây cũng là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân Vì vậy việc tìm hiểu quan điểm, nhận thức của HS trong giờ dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT là rất cần thiết Chính vì vậy chúng tôi đã tiến hành lập phiếu điều tra về quan điểm, nhận thức của HS trong giờ dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại ở 03 trường THPT trên đại bàn thành phố Tây Ninh Kết quả điều tra cho thấy một số ít
HS không thích học thơ Việt Nam hiện đại vì cho rằng các tác phẩm khó hoặc
ít gắn bó với lứa tuổi hiện nay và một phần cho rằng thầy cô dạy ít hấp dẫn Phần thơ hiện đại do đặc trưng nắm bắt thế giới một cách đặc biệt, và có
Trang 24nhiều cách tân nghệ thuật, nên việc đọc và thưởng thức thơ đã khó, giúp người khác hiểu lại càng khó hơn
1.3.2 Những vấn đề và yêu cầu đặt ra với việc dạy học đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại ở trường THPT hiện nay
Trong khả năng nghiên cứu của cá nhân, chúng tôi chỉ có điều kiện khảo sát thực tế dạy học của GV và HS trên địa bàn thành phố Tây Ninh Chúng tôi mong muốn qua kết quả khảo sát có thể phần nào phản ánh được tình hình, thực trạng chung của cả nước
Việc đi vào khảo sát thực trạng dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học thơ Việt Nam hiện đại nói riêng, có thể xem là bước đầu đi vào giải quyết bài toán về nâng cao hiệu quả dạy học văn theo đặc trưng thể loại và loại hình Và
để đưa ra được những biện pháp có tính chất định hướng nhằm giúp GV hướng dẫn, tổ chức, giảng dạy tốt các giờ dạy học thơ Việt Nam hiện đại, khắc phục tình trạng dạy học xem nhẹ vai trò chủ thể của HS, biến HS thành khách thể thụ động trong giờ học Chúng tôi đã tiến hành lập phiếu điều tra trực tiếp để tiến hành khảo sát nắm bắt tình hình dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT ở các trường đã kể trên Số lượng
GV được tham gia khảo sát là 30 và HS được tham gia khảo sát là 250 thông qua hình thức điều tra trắc nghiệm (xem phần Phụ lục)
Sau đây là những kết luận bước đầu về thực trạng dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT
Đứng về góc độ người GV thì quá trình dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại trong chương trình, chúng ta có thể rút ra một số nhận định về thực trạng cũng như thuận lợi và khó khăn trong thực tế nhà trường THPT hiện nay
Trang 25Trong việc dạy học nói chung và dạy học văn nói riêng, việc tạo cho mình một tâm lí thoải mái trước HS, trước những gì mình trình bày cũng rất quan trọng Tri thức lí luận văn học giúp cho người GV văn luôn tự tin trước
HS, tin rằng những điều mình nói là cơ sở lý luận, là khoa học Và trên cơ sở
đó có thể hướng dẫn HS đi vào giờ văn một cách lý thú
Về phương pháp dạy học, các GV đều thấy rõ một nguyên tắc giảng dạy tác phẩm văn chương là phải phối hợp nhịp nhàng, cân đối các phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới Họ thường sử dụng nhiều phương pháp, nhưng do đặc thù của kiểu văn bản thơ Việt Nam hiện đại nên giảng bình vẫn
là phương pháp chủ yếu (40%) Một điều đáng mừng là hệ thống PPDH nêu vấn đề bước đầu đã được quan tâm (20%)
Dạy học theo đặc trưng thể loại và loại hình giúp người dạy định hướng đúng đắn và có hệ thống về quá trình dạy đọc - hiểu tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm thơ Việt Nam hiện đại nói riêng Không có tri thức về đặc trưng thể loại và loại hình một cách vững chắc thì việc dạy văn cũng thiếu sức thuyết phục và dễ mất phương hướng Dạy học theo đặc trưng thể loại và loại hình của tác phẩm là cơ sở chắc chắn, đảm bảo cho quá trình hướng dẫn HS chiếm lĩnh tác phẩm đúng hướng, không bị sa lầy trong tác phẩm
