MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 1 Sự cần thiết của đề tài 1 2 Đối tượng nghiên cứu 1 3 Phạm vi nghiên cứu 1 4 Phương pháp nghiên cứu 2 5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 2 PHẦN II NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ. MỤC LỤCPHẦN I: MỞ ĐẦU11. Sự cần thiết của đề tài12. Đối tượng nghiên cứu13. Phạm vi nghiên cứu.14. Phương pháp nghiên cứu25. Giới thiệu nội dung nghiên cứu2PHẦN II: NỘI DUNG3CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ TÍCH LŨY TƯ BẢN THEO HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC – LÊNIN31.1.Lý luận về tư bản31.1.1. Khái niệm tư bản31.1.2. Công thức chung của Tư bản31.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản51.2.1. Trình độ bóc lột giá trị thặng dư51.2.2. Năng suất lao động51.2.3. Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng61.3. Tác dụng của tích lũy tư bản61.3.1. Tích tụ tư bản trong hệ thống doanh nghiệp61.3.2. Tập trung tư bản trong hệ thống doanh nghiệp71.3.3. Tích lũy tư bản trong toàn bộ nền kinh tế8CHƯƠNG II: XU THẾ TÍCH LŨY TƯ BẢN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM92.1 Khái quát quá trình tích lũy tư bản diễn ra trong nền kinh tế Việt Nam91.2.1 Giai đoạn trước đổi mới năm 198691.2.2. Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay102.2. Kết quả, thành tựu112.2.1. Tư bản bị san sẻ112.2.2. Nhiều nguồn tích lũy tư bản bù đắp122.3 Hạn chế, thách thức14CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY TÁC DỤNG CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN153.1. Mục tiêu153.2. Một số khuyến nghị16PHẦN III: KẾT LUