1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận di chúc hợp pháp

73 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di Chúc Hợp Pháp Theo Quy Định Của Pháp Luật Dân Sự Việt Nam
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 361,5 KB
File đính kèm TIỂU LUẬN DI CHÚC HỢP PHÁP.rar (47 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam 4. Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định về di chúc hợp pháp5. Sự khác biệt giữa di chúc hợp pháp và di chúc có hiệu lực pháp luậtTHỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ DI CHÚC HỢP PHÁP1. Quy định pháp luật về điều kiện để di chúc hợp pháp1.1. Người lập di chúc phải có năng lực lập di chúc1.2. Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện1.3. Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội1.4. Hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật2. Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về di chúc hợp pháp2.1. Những ưu điểm đạt được2.2. Những hạn chế còn tồn tại3. Thực tiễn áp dụng quy định về điều kiện để di chúc là hợp pháp trong giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại tòa án nhân dân3.1. Thực tiễn áp dụng quy định về điều kiện để di chúc là hợp pháp trong giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại tòa án nhân dân và những khó khăn, vướng mắc3.2. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc3.3. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ DI CHÚC LÀ HỢP PHÁP 1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn pháp luật Tranh chấp giữa những người thừa kế theo di chúc với nhau Nội dung di chúc không chặt chẽ, có nhiều người hưởng di sản, họ lại không có sự nhường nhịn nhau, mỗi người cố tình hiểu và giải thích nội dung của di chúc theo hướng có lợi cho mình nhất. Vì vậy, tranh chấp tất yếu sẽ xảy ra. 3.3. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc Tranh chấp về hiệu lực của di chúc do di chúc miệng nhưng không có hai người làm chứng ghi chép như quy định, tuy là di chúc có điều kiện nhưng Tòa án vẫn xử theo di chúc

Trang 1

Tiểu luận

Đề tài: "Di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam"

Trang 2

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận

7 Kết cấu tiểu luận

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC VÀ DI CHÚC HỢP PHÁP

1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại di chúc

Trang 3

3.3 Di chúc hợp pháp theo pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm

1991 đến năm 2016

3.4 Di chúc hợp pháp theo quy định Việt Nam từ năm 2017 đến nay

4 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định về di chúc hợp pháp

5 Sự khác biệt giữa di chúc hợp pháp và di chúc có hiệu lực pháp luật

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ

DI CHÚC HỢP PHÁP

1 Quy định pháp luật về điều kiện để di chúc hợp pháp

1.1 Người lập di chúc phải có năng lực lập di chúc

1.2 Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện

1.3 Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật và khôngtrái đạo đức xã hội

1.4 Hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật

2 Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về di chúc hợp pháp

2.1 Những ưu điểm đạt được

3.2 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc

3.3 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trang 4

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ DI CHÚC LÀ HỢP PHÁP

1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật

2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn pháp luật

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Danh mục từ viết tắt

BLDS Bộ luật dân sựUBND Ủy ban nhân dânTAND Tòa án nhân dânTANDTC Tòa án nhân dân tối cao

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngay từ thuở xa xưa kể từ khi con người bắt đầu có sự tư hữu tài sản,khi một người chết để lại khối tài sản mà người đó tạo dựng, sở hữu thôngqua quá trình lao động khi người đó còn sống, thì việc xử lý khối tài sản đócủa người đã chết để phân chia cho những người còn sống là vấn đề đã đượcđặt ra Tuy nhiên, ở mỗi hình thái kinh tế xã hội khác việc xử lý khối tài sản

do người chết để lại được thực hiện theo những cách khác nhau Ở hình tháikinh tế xã hội cộng sản nguyên khi xã hội chưa có nhà nước, việc xử lý khốitài sản thừa kế chủ yếu xử lý thông qua các phong tục, tập quán, cách hành xửcủa xã hội lúc bấy giờ Quan hệ thừa kế gắn với quan hệ hôn nhân, huyếtthống và nuôi dưỡng Khi một thành viên trong gia đình chết đi thì tài sản củangười chết chuyển cho người khác còn sống Tài sản của ông, bà, cha, mẹ đểlại cho con cháu là công sức, thành quả của họ đạt được khi còn sống Khi bắtđầu xuất hiện nhà nước, đồng thời cũng chính là sự xuất hiện của pháp luật thìvấn đề thừa kế luôn đặt ra xuyên suốt trong các quy định của pháp luật dân

sự, quan hệ thừa kế không chỉ gói gọn trong quan hệ gia đình, huyết thống,nuôi dưỡng mà người để lại di sản có quyền bằng ý chí của mình thể hiệntrong di chúc định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ ai, cho bao nhiêu… Hìnhthức thừa kế như vậy được gọi là thừa kế theo di chúc

Tuy nhiên, để ý chí đó của người để lại di sản được tôn trọng và thựchiện thì một trong những điều kiện tiên quyết là bản di chúc họ để lại phảihợp pháp, tức là phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định Mỗi một thể chếchính trị, mỗi một hệ thống pháp luật có quy định khác nhau về điều kiện đểmột bản di chúc là hợp pháp

Ở Việt Nam bắt đầu từ Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm

1995 đến Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đều quy định rấtchi tiết về điều kiện để di chúc là hợp pháp Tuy nhiên, để xác định như thế nào

là một bản di chúc hợp pháp là một vấn đề không hề đơn giản do các quy định

Trang 7

của pháp luật còn chưa rõ ràng, trong thực tiễn áp dụng có nhiều cách hiểukhác nhau Điều này đã dẫn đến tình trạng một số vụ án tranh chấp về thừa kế

có liên quan đến tính hợp pháp của di chúc xét xử nhiều lần mà không khiếncho những người trong cuộc "tâm phục khẩu phục" Không những thế, do trình

độ nhận thức về pháp luật của người dân còn chưa cao, khi họ thể hiện ý chí(lập di chúc) thường không chú ý đến các điều kiện mà pháp luật quy định về

di chúc hợp pháp, do đó khi người lập di chúc chết rất dễ dẫn đến tranh chấpgiữa những người thừa kế, gây mất đoàn kết gia đình, đồng thời hậu quả là dichúc bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ làm cho ý chí của người để lại di sảnđược thể hiện trong di chúc không được tôn trọng và thực hiện Vì vậy, việcnghiên cứu những quy định của pháp luật dân sự hiện hành về điều kiện để dichúc là hợp pháp nhằm đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của lý luận và thực tiễn

Với những lý do đó, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" làm đề tài khóa luận tốt

nghiệp đại học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thừa kế luôn là nội dung được nghiên cứu, dành được sự quan tâm rấtlớn trong lĩnh vực khoa học pháp lý Trong đó thừa kế theo di chúc nói chung

và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng đã được hầu hết các luậtgia, các nhà lập pháp của các nước trên thế giới nghiên cứu

Ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnhvực thừa kế Trong đó có một số công trình của một số tác giả tiêu biểu như:

- Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay:Luận án tiến sĩ luật học/Phùng Trung Tập, Hà Nội - 2002

- Thừa kế theo di chúc theo quy định của BLDS: Luận án tiến sĩ luậthọc/Phạm Văn Tuyết, Hà Nội - 2003

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trongBLDS: Luận án tiến sĩ luật học/Nguyễn Minh Tuấn, Hà Nội, 2007

Trang 8

- Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay:sách chuyên khảo của TS Phùng Trung Tập, Nxb Tư pháp, 2004

- Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam của TS.Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 1999

- Luật thừa kế Việt Nam: sách chuyên khảo của TS Phùng Trung Tập,Nxb Hà Nội, 2008

- Pháp luật thừa kế của Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn của

TS Nguyễn Minh Tuấn, Nxb Lao động - Xã hội, 2009

- Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp của TS PhạmVăn Tuyết và TS LS Lê Kim Giang, Nxb Tư pháp, 2013,…

Liên quan đến di chúc hợp pháp, ở những khía cạnh khác nhau, cho đếnnay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đã được một số tác giả đề

cập đến như : Công trình nghiên cứu "Thừa kế theo di chúc trong luật dân sự Việt Nam" của Giáo sư Vũ Văn Mẫu; "Thừa kế theo di chúc trong quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam" của TS Phạm Văn Tuyết; "Những qui định của

Bộ luật dân sự (Dự thảo) về sự sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc và hiệu lực của di chúc" của tác giả Phùng Trung Tập đăng trên Tạp chí Luật học số 2/1995, tr 46 – 51; "Những khó khăn, vướng mắc trong việc lập di chúc và chứng nhận di chúc" của tác giả Thái Công Khanh đăng trên Tạp chí Toà án

nhân dân, số 13/2010, tr 32 - 34, 39… Tuy vậy, các công trình trên mới chỉdừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát về điều kiện để một bản dichúc là hợp pháp theo pháp luật dân sự Việt Nam, hoặc chỉ tiếp cận dưới mộtvài góc độ điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp

Với tình hình trên, đề tài " Di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" hoàn toàn không có sự trùng lặp với các công trình

nghiên cứu khoa học đã được công bố

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài khóa luận

a Đối tượng nghiên cứu

Trang 9

Khóa luận nghiên cứu những vấn đề lý luận về di chúc hợp pháp; cácquy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về điều kiện để di chúc là hợp pháp.Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này thông qua hoạt động xét xửcủa Tòa án nhân dân trong những năm gần đây.

b Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận không đi vào nghiên cứu toàn diện những quy định của phápluật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, mà chỉ tập trungnghiên cứu về một số vấn đề lý luận về di chúc hợp pháp; các điều kiện để dichúc là hợp pháp được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 Qua đó tácgiả sẽ phân tích, làm rõ các quy định của Bộ luật dân sự hiện hành, trên cơ sở

có đối chiếu, so sánh với các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 Mặtkhác, khóa luận cũng sẽ nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định trongpháp luật dân sự hiện hành về điều kiện để di chúc là hợp pháp trong việc giảiquyết các tranh chấp về thừa kế tại các tòa án nhân dân các cập trong phạm vi

cả nước từ năm 2006 đến nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nhằm làm rõ những quy định của

Bộ luật Dân sự năm 2015 về di chúc hợp pháp; đánh giá việc áp dụng các quyđịnh này trên thực tiễn; phân tích một số vướng mắc, bất cập trên thực tiễnkhi áp dụng các quy định pháp luật về di chúc hợp pháp từ đó đề xuất một sốkiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật vấn đề này

Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề sau:+ Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan tới di chúc và

di chúc hợp pháp;

+ Phân tích và nêu bật được nội dung các quy định của pháp luật hiệnhành về di chúc hợp pháp;

Trang 10

+ Đưa ra thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về cácđiều kiện để di chúc là hợp pháp, đồng thời chỉ ra những vướng mắc và bấtcập của những quy định đó;

+ Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm áp dụng có hiệu quả cácquy định pháp luật về điều kiện để di chúc là hợp pháp

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; tưtưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng như sử dụng phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

Đối với hoạt động nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sựViệt Nam từ trước giai đoạn 1945 đến nay;

- Phương pháp so sánh: Sử dụng trong Chương 1 khi so sánh các quyđịnh trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kì Phương pháp so sánhcũng được sử dụng trong Chương 1 khi đề cập tới quan điểm của các tác giả

về vấn đề có liên quan tới đối tượng nghiên cứu của đề tài Phương pháp nàycũng được sử dụng trong Chương 2 khi so sánh giữa các hình thức di chúctheo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 với quy định về hình thức di chúctrong Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải được sử dụng xuyên suốttrong toàn bộ đề tài để làm rõ những vấn đề được đưa ra

- Ngoài ra đề tài có sử dụng một số phương pháp khác như phươngpháp giả định, tình huống…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Việc nghiên cứu, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của Pháp luậtDân sự Việt Nam trong khuôn khổ đề tài sẽ không chỉ có ý nghĩa rất quantrọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa rất to lớn trong việc hạn chế các tranh

Trang 11

chấp dân sự liên quan đến hình thức di chúc, hoàn thiện các quy định phápluật dân sự về hình thức di chúc

- Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận về di chúc, thừa kếtheo di chúc và hình thức của di chúc, tạo nền tảng lý luận cho việc phân tíchcác quy định pháp luật Việt Nam về hình thức di chúc;

- Luật văn đã khái quát quá trình hình thành và phát triển các quy định vềhình thức di chúc theo pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn đã chỉ rõđược những bước phát triển trong các quy định pháp luật về di chúc và hìnhthức di chúc;

- Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, Luận văn đã đề xuất một

số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc hiện nay

7 Kết cấu của luận văn:

Kết cấu của luận văn bao gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về di chúc và di chúc hợp pháp Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về di chúc hợppháp

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thihành các quy định về điều kiện để di chúc là hợp pháp

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC VÀ DI CHÚC HỢP PHÁP

1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại di chúc

1.1 Khái niệm

Di chúc đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hìnhthức khác nhau Trong Kinh Cựu ước – bộ sách lớn nhất, cổ nhất và nguyênvẹn nhất còn được lưu truyền đến ngày nay, người xưa đã chép lại rằng bản dichúc của Noe đã được viết bằng tay, rồi được ông đóng con dấu của mình lên

để chứng thực; hay như việc Jacob, bằng lời nói, đã để lại cho Joseph phần tàisản gấp đôi so với những người con khác của mình

Có thể câu chuyện từ trong kinh sách tôn giáo không thể là một bằng

chứng xác thực cho bất cứ một vấn đề mang tính thực tiễn nào, nhưng ít nhất

từ những mẩu chuyện như thế, ta cũng có thể nhận thấy rằng: ngay trong lòng thế giới cổ đại, di chúc đã xuất hiện, và xuất hiện với rất nhiều hình thức

đa dạng khác nhau, có thể bằng bản viết tay, cũng có thể chi bằng lời nói.

Điều này là minh chứng cho vị trí, vai trò của di chúc trong đời sống xã hội

Di chúc là cơ sở quan trọng nhất để thể hiện ý chí của cá nhân nhằmchuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết và cũng là cơ sở để xáclập quyền sở hữu di sản của người được hưởng di sản thừa kế đối với di sảnthừa kế

Trong thực tế cuộc sống tồn tại hai khái niệm “Di chúc” và “Chúc thư”.Trong thực tế, di chúc được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau như “Di chúc”,

“Chúc thư”, “Chúc ngôn” Trong đó, “Di chúc” là thuật ngữ dùng để chỉ các

di chúc nói chung, “Chúc thư” là thuật ngữ chỉ về các di chúc viết (di chúcvăn bản), “Chúc ngôn” là thuật ngữ chỉ về các di chúc miệng Do đó, tất cảcác thuật ngữ này đều là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sảncủa mình cho người khác sau khi chết Về mặt pháp lý, BLDS 2005 chỉ sửdụng thuật ngữ Di chúc, không sử dụng trực tiếp thuật ngữ Chúc thư và Chúc

Trang 13

ngôn Tuy nhiên, BLDS vẫn qui định về Di chúc bằng văn bản và Di chúcmiệng Theo quy định tại điều 646 Bộ luật dân sự 2005, di chúc được hiểu là

“sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Di chúc là ý chí chủ quan của người có tài sản định đoạt tài sản của mình

cho người khác sau khi chết Theo luật gia Ulpian thì: “Di chúc là sự thể hiện

ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết”.

Luật La Mã quy định trong di chúc không được phép “im lặng bỏ qua” đốivới hàng thừa kế thứ nhất (các con, nếu con chết thì các cháu) Nếu “im lặng

bỏ qua” thì di chúc được coi là vô hiệu cho dù di chúc đó có tuân thủ đầy đủcác điều kiện khác Ví dụ ông A có ba người con là B, C, D, ông để lại dichúc với nội dung: “Tôi cho hai con tôi là B và C mỗi đứa một nửa tài sản”

mà không ghi “truất quyền thừa kế của D” thì di chúc vô hiệu vì đã im lặng

bỏ qua D Nếu A chết tài sản sẽ được chia theo luật cho B, C, D

Di chúc được thể hiện dưới hai hình thức: bằng văn bản và bằng lời nói.Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếngnói của dân tộc mình Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đedoạ, do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằngvăn bản, thì có thể lập di chúc bằng lời nói Di chúc bằng lời nói chỉ được coi

là hợp pháp, nếu người di chúc bằng lời nói thể hiện ý chí cuối cùng của mìnhtrước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứngghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Sau 3 tháng, kể từ thời điểm lập dichúc bằng lời nói mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì dichúc bằng lời nói bị huỷ bỏ

Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cáchhiểu khác nhau, thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùngnhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây củangười chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kếtheo di chúc Nếu những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di

Trang 14

chúc, thì coi như không có di chúc và di sản được thừa kế theo pháp luật.Tóm lại, theo quy định của BLDS thì “di chúc là sự thể hiện ý chí của cánhân nhằm dịch chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Vớiquy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau:

– Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủthể nào khác;

– Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình chongười khác;

– Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó dichúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dâ sư nói chung vàđiều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy một người muốn định đoạttài sản của mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật

về thừa kế theo di chúc người lập di chúc có quyền để lại tài sản là di sản củamình cho bất cứ ai dựa trên tình cảm và ý chí của họ Theo quy định củaBLDS thì có hai hình thức của di chúc là di chúc miệng và di chúc bằng văn

bản Tại Điều 649 quy định “ di chúc phải được thành lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng…”

1.2 Đặc điểm của di chúc

Theo Điều 646 BLDS 2005, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trongviệc chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết Di chúc cónhững đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là, di chúc thể hiện ý chí của người để lại di chúc trong việc định đoạt

tài sản của mình Một trong những ngụyên tắc cơ bản của việc giải quyết thừa

kế theo di chúc là phải tôn trọng ý chí của người để lại di sản Nếu như người

để lại di sản lập di chúc về việc phân chia di sản cho người khác thì căn cứvào nguyện vọng của người để lại di sản được ghi nhận trong bản di chúc,phần tài sản sẽ phải được ưu tiên phân chia theo ý chí của người để lại di sản

Trang 15

Đó chính là sự tôn trọng ý chí của người để lại di sản.

Điều 631 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Mọi cá nhân đều

bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng disản theo di chúc hoặc theo pháp luật Ý chí của người để lại di sản thừa kếđược thể hiện qua các quyền của người lập di chúc là:

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia disản

Hai là, di chúc ghi nhận sự chuyển dịch tài sản của người để lại di sản cho

người được hưởng thừa kế sau khi người đó chết

Có thể khẳng định di chúc là một giao dịch dân sự đặc biệt Bộ luật dân sựquy định rõ, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phươnglàm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự Mộtgiao dịch dân sự có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định tạiĐiều 122 BLDS Tính đặc biệt của di chúc được thể hiện ở những khía cạnhsau đây:

- Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thực tế khi người để lại di sản thừa kếchết;

- Việc định đoạt tài sản thừa kế phải tuyệt đối tuân thủ theo nội dung của

di chúc, không được thay đổi hay giải thích nội dung của di chúc;

- Việc kiểm chứng/đối chiếu di chúc là rất khó khăn vì người để lại di sản

Trang 16

thừa kế đã chết.

Ba là, di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu nó đáp ứng đầy đủ các điều

kiện do pháp luật quy định

Di chúc chứa đựng ý chí đơn phương của người để lại di sản thừa kế Dichúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người để lại di sản thừa kế chết Do vậy, luậtpháp yêu cầu di chúc phải đáp ứng những điều kiện nhất định đã được quyđịnh tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 thì bản di chúc đó mới được coi là hợppháp và chỉ khi là một bản di chúc hợp pháp thì ý chí của người để lại di sảnthừa kế là muốn chuyển dịch tài sản của mình cho ai mới được công nhận vàbảo đảm thực hiện Trong trường hợp nếu nội dung di chúc không rõ ràng,hoặc nghi ngờ về tính chính xác thì bản di chúc đó có thể bị huỷ bỏ

Bốn là, di chúc chỉ có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc

chết

Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất của di chúc với một hợp đồng dân sự.Nếu hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết hợp đồng thì thờiđiểm bắt đầu có hiệu lực của di chúc được xác lập kể từ khi người lập ra nóchết

Năm là, di chúc luôn trong tình trạng có thể bị người lập ra nó huỷ bỏ.