Bên cạnh đó, thực trạng hiện nay ở các trường THPT có các hiện tượng rất phổ biến trong các giờ học văn như: Dạy đọc chép, dạy nhồi nhét, HS học thụ động, thiếu sáng tạo, HS thiếu sự hứng thú và niềm đam mê,… Vì vậy mà trong giờ học văn nói chung và trong giờ dạy đọc - hiểu thơ Việt Nam hiện đại nói riêng cũng còn nhiều vấn đề cần giải quyết
Nhìn chung, từ những kết quả điều tra, khảo sát trên tài liệu văn bản và thực tế, chúng tôi rút ra được những kết luận sau đây:
Trang 26Những năm gần đây, qua các kì tập huấn GV dạy học, bồi dưỡng thay sách, bồi dưỡng thường xuyên, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng,… GV đã phần nào được trang bị thêm kiến thức văn học, lí luận văn học, lí luận dạy học Mặt khác, ngày càng có nhiều tài liệu tham khảo phong phú, rất thuận lợi cho GV trong việc nghiên cứu, tìm hiểu để giảng dạy ngày càng tốt hơn Phần đông HS thích học văn hiện đại vì không có khoảng cách quá xa về thời đại, văn hóa cũng như thị hiếu thẩm mỹ Đây là điều kiện thuận lợi cho GV trong quá trình giảng dạy
Bên cạnh thuận lợi vẫn còn rất nhiều những khó khăn, hạn chế như HS thì không tập trung trong giờ học, GV thì lúng túng trong cách truyền đạt, nhất là phần thơ hiện đại, do kiểu cấu trúc hình tượng đối với GV chỉ tuân theo logic của cảm xúc và có nhiều cách tân nghệ thuật, nên việc đọc và thưởng thức thơ đã khó, muốn người khác hiểu lại càng khó hơn
Để có một hướng đi đúng trong dạy học văn nói chung, dạy thơ Việt Nam hiện đại nói riêng, chúng tôi cho rằng: Cần phải có cách tiếp cận thơ một cách phù hợp, thực chất là phát triển một cách cân đối, hài hòa về tư duy hình tượng và tư duy logic trong học văn cho HS, giữa rung cảm tự nhiên và tư duy khái quát nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS khi tham gia vào quá trình đọc - hiểu, cụ thể hóa tác phẩm
Trang 27Chương 2
ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP DẠY ĐỌC - HIỂU THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ LOẠI HÌNH
2.1 Định hướng và biện pháp dạy đọc - hiểu phần Thơ mới 1932 -
1945 theo đặc trưng thể loại và loại hình
2.1.1 Giới thuyết khái niệm
Thơ mới trước hết là tên gọi của một phong trào thơ Việt Nam hiện đại xuất hiện vào đầu thế kỉ XX Thơ mới là một thuật ngữ mang tính quy ước Phan Khôi là người đầu tiên tạm dùng từ Thơ mới để chỉ loại thơ mà ông muốn đề xướng với mục đích “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng những câu có vần mà không phải bó buộc với những niêm luật gì hết” Loại thơ mới này dĩ nhiên là đối lập và khác biệt với thơ cũ - một khái niệm cũng lần đầu tiên xuất hiện theo logic của tư duy phân loại, dùng
để chỉ lối thơ được viết theo nhãn quan cổ điển và hình thức luật Đường khuôn sáo trước đó
Với tư cách một phong trào thơ hiện đại, Thơ mới hình thành từ năm
1932 và phát triển mạnh mẽ đến Cách mạng tháng Tám 1945 Chỉ trong hơn mười năm tồn tại, nó đã hình thành nên một đội ngũ sáng tác đông đảo, với nhiều phong cách sáng tạo độc đáo và một số lượng tác phẩm đồ sộ, trong đó
có nhiều tác phẩm đạt đến đỉnh cao
Với những cách tân trên nhiều phương diện thi hứng, thi pháp, Thơ mới
đã tạo ra một loại hình thơ mới, khác hẳn với loại hình thơ trung đại trước đó,
và điều này đã khiến nó có một ảnh hưởng hết sức to lớn tới các thời kì phát
Trang 28triển tiếp theo của nền thơ trữ tình Việt Nam Có thể khẳng định, chính phong trào này đã tạo một bước bứt phá nghệ thuật mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, đưa thơ Việt Nam hòa nhập cùng nền thơ thế giới
Tóm lại, nói tới Thơ mới trước hết là nói tới một phong trào thơ Việt Nam hiện đại xuất hiện đầu thế kỉ XX Đồng thời, nói tới Thơ mới, còn có nghĩa là nói tới một loại hình thơ hiện đại đã được xác lập từ trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945 và đến nay vẫn còn để lại những tác động, ảnh hưởng rõ nét tới sự phát triển của thơ trữ tình Việt Nam
2.1.2 Một số định hướng dạy đọc - hiểu Thơ mới 1932 - 1945 theo đặc trưng thể loại và loại hình
