CHẾ ĐỊNH KIỂM VIÊN VIỆN KIỂM SÁT VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI I. Khái quát chung về nghề Kiểm sát viên 1. Khái niệm chức danh Kiểm sát viên 2. Thời hạn ra đời của nghề Kiểm sát viên 3. Các ngạch Kiểm sát viên II. Điều kiện tiêu chuẩn của Kiểm sát viên 1. Tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên 2. Nhiệm vụ và quyền hạn chung của Kiểm sát viên 3. Những điều Kiểm sát viên không được làm III. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong các hoạt động tư pháp 1. Trong tố tụng hình sự 2. Trong tố tụng dân sư, hành chính IV. Quy tắc đạo đức nghề Kiểm sát viên V. Những tố chất và phẩm chấ sinh viên cần rèn luyện để thực hiện hiệu quả các công việc và đúng sứ mệnh của một Kiểm sát viên 1. Sứ mệnh của người Kiểm sát viên 2. Tố chất cá nhân sinh viên cần có để trở thành Kiểm sát viên 3. Phẩm chất đạo đức sinh viên cần có để trở thành Kiểm sát viên 4. Tấm gương Kiểm sát viên tiêu biểu ở Việt Nam Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng quan trọng của ngành Kiểm sát nhân dân. Kiểm sát viên phải quán triệt, nhận thức sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đồng thời hai chức năng này. Phải luôn tự trau dồi, rèn luyện, mỗi suy nghĩ, việc làm của mình phải thấm nhuần, hướng tới thực hiện năm đức tính mà Bác Hồ đã dạy cán bộ Kiểm sát: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn. Trước khi trở thành Kiểm sát viên giỏi, Kiểm sát viên phải thực hiện đúng, đủ các quy định của pháp luật, các quy chế nghiệp vụ của Ngành. Khi thực hiện nhiệm vụ phải đảm bảo mang lại kết quả và hiệu quả cao. Một kiểm sát viên giỏi phải biết làm nhiều việc ở tất cả các khâu nghiệp vụ và phải làm tốt, làm giỏi ở một lĩnh vực nhất định.Kết quả giải quyết án từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đến điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều đảm bảo chính xác, đúng pháp luật, có chất lượng và hiệu quả; đảm bảo hoạt động của các cơ quan tư pháp luôn tuân thủ pháp luật, kịp thời phát hiện vi phạm để kiến nghị yêu cầu khắc phục, chấm dứt vi phạm. Tham mưu, đề xuất với lãnh đạo các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát của đơn vị.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
KHOA LUẬT
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ TIỂU LUẬN
CHẾ ĐỊNH KIỂM VIÊN VIỆN KIỂM SÁT
VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHẾ ĐỊNH KIỂM VIÊN VIỆN KIỂM SÁT
VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
SINH VIÊN THỰC HIỆN: KHÓA: K19
MSSV:
G.V HƯỚNG DẪN: Nguyễn Minh Trí
TP.HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 33 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát Nhân dân
4 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
5 Những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động
6 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân
Chương II Kiểm sát viên viện kiểm sát
I Khái quát chung về nghề Kiểm sát viên
1 Khái niệm chức danh Kiểm sát viên
2 Thời hạn ra đời của nghề Kiểm sát viên
3 Các ngạch Kiểm sát viên
II Điều kiện tiêu chuẩn của Kiểm sát viên
1 Tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên
2 Nhiệm vụ và quyền hạn chung của Kiểm sát viên
3 Những điều Kiểm sát viên không được làm
III Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong các hoạt động tư pháp
1 Trong tố tụng hình sự
2 Trong tố tụng dân sư, hành chính
IV Quy tắc đạo đức nghề Kiểm sát viên
V Những tố chất và phẩm chấ sinh viên cần rèn luyện để thực hiện hiệuquả các công việc và đúng sứ mệnh của một Kiểm sát viên
Trang 41 Sứ mệnh của người Kiểm sát viên
2 Tố chất cá nhân sinh viên cần có để trở thành Kiểm sát viên
3 Phẩm chất đạo đức sinh viên cần có để trở thành Kiểm sát viên
4 Tấm gương Kiểm sát viên tiêu biểu ở Việt Nam
Chương III Sự lựa chọn của bản thân và định hướng trong tương lai
I Sự lựa chọn của bản thân
II Kế hoạch phát triển cá nhân trong tương lai
III Định hướng trong tương lai
3.1 Hít thở thật sâu, nghĩ mọi việc thật bình thường
3.2 Xác định điểm mạnh của bản thân
3.3 Xác định môi trường làm việc hào hứng
3.4 Tạo ra một danh sách
3.5 Đầu tư vào một khóa học
3.6 Đánh giá kinh nghiệm thực tiễn của bản thân
3.7 Hỏi ý kiến của mọi người
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua đất nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới đem lạinhững chuyển biến hết sức tích cực: Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân đượccải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết, tình hình chính trị ổn định, anninh quốc phòng được đảm bảo Với vai trò là Đất nước đang bước vào côngcuộc đổi mới toàn diện, Đảng ta luôn coi trọng việc đảm bảo tốt hơn khi thựchiện chức năng của các cơ qua tư pháp mà mục tiêu hướng tới để xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là của dân, do dân,, vì dân Trước nhiệm vụ
và phát triển bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm ởnước ta trong tình hình hiện nay thì vai trò của Viện Kiểm sát là một trongnhững nội dung quan trọng tong cái cách bộ máy Nhà nước nói chung và cảicách tư pháp nói riêng Đồng thời, trong bối cảnh Nhà nước ta đang tích cựchoàn thiện bộ máy Nhà nước, hệ thống pháp luật theo tinh thần Hiến pháp năm
2013, trong đó có những bộ luật cơ bản nhằm tăng cường hơn nữa về hoạt độngđấu tranh phòng chống tội phạm thì việc nghiên cứu lý luận để áp dụng vàothực tiễn cho cả nước nói chung trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Là mộttrong những cơ quan chuyên chính vô sản, trách nhiệm của ngành kiểm sát,người cán bộ kiểm sát hết sức quan trọng, trong đó có đội ngũ Kiểm sát viênViện kiểm sát nhân dân, “Người cán bộ Kiểm sát viên ấy, phải thấy hết tráchnhiệm cao cả và nặng nề của mình, luôn luôn tôn trọng sự thật, phân rõ đúngsai, hết sức giữ thái độ khách quan, thận trọng, công minh, chính trực” (Tổng bíthư Lê Duẩn) Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân trong hệthống cơ quan Viện kiểm sát và bộ máy nhà nước nói chung đã và đang đượckhẳng định Với cơ quan viện Kiểm sát, Kiểm sát viên là người trực tiếp thựchiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp,
Trang 6trong bộ máy nhà nước, Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, có nhiệm vụthực hiện chức năng của Viện Kiểm sát, bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa, đảm bảo sự thực thi pháp luật nghiêm minh công bằng.
