LÝ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN CỦA HỌC THUYẾT MÁC LENIN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM. 1. Sự cần thiết của tài liệu Tích lũy tư bản là một yếu tố quan trọng quyết định đối với sự hình thành phương pháp sản xuấttư bản chủ nghĩa, một hệ thống các nước tư bản đầu tiên trên thế giới đã thành công và phát hiệnriểnvô cùng mạnh mẽ mà lịch sử đã cho thấy rằng cuối thế kỷ XVđầu thế kỷ XVI, tích lũy nguyênthủy đã diễn ra sôi động ở các nước phươngNền kinh tế xã hội của các nước phát hiện nàyphát triển vô cùng mạnh mẽ. Chúng tôi có thể khẳnng định nghĩa rằng tích lũy tư vẫn là sự cần thiếthỏi khách hàng của bất cứ một giai đoạn phát triển nào ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Nếu không tích lũy và huy động nguồn lực tư bản cho quốc gia mình thì nền kinh tế xã hội quốc gia đó sẽ không phát triển mạnh mẽ và mạnh mẽ được. ForV.Việt Nam power luôn luôn điều chỉnh điều kiện tiên quyết để tái sinh mở rộng sản xuất. Bộ tích lũy mới có thể làm cho nền kiMajor tăng trưởngvà phát triển, đưa đất nước vững vàng đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mà chúng tôi đã có cao chọn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi đất nềnc đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóahiện đại hóa thì nhu cầu về vốn để xây dựng nền tảng nền tảng và kỹ thuật áp dụngkhoa học tiên tiến là càng cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.Bản chất và nguồn gốc của tích luỹ tư bản 1. Tích lũy cơ bản Tích lũy tư bản là cách thức tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn cho nhà tư bản. Tính chất đầu tư được thực hiện bằng các lợi ích tìm kiếm được trước đó. Nhà tư bản trong hoạt động thực hiện để tìm kiếm thặng dư trên thị trường. Và rồi một phần thặng dư đó lại quay ngược trở lại đầu tư tìm kiếm thặng dư mới. Các giá trị nhà tư bản có thể tích lũy ngày một nhiều cũng phản ánh quy luật được thực hiện. 1.1. Tái sản xuất Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phục hồi không ngừng. Có thể xem xét tái sản xuất trong từng đơn vị kinh tế và trên phạm vi toàn xã hội. Tái sản xuất diễn ra trong từng đơn vị kinh tế được gọi là tái sản xuất cá biệt. Còn tổng thể những tái sản xuất cá biệt trong mối liên hệ hữu cơ với nhau được gọi là tái sản xuất xã hội. Tài sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và đổi mới không ngừng. C.Mác: “Dù cho hình thái xã hội của quá trình sản xuất là như thế nào chăng nữa, thì bao giờ quá trình đó phải có tính chất liên tục, hau cứ từng chu kỳ môtj, phải không ngừng trải qua cùng những giai đoạn ấy. Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, thì xã hội cũng không thể ngừng sản xuất. Vì vậy, xét trong mối liên hệ không ngừng và trong tiến trình của nó, mọi quá trình sản xuất đồng thời cũng là quá trình sản xuất.” (Trích: C.Mác bộ “Tư bản”, quyển 1, tập III, tr.8). Xét về quy mô của tái sản xuất, người ta chia nó thành hai mức độ là: tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và tiếp diễn một cách liên tục không ngừng. Quá trình tái sản xuất: sản xuất phân phối trao đổi (lưu thông) tiêu dùng. 1.2. Phân loại: Xét về quy mô của tái sản xuất, người ta chia nó thành hai mức độ: là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Theo quy mô: gồm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ. Tái sản xuất giản đơn là cđặc trưng của nền sản xuất quy mô nhỏ. Trog tái sản xuất giản đơn năng suất, lao động rất thấp, thường chỉ đạt mức đủ nuôi sống con người, hưa có sản phẩm thặng dư hoặc nếu có một ít sản phẩm thặng dư thì cũng chỉ sử dụng cho tiêu dùng cá nhân, chứ chưa dùng để mở rộng sản xuất. Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước, tái sản xuất mở rộng là đặc trưng của các nền sản xuất lớn. Để có tái sản xuất mở rộng thì năng suất lao động xã hội phải đạt đến một trình độ cao nhất định, vượt ngưỡng của sản phẩm tất yếu và tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư bởi vì sản phẩm thặng dư dùng để đầu tư thêm vào sản xuất mới là nguồn lực trực tiếp của tái sản xuất mở rộng. Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy việc chuyển từ tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất mở rộng là quá trình lâu dài gắn liền với quá trình chuyển nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn. Quá trình chuyển tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất mở rộng là một yêu cầu khách quan của cuộc sống, bởi vì, một là, do dân số thường xuyên tăng lên; hai là, do nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người cũng thường xuyên tăng lên. Do đó, xã hội phải không ngừng mở rộng sản xuất, làm cho số lượng và chất lượng của cải ngày càng nhiều hơn, tốt hơn.
Trang 1Đề: LÝ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN CỦA HỌC THUYẾT MÁC LENIN
VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM.