2.1.2.1 Cần bám sát đặc trưng loại hình thơ lãng mạn
Mỗi loại hình thơ có một hệ thống nguyên tắc cấu tạo và ngôn ngữ nghệ thuật riêng Dạy đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng loại hình là một cách làm khoa học, phù hợp với đặc trưng tác phẩm văn học Do đó cần nắm vững đặc trưng loại hình để đi vào phân tích tác phẩm văn chương, đó là một việc làm rất quan trọng và là một nguyên tắc đối với người dạy văn, giúp HS phát triển được năng lực sáng tạo, khả năng cảm thụ tác phẩm văn học một cách có hiệu quả
Về cơ bản, Thơ mới thuộc loại hình thơ lãng mạn Do vậy, dạy đọc hiểu Thơ mới trong nhà trường phổ thông cần bám sát và đảm bảo đặc trưng thể loại và loại hình này
Thơ lãng mạn trong tư cách một loại hình thơ hiện đại, ra đời vào cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX ở châu Âu và khởi nguồn đầu tiên ở Pháp, với cảm hứng phủ định thực tại tầm thường, yêu cầu giải phóng cá tính, phá
bỏ khuôn khổ, ràng buộc của chế độ phong kiến, đề cao khát vọng tự do và hạnh phúc riêng tư Về mặt mĩ học, thơ lãng mạn xóa bỏ những qui phạm cổ
Trang 29điển, tiến tới xác lập một quan niệm mĩ học mới về con người và thế giới như:
Đề cao tự do cá nhân, cá thể, đề cao tình cảm, đề cao mộng tưởng
Xét về mặt lịch sử, thơ lãng mạn kế thừa và phát triển tiếp nối của loại hình thơ cổ điển Còn về mặt mĩ học, thơ lãng mạn là sự phủ nhận những qui phạm có tính chất cổ điển để xác lập với một quan niệm mĩ học mới về con người và thế giới Tư tưởng của thơ lãng mạn là sự chán chường, tuyệt vọng đối với kết quả của cuộc Cách mạng tư sản Pháp vào năm 1789 và có sự phản ứng với nền văn minh tư sản thực dụng Các nhà thơ lãng mạn tiêu biểu lúc bấy giờ như V Hugo, A de Vigny,… Loại hình thơ lãng mạn có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển thi ca của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Với thơ lãng mạn, cái tôi cá nhân lên ngôi, trở thành trung tâm cắt nghĩa và cảm nhận thế giới Thơ lãng mạn đào sâu vào cái tôi cảm xúc, nội cảm, phát huy cao độ những rung động cá nhân, cá thể, vượt ra ngoài những ràng buộc khuôn phép Thơ lãng mạn ra đời với mục đích bộc bạch, giãi bày tâm sự, trực tiếp bộc lộ cái tôi chủ thể nên câu thơ lãng mạn có nhiều hình thức như: tả, hỏi, kể, cảm thán,…
Trong phong trào Thơ mới có các nhà thơ lãng mạn xuất sắc như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,… Trong đó, nhiều tác phẩm tiêu biểu của họ
được đưa vào chương trình phổ thông như Vội vàng (Xuân Diệu), Đây thôn Vĩ
Dạ (Hàn Mặc Tử), Tràng giang (Huy Cận),… Thơ mới có quan niệm thẩm mĩ
và những đặc trưng thi pháp độc đáo, nổi bật Chẳng hạn, trong bài Đây thôn
Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình thay đổi rất phức
tạp ngay trong từng khổ thơ Đó còn là cảm xúc của một cái tôi đầy bi kịch, đầy lo âu, sợ hãi nhưng cũng vừa khao khát hướng tới cuộc sống và tình yêu Ngay ở khổ thơ đầu, cảm xúc của nhân vật trữ tình là sự bâng khuâng, xao xuyến, đầy hy vọng thì đến khổ thơ thứ hai đã có sự chuyển đổi cảm xúc sang
Trang 30trạng thái buồn bã, bất an Nhưng đến khổ thơ cuối thì cảm xúc ấy đã đọng lại
thành câu hỏi đầy khắc khoải, lo âu: “Ai biết tình ai có đậm đà?” Như vậy,
mỗi bài thơ trữ tình đều được tổ chức dựa trên quá trình tự biểu hiện và bộc lộ cảm xúc của cái tôi trữ tình
2.1.2.2 Chú ý hình thành phương pháp phân tích thơ lãng mạn cho HS qua việc dạy đọc - hiểu văn bản cụ thể
Trong dạy học môn Ngữ văn nói chung, việc hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản là một việc làm vô cùng quan trọng Việc vận dụng đặc trưng thể loại
và loại hình để khai thác nội dung của tác phẩm là điều cần thiết để HS biết cách hình thành cho mình kĩ năng đọc - hiểu để hình thành phương pháp phân tích tác phẩm thơ lãng mạn Tùy vào bài học mà vận dụng phương pháp phân tích thơ lãng mạn cho phù hợp, đảm bảo tính linh hoạt, sáng tạo từ đó mới có thể khám phá tác phẩm sâu sắc hơn, hiệu quả hơn