Tại đa số các quốc gia, tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực của nhà nước,
có chức năng bảo vệ luật pháp, góp phần duy trì trật tự xã hội Cùng các cơquan tư pháp khác, Viện kiểm sát nhân dân là công cụ hữu hiệu góp phần bảođảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo vệcông lý, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổnđịnh cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Làm việc trong một cơ quan với những vai trò quan trọng như vậy, Kiểm sátviên cần có những yêu cầu về năng lực và đạo đức khắt khe để hoàn thành tốtnhiệm vụ của mình Hiểu rõ công việc Kiểm sát viên có thể giúp sinh viên Luậthiểu được vị trí của Kiểm sát viên trong bộ máy nhà nước và nắm được nhữngquy tắc của ngành nghề kiểm sát, từu đó có một cái nhìn khách quan đúg đắn vềKiểm sát viên nói riêng và các chức danh pháp lý khác nói chung
Với mong muốn làm rõ một số vấn đề của chế định Kiểm sát viên góp phần xâydựng một số giải pháp hoàn thiện chế định tiếp tục khẳng định vai trò Kiểm sátviên trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền và khẳng định được địnhhướng tương lai của bản thân, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Chế định Kiểm sátviên và định hướng tươi lai” cho tiểu luận cho tiểu luận tốt nghiệp cử nhân luậtcủa mình
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
2.1.Mục đích nghiên cứu
Tiểu luận tập trung làm rõ cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sátviên; phân tích đánh giá thực trạng nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên;trên cơ sở đó nêu ra các quan điểm và đề xuất giải pháp đảm bảo nhiệm vụ,quyền hạn của Kiểm sát viên Tìm hiểu rõ về vai trò, chức năng, nhiệm vụ
Trang 7của ngành Kiểm sát viên để định hướng bản thân phù hợp với công việc trongtương lai.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, tiểu luận có nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viênHai là, phân tích thựuc trạng và đưa ra các giải pháp đảm bảo nhiệm vụ,quyền hannj của Kiểm sát viên
Ba là, tìm hiểu rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát viên đểđịnh hướng bản thân phù hợp với công việc ttrong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhiệm vụ, quyền hạn, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm của Kiểm sát viên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian nghiên cứu: Việt Nam
Phạm vi về thời gian nghiên cứu: 2016 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được nghiên cứu trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác –Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản ViệtNam; chính sách, pháp luật của Nhà nước về Nhà nước và pháp luật, về xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu, thu thập tài liệu từ những văn bảnquy phạm pháp luật, những văn bản áp dụng pháp luật của cơ quan, những tàiliệu có liên quan khác như bài báo, trang web và một số các đề tài nghiên cứutham khảo; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, các bài báo đăng trên cáctạp chí khoa học chuyên ngành
Trang 8Phương pháp phân tích, tổng hợp: từ những tài liệu đã có, có sự phân tích, tổnghợp, móc nối những vấn đề liên quan, để đi đến chắt lọc những nội dung chủđạo để nêu lên cơ sở lý thuyết về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên vàđánh giá, khái quát những quan điểm, luận điểm làm nền tảng lý luận cho tiểuluận.
Phương pháp chuyên gia, điều tra: trong quá trình nghiên cứu, có sự tham khảo,tham vấn ý kiên của người hướng dẫn và một số người khác có liên quan
Phương pháp tổng hợp: Sau quá trình tìm hiểu và tiến hành nhiều phương pháp,
có sự đúc kết, tổng hợp lại để hoàn thiện tiểu luận
Mục 3: Định hướng tương lai của bản thân
Phần Kết luận và Tài liệu tham khảo
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VKSTC: Viện kiểm sát tối cao
VKSND: Viện kiếm sát nhân dân
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
BLTTDS: Bộ luật tố tụng nhân sự
Trang 10CHƯƠNG I VIỆN KIỂM SÁT
và giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, giam giữ,cải tạo và thi hành án; tham gia trong một số loại việc dân sự quan trọng để bảo
vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội) Chức năng, nhiệm vụ đó của cơquan công tố nước ta có nhiều điểm tương đồng với Viện Công tố ở các nướctheo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, điển hình là Cộng hòa Pháp
Đến năm 1959, cơ quan Công tố được tách khỏi hệ thống Tòa án, trở thành
hệ thống cơ quan độc lập và trực thuộc Chính phủ, chịu sự lãnh đạo của Chínhphủ Hệ thống Viện Công tố ở các địa phương được tổ chức và hoạt động theonguyên tắc “song trùng” trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của Viện Công tố cấptrên về chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời chịu sự lãnh đạo của Ủy ban hànhchính cùng cấp Viện Công tố được tổ chức thành 4 cấp phù hợp với hệ thốngTòa án (Viện Công tố Trung ương, Viện Công tố phúc thẩm được tổ chức theovùng, Viện Công tố cấp tỉnh và Viện Công tố cấp huyện) Viện Công tố có chứcnăng, nhiệm vụ: điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm tội; giám sátviệc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra, xét xử, thi hành các bản án vềhình sự, dân sự; giam giữ và cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ
án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân
Ngày 15 tháng 7 năm 1960, tại kỳ họp thứu nhất, Quốc hội nước Việt NamDân chủ Cộng hoà (khoá II) đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Trang 11gồm 6 chương, 25 Điều, quy định về chức năng, quyền hạn, tổ chức bộ máy củaViện kiểm sát nhân dân; Luật này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công
bố ngày 26/7/1960 Đây là đạo luật quan trọng, đánh dấu sự ra đời của ViệnKiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta Tại Hội nghị kiểm điểm công tác
6 tháng đầu năm và học tập Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960 củangành Kiểm sát nhân dân diễn ra vào ngày 02/8/1960, đồng chí Trường Chinh,
Uỷ vên Bộ Chính tị, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã nhân mạnh đến
sự cần thiết và trách nhiệm to lớn của Viện kiểm sát nhân dân: “Việc thành lậpViện kiểm sát nhân dân chính là để đảm bảo nhiệm vụ chuyên chính dân chủnhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi và phát triển nền dân chủ ấy… Việc thànhlập Viện kiểm sát nhân dân có mục đích bảo đảm pháp chế dân chủ nhân dânđược tôn trọng, luật pháp được tôn trọng, quyền lợi chính đáng của nhân dânđược tôn trọng Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước,nhân viên cơ quan nhà nước và mọi người công dân là rất quan trọng Làm việcnày so với công tố trươc kia thì nhiệm vụ đã mở rộng, quyền hạn lớn lên…Kiểm sát là làm thế nào bảo đảm trấn áp phản cách mạng, không để chúng lọtlưới hoành hành, bảo đảm giữ gìn trật tự an ninh, tài sản và quyền lợi chínhđáng của nhân dân”
Viện kiểm sát trở thành độc lập từ ngày 29 tháng 4 năm 1958 Ngày 1tháng
7 năm 1959 Chính phủ ban hành Nghị định 256 - TTg quy định chức năngnhiệm vụ của Viện kiểm sát: Thực hành quyền công tố; trực tiếp điều tra tộiphạm; giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của các cơ quanđiều tra; giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động xét xử của các tòaán; giám sát việc thi hành các bản án; trong một số vụ án dân sự quan trọng,Viện kiểm sát có quyền khởi tố và tham gia tố tụng; giám sát việc chấp hànhluật pháp trong hoạt động của các cơ quan giam giữ và cải tạo từ trung ươngxuống địa phương ngành công tố tách khỏi hệ thống tòa án và Bộ Tư pháp Việncông tố trung ương có trách nhiệm như một bộ Ở địa phương, Viện công tố làmột cơ quan chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính cùng
Trang 12cấp, đồng thời chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Viện Công tố trung ương Hệthống Viện Công tố từ trung ương đến địa phương gồm có: Viện Công tố trungương; Viện Công tố phúc thẩm Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Viện Công tố tỉnh,thành phố, đặc khu Hồng Quảng và khu đặc biệt Vĩnh Linh; Viện Công tốhuyện, thị trấn và cấp tương đương.