Xuất phát từ đặc điểm chủ sở hữu có toàn quyền trong việc định đoạt khối tàisản thuộc quyền sở hữu của mình, do đó, người lập di chúc hoàn toàn cóquyền huỷ bỏ di chúc mà mình đã lập trước đó để định đoạt lại khối tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình Vì vậy, di chúc đã lập không mang tính cốđịnh, nó có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào, việc thay đổi này phụ thuộc vào ýchí của người lập di chúc Bởi lẽ, di chúc chỉ là hình thức để ghi lại ý chí của

họ Nói một cách khác đi, người lập di chúc có ý định hình thành quan hệ

Trang 17

thừa kế giữa mình với người có tên trong di chúc Sự định đoạt trong di chúcthể hiện ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào một cam kết hay một thoảthuận nào Do vậy, trong thời gian còn sống, người lập di chúc có thể thay đổimột, một số hoặc toàn bộ nội dung của di chúc tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, môitrường, tình cảm hiện tại Chính vì vậy pháp luật thừa kế quy định từ thờiđiểm mở thừa kế, nếu một người để lại nhiều bản di chúc thì chỉ bản di chúcnào thể hiện ý chí tự nguyện sau cùng mới được coi là có hiệu lực Các dichúc lập ra trước đó đều được coi là chưa từng tồn tại

Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳlúc nào Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúctrước Để bảo đảm cho việc thay đổi nội dung di chúc được tiến hành theoquy định của pháp luật và bảo đảm tính pháp lý của các lần thay đổi, luậtpháp cần quy định chặt chẽ việc sửa đổi, bổ sung di chúc Có thể khẳng địnhrằng, việc xác định các điều kiện có hiệu lực của di chúc là nội dung quantrọng và truyền thống của chế định thừa kế theo di chúc

Trước đây, Luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện để một dichúc có hiệu lực như: người lập di chúc phải có khả năng lập di chúc (con gái

từ 12 tuổi, con trai từ 14 tuổi trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọngtội); hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật (di chúc viếtphải được quan tòa, quan chấp chính chứng thực, di chúc miệng phải có bảyngười làm chứng, người thừa kế phải được chỉ định rõ ràng, chính xác);

1.3 Phân loại di chúc

Căn cứ theo quy định tại Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc phảiđược lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì cóthể di chúc miệng Cụ thể:

a Di chúc bằng văn bản

Căn cứ theo quy định Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc bằng vănbản bao gồm: di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; di chúc bằng

Trang 18

văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng; di chúcbằng văn bản có chứng thực.

*Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Căn cứ theo quy định tại Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúcphải tự viết và ký vào bản di chúc Việc lập di chúc phải thể hiện các nội dungchủ yếu sau: ngày, tháng, năm lập di chúc; họ tên và nơi cư trú của người lập

di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại vànơi có di sản; ngoài ra, di chúc có thể có những nội dung khác Di chúc khôngđược viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗitrang phải ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặcngười làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa

* Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tựmình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưngphải có ít nhất hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉvào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứngxác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc Việclập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định về nộidung của di chúc tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 và quy định về người làmchứng cho việc lập di chúc tại Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015

Đối với quy định về người làm chứng, căn cứ theo quy định tại Điều 632

Bộ luật Dân sự 2015, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc,trừ những trường hợp sau đây:

- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc;

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Trang 19

* Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực

Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản dichúc

 Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dâncấp xã phải tuân thủ theo thủ tục sau đây:

- Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứngviên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã Côngchứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã phảighi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc

ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi nhận bản di chúc đã đượcghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viênhoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã ký vào bản dichúc

- Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không ngheđược bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ ngườilàm chứng và người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước côngchứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã.Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp

xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làmchứng

Tuy nhiên, một số trường hợp, Công chứng viên, người có thẩm quyềncủa UBND cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếuthuộc một trong các trường hợp sau:

+ Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;+ Người có cha, mẹ, vợ hoặc chống, con là người thừa kế theo di chúchoặc theo pháp luật;

+ Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc

Trang 20

 Ngoài ra, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở củamình để lập di chúc.

 Các trường hợp di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được côngchứng hoặc chứng thực:

- Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấpđại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứngthực

- Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của ngườichỉ huy phương tiện đó

- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điềudưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viên, cơ sở đó

- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ởvùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị

- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của

cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó

- Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt

tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục,

cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó

b Di chúc miệng

Căn cứ theo quy định tại Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc miệng cóthể được lập trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa vàkhông thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng; sau 03 tháng

kể từ thời điểm di chúc miêng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn,sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên hủy bỏ

Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ýchí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi

Trang 21

người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại,cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện

ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩmquyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng

c Di chúc có hiệu lực khi nào?

Về điều kiện hợp pháp của di chúc, Điều 630 Bộ luật Dân sự quy định:

- Điều kiện về người lập di chúc:

 Người thành niên được quyền lập di chúc khi minh mẫn, sáng suốttrong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

 Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi lập di chúc nếu được cha,

mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc và phải lập bằngvăn bản

 Người bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ thì phải đượcngười làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứngthực

- Điều kiện về di sản: Di sản nêu trong di chúc phải còn tồn tại vào thờiđiểm mở thừa kế Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thìphần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực

- Điều kiện về người hưởng di sản theo di chúc: Tổ chức, cơ quan đượcchỉ định là người thừa kế phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Ngược lại,người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập dichúc thì di chúc không còn hiệu lực toàn bộ hoặc một phần

- Điều kiện về nội dung của di chúc: Nội dung di chúc không vi phạmđiều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và gồm: Ngày, tháng, năm lập dichúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ và tên người, tổ chứcđược hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản…

Trang 22

- Điều kiện về hình thức của di chúc: Không trái quy định của pháp luật.Theo đó, di chúc phải được lập bằng văn bản Nếu không thể lập di chúc bằngvăn bản thì mới lập di chúc miệng:

 Di chúc bằng văn bản: Có thể được công chứng, chứng thực hoặc khôngnhưng phải đáp ứng các điều kiện về nội dung, người lập di chúc… nêutrên Đồng thời, nếu không có người làm chứng thì người lập di chúc bắtbuộc phải tự viết và ký vào bản di chúc

 Di chúc miệng: Chỉ hợp pháp khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuốicùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng và ngay sau khi thểhiện xong ý chí của người này, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tênhoặc điểm chỉ và được xác nhận chữ ký trong thời hạn 05 ngày làm việc

 Không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu có nhiều trang thì mỗitrang phải ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc;

 Nếu di chúc bị tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làmchứng phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa đó

Như vậy, chỉ khi người để lại di chúc chết và di chúc hợp pháp tại thờiđiểm mở thừa kế thì di chúc mới có hiệu lực