Muốn đạt được điều đó, chúng ta phải hình thành phương pháp phân tích thơ lãng mạn cho HS Để có thể thực hiện tốt định hướng này, chúng ta cần chú ý một số điểm sau trong quá trình thực hiện:
- Khi xây dựng kế hoạch bài học, GV cần xác định rõ kiến thức, kĩ năng và tư tưởng của việc vận dụng tri thức theo đặc trưng thể loại và loại hình trong các giờ dạy đọc - hiểu các bài thơ lãng mạn
- Sử dụng phối hợp các tri thức về thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, loại hình thơ lãng mạn như những phương tiện để phân tích văn bản hiệu quả cho giờ dạy
- Khi tích hợp tri thức dạy học theo đặc trưng thể loại và loại hình trong giờ đọc - hiểu thơ lãng mạn, GV nên lựa chọn các lí thuyết phù hợp để thiết
kế bài dạy sao cho hiệu quả, không khô cứng, áp đặt, sáo mòn
Trang 31Đây là những tiền đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiếp cận tác phẩm Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho HS nắm vững những tri thức dạy đọc - hiểu thơ lãng mạn, hình thành phương pháp phân tích thơ lãng mạn qua việc dạy đọc - hiểu văn bản nhằm nâng cao trình
độ tư duy trong việc lĩnh hội tri thức Bước đầu chúng ta đi vào giải quyết những vấn đề có liên quan đến tác phẩm, sau đó vận dụng nó như là kĩ năng,
kĩ xảo vào đọc - hiểu văn bản
2.1.2.3 Khai thác, phát huy sự đồng cảm, đồng điệu của tâm hồn HS với vẻ đẹp cảm xúc ở các bài thơ lãng mạn
Những năm gần đây đổi mới phương pháp dạy học trở thành một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục, cho mỗi GV phải khai thác, phát huy sự đồng cảm, đồng điệu của tâm hồn HS với vẻ đẹp, cảm xúc ở các bài thơ lãng mạn trong chương trình Ngữ văn THPT Nhìn chung thì văn chương lãng mạn
1930 - 1945 có vị trí bước ngoặt trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc Do những nét đặc trưng nên khi khai thác các bài thơ cần hướng HS với vẻ đẹp cảm xúc của bài thơ, GV cần chú ý:
- Cung cấp cho HS những cách hiểu khác nhau xung quanh bài thơ nhưng chỉ chọn một cách hiểu phù hợp với trình độ nhận thức của HS để triển khai
- Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản để phát huy sự đồng cảm, đồng điệu của tâm hồn HS, để các em hiểu được nguyên tắc tổ chức hình tượng và ngôn từ của bài thơ
- Chú ý phân tích hoàn cảnh ra đời của bài thơ, hoàn cảnh này không tác động trực tiếp đến tác phẩm mà nó tác động đến nhà văn qua hoàn cảnh riêng gắn liền với cuộc đời tư tưởng, thế giới quan, tâm hồn nhà văn
Trang 322.1.3 Một số biện pháp dạy đọc - hiểu Thơ mới 1932 - 1945 theo đặc trưng thể loại và loại hình
2.1.3.1 Các biện pháp hướng dẫn HS tự tìm hiểu văn bản ở nhà
Trong dạy đọc hiểu văn bản nói chung, thơ Việt Nam hiện đại nói riêng, khâu chuẩn bị bài của HS là hết sức cần thiết Để giúp HS có thể cảm thụ tốt tác phẩm, GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà bằng những lưu ý cần thiết:
- Bước 1: Đọc hiểu những thông tin về ngữ cảnh (tiểu dẫn) Tìm hiểu về tác giả và tác phẩm từ các nguồn thông tin khác nhau
- Bước 2: Đọc văn bản, tìm hiểu cấu trúc văn bản, xác định đặc điểm thể loại của văn bản
- Bước 3: Đọc hiểu nội dung văn bản Phân tích bài thơ theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong SGK Những câu hỏi đó cần được cụ thể hóa theo định hướng dạy học để các em dễ dàng tiếp nhận tác phẩm qua việc soạn bài ở nhà
- Bước 4: Đọc hiểu ý nghĩa văn bản
- Bước 5: Tổng kết Đọc hiểu phần ghi nhớ
- Bước 6: Luyện tập Thực hiện các bài tập có sẵn trong SGK
Nhìn chung, việc chuẩn bị bài ở nhà của HS cần được GV hướng dẫn cụ thể theo nội dung bài học GV phải kiểm tra thường xuyên và nhận xét việc chuẩn bị bài ở nhà của HS, để hình thành cho HS thói quen tự học