1 Sự cần thiết của tài liệu
Tích lũy tư bản là một yếu tố quan trọng quyết định đối với sự hình thànhphương pháp sản xuấttư bản chủ nghĩa, một hệ thống các nước tư bản đầu tiêntrên thế giới đã thành công và phát hiệnriểnvô cùng mạnh mẽ mà lịch sử đãcho thấy rằng cuối thế kỷ XVđầu thế kỷ XVI, tích lũy nguyênthủy đã diễn rasôi động ở các nước phươngNền kinh tế xã hội của các nước phát hiệnnàyphát triển vô cùng mạnh mẽ Chúng tôi có thể khẳnng định nghĩa rằng tíchlũy tư vẫn là sự cần thiếthỏi khách hàng của bất cứ một giai đoạn phát triểnnào ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới
Nếu không tích lũy và huy động nguồn lực tư bản cho quốc gia mình thìnền kinh tế xã hội quốc gia đó sẽ không phát triển mạnh mẽ và mạnh mẽđược ForV.Việt Nam power luôn luôn điều chỉnh điều kiện tiên quyết để táisinh mở rộng sản xuất Bộ tích lũy mới có thể làm cho nền kiMajor tăngtrưởngvà phát triển, đưa đất nước vững vàng đi theo con đường chủ nghĩa xãhội mà chúng tôi đã có cao chọn Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi đấtnềnc đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì nhu cầu vềvốn để xây dựng nền tảng nền tảng và kỹ thuật áp dụngkhoa học tiên tiến làcàng cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết
2 Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa đề tài
- Giúp mọi người hiểu được bản chất, động cơ của tích lũy tư bản
- Đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tích lũy tư bản
- Vai trò của tích lũy đối với sự phát triển doanh nghiệp
Trang 2- Tìm ra được những biện pháp gia tăng quy mô tích lũy đối với doanh nghiệp
- Mang đến cái nhìn tổng quan về hiện trạng tích lũy tư bản ở nước ta hiệnnay
3 Nghiên cứu đối tượng
- Tưởng niệm tích lũy tư bản
- Xu thế tích lũy tư bản tại Việt Nam trước và sau Đổi mới
- Ảnh hưởng của quá trình tích lũy lên nền kinh tế củaViệt nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Tưởng niệm tích lũy tư bản trong Học thuyết kinh tế Mác Lênin
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Leenin và các tài liệu khác để địnhnghĩa khái niệm niemtích lũy bản sao thứ tư và đánh giá xu thế cũng như ảnhhưởng của quá trình tích lũy thứ tư lên nền kinh tếtế của Việt Nam
6 Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu gồm 3 phần:
- Lý luận về tích lũy tư bản của học thuyết kinh tế Mác-Lênin
- Xu thế tích lũy tư bản trong nền kinh tế thị trường tạiV.việt nam
- Một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả tích lũy tư vấn cho quá trình pháttriểntrường kinh tế nền ở ViệtNam
Trang 4MỤC LỤC
Lời nói đầu
PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TÍCH LUỸ TƯ BẢN
I Bản chất và nguồn gốc của tích luỹ tư bản
1 Tích lũy tư bản
2 Thực chất và động cơ của tích lũy tư bản
3 Những kết luận C.Mác rút ra từ việc nghiên cứu tái sản xuất mở rộng
4 Hệ quả của việc tích lũy tư bản
5 Tích tụ tư bản và tập trung tư bản
II Những nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản
1- Mức độ bóc lột sức lao động
2- Ttrình độ năng suất lao động xã hội
3- Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
4- Quy mô của tư bản ứng trước
III Mối quan hệ tích luỹ - tích tụ - tập trung tư bản
IV Quy luật của tích lũy tư bản
1- Lượng tăng về sức lao động tăng cùng với tư bản tích lũy trong điều kiện
kết cấu của tư bản không đổi
2- Sự giảm bớt tương đối của bộ phận tư bản khả biến trong tiến hành tíchlũy và tích tụ đi kèm
3- Việc sản xuất ngày càng nhiều, nhân khẩu thừa tương đối
PHẦN II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG LÝ LUẬN TÍCH LUỸ TƯ BẢN VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM
Trang 5I- Thực trạng tích lũy vốn của Việt nam
II Vai trò của tích lũy tư bản tới doanh nghiệp Việt Nam
III Những giải pháp tăng cường tích luỹ vốn ở Việt nam
2 1 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích luỹ - tiêu dùng
2 2 Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
2 3 Tăng cường tích luỹ vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu tưnước ngoài
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển năng động nhất từtrước đến nay và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính trị,nâng cao vị thế đất nước trên thế giới Đó là những thành quả rất đáng tự hào màmỗi chúng ta đều cảm nhận được, là kết quả của sự lựa chọn đúng đắn đường lốiphát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và sự vận dụng sáng tạo cácphương pháp, nguyên lý cơ bản của phát triển kinh tế vào điều kiện Việt nam.Với xuất phát điểm thấp, tiềm lực kinh tế rất yếu, tỉ lệ tích lũy dưới 10% thunhập, chúng ta đối mặt với thực tế trình độ kỹ thuật, năng suất lao động thấp Với mô hình nền kinh tế hiện đại, vốn có vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc tăng trưởng kinh tế Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson cho rằng một trongnhững đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là "kĩ thuật công nghiệp tiêntiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn" Vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, tạo
ra công nghệ tiên tiến, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của cảnền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều sâu; Cơ cấu sửdụng vốn có tác động quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước
Để giữ được nhịp độ phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bềnvững, một trong những khó khăn lớn nhất đặt ra là phương thức huy độngvốn Nguồn vốn có thể được huy động từ tích lũy trong nước và vốn vay nướcngoài Lý luận và thực tiễn cho thấy tích luỹ và huy động vốn từ trong nước làquan trọng nhất, đảm bảo sự bền vững của nền kinh tế và không bị phụ thuộcvào bên ngoài Trong bất cứ nền kinh tế nào từ trước tới nay, muốn buôn bán,kinh doanh phát triển được thì không thể thiếu đi nhân tố “vốn” Mọi ngườilâu nay vẫn luôn quan niệm rằng, phải có vốn thì mới sinh ra được lợi nhuận,mặc dù về bản chất không phải như vậy, nhưng ta đều công nhận mức độ
Trang 7quan trọng của yếu tố này Dựa vào nguồn vốn nhiều hay ít, mà các nhà đầu