2 Khái niệm và đặc điểm của di chúc hợp pháp

2.1 Khái niệm di chúc hợp pháp

Pháp luật quy định di chúc có 2 hình thức bao gồm: di chúc bằng văn bản

và di chúc miệng, văn bản có thể được đánh máy hoặc viết tay Bởi di chúc làvăn bản, lời nói thể hiện ý chí, nguyện vọng của người để lại di sản đối với tàisản của mình, di chúc mang tính chất riêng tư, bí mật do vậy di chúc thườngkhông được tiết lộ hoặc rất ít người biết khi người để lại di chúc còn sống.Trên thực tế, nhiều bản di chúc không được công nhận bởi khi xem xétcác điều kiện theo quy định của pháp luật thì bản di chúc đó không hợp pháp.Vậy di chúc hợp pháp là di chúc có đủ các điều kiện căn cứ theo Điều 630 Bộluật dân sự 2015 như sau:

Trang 23

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bịlừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạođức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật

- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phảiđược lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý vềviệc lập di chúc

- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữphải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứngthực

- Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi làhợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định

- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ýchí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khingười di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại,cùng ký tên hoặc điểm chỉ

Theo quy định trên thì di chúc chỉ được lập dưới hai hình thức như sau:

- Thứ nhất, di chúc phải được lập thành văn bản Đối với trường hợp này

sẽ bao gồm bốn loại văn bản di chúc như sau:

 Một là, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

 Hai là, di chúc bằng văn bản có người làm chứng

 Ba là, di chúc bằng văn bản có công chứng

 Bốn là, di chúc bằng văn bản có chứng thực

- Thứ hai, di chúc được xác lập bằng miệng, trong trường hợp người lập

di chúc bằng miệng bị đe dọa đến tính mạng thì có thể được lập di chúc bằngmiệng tuy nhiên đối với loại di chúc này thì bắt buộc phải có người làmchứng và có thể ghi âm ghi hình hoặc trực tiếp viết ra bằng văn bản để tránhnhững trường hợp tranh chấp về sau

Trang 24

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện

ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩmquyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng Sau

03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minhmẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ (Điều 629)

2.2 Đặc điểm di chúc hợp pháp

Những bản di chúc có hiệu lực pháp luật phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Thứ nhất: Điều kiện về năng lực chủ thể

+ Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đóbịmất năng lực hành vi dân sự.

+ Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập dichúc,nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập dichúc

Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân

sự và cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền lập di chúcđểđịnh đoạt tài sản của mình cho người thừa kế là bất kỳ ai Năng lực hành vidânsự của người lập di chúc là điều kiện có hiệu lực của di chúc, do vậyngười lậpdi chúc phải hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc,không bị lừadối, đe dọa, cưỡng ép Cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên,không mắc các bệnhtâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ hành vi củamình, có quyền lập di chúc

Người lập di chúc từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi lập di chúc phảiđược cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc Người từ đủ 18tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoàn toàn có quyền lập di chúc,nếu từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tức làkhông đủ khả năng nhận thức về việc định đoạt tài sản của mình thì khi lập dichúc sẽ không có hiệu lực

Trang 25

- Thứ hai: Điều kiện về ý chí của người lập di chúc

Mục đích và nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm pháp luậttráivới đạo đức xã hội Nội dung của di chúc là nội dung của một giao dịchdân sựđơn phương vì vậy nó phải thể hiện rõ ý chí mà mục đích lập di chúccủa chủ thể, không có sự áp đặt ý chí của người khác Nội dung của di chúcchỉ địnhnhững người hưởng di sản là cá nhân, tổ chức phải rõ ràng, xác định

và phải còntồn tại đối với tổ chức Phần nội dung của di chúc liên quan đếnngười đượcthừa kế di sản có thể là bất kì ai, bất kì cá nhân, tổ chức nào hoặcNhà nước;nhưng không thể chỉ định cho một tổ chức phản động đang bị truy

tố về hành viphạm tối là chống lại nhà nước Việt Nam hoặc một cá nhân nòa

đó có hành vixâm phạm đến các quyền tài sản hay quyền nhân thân với ngườithứ ba

Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọahoặc cưỡng ép Đây là một trong những điều kiện nhằm đảm bảo di chúc thểhiện đúng ý nguyện, sự định đoạt, quyết định của người lập di chúc về việcdịch chuyển tài sản của họ sau khi chết

- Thứ ba: Điều kiện về nội dung của di chúc

Nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việcđịnh đoạt tài sản của mình, nội dung trong bản di chúc phải phù hợp với ý chícủa nhà nước và đạo đức xã hội Nếu di chúc có nội dung trái với pháp luật vàđạo đức xã hội thì có thể bị coi là vô hiệu

- Thứ tư: Điều kiện về hình thức

Pháp luật quy định di chúc phải được lập thành văn bản, nếu như khôngthể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng Trong một sốtrường hợp đặc biệt sẽ yêu cầu phải lập di chúc bằng văn bản hoặc bằng vănbản và có công chứng/chứng thực Tùy theo trường hợp mà pháp luật quy

Trang 26

định điều kiện, thủ tục về mặt hình thức và khi không đáp ứng những điềukiện về mặt hình thức đó thì di chúc bị coi là vô hiệu.

+ Đối với di chúc bằng miệng

Điều kiện di chúc miệng: trong trường hợp tính mạng của một người bịcáichết đe dạo không thể lập di chúc bằng văn bản, phải thể hiện ý chí cuốicùngcủa mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó nhữngngườilàm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc chỉ điểm hoặc chứng thực,trong thờihạn 5 ngày, kể từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng.Nếu sau 3tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng được lập mà người lập di chúccòn sốngminh mẫn thì di chúc bị hủy bỏ Tuy nhiên trong trường hợp dù đãquá hạn batháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc miệngvẫn còn sốngnhưng không còn minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng có hiệulực thi hànhsau khi người di chúc miệng chết Khẳng định trên xuất phát từcác nguyên tắccủa pháp luật dân sự chủ thể định đoạt tài sản của mình theo dichúc hoàn toàntự do, tự nguyện, tự định đoạt nhưng điều kiện thể hiện ý chíkhông còn tồn tạido cá nhân không còn minh mẫn, sáng suốt nữa

+ Đối với di chúc bằng văn bản

 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: có giá trị pháp lýnếunội dung của di chúc tuân theo những quy định tại điều 631 của Bộluậtdân sự 2015 Người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào văn bản dichúc.Điều này nằm xác định đúng người có tài sản lập di chúc bằng chữviếtcủa mình, tránh sự gian lận và là chứng cứ chứng minh di chúc dongườicó tài sản lập ra mà không phải người khác