2.1.3.2 Các biện pháp dạy học trong giờ đọc - hiểu văn bản
Trước khi bắt tay vào thiết kế một giáo án dạy học đọc - hiểu một bài thơ lãng mạn, GV cần hình dung rõ các bước cơ bản của tiến trình một giờ học, các phương pháp, các hình thức hoạt động,… tất cả đều được hình dung
Trang 33trước và thể hiện đầy đủ trong giáo án Bên cạnh đó, GV cần tạo tâm thế nhập cảm cho HS (lời vào bài) Lời vào bài là khâu cực kỳ quan trọng để HS chú ý
và tập trung vào tác phẩm Lời vào bài phải giới thiệu được đôi nét về tác giả, tác phẩm cũng như văn phong của nhà thơ Nếu dạy thơ thì phải giới thiệu cho các em những bài thơ hoặc những câu thơ tiêu biểu của tác giả đó GV làm sao gợi được sự tò mò, thích thú ban đầu của HS đối với tác phẩm GV dẫn dắt lời vào bài với nội dung hay, rõ ràng, rành mạch thì việc tạo cho HS hứng thú với tác phẩm và yêu thích tác phẩm đó là điều dễ dàng Tuy nhiên, không nhất thiết phải là lời giới thiệu của GV, mà người dạy có thể tạo nên những tình huống có vấn đề, kích thích HS phải giải quyết vấn đề, đặt ra nhiều câu hỏi gợi sự tò mò cho HS trước khi học bài mới, làm cho việc hứng thú học tâp của HS tăng lên
Để đảm bảo giờ học đọc - hiểu đúng với chức năng của nó và có hiệu quả, GV cần xác định bước tìm hiểu về tác giả, tác phẩm, là tiền đề cho việc hiểu văn bản được sâu và đúng hướng hơn GV có thể hướng dẫn HS với các giai thoại về cuộc đời và cá tính nhà thơ để hiểu rõ hơn về nội dung phần tiểu dẫn, và hiểu rằng giữa cuộc đời, cá tính và sự nghiệp, phong cách, cá tính sáng tạo của tác giả luôn có mối liên quan mật thiết với nhau Đó là lý do vì sao cần đặt bài thơ trong mối liên hệ giữa nội dung bài học với giai thoại về cuộc đời, cá tính nhà thơ như hoàn cảnh sáng tác, thời điểm sáng tác Những yếu tố tưởng như không cần thiết ấy thực chất có vai trò rất quan trọng, làm tăng hiệu quả bài học và niềm thích thú ở HS Vì vậy, khai thác nội dung bài học và giai thoại về cuộc đời, cá tính nhà thơ trong mối quan hệ mật thiết với nhau là một tiền đề có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp cận tác phẩm
Thực tế cho thấy, đối với một giờ đọc - hiểu thơ và nhất là thơ lãng mạn, khâu đọc là rất quan trọng Đọc để tìm hiểu chủ đề, đọc để tìm hiểu bố cục, đọc để hiểu văn bản GV hướng dẫn HS đọc đúng văn bản thơ lãng mạn,
Trang 34trước tiên phải đọc lưu loát không sai lỗi chính tả, đọc theo cảm nhận mới thể hiện đúng tình cảm mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm Bản chất của quá trình đọc là quá trình chuyển hóa tri thức khoa học từ bên ngoài vào bên trong, làm cho HS thấy được sự cần thiết của việc đọc để các em hứng thú, tích cực học tập Cụ thể như:
+ Đọc để phân tích câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, các thủ pháp nghệ thuật,… để thấu hiểu hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, tâm trạng nhân vật trữ tình trong thơ
+ Đọc để đồng cảm, liên tưởng, thể nghiệm để phát hiện ý nghĩa xã hội, thẩm mỹ của hình tượng thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong thơ + So sánh với các bài thơ khác để xác định nét độc đáo, sáng tạo trong hình thức biểu hiện của bài thơ
+ Trong quá trình đọc thơ, việc tìm hiểu và vận dụng những tri thức ngoài văn bản thơ như: Tác giả, bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh ra đời của bài thơ,… vào việc cắt nghĩa ý thơ là cần thiết Tuy nhiên, không lấy công việc này thay cho việc đọc văn bản hay áp dụng một cách máy móc, khiên cưỡng
Do đó, khâu đầu tiên dạy học tác phẩm thơ lãng mạn là phải chú ý tới việc đọc, “đọc sáng tạo” và “đọc diễn cảm” Cả hai phương pháp này có một
vị trí đặc biệt quan trọng, nếu thiếu thì xem như giờ dạy học tác phẩm thơ
lãng mạn có xác mà chưa có hồn Ví như khi yêu cầu HS đọc bài thơ Vội vàng