tư, sản xuất mới xác định được quy mô làm ăn lớn hay nhỏ, xác định đượcmặt hàng của riêng mình Đồng thời, vốn cũng là cơ sở quyết định cho việcđầu tư vào tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị hỗ trợ,… thuê nhân công laođộng, từ đó doanh nghiệp có thể phát triển, mở rộng, tăng năng suất tới mứctối ưu Nói rộng ra, cơ cấu kinh tế của một đất nước cũng phụ thuộc không ítvào vốn Vậy, ở quá trình tái sản xuất, thường là tái sản xuất mở rộng của cácnhà đầu tư, yêu cầu vốn phải tăng mà không còn đi vay được như ban đầu nữathì vốn từ đâu mà có ? Câu trả lời được đưa ra là nhờ vào tích luỹ tư bản Tíchluỹ tư bản là gì ? Những nhân tố nào ảnh hưởng tới tích luỹ tư bản? Hiệntrạng tích luỹ tư bản của nhà nước và các doanh nghiệp ở Việt Nam? Làmcách nào để có thể vận dụng tích luỹ tư bản một cách có hiệu quả nhất? Đểđưa ra câu trả lời cho những câu hỏi trên, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài
“Tích luỹ tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ”
Với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc tích luỹ vốn phục vụ phát triểnkinh tế đất nước, trong bài viết này em sẽ trình bày những lý luận chung vềtích luỹ tư bản và ứng dụng lý luận đó vào thực tiễn Việt nam Do hạn chế vềthời gian và trình độ, bài viết sẽ khó tránh khỏi những sai sót trong quá trìnhnghiên cưú, em rất mong nhận được sự đánh giá, hướng dẫn của các thầy, côgiáo Em xin trân trọng cảm ơn
Trang 8Phần 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN TÍCH LUỸ TƯ BẢN
I Bản chất và nguồn gốc của tích luỹ tư bản
1 Tích lũy cơ bản
Tích lũy tư bản là cách thức tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn cho nhà tưbản Tính chất đầu tư được thực hiện bằng các lợi ích tìm kiếm được trước đó.Nhà tư bản trong hoạt động thực hiện để tìm kiếm thặng dư trên thị trường
Và rồi một phần thặng dư đó lại quay ngược trở lại đầu tư tìm kiếm thặng dưmới Các giá trị nhà tư bản có thể tích lũy ngày một nhiều cũng phản ánh quyluật được thực hiện
1.1 Tái sản xuất
Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phụchồi không ngừng Có thể xem xét tái sản xuất trong từng đơn vị kinh tế vàtrên phạm vi toàn xã hội Tái sản xuất diễn ra trong từng đơn vị kinh tế đượcgọi là tái sản xuất cá biệt Còn tổng thể những tái sản xuất cá biệt trong mốiliên hệ hữu cơ với nhau được gọi là tái sản xuất xã hội
Tài sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và đổi mới không
ngừng C.Mác: “Dù cho hình thái xã hội của quá trình sản xuất là như thế nào chăng nữa, thì bao giờ quá trình đó phải có tính chất liên tục, hau cứ từng chu kỳ môtj, phải không ngừng trải qua cùng những giai đoạn ấy Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, thì xã hội cũng không thể ngừng sản xuất Vì vậy, xét trong mối liên hệ không ngừng và trong tiến trình của nó, mọi quá trình sản xuất đồng thời cũng là quá trình sản xuất.”
(Trích: C.Mác bộ “Tư bản”, quyển 1, tập III, tr.8).
Xét về quy mô của tái sản xuất, người ta chia nó thành hai mức độ là: tái sảnxuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Tái sản xuất là quá trình sản xuất được
Trang 9lặp đi lặp lại và tiếp diễn một cách liên tục không ngừng Quá trình tái sảnxuất: sản xuất - phân phối - trao đổi (lưu thông) - tiêu dùng.
1.2 Phân loại:
Xét về quy mô của tái sản xuất, người ta chia nó thành hai mức độ: là tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Theo quy mô: gồm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ.
Tái sản xuất giản đơn là cđặc trưng của nền sản xuất quy mô nhỏ Trog tái sảnxuất giản đơn năng suất, lao động rất thấp, thường chỉ đạt mức đủ nuôi sốngcon người, hưa có sản phẩm thặng dư hoặc nếu có một ít sản phẩm thặng dưthì cũng chỉ sử dụng cho tiêu dùng cá nhân, chứ chưa dùng để mở rộng sảnxuất
Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn
trước, tái sản xuất mở rộng là đặc trưng của các nền sản xuất lớn Để có táisản xuất mở rộng thì năng suất lao động xã hội phải đạt đến một trình độ caonhất định, vượt ngưỡng của sản phẩm tất yếu và tạo ra ngày càng nhiều sảnphẩm thặng dư bởi vì sản phẩm thặng dư dùng để đầu tư thêm vào sản xuấtmới là nguồn lực trực tiếp của tái sản xuất mở rộng
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy việc chuyển từ tái sản xuấtgiản đơn sang tái sản xuất mở rộng là quá trình lâu dài gắn liền với quá trìnhchuyển nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn Quá trình chuyển tái sản xuấtgiản đơn sang tái sản xuất mở rộng là một yêu cầu khách quan của cuộc sống,bởi vì, một là, do dân số thường xuyên tăng lên; hai là, do nhu cầu về vật chất,tinh thần của con người cũng thường xuyên tăng lên Do đó, xã hội phảikhông ngừng mở rộng sản xuất, làm cho số lượng và chất lượng của cải ngàycàng nhiều hơn, tốt hơn
Trang 10Tái sản xuất mở rộng có thể được thực hiện theo hai hướng (có thể gọi làhai mô hình) sau:
Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng: đó là sự mở rộng quy mô sản xuất chủyếu bằng cách tăng thêm các yếu tố đầu vào (vốn, tài nguyên, sức laođộng, ) Do đó, số sản phẩm làm ra tăng lên Còn năng suất lao động và hiệuquả sử dụng các yếu tố sản xuất không thay đổi
Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu
Đó là sự mở rộng quy mô sản xuất làm cho sản phẩm tăng lên chủ yếunhờ tăng năng suất lao động và nâng cao hiêu quả sử dụng các yếu tố đâù vàocủa sản xuất Còn các yếu tố đầu vào của sản xuất căn bản không thay đổi,giảm đi hoặc tăng lên nhưng mức tăng chậm hơn mức tăng năng suất lao động
và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Điều kiện chủ yếu để thực hiện táisản xuất mở rộng theo chiều sâu là ứng dụng rộng rãi các thành tự khoa học -công nghệ tiên tiến
Thông thường khi mới chuyển từ tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất
mở rộng thì đó là tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng, rồi mới dần dầnchuyển sang tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu Nhưng trong những điềukiện có thể, cần thực hiện kết hợp cả hai mô hình tái sản xuất nói trên
Đặc trưng cơ bản của xã hội loài người là lao động Điều kiện tồn tại vàphát triển của xã hội loài người chính là sản xuất ra của cải vật chất để đápứng nhu cầu tiêu dùng không ngừng nâng cao
Trang 11(Trích: C.Mác bộ “Tư bản”, quyền I, tập 3, C22, tr.32).