 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: là trường hợp di chúc cóthểnhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng.Ngườilập di chúc phải ký hoặc chỉ điểm vào văn bản di chúc trước mặtnhữngngười làm chứng, những người làm chứng phải xác nhận chữ ký,điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc đó Người làmchứng phải làngười có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và không được là

Trang 27

những người thừa kế theo di chúc, những người thừa kế theo pháp luậtcủa người lập dichúc, chủ nợ hoặc con nợ của người lập di chúc Bên cạnh

đó, người làmchứng không phải là người có quyền và nghĩa vụ tài sản liênquan đến nộidung của di chúc 

 Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực: người lập dichúccó thể yêu cầu công chứng nhà nước chứng nhận bản di chúc củamìnhhoặc có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực vào bảndichúc do mình lập ra Người lập di chúc không được phép ủy quyềnchongười khác mang di chúc của mình đi công chứng Công chứng viêncónghĩa vụ công chứng vào bản di chúc theo yêu cầu của người lập dichúctrừ những trường hợp có sự nghi ngờ người lập di chúc có dấu hiệumấtnhận thức và không làm chủ được hành vi của mình hoặc di chúc đượclậpra do bị người khác lừa dối áp đặt ý chí đối với người lập di chúc thìyêucầu của người lập di chúc sẽ bị công chứng viên từ chối 

 Di chúc văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thựcgồm các trường hợp sau: di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhậncủathủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêucầucông chứng hoặc chứng thực; di chúc của người đang đi trên tàubiển,máy bay có xác nhân của người chỉ huy phương tiện đó; di chúccủangười đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng kháccóxác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó; di chúc của ngườiđanglàm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hảiđảo cóxác nhận của người phụ trách đơn vị; di chúc của công dân ViệtNam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diệnngoại giao Việt Nam ở nước đó; di chúc của người đang bị tạm giam, tạmgiữ,đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lýhành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụtrách cơ sở đó

3 Lược sử quy định về điều kiện để di chúc là hợp pháp theo quy định

Trang 28

của pháp luật dân sự Việt Nam

3.1 Di chúc hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam giai đoạn trước năm 1945

- Thời kì phong kiến

Về hình thức của di chúc, Bộ luật Hồng Đứcquy định gồm di chúc miệng(chúc ngôn) và di chúc viết Đồng thời, Bộ luật áp dụng nguyên tắc tự do lập

di chúc và quyết định nội dung di chúc Khi mở thừa kế, nếu người để lại disản có lập chúc thư thì di sản sẽ chia theo chúc thư đó; trường hợp không cóchúc thư, di sản sẽ được chia theo pháp luật Đây là những nền tảng cơ bảnđược các văn bản pháp luật về thừa kế sau này kế thừa, phát triển và hoànthiện

Điều 366 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Những người làm chúc thưvăn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến, thìphải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc thư văn khế ấy không

có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được” Như vậy, theo quy định của Bộluật, bên cạnh hình thức tự viết chúc thư còn có loại chúc thư phải nhờ quantrưởng viết thay và chứng kiến Ngoài hình thức viết, Điều 388 Bộ luật HồngĐứccòn cho phép lập di chúc miệng: “Nếu có lệnh của ông bà và chúc thư thìphải làm theo đúng, trái thì mất phần mình” Bộ luật không quy định mệnhlệnh này được phát ra trong tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh nào; vì vậy, cóthể hiểu mệnh lệnh có thể được nói ra bất cứ lúc nào cũng đều có giá trị

Thời nhà Nguyễn, do sự lệ thuộc về chính trị nên pháp luật triều Nguyễn

là bản sao chép pháp luật của nhà Thanh (Trung Quốc) So với Bộ luật HồngĐức, Bộ luật Gia Long của triều Nguyễn “không còn những điều khoản liênquan đến hương hỏa, chúc thư, đến chế độ tài sản của vợ chồng”

- Thời kỳ Pháp thuộc (1885-1945)

Tại xứ Nam Kỳ, Bộ Dân luật giản yếu đã được ban hành để áp dụngriêng cho lãnh thổ Nam Kỳ Tuy nhiên, trong Bộ Dân luật giản yếu tất cả

Trang 29

những vấn đề về nghĩa vụ, khế ước, thừa kế đều không được quy định

Tại Bắc Kỳ, Bộ Dân luật Bắc Kỳ được xây dựng dựa trên nền tảng của

Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp năm 1804, có kế thừa nhiều quy định của Bộluật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long Bộ luật này không nhắc đến hình thức dichúc miệng mà chủ yếu quy định về di chúc viết chi tiết hơn so với trước đây:Điều 323 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định: “Chúc thư phải làm thành tờ chữ,hoặc do nô te lập hoặc làm thành chứng thư có hay không có viên chức thịthực”

- Đối với chúc thư không có viên chức thị thực: “phải do chính mìnhlập chúc thư viết lấy tất cả và ký tên Nếu do người khác tá tả thì phải có ít làhai người làm chứng Người lập chúc thư, người tá tả, người chứng phải kýtên

Phàm người không biết chữ lập chúc thư không có viên chức thị thựcthì phải làm tại trước mặt ít ra là hai người chứng biết viết, biết đọc Cácngười chứng ấy phải cùng với người tá tả ký tên vào trong chúc thư” (Điều326)

- Đối với chúc thư làm thành chứng thư có viên chức thị thực: “phải dochính mình người lập chúc thư viết ra, hoặc đọc cho người khác viết hộ, tạitrước mặt Lý trưởng nơi trú quán mình, và ít ra phải có hai người chứng đãthành niên” (Điều 324) Trường hợp, nếu người lập chúc thư và các ngườichứng đều không biết chữ thì Lý trưởng phải biên chú vào trong chúc thư(Điều 325)

Tại Trung Kỳ, Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật sao chép lại hầu hết cácđiều khoản của Bộ Dân luật Bắc Kỳ, nhưng không đề cập đến di chúc miệng

mà chủ yếu quy định về di chúc viết

Như vậy, so với pháp luật thời kỳ phong kiến, pháp luật thời kỳ Phápthuộc đã có những bước phát triển về tư duy pháp lý và kỹ thuật lập pháp,nhấn mạnh việc người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc Viết đủ

Trang 30

nội dung mà chưa ký thì cũng vẫn chỉ là dự thảo Đây cũng là hình thức quantrọng được các văn bản pháp luật sau này ghi nhận và ngày càng hoàn thiệnhơn về cách thức ký tên, đánh số cho chặt chẽ.