của Xuân Diệu, GV phải hướng dẫn HS biết phân chia giọng điệu cho phù hợp với từng phần theo mạch cảm xúc đã xác định: Phần đầu đọc với giọng phấn chấn, vui tươi, rạo rực; phần tiếp theo đọc với giọng hơi trầm xuống, đau đớn, tuyệt vọng, nuối tiếc Mỗi phần GV hướng dẫn cho HS có cách đọc
khác nhau Khi dạy bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, phải chú ý chuyển
giọng điệu trong trẻo, vui tươi ở khổ đầu sang giọng mơ màng, buồn bã ở khổ
Trang 35hai và sang giọng khắc khoải, ưu tư, day dứt ở khổ cuối Chú ý nhịp 4/3 của bài thơ Khi xác định đúng giọng đọc là HS bắt đầu thâm nhập vào tâm trạng của nhân vật trữ tình, bắt đầu nắm được cái hồn của bài thơ Như vậy, yếu tố
về giọng điệu rất cần thiết đối với việc bắt đầu đi vào cảm thụ tác phẩm thơ lãng mạn Có được điều đó, GV phải có giọng đọc thật tốt và yêu cầu HS đọc, nhận xét, sửa chữa sao cho đạt kết quả tốt nhất Tuy nhiên, bản chất của thơ là giàu nhạc tính nhưng mỗi loại thơ, bài thơ có một kiểu giọng điệu riêng Chính vì vậy, khi đi vào phân tích yếu tố giọng điệu trong thơ lãng mạn sẽ
khác với thơ Cách mạng Trong thơ lãng mạn, giọng điệu của bài Vội vàng đương nhiên khác với bài Tràng giang, và cũng rất khác với bài Tương tư,
Đây thôn Vĩ Dạ,… Nên khi đi vào tìm hiểu thơ lãng mạn cần phải vận dụng
phương pháp đọc diễn cảm sao cho phù hợp với việc phân tích giọng điệu Có thể sử dụng hình thức ngâm thơ để cảm nhận tinh thần, âm hưởng chung và nhạc tính của bài thơ Từ đó, sẽ thấy được tác dụng của giọng điệu trong tác phẩm làm nổi bật giá trị nội dung của bài thơ
Cách chọn điểm bình giảng và lời bình giảng quyết định đến sự thành
công của bài văn Ví dụ như bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử điểm bình
giảng trong khổ một “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” một câu hỏi tu từ không lời đáp mang nhiều sắc thái Đấy là một câu hỏi hay lời trách móc nhẹ nhàng, lời mời mọc ân cần hay đấy cũng là lời nhà thơ tự trách, tự hỏi mình với ước ao thầm kín
Cách dẫn dắt giữa các ý khi đi vào phân tích một bài thơ lãng mạn là làm cho các ý liền mạch không bị ngắt khúc, nội dung bài học phải liên tiếp và
liên quan với nhau Ví dụ như khi đi vào dạy một bài thơ lãng mạn Đây thôn
Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình thay đổi rất phức
tạp ngay trong từng khổ thơ Đấy là cảm xúc của một cái tôi đầy bi kịch, khao khát hướng tới cuộc sống và tình yêu, đồng thời đầy sợ hãi, lo âu, thất vọng
Trang 36Chính vì vậy, khi giảng dạy cần đặc biệt quan tâm đến nội dung trữ tình của tác phẩm, thể hiện qua cảm hứng chủ đạo của bài thơ Cảm hứng chủ đạo ấy như một dòng chảy cảm xúc, xuyên suốt bài thơ, cho nên các ý cần liền mạch với nhau Muốn có được điều đó, GV cần sử dụng linh hoạt giữa các ý với các câu chuyển ý bám sát vào nội dung bài học
Cách đặt câu hỏi nhận thức và câu hỏi kĩ năng là một quá trình thích nghi
và tổ chức lại thế giới quan của mỗi người Có nhiều dạng câu hỏi như: Dạng câu hỏi tái hiện, dạng câu hỏi phân tích luận điểm, dạng câu hỏi so sánh và dạng câu hỏi nêu vấn đề Cách đặt câu hỏi là một quá trình nhận thức của HS nhằm tái tạo lại tri thức cho chính bản thân người học và quá trình này phải có
sự hướng dẫn của người thầy Khi xây dựng hệ thống câu hỏi, GV cần căn cứ vào các yếu tố sau:
- Dựa vào quy luật, đặc điểm, khả năng cảm thụ, tiếp nhận văn học của người học, câu hỏi đặt ra phải kích thích được tâm lý thích hoạt động của HS
để HS tích cực tham gia vào việc xây dựng bài
- Dựa vào những giá trị đặc sắc, nổi bật của nội dung, hình thức tác phẩm
và dựa vào đặc thù của tổ chức nghệ thuật tác phẩm thơ lãng mạn
- Dựa vào khả năng cảm thụ, hiểu biết tác phẩm và năng lực sư phạm, khả năng tổ chức giờ học của GV
Có thể minh họa cho cách đặt câu hỏi trên bằng một hệ thống câu hỏi
trong bài Vội vàng của Xuân Diệu:
1 Em có nhận xét gì về nhịp điệu bốn câu thơ đầu? Nó có ý nghĩa nghệ thuật như thế nào?
2 Em có ấn tượng như thế nào về cái tôi tác giả trong bốn câu thơ đầu?
3 Xuân Diệu muốn “tắt nắng”, “buộc gió” phải chăng đó là ước muốn
Trang 37của một kẻ ngông cuồng, xa rời thực tế, thoát li hiện thực? Thực tế có làm được điều đó không?
4 Em có nhận xét gì về sự thay đổi nhịp điệu của các câu thơ từ câu 5 - câu 9?
5 Cái mới mẻ về thi pháp trong thơ của Xuân Diệu được thể hiện qua những biện pháp nghệ thuật nào?
6 Trong câu thơ cuối của đoạn một tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh rất táo bạo và mới mẻ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Em có nhận xét gì về hình ảnh so sánh đó?
7 Em hãy bình giảng câu thơ đầu của đoạn hai “Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa”?
8 Em có nhận xét gì về nhịp thơ trong đoạn hai? Sự thay đổi như thế nào? Sự thay đổi đó thể hiện điều gì?
9 Xuân Diệu đã nhìn thấy được điều gì qua sự trôi nhanh của thời gian?
10 Em có nhận xét gì về cách dùng từ và biện pháp nghệ thuật của tác giả?
Đây là một phương pháp có hiệu quả rất lớn đối với việc đổi mới cách dạy một bài thơ Cách đặt câu hỏi cho nội dung bài học là một việc làm cần thiết, tuy nhiên cũng cần kết hợp với nhiều phương pháp khác nhau mới đạt kết quả như mong muốn
Cách liên hệ giữa nội dung bài học và giai thoại về cuộc đời, cá tính nhà thơ trong một tác phẩm là cơ sở quan trọng để khám phá giá trị nội dung và giá trị tư tưởng của tác phẩm Như giai thoại về nhà văn cũng là những chuyện vui, lạ, có thật về nhà văn, nhằm giúp độc giả gần hơn với nhà văn và đồng thời hiểu hơn những sáng tác văn chương của họ Chính vì vậy, trong
Trang 38quá trình giảng dạy, GV có thể diễn giảng giữa nội dung bài học và cuộc đời của tác giả hoặc đặt câu hỏi để HS thảo luận trong giờ học Đồ dùng trực quan sinh động trong giờ dạy học văn bao gồm bảng biểu, ảnh chân dung, ảnh tác giả hay đoạn phim, thực chất đó đều là những phương tiện cụ thể hóa việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giờ dạy học văn Trong đó, dạy đọc - hiểu những bài học về tác giả với khối lượng kiến thức nhiều mà thời lượng chỉ có một tiết thì việc dùng các phương tiện trực quan cũng rất quan trọng Bên cạnh đó, các bài trong SGK cũng có những hình ảnh minh họa cho tác giả, người dạy cần phóng to các bức ảnh treo lên bảng để HS xem, minh họa cho bài học hay như GV có thể sử dụng sơ đồ trong bảng phụ để tóm tắt cuộc đời
và sự nghiệp nhà văn minh họa cho bài học về tác giả Như khi dạy bài Đây
thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử có thể treo ảnh tác giả, cảnh thôn Vĩ,… để minh
họa cho nội dung bài học Nhìn chung, phương tiện trực quan trở thành công
cụ hỗ trợ tốt cho việc dạy đọc - hiểu văn bản ở trường phổ thông
Có thể nói, một giờ dạy học tác phẩm thơ lãng mạn nhất thiết là một quy trình được thiết kế bằng một hệ thống thao tác, hệ thống việc làm Hình thức hoạt động của thầy và trò đều nhằm làm sao thúc đẩy được sự hoạt động trí tuệ của bản thân mỗi HS
2.2 Định hướng và biện pháp dạy đọc - hiểu thơ Cách mạng 1945 -
1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình
2.2.1 Giới thuyết khái niệm