Tích lũy tư bản khác về bản chất với tích lũy nguyên thủy Nó gắn liền vớiquá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, gắn với quá trình bóc lột của tư bảnđối với lao động làm thuê Tích lúy tư bản gắn liền với tái sản xuất mở rộng
Do đó xét một cách cụ thể thì tích lũy tư bản chẳng qua chỉ là tái sản xuất ra
tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Như vậy thực chất của tích lũy tư bản
là quá trình tăng cường bóc lột giá trị thặng dư với quy mô ngày càng lớn,tăng cường bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê
Bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào nếu xét theo tiến trình đổi mớikhông ngừng của nó, thì đồng thời cũng là quá trình tái sản xuất Quá trìnhnày là tất yếu khách quan theo hai hình thức là tái sản xuất giản đơn và tái sảnxuất mở rộng Tái sản xuất giản đơn không phải là tái sản xuất điển hình củaCNTB mà hình thái điển hình của CNTB là tái sản xuất mở rộng Muốn táisản xuất mở rộng, nhà tư bản không thể sử dụng hết giá trị thặng dư cho tiêudùng cá nhân, mà phải dùng một phần giá trị thặng dư để tăng quy mô đầu tư
so với năm trước Chính phần giá trị thặng dư đó được gọi là tư bản phụ thêm.Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay chuyển hoá giá trị thặng dư trởlại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản Xét một cách cụ thể, tích luỹ tư bảnnhằm tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Sở dĩ giá trị thặng
dư có thể chuyển hoá thành tư bản được là vì tư bản thặng dư đã mang sẵnnhững yếu tố vật chất của một tư bản mới Tích luỹ tư bản là là tất yếu kháchquan do quy luật kinh tế cơ bản, quy luật giá trị và cạnh tranh của phươngthức sản xuất TBCN quy định Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giátrị thặng dư và tư bản tích luỹ chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tưbản Như vậy thực chất của tích luỹ tư bản là biến một phần giá trị thặng dưthành tư bản phụ thêm (tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụ
Trang 12sung vào vốn, vốn càng lớn thì lãi càng lớn, do đó lao động của công nhântrong quá khứ lại trở thành phương tiện mạnh mẽ quay trở lại bóc lột chính
họ
Quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá đã biến thành quyền chiếmđoạt TBCN thông qua quá trình tích luỹ tư bản Khác với nền sản xuất hànghoá giản đơn, trong nền sản xuất TBCN sự trao đổi giữa người lao động vànhà tư bản dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm không một phầnlao động của công nhân mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động khôngcông đó Sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở hữu hoàn toàn không vi phạmquy luật giá trị
Mục đích của nền sản xuất TBCN là sự lớn lên không ngừng của giá trị
Để thực hiện mục đích đó các nhà tư bản không ngừng tích luỹ và tái sản xuất
mở rộng, xem đó là phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhân.Mặt khác do tính cạnh tranh quyết liệt nên các nhà tư bản buộc phải khôngngừng làm cho tư bản của mình tăng lên Điều đó chỉ có thể thực hiện bằngcách tăng nhanh tư bản tích luỹ Do đó động cơ thúc đẩy tích luỹ và tái sảnxuất mở rộng TBCN chính là một quy luật kinh tế cơ bản của CNTB Trongbuổi đầu của sản xuất TBCN, sự ham muốn làm giàu của các nhà tư bảnthường chi phối tuyệt đối nhưng đến một trình độ phát triển nhất định, sự tiêudùng xa phí của các nhà tư bản ngày càng tăng lên theo sự tích luỹ tư bản.Như vậy không có nghĩa là có mâu thuẫn giữa phần tiêu dùng của nhà tư bản
và phần tích luỹ
2 Thực chất và động cơ của tích lũy tư bản
Thực chất của tích lũy cơ bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dưthành tư bản, hay là quá trình tư bản hóa giá trị thặng dư
Trang 13Nói một cách cụ thể, tích lũy tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy môngày càng mở rộng Có thể minh họa tích lũy và tái sản xuất mở rộng tư bảnchủ nghĩa bằng ví dụ:
Năm thứ nhất quy mô sản xuất là 80c + 20v + 20m Giả định 20m không
bị nhà tư bản tiêu dùng tất cả cho cá nhân, mà được phân thành 10m dùng đểtích lũy và 10m dành cho tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản Phần 10m dùng
để tích lúy được phân thành 8c + 2v, khi đó quy mô sản xuất của năm sau sẽ
– Một là, nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư và tưbản tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản C.Mác nói rằng,
tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông của tích lũy mà thôi.Trong quá trình tái sản xuất, lãi (m) cứ đập vào vốn, vốn càng lớn thì lãi cànglớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện đểbóc lột chính người công nhân
– Hai là, quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tếhàng hoá biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa Trong sản xuất hànghoá giản đơn, sự trao đổi giữa những người sản xuất hàng hoá theo nguyêntắc ngang giá về cơ bản không dẫn tới người này chiếm đoạt lao động khôngcông của người kia Trái lại, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến kết quả lànhà tư bản chẳng những chiếm đoạt một phần lao động của công nhân, mà
Trang 14còn là người sở hữu hợp pháp lao động không công đó Nhưng điều đó không
vi phạm quy luật giá trị
Động cơ húc đẩy tích lũy và tái sản xuất mở rộng là quy luật kinh tếtuyệt đối của chủ nghĩa tư bản - quy luật giá trị thặng dư Để thực hiện mụcđích đó, các nhà tư bản không ngừng tích lũy để mở rộng sản xuất, xem đó làphương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhân làm thuê Mặt khác,cạnh tranh buộc các nhà tư bản phải không ngừng là cho tư bản của mình tănglên bằng cách tăng nhanh tư bản tích lũy
Quy luật giá trị thặng dư : các nhà tư bản như tôi đã trình bày ở trên luôn có
xu hướng quay trở lại tái sản xuất mở rộng bởi ham muốn về giá trị thặng dư,lợi nhuận là vô hạn Để làm được điều này, vốn bắt buộc phải tăng, đồngnghĩa với việc nhà tư bản phải tìm nguồn vốn, nâng cao năng suất lao động,m’…
Quy luật cạnh tranh: Để giữ sức cạnh tranh bền vững trong tương lai Nếumột doanh nghiệp mãi không chịu lớn, không phát triển thì ắt sẽ bị đào thải,thu bé đi Muốn có được vị trí nhất định, giành được lợi thế trong thị trườngbuôn bán, các nhà tư bản sẽ tìm đến việc đổi mới thiết bị máy móc, đặc biệt làtrong thời kì khoa học kĩ thuật phát triển như hiện nay Như vậy, yêu cầu vềvốn vẫn là yêu cầu hàng đầu được đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp
Ta thấy rằng ở cả hai quy luật trên, nhà tư bản đều cần đến nguồn vốn Ắthẳn nguồn vốn đầu tiên mà mọi người tìm đến sẽ là phương án đi vay ngânhàng, bạn bè… Tuy nhiên sau đó chủ sản xuất sẽ phải trả lại không chỉ số tiềnmình đã vay mà thậmchí còn phải trả thêm phần lãi Vậy nếu các nhà tư bảnmuốn có vốn của riêng mình, cách duy nhất chính là tích lũy tư bản