Viện kiểm sát với nghĩa gần như hiện nay được hình thành từ Hiến pháp năm
1959, từ việc tách chức năng thẩm phán buộc tội khỏi thành phần thẩm phán xét
xử của các tòa án của Hiến pháp năm 1946 Viện kiểm sát một thiết chế đặc thùcủa hệ thống xã hội chủ nghĩa của hệ thống bao cấp tập trung Viện kiểm sát cóchức năng căn bản là kiểm sát chung, sau đấy là kiểm sát tư pháp: kiểm sát điềutra, kiểm sát xét xử và kiểm sát việc thi hành án Từ chức năng cơ bản này mớisinh ra chức năng buộc tội Mà đã là lời buộc tội (trong bản cáo trạng) thì baogiờ cũng là đúng, Toà án chỉ được tuyên án theo cáo trạng của Viện kiểm sát.Cũng từ đây không những Viện Kiểm sát trong khi xét xử giữ quyền công tốbuộc tội, mà còn có cả quyền giám sát hoạt động xét xử của chính phiên toà, màViện Kiểm sát đang đóng vai trò là người buộc tội
Quá trình phát triển của Viện Kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ
Viện kiểm sát phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vàđấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1960 - 1975)
Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát
nhân dân trong giai đoạn 1960 - 1975
Đây là thời kỳ đầu của quá trình hình thành hệ thống tổ chức Viện kiểm sátnhân dân các cấp ở miền Bắc Thực hiện Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chứcViện kiểm sát nhân dân năm 1960 và các luật lệ hiện hành, kế thừa kinh nghiệm
Trang 13tổ chức và hoạt động của Viện Công tố, toàn ngành Kiểm sát nhân dân vừa tiếnhành củng cố, xây dựng lực lượng, tổ chức bộ máy, vừa thực hiện chức năng,nhiệm vụ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật Khi thựchiện chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát các cấp định hướng công tác kiểm sátgắn với việc phục vụ các nhiệm vụ chính trị, xây dựng miền Bắc xã hội chủnghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960 đãchỉ rõ: Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiếnlược: một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; hai là, giảiphóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiệnthống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước; hai nhiệm
vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫnnhau Trong đó, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc lànhiệm vụ quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đốivới sự nghiệp thống nhất nước nhà
Những quan điểm định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ III là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam nói chung và cho ngành Kiểmsát nhân dân nói riêng Cùng với Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểmsát nhân dân năm 1960 là cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên cho tổ chức và hoạtđộng của Viện kiểm sát nhân dân
Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Viện kiểm sát có
nhiệm vụ: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, làm cho pháp luật được chấp
hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật
tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần đảm bảo cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi” (Điều 2).
Trang 14Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Điều 3 của Luật quy định Viện kiểm sát có 6công tác sau:
“- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông
tư, chỉ thị của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và công dân;
- Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an
và của các Cơ quan điều tra khác;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam;
- Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của Nhân dân”.
Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặcđơn vị hành chính tương đương; Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phốthuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương; Viện kiểm sát nhân dân
ở các Khu vực tự trị (Điều 4) Về cơ bản là tổ chức ba cấp kiểm sát gắn với cấphành chính Riêng Khu tự trị thì tổ chức Viện kiểm sát cấp khu
Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhấtlãnh đạo theo ngành dọc Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Khithực hiện nhiệm vụ của mình, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyềnđộc lập, các cơ quan nhà nước khác không được can thiệp Viện kiểm sát nhândân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnhđạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 6); Việnkiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội,
Trang 15trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công táctrước Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 8).
Về cơ cấu tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân có Viện trưởng, một hoặc nhiềuPhó Viện trưởng và các Kiểm sát viên Ngoài thành phần trên đây, Viện kiểmsát nhân dân tối cao còn có một số Kiểm sát viên dự khuyết Ở Viện kiểm sátnhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương hoặc các đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân khu tựtrị, đều lập ra Ủy ban kiểm sát gồm, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và một sốKiểm sát viên để giải quyết những vấn đề quan trọng trong công tác kiểm sát,dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng (Điều 7)
Ngày 01/02/1963, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW vềcông tác kiểm sát Đây là một sự kiện chính trị quan trọng đối với ngành Kiểmsát nhân dân Nghị quyết đã xác định những định hướng quan trọng về tổ chức
và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân Nghị quyết số 68-NQ/TW nhấn
mạnh: “Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân của ta là một trong những công cụ
chuyên chính của Nhà nước dân chủ nhân dân đang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, được tổ chức ra giữa lúc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc bắt đầu lấy việc xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm, đồng thời hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa Ngành Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa được tôn trọng, do đó mà góp phần vào việc tăng cường chuyên chính đối với bọn phản cách mạng, bảo đảm các quyền dân chủ của nhân dân được tôn trọng; đồng thời cũng góp phần vào việc tăng cường kỷ luật xã hội trong quần chúng nhân dân”.
Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn
1960 - 1975
Trang 16Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Chính trị, của các đồng chí lãnh đạo cao cấp củaĐảng và Nhà nước, hằng năm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều
có chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhằm chấp hànhcác chị thị, nghị quyết của Đảng Ngày 31/01/1964, Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân tối cao ban hành Chỉ thị số 01/V8 về phương hướng và nhiệm vụ củangành Kiểm sát năm 1964 Chỉ thị nêu rõ: Đẩy mạnh hơn nữa chức năng kiểmsát toàn diện, tham gia đấu tranh chống bọn phản cách mạng và bọn tội phạmxâm phạm đến tài sản của Nhà nước, của tập thể; đồng thời tiếp tục phòng vàchống tội phạm xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự trị an, phát hiện và ngănngừa những vi phạm pháp luật, chế độ, thể lệ quản lý kinh tế, tài chính và những
vi phạm đến quyền dân chủ của nhân dân Chú trọng việc vận dụng đường lối,chính sách và pháp luật về nội dung, đồng thời tiếp tục tăng cường mối quan hệcông tác với các ngành Tiếp tục cải tiến và kiện toàn tổ chức, kiện toàn sự chỉđạo thực hiện cho tập trung, sát và phù hợp với yêu cầu, đi sâu vào nghiệp vụcủa ngành nhằm góp phần có hiệu quả vào việc thực hiện kế hoạch nhà nước
và những cuộc vận động lớn mà Đảng và Nhà nước đang phát động
Xác định công tác kiểm sát thực chất là công tác chính trị, quán triệt cácnghị quyết của Đảng, hoạt động của ngành Kiểm sát trong giai đoạn này là tậptrung phục vụ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng quan hệ sản xuấtmới ở miền Bắc, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, trấn áp bọn phản cáchmạng và bọn tội phạm Khi chiến tranh phá hoại mở rộng ra miền Bắc, công táckiểm sát đã kịp thời chuyển hướng hoạt động, phục vụ các yêu cầu của thờichiến trên cả hai mặt trận sản xuất và chiến đấu
Với mục tiêu hàng đầu là giữ vững an ninh chính trị, xây dựng hậuphương miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh, kịp thời chi viện cho tiền tuyến,Viện kiểm sát các cấp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành Công an, Tòa án tậptrung chống địch phá hoại, nghiêm trị bọn gián điệp, biệt kích và phản động, cácloại tội phạm và vi phạm pháp luật gây cản trở việc thực hiện chính sách hậuphương quân đội và chi viện cho tiền tuyến; đấu tranh khắc phục các biểu hiện
Trang 17buông lỏng kỷ luật thời chiến, vi phạm các quyền dân chủ của nhân dân Chốngphá hoại kinh tế, làm tốt công tác kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử để xử lýnghiêm khắc và kịp thời các phần tử phá hoại sản xuất, máy móc, thiết bị, khotàng, tài sản của Nhà nước và tập thể, tích cực phục vụ cuộc vận động nâng cao
ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô, lãngphí, quan liêu và cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp; bảođảm chính sách hậu phương quân đội Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáodục pháp luật trong nhân dân Phương châm tiến hành công tác kiểm sát là vừachống, vừa xây, lấy xây làm mục đích; vừa chống, vừa phòng ngừa vi phạm vàtội phạm; vừa xây dựng, vừa chiến đấu; tranh thủ sự lãnh đạo chặt chẽ của cáccấp ủy đảng, dựa vào quần chúng, đoàn kết phối hợp tốt với các ngành Nắmvững tình hình, gắn công tác kiểm sát với các cuộc vận động chính trị và sảnxuất, khẩn trương, chủ động, linh hoạt, lấy ngăn ngừa phạm pháp là chính, kịpthời xử lý mọi việc phạm pháp
Từ năm 1961 đến năm 1975 là giai đoạn hình thành hệ thống tổ chứcViện kiểm sát quân sự các cấp Trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của cách mạng lúc
bấy giờ, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định “Công tác
kiểm sát trong Quân đội do cơ quan Kiểm sát quân sự các cấp đảm nhiệm dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Quân uỷ Trung ương Về mặt chuyên môn, hệ thống Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo về nghiệp vụ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Để tăng cường sự lãnh đạo công tác kiểm sát và thống nhất kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong và ngoài Quân đội, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương đồng thời giữ chức Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao” Khi mới thành lập, các Viện kiểm sát quân sự đã
căn cứ vào Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Nghị quyết số 47/
NQ ngày 22/5/1962 của Ban Thường vụ Quân uỷ Trung ương để thực thi chứcnăng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát quân sự trong Quân đội Tổ chức Viện kiểmsát quân sự các cấp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định riêng căn cứ vào
Trang 18những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Trong khichưa xây dựng được Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự, Tổng cục Chínhtrị, Bộ Quốc phòng ban hành Thông tri 06/TT-H ngày 12/5/1961 về việc thànhlập Viện kiểm sát quân sự và Thông tri số 304/TM6 ngày 23/5/1961 của BộTổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quy định tạm thời về tổ chức,biên chế của các Viện kiểm sát quân sự Hệ thống Viện kiểm sát quân sự cóViện kiểm sát quân sự trung ương, các Viện kiểm sát quân sự ở cấp Quân khu,các Sư đoàn, Lữ đoàn Đối với Ban Chỉ huy Trung ương Công an nhân dân vũtrang (lúc này còn trực thuộc Quân đội), Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh Pháobinh, Bộ Tư lệnh Phòng không, Lữ đoàn 350 thì được tổ chức Viện kiểm sátquân sự Trong những năm đầu mới được thành lập, Viện kiểm sát quân sự vừaxây dựng, củng cố tổ chức, vừa thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố tạicác phiên toà hình sự
Đến cuối năm 1971, hệ thống Viện kiểm sát quân sự đã có Viện kiểm sátquân sự Trung ương và 25 Viện kiểm sát quân sự cấp thứ 2 Trong thời giannày, ở tất cả các quân chủng, binh chủng, mặt trận, binh đoàn và sư đoàn cơđộng trực thuộc Bộ Quốc phòng đều có Viện kiểm sát quân sự Sau chiến dịchgiải phóng Quảng Trị (năm 1972), các lực lượng cơ động được tổ chức thànhcác Quân đoàn Vì vậy, các Viện kiểm sát quân sự ở cấp Sư đoàn đã giải thể vàthành lập mới Viện kiểm sát quân sự ở cấp Quân đoàn Đến đầu năm 1975, hệthống Viện kiểm sát quân sự có 23 đơn vị, trong đó có 22 Viện kiểm sát quân sựcấp thứ hai
Sau ngày 30/4/1975 đất nước thống nhất, Viện kiểm sát quân sự có điềukiện xây dựng tổ chức và hoạt động trong phạm vi toàn quốc Lúc này, các Việnkiểm sát quân sự không làm nhiệm vụ trực tiếp điều tra các vụ án hình sự Ngày17/12/1975, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định số 162/TM thành lập các Việnkiểm sát quân sự Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 và Quân đoàn 4
Trang 19 Mở rộng, kiện toàn tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trênquy mô cả nước vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1976 – 1986)
Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát
trong giai đoạn 1976 - 1986
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội và chức năng, nhiệm vụtheo Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, các Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 1960, năm 1981, các văn bản pháp luật khác liên quan, Viện kiểm sát nhân dân đã phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế -
xã hội trong những năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Cùng với việc kiện toàn hệ thống các cơ quan chính quyền cách mạng ở các tỉnhphía Nam sau khi thống nhất đất nước, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân cũng được thành lập ở các tỉnh, thành phố phía Nam
Ngày 15/3/1976 Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc lệnh số 01-SL/76 quy định về Tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp Trên cơ sở đó, ngày 23/4/1976, Bộtrưởng Bộ Tư pháp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 09-BTP/NĐ quyết định thành lập Viện kiểm sát nhân dân ở 21 tỉnh, thành phố miền Nam và đi vào hoạt động cùng với Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước Ngay từ cuối năm 1975, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã triển khai công tác chuẩn bị cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố phía Nam Khi Viện kiểm sát nhân dân 21 tỉnh, thành phố ở miền Nam được thành lập, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã điều động cán bộ ở một số đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân
ở các tỉnh, thành phố phía Bắc vào tăng cường cho Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố ở miền Nam Ngày 02/8/1976, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
có Quyết định số 33/QĐ-76 thành lập Viện kiểm sát nhân dân các quận, huyện,
Trang 20thị xã, thành phố trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố tại miềnNam.