3.2 Di chúc hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm

1945 đến năm 1990

Từ năm 1954 đến năm 1975, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miềnvới hai hệ thống chính trị, pháp lý khác nhau Ở miền Bắc vẫn tiếp tục sửdụng một số luật lệ ở Bắc-Trung-Nam của giai đoạn trước

Ở miền Nam, áp dụng Bộ Dân luật năm 1972, về cơ bản vẫn chịu ảnhhưởng sâu sắc vềkỹ thuật lập pháp và tư duy pháp lý của BLDS Pháp Cấutrúc và nội dung có nhiều điểm tương đồng với Bộ Dân luật Bắc kỳ vàHoàng Việt Trung kỳ Hộ Luật Bộ luật cũng không nhắc đến di chúc miệng

mà chỉ bao gồm các chúc thư viết: chúc thư tự tả (Điều 574); chúc thư côngchính (Điều 575), và chúc thư bí mật (Điều 573) Theo đó, chúc thư tự tả làchúc thư tự viết và chúc thư công chính là chúc thư có công chứng thị thựcgiống như thời kỳ Pháp thuộc, chỉ khác về mặt câu chữ Còn chúc thư bí mật

là “chúc thư niêm phong kín do người lập di chúc trình cho Chưởng khế trướcmặt hai nhân chứng và khai rằng đó là chúc thư của mình viết lấy và thủ ký.Chưởng khế sẽ lập biên bản tiếp nhận, nếu người lập di chúc vì lẽ gì khôngthể ký vào biên bản thì phải ghi rõ” (Điều 578) Đây là điểm mới so với chúcthư các thời kỳ trước vì chúc thư được niêm phong kín chứ không bắt buộcphải đọc và cho người khác biết như các quy định trước kia

3.3 Di chúc hợp pháp theo pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2016

- Hình thức của di chúc tại Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981

Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối caohướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (Thông tư 81) quy định vềhình thức di chúc tại mục A nội dung IV:

Trang 31

- Ghi nhận chính thức về di chúc miệng “Di chúc miệng phải có ngườilàm chứng bảo đảm”, đây là điểm tiến bộ so với các thời kỳ trước

- Hình thức di chúc viết được bổ sung di chúc được lập trong điều kiệnđặc biệt: di chúc có thể do cơ quan, đơn vị nơi đương sự làm việc xác nhận;nếu người có tài sản đang đi trên phương tiện giao thông hay đang ở trongmột cơ sở chữa bệnh mà gặp tình huống phải cấp bách lập di chúc thì sựchứng nhận của người phụ trách của phương tiện giao thông hay cơ sở chữabệnh cũng được coi là hợp lệ

- Công nhận chúc thư tự viết không có công chứng, chứng thực nhưcác thời kỳ trước nhưng ghi chi tiết hơn: “nếu di chúc không có sự chứngnhận hợp lệ, nhưng có người làm chứng bảo đảm, hoặc xác định được di chúc

đó đúng là do người có di sản tự nguyện lập ra (như đúng là chữ viết và chữ

ký của người có di sản, thời gian và địa điểm ghi trong di chúc cũng phùhợp ) thì cũng có giá trị”

- Hình thức của di chúc tại Pháp lệnh Thừa kế năm 1990

Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 (Pháp lệnh Thừa kế) bổ sung, sửa đổi một

số điểm so với Thông tư 81 như sau:

- Về di chúc miệng, Điều 18 Pháp lệnh Thừa kế ghi rõ điều kiện lập

di chúc miệng phải “trong trường hợp tính mạng bị đe doạ nghiêm trọng màkhông thể lập di chúc viết được” và “sau ba tháng kể từ ngày lập di chúcmiệng, nếu người lập di chúc còn sống và minh mẫn, thì coi như di chúcmiệng đó bị huỷ bỏ” Tuy nhiên, Pháp lệnh Thừa kế không quy định thủ tục

để hủy bỏ và ai có quyền tuyên bố hủy bỏ di chúc miệng, làm cho quy địnhnày được hiểu theo nhiều nghĩa và áp dụng không thống nhất Mặt khác, cũngnhư Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế thừa nhận giá trị của di chúc miệngnhưng không quy định thủ tục ghi chép lại di chúc miệng

- Về di chúc viết có công chứng, chứng thực, Pháp lệnh Thừa kế quy định

rõ cơ quan có thẩm quyền là cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân

Trang 32

chứng thực (Điều 14); cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của Việt Nam

ở nước ngoài chứng thực (Điều 15)

- Về di chúc viết có giá trị như di chúc được chứng thực (Điều 16):Đây là loại di chúc tương ứng với di chúc được lập trong trường hợp đặcbiệt của Thông tư 81 nhưng Pháp lệnh Thừa kế có bổ sung thêm một sốtrường hợp, đặc biệt là trường hợp di chúc của người đang bị tạm giam,đang chấp hành hình phạt tù, đang cải tạo có xác nhận của người phụ trách

cơ sở giam giữ, cải tạo Điều này thể hiện sự công bằng, không phân biệt đối

xử giữa người bình thường với người đang bị tạm giam, bị phạt tù, đang cảitạo

- Về di chúc không có công chứng, chứng thực, Pháp lệnh Thừa kế cơ bảnquy định như Thông tư 81, có bổ sung thêm yếu tố “minh mẫn, không bị lừadối và không trái với quy định của pháp luật”

- Hình thức của di chúc tại Bộ luật Dân sự năm 1995

Bộ luật Dân sự năm 1995 sử dụng khái niệm “di chúc bằng văn bản”thay khái niệm “di chúc viết” của các thời kỳ trước Có thể hiểu “di chúc bằngvăn bản” bao gồm cả di chúc đánh máy và di chúc viết Đồng thời BLDSnăm 1995 bổ sung quy định, di chúc tự đánh máy hay nhờ người khác đánhmáy phải có công chứng/chứng thực thì mới có hiệu lực Người thuộcdân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộcmình

- Khắc phục bất cập của Pháp lệnh Thừa kế về di chúc miệng, BLDS năm

1995 quy định: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ” (khoản 1 Điều 654) Theo đó, thủ tục lập nội dung di chúc miệng là

những người làm chứng phải ghi chép lại bằng văn bản ngay sau đó Tuynhiên, thuật ngữ “ngay sau đó”lại không thể xác định được Điều này đã gây

ra khó khăn cho Tòa án trong việc thẩm định giá trị của di chúc miệng và

Trang 33

muốn bác bỏ nó thì cũng thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng Thực tế đã xảy ra trườnghợp tòa án từ chối di chúc được ghi chép lại và ký tên, điểm chỉ vào ngàyhôm sau so với thời điểm người để lại di sản thể hiện ý chí cuối cùng

- BLDS năm 1995 bổ sung quy định về di chúc có công chứng, chứng

thực: “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn” (khoản 3 Điều 655) Như vậy, trong trường hợp người lập di chúc

khiếm khuyết một số chức năng nhất định như không đọc được, hoặc khôngnghe, không thấy được, hoặc không ký hay điểm chỉ được vào di chúc, việclập di chúc bắt buộc phải có sự tham gia của người làm chứng thì di chúc mới

có hiệu lực BLDS năm 1995 cũng quy định chặt chẽ việc viết, ký di chúc

“Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiềutrang, thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ củangười lập di chúc” (khoản 2 Điều 656)