3 Những kết luậ C.Mác rút ra từ việc nghiên cứu tái sản xuất mở rộng.
Trang 15Những kết luận mà C.Mác rút ra từ việc nghiên cứu tái sản xuất giản đơnvẫn biểu hiện đầy đủ trong tái sản xuất mở rộng Song nghiên cứu tái sản xuất
mở rộng C.Mác còn rút ra một số kết luận sau:
Sự phân tích trên đã chỉ rõ tư bản tích lũy là giá trị thặng dư chuyển hóathành tư bản, là sản phẩm của chính bản thân phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa C.Mác chỉ rõ; đối với tư bản phụ thêm “đó là giá trị thặng dự được
tư bản hóa Ngay từ lúc mới ra đời, không một nguyên tử giá trị nào của nó
mà lại không phải do lao động không công của người khác tạo ra”
Hơn nữa tư bản tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản,trái lại tư bản ứng trước chiếm một tỷ lệ ngày càng nhỏ bé, không đáng kể,chỉ là “một giọt nước trong dòng sông ngày càng lớn của tích lũy”
Như vậy, toàn bộ sự giàu có của giai cấp tư sản đều là kết quả chiếmđoạt lao động thặng dư do lao động không công của giai cấp công nhân tạo ra
“Hơn nữa là tư bản không làm giàu theo tỷ lệ với lao động cá nhân củahắn hau tỷ lệ với sự không tiêu dùng của cá nhân hắn như người trữ của, màlàm giàu theo tỷ lệ với khối lượng sức lao động của người khác mà hắn bònrút được và tỷ lệ với mức hy sinh mọi sự hưởng thụ trong cuộc sống mà hắnbắt công nhân phải chịu.”
Và “đặt biệt họ làm giàu được rất nhiều bằng cách ăn cắp của những người cha mẹ đem gửi con cho họ làm thợ học việc và phải trả tiền rất đắt cho việc dạy nghề, tuy những đứa trẻ học nghề đó phải ăn đói Mặt khác lợi nhuận trung bình bấy giờ còn thấp, và việc tích lũy đòi hỏi phải tiết kiệm rất nhiều Họ sống như những kẻ trữ của, và thậm chí cũng không dám tiêu dùng đến những lợi tức do tư bản của họ kiếm được”.
(Trích: C.Mác bộ “Tư bản”, quyển I, tập 3, C22, tr.59).
Trang 164 Hệ quả của việc tích lũy tư bản.
+ Tích cực: Đầu tiên, tích luỹ tư bản làm cho quy mô vốn ngày càngtăng, từ đó các nhà tư bản sẽ có điều kiện để đầu tư vào cải tiến kĩ thuật, ứngdụng các thành tựu khoa học công nghệ để giành được lợi thế trong cạnhtranh.Thứ hai, nếu các nhà tư bản hiểu được bản chất của tích luỹ tư bản, nắmđược các nhân tố quy mô tích luỹ, nhờ vậy có thể vận dụng trong sản xuấtkinh doanh để tăng vốn cũng như sử dụng vốn có hiệu quả trong kinh tế Nhờvào tích luỹ tư bản mà năng suất lao động xã hội sẽ tăng lên, như vậy mà nềnkinh tế chung cũng sẽ phát triển tích cực hơn Đồng thời, khấu hao tư liệu sảnxuất sẽ tăng, tránh được những hao mòn vô hình, có ý nghĩa lớn trong việctăng tích luỹ vốn sản xuất và sử dụng tư liệu sản xuất có hiệu quả
+ Tiêu cực: Rủi ro trước hết mà tích luỹ tư bản mang đến là càng ngàycàng làm tăng chênh lệch giàu nghèo Của cải xã hội sẽ tập trung vào tay giaicấp tư sản nhiều hơn nữa, công nhân càng bị bóc lột nặng nề Thất nghiệp,nghèo đói cũng tăng lên Vì vậy, mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp công nhân
và tư sản sẽ ngày càng trở nên sâu sắc Không chỉ vậy, tiêu dùng của ngườilao động sẽ bị hạn chế Thực tế cho thấy một phần không nhỏ thu nhập quốcdân của xã hội tư bản chủ nghĩa dùng vào việc tiêu dùng không sản xuất vàtiêu dùng ăn bám của chúng Phần thu nhập quốc dân dùng vào tích luỹ do đókhá ít so với khả năng, nhu cầu của sự phát triển trong xã hội Sự chênh lệch
đó có khả năng dẫn đến khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa có điều kiện phátsinh, phá hoại nặng nề và thường xuyên nền sản xuất của xã hội tư bản chủnghĩa
5 Tích tụ tư bản và tập trung tư bản
Tích tụ tư bản là sự tăng quy mô của tư bản nhờ vào quá trình tích luỹ tưbản của từng nhà tư bản riêng lẻ Còn tập trung tư bản tuy cũng là là sự tăng
Trang 17quy mô của tư bản chủ nghĩa nhưng lại nhờ vào sự hợp nhất, sát nhập nhiều
tư bản nhỏ sẵn có trong xã hội thông qua tự nguyện sát nhập hoặc cạnh tranh,thôn tính lẫn nhau Tôi xin đưa ra một ví dụ điển hình để chứng minh tậptrung tư bản là hệ quả tất yếu của tích luỹ tư bản Trong quá trình tích luỹ, ắt
sẽ xuất hiện tư bản A lớn hơn các nhà tư bản B, C, D… dó họ tích tụ chưa đủlớn Các tư bản B, C, D này yếu hơn, không thể một mình đối lại với tư bản
A, mà muốn cạnh tranh thì cách tốt nhất chính là liên kết lại Hoặc trong quátrình cạnh tranh thì B, C, D bị tư bản A thôn tính Đó là lí do mà họ tập trunglại Đây là hai hệ quả tất yếu của tích luỹ tư bản Kết quả của hai quá trìnhnày là làm tổng vốn tăng lên, đồng thời làm tăng chênh lệch giàu nghèo Hơnnữa, nó cũng làm thay đổi kết cấu vốn , cụ thể làm cấu tạo hữu cơ của tư bảnngày càng tăng lên
II Những nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản
Quy mô của tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và
tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và thu nhập
Nếu nhà tư bản sử dụng khối lượng giá trị thặng dư vào việc tiêu dùng cánhân nhiều thì khối lượng giá trị thặng dư dành cho tích luỹ sẽ ít đi Khi đóquy mô của tích luỹ tư bản của nhà tư bản đó sẽ giảm đi và ngược lại Ngượclại việc tiêu dùng ít đi sẽ làm tăng khối lượng tích luỹ, khi đó quy mô tích luỹ