Thơ Cách mạng là loại hình thơ chính trị, xuất hiện cùng thời với cách mạng dân chủ tư sản và được kế thừa phát triển trong cách mạng vô sản sau này Đây là một hiện tượng thơ ca có tầm vóc thế giới mà nội dung là chống phong kiến, chống đế quốc, chống xâm lược, ca ngợi Tổ quốc, nhân dân, ca ngợi tự do, độc lập,… tính chiến đấu là đặc điểm nổi bật của thơ Cách mạng,
Trang 39cùng với tính chiến đấu là tính tư tưởng và tính lý tưởng
Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 có hoàn cảnh lịch sử đặc biệt Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc, khai sinh một nền văn học mới gắn liền với lí tưởng độc lập,
tự do và chủ nghĩa xã hội Đường lối lãnh đạo văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam tạo nên một nền văn học thống nhất và phát triển là nhân tố ảnh hưởng quyết định Hình thành và phát triển trong điều kiện chiến tranh lâu dài, vô cùng ác liệt, nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển Điều kiện giao lưu văn học bị hạn chế, chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn học các nước XHCN như Liên xô, Trung Quốc, Trong hoàn cảnh như vậy, văn học giai đoạn 1945 - 1975 vẫn phát triển và đạt được nhiều thành tựu, đóng góp cho lịch sử, văn học những giá trị riêng
2.2.2 Một số định hướng dạy đọc - hiểu phần thơ Cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 theo đặc trưng thể loại và loại hình
2.2.2.1 Cần bám sát đặc trưng loại hình thơ Cách mạng
Về nội dung, nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước Đây là đặc điểm cơ bản, bản chất nhất của nền văn học Cách mạng Việt Nam Ba nguyên tắc cơ bản của nền văn học mới là: Cách mạng hóa, khoa học hóa, quần chúng hóa (Trường Chinh); quan niệm nhà văn là chiến sĩ, văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận (Hồ Chí Minh), mô hình nhà văn - chiến sĩ; văn nghệ phụng sự kháng chiến, kháng chiến đem đến cho văn nghệ sức sống mới Từ đây, nền thơ hướng về đại chúng, tìm đến những hình thức nghệ thuật quen thuộc với nhân dân Quần chúng nhân dân, công - nông - binh vừa là đối tượng phản ánh, vừa là người đọc, vừa là nguồn sản sinh, nuôi dưỡng văn nghệ, trở thành nguồn cảm hứng mới mẻ, lớn lao của văn nghệ cách mạng Nền thơ này chủ
Trang 40yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Đó là một tất yếu trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Nội dung khuynh hướng sử thi thể hiện ở việc lựa chọn đề tài và chủ đề, nhân vật, điểm nhìn trần thuật, bố cục
và ngôn ngữ, giọng điệu của tác phẩm Nổi bật trong thơ Cách mạng là hình tượng cái tôi sử thi
Về mặt hình thức, thơ Cách mạng đã kế thừa những thành tựu của Thơ mới Các tác giả chủ yếu sử dụng thể thơ tám chữ, thơ tự do, mang đậm tính dân tộc Cách sử dụng ngôn từ mộc mạc, bình dị, giàu sức gợi, sáng tạo, tinh
tế, đặc sắc Giọng điệu mới mẻ, truyền cảm, giàu nhạc điệu, biến đổi linh hoạt Sử dụng phổ biến chất liệu văn hóa dân gian Có sự kết hợp, hòa quyện giữa bút pháp lãng mạn và cảm hứng bi tráng, chất chính luận và chất trữ tình,… Ngôn ngữ thơ kháng chiến có những biến đổi mạnh mẽ so với ngôn ngữ thơ trước Cách mạng tháng Tám Ngôn ngữ thơ giai đoạn này gắn với hiện thực xã hội bấy giờ và sự chín chắn trưởng thành trong nhận thức, tư tưởng của nhiều nhà thơ Đặc biệt ngôn ngữ thơ đậm tính cộng đồng, tập thể, giản dị, gần gũi và quen thuộc:
Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni Dân chúng cầm tay lắc lắc…
(Nhớ - Hồng Nguyên)
Áo anh rách vai Quần tôi có nhiều mảnh vá Miệng cười buốt giá
Chân không giày…
(Đồng chí - Chính Hữu)