Hiến pháp năm 1980 được thông qua, xác định đất nước ta đang trong thời
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chính thức ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội (Điều 4), quy định
nguyên tắc: “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Điều 12) Đối với Viện kiểm sát nhân dân, cùng với việc tiếp tục xác định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Hiến pháp năm 1980 đã quy định rõ chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 138) Đồng thời, tiếp tục khẳng định các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan chịu trách nhiệm trước Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành
Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980, để phù hợp với tình hình mới và yêu cầucủa nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, kế thừa Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân như sau: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Điều 1) Theo Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng bằng năm công tác cụ thể sau:
“1 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân;
Trang 212 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công
an và các cơ quan điều tra khác;
3 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;
4 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;
5 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo”.
Đối với công tác kiểm sát chung, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981 quy định rõ hơn các căn cứ pháp lý để tiến hành kiểm sát là tính phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của Hội đồng Bộ trưởng (Điều 6) Đồng thời, Luật mới đã cụ thể hóa hơn các quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát chung (Điều 7)
So với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát điều tra và mối quan hệ của Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981 cũng được quy định cụ thể hơn Từ thực tiễn công tác kiểm sát và tham khảo kinh nghiệm hoạt động của Viện kiểm sát ở một số nước xã hội chủ nghĩa,thực hiện chủ trương các Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát điều tra, nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra và việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ, hợp pháp Viện kiểm sát chỉ trực tiếp khởi tố, tiến hành điều tra trong trường hợp xét thấy thật cần thiết
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã bổ sung một số quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát xét xử dân sự như: tham gia các cuộc họp trù bị phiên tòa của Tòa án nhân dân cùng cấp; yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án để thực hiện công tác kiểm sát xét xử; kiểm sát việc tuân theo pháp luật dân sự trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang và yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó khởi tố
Trang 22những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể
và quyền lợi chính đáng của công dân (Điều 13)
Để đáp ứng tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981 đã tách quy định về công tác kiểm sát việc chấp hành án ra khỏi công tác kiểm sát xét xử và bổ sung, cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của Viện kiểm sát với các ngành hữu quan trong công tác kiểm sát việc chấp hành án; bổ sung các quy định cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của Viện kiểm sát với các ngành hữu quan trong công tác kiểm sát giam giữ, cải tạo
So với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã quy định rõ thời hạn và trách nhiệm các cơ quan, đơn
vị hữu quan trong việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân (các Điều 8, 11, 17 và 20); đồng thời, quy định cụ thể, đầy đủhơn về nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của Viện kiểm sát với các ngành hữu quan
Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn
mẽ bọn phản cách mạng, bọn gián điệp, bọn phản động trong các tôn giáo
và tư sản mại bản câu kết với đế quốc; trừng trị nghiêm khắc bọn cầm đầu
Trang 23các tổ chức vũ trang gây bạo loạn, bọn xúi giục, lừa đảo người trốn đi nước ngoài Tập trung vào việc đấu tranh xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản phản động đầu cơ, tích trữ, phá rối thị trường, chống các tệ nạn do xã hội
cũ để lại Tích cực phục vụ chủ trương, chính sách thống nhất tiền tệ, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và thực hiện cách mạng quan hệ sản xuất ở nông thôn, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu để ổn định tình hình vùng mới giải phóng
Công tác kiểm sát thời kỳ này được tiến hành trong bối cảnh nhiều vấn đề
về đường lối, chính sách của Đảng chưa được thể chế hoá thành pháp luật; sự hiểu biết về pháp luật của cán bộ và nhân dân còn thấp, việc chấp hành còn nhiều thiếu sót, chưa nghiêm chỉnh và thống nhất Cùng với các
cơ quan tư pháp khác, hằng năm, ngành Kiểm sát lấy chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội làm căn cứ để ra chủ trương, nhiệm vụ và trọng tâm công tác cụ thể Toàn ngành Kiểm sát đã chủ động, tích cực hơn trong việc thực hiện chức năngnhiệm vụ, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, chú trọng phục vụ việc thực hiện kế hoạch nhà nước mà trọng tâm là nông nghiệp, lương thực, giao thông, vận tải, thương nghiệp ; đấu tranh phòngchống vi phạm và tội phạm, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội, khôi phục và giữ gìn kỷ cương xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ an ninh, trật tự và củng cố quốc phòng, kịp thời và kiên quyết đưa ra truy tố, xét xử loại trọng tội, bảo vệ
và phát huy quyền làm chủ tập thể của Nhân dân lao động Đẩy mạnh xâydựng ngành Kiểm sát về các mặt tư tưởng, chính trị, tổ chức và đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên
Từ năm 1976 đến năm 1986 là giai đoạn cả nước tiến hành xây dựngchủ nghĩa xã hội trong bối cảnh vừa hoà bình lại vừa có chiến tranh xảy
ra ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc Tổ chức, cán bộ và nhiệm
vụ của Viện kiểm sát quân sự các cấp có sự thay đổi đáng kể Sau khi Bộ
Trang 24Quốc phòng thành lập lại cơ quan Quân pháp trong Quân đội, giao công việc điều tra hình sự cho cơ quan Quân pháp, từ đó, hệ thống tổ chức Viện kiểm sát quân sự được kiện toàn theo yêu cầu mới Năm 1976, một