sẽ tăng lên Tích luỹ của chế độ TBCN nhằm thu được ngày càng nhiều giá trịthặng dư: sản xuất mở rộng thì chúng càng tăng cường bóc lột công nhân, thuđược thêm nhiều giá trị thặng dư Khi đó nhà tư bản càng có vốn mở rộngthêm sản xuất, quy mô bóc lột càng tăng lên Ngoài tiêu dùng xa phí củamình, nhà tư bản còn phải đối phó với tình trạng cạnh tranh gay gắt trong xãhội tư bản nên họ đều phải tăng thêm tích luỹ để mở rộng sản xuất với quy môlớn hơn giành nhằm phần thắng cho mình trên thương trường
Trang 18Nếu tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó đã cho sẵn, thì khi đóđại lượng của tư bản tích luỹ sẽ do đại lượng tuyệt đối của giá trị thặng dưquyết định Vì vậy những nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ chính lànhững nhân tố quyết định quy mô của khối lượng giá trị thặng dư
Có 4 nhân tố quyết định quy mô của khối lượng giá trị thặng dư:
2.1- Mức độ bóc lột sức lao động
Mức độ bóc lột sức lao động được nâng cao bằng cách cắt xén vào tiềncông của công nhân Như vậy công nhân không những bị nhà tư bản chiếmđoạt lao động thặng dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bịcắt xén một phần tiền công Việc cắt xén tiền công giữ vai trò quan trọngtrong quá trình tích luỹ tư bản
Một cách khác để nâng cao mức bóc lột nữa là tăng cường độ lao động
và kéo dài ngày lao động Việc tăng cường độ lao động và kéo dài ngày laođộng sẽ làm tăng thêm giá trị thặng dư, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng
dư tư bản hoá, tức là làm tăng tích luỹ Ảnh hưởng này còn thể hiện ở chỗ sốlượng lao động tăng thêm mà nhà tư bản chiếm không do tăng cường độ laođộng và kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản một cáchtương ứng (không đòi hỏi phải tăng thêm số lượng công nhân, tăng thêm máymóc, thiết bị mà hầu như chỉ cần tăng thêm sự hao phí nguyên liệu)
Trình độ này phản ánh tỷ lệ giữa lượng tư bản ứng ra mua sức lao độngcông nhân và lượng giá trị thu về được từ lao động đó Thực tế cho thấy rằngcông nhân bị nhà tư bản chiếm đoạt không chỉ thời gian lao động thặng dư màcòn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, cắt xén tiền công để tăng trình
độ bóc lột sức lao động Một phương pháp được áp dụng phổ biến ở các thời
kì trước là kéo dài ngày lao động Tuy nhiên, nó không kéo dài được lâu bởi
Trang 19gặp nhiều giới hạn như độ dài của ngày, thể lực công nhân và sự phản khángcủa họ Bên cạnh đó, nhà tư bản cũng tăng cường độ lao động Việc này hoàntoàn khác so với việc tăng năng suất lao động Ví dụ, vẫn công nghệ như vậy,thời gian như vậy, nhưng người lao động thay vì làm việc đúng với công suấtcủa mình lại bị quản lý nhanh tay hơn, gấp đôi, gấp ba sức lực của mình bằngcách tăng giám sát, thuê đốc công, trả lương theo sản phẩm… Hai phươngpháp trên nằm trong phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Khôngchỉ vậy, hao mòn vô hình và chi phí bảo quản máy móc, thiết bị được giảmđáng kể bởi nhà tư bản chưa cần ứng thêm tư bản để tiếp tục mua máy móc
mà chỉ cần mua nguyên nhiên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất
2.2- Ttrình độ năng suất lao động xã hội
Việc nâng cao năng suất lao động sẽ làm tăng thêm giá trị thặng dư, do
đó tăng thêm bộ phận giá trị thặng dư được tư bản hoá Song vấn đề ở đây làquy mô của tích luỹ không chỉ được quyết định bởi khối lượng giá trị thặng
dư, mà còn bởi khối lượng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, do khối lượnggiá trị thặng dư đó có thể chuyển hoá thành Như vậy năng suất lao động tăng
sẽ làm tăng thêm những yếu tố vật chất của tư bản, do đó làm tăng quy môcủa tích luỹ Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng được nhiều laođộng quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới,chúng làm chức năng tư bản để sản xuất ra tư bản càng nhiều, do đó mà quy
mô của tư bản tích luỹ càng lớn Như vậy năng suất lao động là nhân tố quantrọng quyết định đến quy mô của tích luỹ
2.3- Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Trong quá trình sản xuất, tất cả các bộ phận cấu thành của máy móc đềuhoạt động, tức là máy móc tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng
Trang 20chúng chỉ hao mòn dần, do đó giá tri của chúng được chuyển dần từng phầnvào sản phẩm, vì vậy có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêudùng Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng trong suốt thời gian hoạtđộng máy móc vẫn có tác dụng khi còn đủ giá trị Do đó, nếu không kể đếnphần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì máymóc phục vụ không công đó chẳng khác gì lực lượng tự nhiên
Lực lượng sản xuất xã hội càng phát triển, máy móc càng hiện đại, phầngiá trị của nó chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian càng ít, thì sự chênhlệch giữa tư bản cố định sử dụng và tư bản cố định tiêu dùng càng lớn Do đó
tư bản lợi dụng được những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều
2.4- Quy mô của tư bản ứng trước