- Hình thức của di chúc tại Bộ luật Dân sự năm 2005

BLDS năm 2005 có một số thay đổi quan trọng trong quy định về hìnhthức của di chúc như sau:

- Sửa đổi hình thức “Di chúc bằng văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước” (khoản 4 Điều 653 BLDS năm 1995) thành “Di chúc bằng

văn bản có công chứng” (khoản 3 Điều 650 BLDS năm 2005) Đây làthời kỳ Nhà nước có chủ trương xã hội hóa công chứng, ngoài công chứngnhà nước còn có văn phòng công chứng tư nhân nên việc sửa đổi là phù hợp

- Di chúc miệng được bổ sung thêm điều kiện “trong thời hạn nămngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúcphải được công chứng hoặc chứng thực” (khoản 5 Điều 652) Ấn định chínhxác khoảng thời gian phải thực hiện thủ tục công chứng/chứng thực là “nămngày” nhằm loại trừ trường hợp người làm chứng có thể tự ý sửa chữa, viết lạinhiều lần hay đánh tráo văn bản ghi nội dung di chúc miệng

Trang 34

- Sửa đổi khoản 2 Điều 654 BLDS năm 1995 về di chúc miệng từ “bị huỷbỏ” thành “mặc nhiên bị hủy bỏ” (khoản 2 Điều 651 BLDS năm 2005)bảo đảm sự rõ ràng trong quy định của điều luật

- Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã sửa đổi một số quy định vềhình thức của di chúc như sau:

- Loại bỏ quy định: “Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúcbằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình” (Điều 649 BLDS năm 2005).Việc loại bỏ này nhằm bảo đảm sự tương thích với quy định của Hiếnpháp – công dân có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình -quyền của công dân được pháp luật bảo hộ, không cần thiết phải quy địnhtrong BLDS

- Về di chúc miệng, BLDS năm 2015 chỉ còn giữ lại trường hợp “tínhmạng một người bị cái chết đe dọa” (Điều 629) và loại bỏ trường hợp “dobệnh tật hoặc các nguyên nhân khác” (khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2005).Việc bỏ quy định này tạo ra một quy định ngắn gọn, chặt chẽ và dễ áp dụng.Nếu di chúc miệng tại BLDS năm 2005 không nêu rõ là cần công chứnghoặc chứng thực nội dung bản di chúc hay xác nhận chữ ký/điểm chỉ củangười làm chứng, thì BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định chỉ “xácnhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng” (khoản 5 Điều 630)

- Về di chúc bằng văn bản có người làm chứng, BLDS năm 2015 bổ sung

quy định về di chúc đánh máy: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc” (Điều 634).

So với di chúc tự viết, di chúc đánh máy dễ đọc, dễ nhìn hơn nhưng lại

Trang 35

không có giá trị bằng di chúc tự viết và dễ dàng bị sao chép Vì vậy, trườnghợp người lập di chúc tự viết thì không cần người làm chứng nhưng tự đánhmáy thì vẫn cần có người làm chứng (không bắt buộc phải có công chứng,chứng thực) Tuy nhiên, cần phân biệt trường hợp người lập di chúc không tựmình viết ở đây là những người không bị hạn chế về thể chất và biết chữ đểbiết được người đánh máy hộ có đánh máy đúng các nội dung theo ý chí củamình hay không, khác với trường hợp di chúc của người bị hạn chế về thểchất hoặc của người không biết chữ được người làm chứng lập thành văn bảnthì bắt buộc phải có công chứng, chứng thực.

3.4 Di chúc hợp pháp theo quy định Việt Nam từ năm 2017 đến nay

Di chúc theo quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự 2015 là sự thể hiện ýchí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khi một người chết để lại di chúcthì di sản của họ sẽ được chia theo di chúc, chỉ khi không có di chúc thì di sảnmới được chia theo pháp luật Tuy nhiên, để có hiệu lực thì di chúc phải đápứng điều kiện tại Khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừadối, đe doạ, cưỡng ép;

- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức

xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật

Về hình thức của di chúc thì Điều 627 Bộ luật dân sự 2015 quy định dichúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng vănbản thì có thể di chúc miệng Trong đó,

Di chúc bằng văn bản gồm các hình thức sau:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

- Di chúc bằng văn bản có công chứng;

Trang 36

- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Di chúc bằng văn bản phải bảo đảm các nội dung sau:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ cácđiều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản;

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ

Ngoài ra, di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúcgồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặcđiểm chỉ của người lập di chúc

Di chúc miệng được lập trong trường hợp tính mạng của một người bị cáichết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúcbằng văn bản

Nếu sau ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc vẫn cònsống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng sẽ mặc nhiên bị hủy bỏ

Ngoài ra, cần chú ý một số nội dung như sau:

- Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặctiếng nói của dân tộc mình

- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phảiđược lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữphải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứngthực

- Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi làhợp pháp, nếu có đủ các điều kiện nêu tại phần 1 ở trên

Ngày đăng: 04/10/2023, 01:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tưởng Lượng Bằng (2001), Một số vấn đề về thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân thời gian qua, Tạp chí Khoa học pháp lý số 3/2001 Khác
2. Bộ luật dân sự Nhật Bản, Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội 3. Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2005 Khác
4. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995 5 Khác
5. Vương Tất Đức (1998), Xác định phần vô hiệu của di chúc, Tạp chí Tòa án nhân dân số 8/1998, tr.20-21 6 Khác
6. Nguyễn Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.167 7 Khác
7. ThS. Lê Minh Hùng (2006), Một số bất cập trong việc thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng, Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2006 8 Khác
8. Thái Công Khánh (2005), Về giải thích nội dung di chúc, Tạp chí Toà án nhân dân, số 21/2005, tr. 17 – 19 Khác
9. Phùng Trung Tập (1995), Những qui định của Bộ luật dân sự (Dự thảo) về sự sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc và hiệu lực của di chúc, Tạp chí luật học số 02/1995, tr. 46 – 51 Khác
10. TS. Phùng Trung Tập (2006), Tiến trình phát triển pháp luật thừa kế Việt Nam trong 60 năm qua, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, Số 02/2006, tr. 33 – 38 Khác
11. Phùng Trung Tập (2008), Luật thừa kế Việt Nam: sách chuyên khảo, Nxb Hà Nội 2008 Khác
12. Dương Hùng Việt (1994), Một số vấn đề thừa kế theo di chúc trong luật Dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội WEBSITE Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức người   lập   di   chúc   minh   mẫn, - Tiểu luận di chúc hợp pháp
Hình th ức người lập di chúc minh mẫn, (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w