số Viện kiểm sát quân sự có sự thay đổi như: Viện kiểm sát quân sự Đoàn
559 đổi tên thành Viện kiểm sát quân sự Tổng cục Xây dựng kinh tế; Viện kiểm sát Quân khu 1 được thành lập trên cơ sở sáp nhập 2 Viện kiểm sát quân sự Quân khu Tây Bắc và Quân khu Việt Bắc; Viện kiểm sát quân sự Quân khu 3 thành lập trên cơ sở sáp nhập 2 Viện kiểm sát quân sự Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu Tả Ngạn, đồng thời quyết địnhgiải thể các Viện kiểm sát quân sự các Binh chủng: Thông tin, Công binh
và Hóa học
Năm 1977, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập các Viện kiểm sát quân sự Bộ đội Biên phòng, Viện kiểm sát quân sự Binh đoàn 12, đồng thời tách Viện kiểm sát quân sự Quân chủng Phòng không - Không quân thành Viện kiểm sát quân sự Quân chủng Phòng không và Viện kiểm sát quân sự Quân chủng Không quân Năm 1980, Bộ Quốc phòng raQuyết định số 293/QĐ-QP giải thể Viện kiểm sát quân sự khu Trung ương và chuyển giao nhiệm vụ của Viện kiểm sát quân sự khu Trung ương cho Viện kiểm sát quân sự Trung ương đảm nhiệm
Đến cuối năm 1985, hệ thống Viện kiểm sát quân sự đã có 33 Viện và vẫn tổ chức theo hai cấp, trong đó có Viện kiểm sát quân sự Trung ương (Viện cấp thứ nhất) và 32 Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, binh chủng, Bộ Tư lệnh, các Tổng cục (Viện cấp thứ2)
Sau khi Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, ngày 21/12/1985, Hội đồng Nhà nước thông qua Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự gồm 4 Chương, 34
Trang 25Điều Đây là Pháp lệnh đầu tiên quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của các Viện kiểm sát quân sự
Theo Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự, hệ thống Viện kiểm sát quân sự được tổ chức thành 3 cấp: Viện kiểm sát quân sự Trung ương;các Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Tổng cục và cấp tương đương; Viện kiểm sát quân sự Quân đoàn, tỉnh và khu vực, hoạt động theo chế độ tập trung thống nhất Sau hơn 25 năm kể từ khi thành lập, hệ thống tổ chức, bộ máy Viện kiểm sát quân sự đã được kiện toàn, phát triển trên phạm vi toàn quân, bảo đảm cho việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo luật định, góp phần phục vụ xây dựng Quân đội, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Đổi mới tổ chức và hoạt động, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đầu công cuộc đổi mới (1987 – 2001)
Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát
trong những năm 1987 - 2001
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, năm 1992 và các văn bản pháp luật khác liên quan, Viện kiểm sát nhân dân phục vụ đắc lực các nhiệm
vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước
Xuất phát từ những quan điểm cơ bản của Đảng về cải cách một bước bộ máy nhà nước, ngày 15/4/1992, Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ
11 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Hiến pháp đã thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng và
khẳng định rõ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân: “Viện
Trang 26kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định”
(Điều 137)
Thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 tiếp tục ghi nhận Viện kiểm sát nhân dân là một trong các cơ quan trong bộ máy nhà nước, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng bằng những công tác: kiểm sát chung, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành
án, kiểm sát giam giữ, cải tạo, điều tra tội phạm trong những trường hợp
do pháp luật quy định
So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 có hai điểm mới cơbản khi quy định về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân: Một là, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân Hai là, Ủy ban kiểm sát không còn là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng nữa, mà có quyền thảo luận
và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những năm
1987 - 2001
Trang 27Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng tại các Nghị quyết Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và các nghị quyết khác của Trungương, các nghị quyết của Quốc hội, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, ngành Kiểm sát đã có sự đổi mới nhận thức về tổ chức bộ máy
và thực hiện chức năng, nhiệm vụ Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân vẫn được giữ nguyên tổ chức ở ba cấp nhưng bộ máy làm việc và cán bộ ở từng cấp kiểm sát ngày càng được củng cố, tăng cường cả về số lượng và chất lượng
Công tác kiểm sát chung có nhiều đổi mới về phương thức kiểm sát như yêu cầu tự kiểm tra, cấp trên kiểm tra, thanh tra và chuyển kết quả cho Viện kiểm sát, nếu thấy không đạt yêu cầu thì mới trực tiếp kiểm sát hoặc chỉ trực tiếp kiểm sát hành vi sau khi đã xác định có vi phạm pháp luật Toàn ngành Kiểm sát đã tập trung vào kiểm sát văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời bám sát các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, tập trung kiểm sát các lĩnh vực kinh tế trọng điểm như đất đai, ngânhàng, xuất nhập khẩu Đã yêu cầu thu hồi cho Nhà nước hàng trăm tỉ đồng, yêu cầu khởi tố và trực tiếp khởi tố nhiều vụ án hình sự, dân sự Ban hành nhiều kiến nghị rất xác đáng với các bộ, ngành, với Chính phủ trong việc tăng cường chỉ đạo, chấn chỉnh, đưa hoạt động quản lý kinh tế
- xã hội vào nền nếp Viện kiểm sát các cấp đã phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ đối với hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật có vi phạm, trong đó có cả văn bản của các bộ, ngành ở Trung ương, góp phần củng
cố pháp chế trong xây dựng và thực hiện pháp luật
Trong việc thực hiện chức năng công tố, Viện kiểm sát các cấp đã tập trung đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm lợi dụng cơ chế đổi mới kinh tế để xâm phạm tài sản của Nhà nước, các tội phạm nguy hiểm như ma túy, giết người, cướp tài sản và các tội phạm hoạt động theo kiểu
Trang 28“xã hội đen”; đồng thời tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp, bảo đảm cho việc bắt, giam, giữ, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án tuân thủ pháp luật.