Với mức bóc lột không đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do số lượngcông nhân bị bóc lột quyết định Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là
bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì giá trị thặng dư bóc lột được và quy môtích luỹ cũng càng lớn Đối với sự tích luỹ của cả xã hội thì quy mô của tưbản ứng trước chỉ là nhỏ nhưng rất quan trọng C Marx đã nói rằng tư bảnứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông của sự tích luỹ mà thôi
Tích luỹ dưới chế độ TBCN làm cho của cải của xã hội ngày càng tậptrung vào tay giai cấp tư sản, người công nhân càng bị bóc lột nặng nề, càngtăng thêm thất nghiệp và nghèo đói, làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp côngnhân và giai cấp tư sản ngày thêm sâu sắc hơn Mặt khác tiêu dùng của ngườilao động bị hạn chế trong một phạm vi rất nhỏ hẹp Một phần lớn thu nhậpquốc dân của xã hội TBCN là dùng vào việc tiêu dùng không sản xuất và tiêudùng ăn bám của chúng Phần thu nhập quốc dân dùng vào tích luỹ do đótương đối ít so với khả năng và đòi hỏi của sự phát triển khách quan của xãhội Sự chênh lệch đó dẫn đến khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa có điều kiện
Trang 21Tuy nhiên thành quả kinh tế mà xã hội tư bản đạt được lại vô cùng to lớn và
có ý nghĩa lịch sử quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người
Tư bản ứng trước là tổng của tư bản bất biến c và tư bản khả biến v Nếutrình độ bóc lột không thay đổi, khối lượng tư bản khả biến sẽ quyết định khốilượng giá trị thặng dư Nói cách khác, giá trị thặng dư nhiều hay ít sẽ do con
số công nhân bị bóc lột cùng một lúc quyết định, số công nhân này sẽ tươngxứng với đại lượng của bộ phận tư bản bỏ ra để mua sức lao động Các Mácnói rằng tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông của sự tíchluỹ mà thôi, tuy nhiên nó đóng vai trò hết sức quan trọng Bộ phận tư bản khảbiến càng lớn, khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, nhà tư bản
có thể đồng thời có thêm quỹ tiêu dùng, sắm sửa cho bản thân, sống một cuộcsống giàu sang và quỹ tích luỹ để mở rộng quy mô sản xuất Vậy, quy mô của
tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô tích luỹ tư bản càng lớn
III Mối quan hệ tích luỹ - tích tụ - tập trung tư bản
Quy mô của tư bản cá biệt tăng lên thông qua hai con đường là tích tụ vàtập trung tư bản:
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bảnhoá một phần giá trị thặng dư Đây là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt có sẵn thành một
tư bản cá biệt khác lớn hơn Tập trung tư bản diễn ra bằng hai phương pháp làcưỡng bức (các nhà tư bản bị thôn tính do phá sản) và tự nguyện (các nhà tư bảnliên hiệp, tổ chức thành công ty cổ phần) Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệbiện chứng với nhau và tác động thúc đẩy nhau nhưng lại không đồng nhất vớinhau Đây không những là sự khác nhau về mặt chất mà còn khác nhau về mặtlượng
Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản xã hội, nó phản ánh mối quan hệ
Trang 22làm tăng quy mô tư bản xã hội mà chỉ phân phối lại và tổ chức lại tư bản xãhội, nó phản ánh quan hệ trực tiếp giữa các nhà tư bản Tập trung tư bản cóvai trò rất lớn trong quá trình chuyển sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn TBCN vàquá trình chuyển chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao Nếu gạt
bỏ tính chất TBCN, tích tụ và tập trung là hình thức làm tăng thu nhập quốcdân và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn vốn của xã hội trong quá trìnhsản xuất
Quá trình tích luỹ tư bản tất yếu dẫn đến sự phân cực: một bên làm cho chủnghĩa tư bản phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu thông qua sự tích tụ và tậptrung của tư bản, thông qua việc nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản và làm cho giaicấp tư sản ngày càng giàu có xa hoa; Còn một bên là giai cấp những người lao độngkhông tránh khỏi sự thất nghiệp và bần cùng Đó là quy luật chung của tích luỹ tưbản
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở dùng bạo lực để tước đoạtcủa những người sản xuất nhỏ, đặc biệt là nông dân Quá trình đó đã biến chế
độ tư hữu nhỏ dựa trên lao động cá nhân thành chế độ sở hữu TBCN dựa trên
sự bóc lột lao động làm thuê, biến sản xuất nhỏ lạc hậu, phân tán thành sảnxuất lớn, tập trung Đó là sự phủ định chế độ tư hữu của những người sản xuấtnhỏ Nhưng khi phương thức sản xuất TBCN đã hình thành thì quá trình tíchluỹ và cạnh tranh dẫn đến tư bản và sản xuất được tập trung ngày càng lớn, do
đó sản xuất được xã hội hoá cao hơn, lực lượng sản xuất được phát triển mạnhhơn Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với chế độ
sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa phát triển Sự phát triển của mâu thuẫn này
sẽ dẫn đến sự tất yếu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng xã hội cao hơn, tiến bộhơn Đây cũng là xu hướng lịch sử của tích luỹ tư bản, xu hướng tạo ra nhữngtiền đề vật chất và tiền đề xã hội cao cho sự phủ định đối với chủ nghĩa tư
Trang 23IV Quy luật tích lũy tư bản
4.1 Lượng cầu về sức lao động tăng cùng với tích lũy tư bản trong điều kiện kết cấu của tư bản không đổi.
4.1.1 Sự tăng lên của lượng cầu về sức lao động
Tư bản tăng lên thì cũng tăng thêm bộ phận khả biến của nó hay bộ phậnđược biến thành sức lao động Gỉa dụ rằng, cùng với những điều kiện kháckhông thay đổi - nghĩa là để vận một khối lượng tư liệu sản xuất hay tư bảnbất biến nhất định, bao giờ cũng cần một khối lượng sức lao động như trước,thì rõ ràng là lượng cầu về lao động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tănglên một cách tỉ lệ với tư bản, và tư bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thìlượng cầu đó cũng càng tăng lên nhanh bấy nhiêu Khi quy mô tích lũy có thể
mở rộng đột ngột bằng cách chỉ cần thay đổi sự phân chia giá trị thặng dư haysản phẩm thặng dư thành tư bản và thu nhập, vì những lẽ đó nên nhu cầu tíchlũy của tư bản có thể vượt quá sự tăng thêm của sức lao động hay số côngnhân, lượng cầu về công nhân có thể vượt quá lượng cung về công nhân và vìthế tiền công có thể tăng lên Vì mỗi năm người ta sử dụng nhiều công nhânhơn năm trước, nên sớm hay muộn ắt phải đến lúc mà nhu cầu của tích lũy bắtđầu vượt quá lượng cung bình thường về lao động, và do đó tiền công cũng sẽtăng lên Tích lũy tư bản là làm tăng thêm giai cấp vô sản
4.1.2 Sự tăng lên về tiền công không ngăn cản việc tăng tích lũy tư bản
Như ta đã thấy, do bản chất của nó, tiền công đòi người lao động bao giờcũng phải cung cấp một số lượng lao động không công nhất định Hoàn toànkhông nói đến trường hợp tăng tiền công trong trường hợp định giá cả laođộng hạ xuống thì trong trường hợp tốt nhất tăng tiền công cũng có nghĩa làgiảm bớt về số lượng phần lao động không công mà người lao động phải cung
Trang 24cấp Sự giảm bớt này không bao giờ có thể đi đến mức đe dọa sự tồn tại củabản thân chế độ này Theo cách nói của toán học, có thể nói rằng: đại lượngtích lũy này là một biến số độc lập, đại lượng tiền công là một biến số phụthuộc, chứ không phải ngược lại.
Nếu khối lượng lao động không công do giai cấp công nhân cung cấp và dogiai cấp các nhà tư bản tích lũy, lại tăng lên khá nhanh đến mức nó chỉ có thểbiến thành tư bản khi nào có một sự tăng thêm khác thường của số lao độngđược trả công, thì tiền công sẽ tăng lên, và nếu những điều kiện khác khôngthay đổi, thì lao động không công sẽ giảm xuống một cách tương xứng.Nhưng một khi sự giảm xuống này chạm tới cái điểm mà ở đấy lao độngthặng dư nuôi dưỡng tư bản không còn cung cấp với một khối lượng khốilượng bình thường nữa, thì có ngay một sự phản ứng: một phần ít hơn của thuthaoaj sẽ được tư bản hóa, tích lũy chững lại, và sự vận động đi lên của tiềncông sẽ đánh bật trở lại Như vậy, sự tăng lên của giá cả lao động không vượtquá những giới hạn bảo đảm không những giữ nguyên được những cơ sở củachế độ tư bản chủ nghĩa mà còn đảm bảo cho tái sản xuất của chế độ đó đượcthực hiện với quy mô mở rộng
4.2 Sự giảm bớt tương đối bộ phận tư bản khả biến trong tiến trình tích lũy và tích tụ đi kèm theo tiến trình đó
Một khi đã có những cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa, thì trong tiếntrình tích lũy nhất định sẽ đến lúc sự phát triển của năng suất lao động xã hộitrở thành đòn bẩy mạnh nhất của tích lũy Năng suất lao động tăng thể hiện ởviệc giảm bớt khối lượng lao động so với khối lượng tư liệu sản xuất mà laođộng đó làm cho hoạt động hay là thể hiện ở sự giảm bớt đại lượng của nhân
tố chủ quan của quá trình lao động so với các nhân tố khách quan của quá
Trang 25trình đó Sự thay đổi đó của kết cấu kỹ thuật của tư bản, sự tăng lên của khốilượng tư liệu sản xuất so với khối lượng sức lao động đnag làm cho các tưliệu sản xuất đó sống lại, lại phản ánh trở lại vào trong kết cấu giá trị của tưbản, vào trong việc tăng thêm bộ phận bất biến của giá trị tư bản, bằng cáchlấy vào bộ phận khả biến của nó Ví dụ: lúc đầu 50% của một tư bản nào đóđược chi cho tư liệu sản xuất, còn 50% được chi cho sức lao động; sau đócùng với sự phát triển của năng suất lao động 80% được chi cho tư liệu sảnxuất và 20% được chi cho sức lao động Các quy luật về sự tăng lên của bộphận bất biến của tư bản so với bộ phận khả biến, ở mỗi bước đều được xácminh.
Tuy vậy, sự giảm bớt phần khả biến của tư bản so với phần bất biến hay là sựthay đổi kết cấu của tư bản, chỉ nói lên một cách gần đúng sự biến đổi trongkết cấu của các bộ phận vật chất của tư bản mà thôi Cùng với năng suất đãtăng lên của lao động thì không những khối lượng tư liệu sản xuất nó tiêudùng tăng lên, mà giá trị của tư liệu sản xuất so với khối lượng của nó lại còngiảm xuống nữa Như vậy giá trị của tư liệu sản xuất tăng lên một cách tuyệtđối, nhưng không tăng theo cùng tỉ lệ với khối lượng của nó Vì vậy, sự chênhlệch giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến tăng lên chậm hơn nhiều so với
sự chênh lệch giữa khối liệu tư liệu sản xuất do tư bản bất biến chuyển hóathành Sự chênh lệch trên cũng tăng lên với sự chênh lệch dưới, nhưng vớimột mức độ ít hơn Vả lại nếu sự tiến bộ của tích lũy làm giảm bớt đại lượngtương đối của bộ phận tư bản khả biến thì như vậy tuyệt nhiên không phải nóloại trừ sự tăng lên của đại lượng tuyệt đối của nó Gỉa định răng một giá trị
tư bản lúc đầu tự chia ra thành 50% là tư bản bất biến và 50% là tư bản khảbiến, về sau lại chia thành 80% là tư bản bất biến và 20% là tư bản khả biến.Nếu trong thời gian đó số tư bản lúc đầu gồm 6000 chẳng hạn, đã tăng lên