sự Trung ương đảm nhiệm
Trong thời gian này, hệ thống Viện kiểm sát quân sự được tổ chức thành 3 cấp, gồm 35 đơn vị với tổng biên chế 605 người Viện kiểm sát quân sự Trung ương (Viện cấp thứ nhất) được tổ chức thành 6 Phòng Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai gồm 9 Viện Viện kiểm sát quân sự khu vực (Viện cấp thứ ba) đặt ở một số Quân đoàn và tỉnh, gồm 25 Viện
Từ năm 1989 đến năm 1992, hệ thống Viện kiểm sát quân sự trong Quân đội tiếp tục được tổ chức theo 3 cấp, gồm 85 đơn vị Viện: Viện kiểm sát quân sự Trung ương (cấp thứ nhất); 18 đơn vị Viện kiểm sát quân sự cấp thứ 2 và 66 đơn vị Viện kiểm sát quân sự cấp thứ 3 Từ năm
1993 đến 1997, hệ thống Viện kiểm sát quân sự có tổng số 90 đơn vị, baogồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương (Viện cấp thứ nhất), 20 Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Bộ đội Biên phòng
và Tổng cục (Viện cấp thứ hai) và 69 Viện kiểm sát quân sự tỉnh, khu vực(Viện cấp thứ ba) Từ năm 1998 đến 2001, hệ thống Viện kiểm sát quân
Trang 29sự có 65 đơn vị, bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, 18 Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai và 46 Viện kiểm sát quân sự cấp thứ ba
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước (2002 – 2010)
Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát
trong những năm 2002 – 2010
Thực hiện các nghị quyết của Đảng và Quốc hội, nhất là Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật khác liên quan, Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, góp phần tích cực vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, trong bối cảnh tình hình đất nước và quốc tế có nhiều khó khăn, thách thức, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, đất nước
ta đã đạt được những thành tựu quan trọng Nền kinh tế có bước chuyển biến tích cực, tiếp tục phát triển và ổn định Một số lĩnh vực văn hoá, xã hội có tiến bộ Quốc phòng, an ninh, trật tự được củng cố; độc lập, chủ quyền của đất nước được giữ vững Vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế được nâng lên Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội còn
Trang 30nhiều yếu kém, gặp nhiều khó khăn Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều vấn đề bức xúc, đáng lo ngại.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã tổng kết 15 năm đổi mới và có những chủ trương quan trọng về cải cách bộ máy nhà nước,cải cách tư pháp Nghị quyết Đại hội IX nêu rõ: Phải cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan, sai Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trungương Đảng khoá IX đã ra kết luận về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Hiến pháp năm 1992, trong đó nêu rõ: “Cần sửa đổi, bổ sung chức
năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân”.
Thể chế hoá chủ trương, quan điểm cải cách bộ máy nhà nước của Đảng, Quốc hội khoá X đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sungmột số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Theo đó, tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhưngthu hẹp phạm vi chức năng kiểm sát là chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp, không thực hiện công tác kiểm sát tronglĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung)
Để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, đã nhấn mạnh đến tráchnhiệm của Viện kiểm sát trong thực hiện tốt chức năng thực hành quyền
Trang 31công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp Nghị quyết nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành
tố tụng khi thi hành nhiệm vụ Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ”
Thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng 6 công tác sau (Điều 3):
“1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
2 Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;
3 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;
4 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
5 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;
6 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản
lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù”.
Trang 32So với các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981 và
1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã có sự điều chỉnhđáng kể chức năng của Viện kiểm sát Kể từ đây, Viện kiểm sát không thực hiện công tác kiểm sát chung để tập trung làm tốt chức năng công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp Lần đầu tiên, Luật đã phân định rõ phạm vi, nội dung của chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (các Điều 13, 14, 17 và 18) Có thể nói, đây là bước thay đổi lớn nhất về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát
kể từ ngày thành lập Viện kiểm sát nhân dân (1960) Căn cứ quy định củaLuật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thu gọn đầu mối Cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân cáctỉnh, thành phố; chỉ còn lại Cục Điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Thể chế hoá quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháptrong tình hình mới, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với Kiểm sát viên Để có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên, ngoài tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết
và trung thực, thì phải có trình độ Cử nhân luật, đã được đào tạo về
nghiệp vụ kiểm sát, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Pháp lệnh này (Điều 2) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, tác động mạnh mẽ đến việc nâng cao trình độ pháp lý và chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán
bộ, Kiểm sát viên Trong giai đoạn này, từ năm 2002 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã triển khai việc luân chuyển cán bộ về các địa phương để đào tạo, bồi dưỡng dự nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trang 33Cùng với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những thay đổi mới về nhiệm vụ, quyền hạncủa Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là trách nhiệmphê chuẩn quyết định khởi tố bị can và trách nhiệm thực hành quyền công
tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã thu hẹp đáng kể phạm vi tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân trên cơ sở đề cao nguyên tắc đương sự tự định đoạt và nguyên tắc đương sự tự chứng minh: đã bỏ quyền khởi tố dân sự của Viện kiểm sát nhân dân được luật định trong suốt 44 năm qua kể từ khi thành lập (1960-2004); Viện kiểm sát nhân dân không tham gia 100% phiên tòa sơ thẩm
mà chỉ tham gia phiên tòa khi có khiếu nại của đương sự về thu thập chứng cứ của Tòa án; tập trung vào kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án; tham gia 100% các phiên tòa giám đốc thẩm dân sự Căn cứ quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã sắp xếp lực lượng làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ
án dân sự ở Viện kiểm sát các cấp Điểm đặc biệt đáng lưu ý là Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã tăng đáng
kể thẩm quyền cho các cơ quan tư pháp cấp huyện (gấp hơn 2 lần so với những năm trước đó) Viện kiểm sát cấp huyện có quyền truy tố các tội phạm có mức hình phạt đến 15 năm tù và kiểm sát việc giải quyết của Tòa án đối với phần lớn các vụ việc dân sự
Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình cải cách tư pháp, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Trước mắt Viện kiểm sát nhân
dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án”.
Trang 34 Ngành Kiểm sát triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những năm
2002 - 2010
Quán triệt quan điểm đổi mới và nội dung cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; thực hiện các quy định mớicủa pháp luật, các nghị quyết của Quốc hội, ngành Kiểm sát nhân dân đã
có những bước chuyển mạnh mẽ về tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều biện pháp đổi mới trong thực hành quyền công tố, đấu tranh chống làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm Phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan tư pháp, đưa ra truy tố, xét xử được nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tham nhũng, ma túy, các tội phạm nguy hiểm xâm phạm trật tự, trị an Tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp, phát hiện và ban hành được nhiều kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu các cơ quan hữu quan khắc phục các vi phạm pháp luật Đã chú trọng xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên giữ gìn phẩm chất đạo đức, đặc biệt là việc nâng cao tiêu chuẩn về trình độ pháp lý của đội ngũ Kiểm sát viên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
xã hội Đến năm 2010, đã có 98% số Kiểm sát viên trong toàn Ngành có trình độ Cử nhân luật và được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ kiểm sát
Từ năm 2002 đến 2010, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương đã phối hợp với các cơ quan chức năng trong và ngoài Quân đội nghiên cứu,xây dựng đề án trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ra các Nghị quyết 384,
385, 386/NQ-UBTVQH 11 ngày 17/3/2003 phê chuẩn tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các Viện kiểm sát quân sự Hệ thống Viện kiểm sát quân sự vẫn được tổ chức theo 3 cấp, gồm Viện kiểm sát quân sự Trung ương; 16 Viện kiểm sát quân sự Quân khu, Quân chủng, Bộ đội Biên phòng, cơ
Trang 35quan Bộ Quốc phòng và các Quân đoàn; 34 Viện kiểm sát quân sự khu vực
Kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, hoàn thiện thể chế, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền tư pháp trong sạch, vững mạnh (năm 2011 đến 2015)
Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát
từ năm 2011 đến năm 2015
Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội 2011-2015, đặc biệt là những chủ trương của Đảng và Nhà nước về Chiến lược Cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó có việc giữ nguyên chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân; từ năm 2011 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
đã có nhiều biện pháp chỉ đạo toàn Ngành tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; đổi mới công tác điều tra của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát; thực hiện hiệu quả quyền hạn, trách nhiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, các vụ án hành chính và các việc khác theo quy định của pháp luật; chú trọng công tác nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế;tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc rèn luyện 5 đức tính của người
cán bộ Kiểm sát: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm
tốn” Tập trung thực hiện đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng các đề án về
Trang 36cải cách tư pháp; đảm bảo các điều kiện về trụ sở làm việc, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác.
Sau khi Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trình Quốc hội thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi, bổ sung (Luật 63/2014/QH13 ngày 24/11/2014)
Về cơ bản Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, song có những điểm mới cơ bản sau:
Thứ nhất, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 khẳng định
rõ hơn vị trí của Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Điều 2)
Thứ hai, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định rõ
phạm vi, nội dung, mục đích của từng chức năng thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Về chức năng thực hành quyền công tố,
đã quy định cụ thể: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp: Luật năm 2014 đã quy định chặt chẽ hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; kiểm sát trong giai đoạn truy tố; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp
Thứ ba, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã làm rõ
nội dung các khâu công tác và bổ sung quy định về các công tác phục vụ thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Cụ thể: Luật năm 2014
đã phân định lại một cách rõ ràng, hợp lý, cụ thể các khâu công tác thực hiện chức năng, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhândân trong từng khâu công tác và bổ sung quy định phân biệt rõ các công
Trang 37tác phục vụ thực hiện chức năng, như: thống kê tội phạm; nghiên cứu khoa học; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng; hợp tác quốc tế; phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ tư, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã mở rộng
thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân cả về loại tội vàchủ thể thực hiện tội phạm Theo Luật năm 2014, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương không chỉ điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà còn điềutra các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp
mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp
Thứ năm, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã phân
định các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị hoặc quyền kiến nghị
Thứ sáu, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã làm rõ
hơn nội dung nguyên tắc “tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành”
và làm rõ “khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp,
Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; làm rõ
mối quan hệ giữa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới và ngược lại thông qua các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Thứ bảy, về tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân: Luật năm
2014 quy định có 04 cấp (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); trong đó Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là cấp kiểm sát mới, có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp
Trang 38đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có
Ủy ban kiểm sát, Văn phòng, các Viện và đơn vị tương đương Về tổ chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện: Theo Luật năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có Văn phòng và các Phòng, những nơi chưa đủ điều kiện thành lập Phòng thì có các bộ phận công tác
và bộ máy giúp việc
Thứ tám, về Ủy ban kiểm sát: Theo Luật năm 2014, Ủy ban Kiểm sát
được thành lập cả ở Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Ở Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực không tổ chức Ủy ban Kiểm sát Luật năm 2014 tiếp tục quy định Ủy ban Kiểm sát có quyền quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Riêng đối với các vụ án, vụ việc, Ủy ban Kiểm sát chỉ có vai trò tư vấn theo đề nghị của Viện trưởng Luật năm 2014 bổ sung thẩm quyền cho Ủy ban kiểm sát xét tuyển người có đủ điều kiện dựthi vào các ngạch Kiểm sát viên Luật năm 2014 còn quy định rõ khi quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền, Ủy ban Kiểm sát phải ban hành nghị quyết (Luật hiện hành không quy định rõ vấn đề này)
Thứ chín, về Kiểm sát viên và Kiểm tra viên: Luật năm 2014 quy
định có 04 ngạch (Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp) Quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên cao cấp tương ứng với tiêu chuẩn
bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay và nâng cao tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Về số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Luật năm
2014 quy định không quá 19 người Về nhiệm kỳ Kiểm sát viên: Luật năm 2014 quy định: Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là
05 năm, trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10năm Về cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên: Luật năm 2014 quy định: Áp
Trang 39dụng hình thức thi tuyển vào các ngạch Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp Hội đồng thi được tổ chức ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, các ủy viên gồm đại diện lãnh đạo nhiều cơ quan (Điều 87) Không áp dụng hình thứcthi tuyển vào ngạch đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.Luật năm 2014 quy định Kiểm tra viên là chức danh tư pháp, được bổ nhiệm để giúp Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân công của Viện trưởng Kiểm tra viên có 03 ngạch như hiện nay (Kiểm tra viên, Kiểm tra viên chính, Kiểm tra viên cao cấp) Tiêu chuẩn bổ nhiệm, điều kiện nâng ngạch Kiểm tra viên do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.
Thứ mười, về Viện kiểm sát quân sự: Luật năm 2014 quy định hệ
thống Viện kiểm sát quân sự không tổ chức theo bốn cấp như trước mà tổchức theo ba cấp gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự Quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực Luật
đã phân định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tư lệnh Quân khu và tương đương trong việc điều động, luân chuyển, biệt phái Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, quân nhân khác, công chức, viên chức của Viện kiểm sát quân sự Cụ thể: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều động, luân chuyển giữa các Viện kiểm sát quân sự không cùng quân khu và tương đương sau khi thống nhất với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tư lệnh quân khu và tương đương điều động, luân chuyển giữa các Viện kiểm sát quân sự trực thuộc quân khu và tương đương sau khi thống nhất với Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương
Thứ mười một, về bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân:
Luật năm 2014 quy định rõ trong trường hợp Chính phủ và Viện kiểm sátnhân dân tối cao không thống nhất về dự toán kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 40kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định Kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát quân sự do Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương lập
dự toán báo cáo Bộ Quốc phòng để đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định, không phải phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao như hiện nay Luật năm 2014 quy định: Ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị nâng cao năng lực hoạt động Luật năm 2014 đã bổ sung các quy định: Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên có thang, bậc lương riêng, chế độ phụ cấp đặc thù và phụ cấp khác; chính sách khuyến khích, tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành Kiểm sát nhân dân; bảo đảm kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng; ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức của Viện kiểm sát nhân dân là người dân tộc thiểu số hoặc công tác tại miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Quy định về khen thưởng, xử lý
vi phạm, tạo cơ sở pháp lý để Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối caoban hành các hình thức khen thưởng đặc thù của ngành Kiểm sát
Thứ mười hai, về cơ chế kiểm soát, giám sát đối với Viện kiểm sát
nhân dân: Luật hiện hành: Luật năm 2014 quy định: Cơ chế kiểm soát trở lại của Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án và các cơ quan khác có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp đối với việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểmsát nhân dân và quy định rõ các thiết chế giám sát bằng hình thức dân chủđại diện gồm có Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân;quy định cơ chế giám sát thông qua dân chủ trực tiếp và các tổ chức chínhtrị - xã hội
Ngoài ra, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 còn quy định
về ngày truyền thống, phù hiệu của Viện kiểm sát nhân dân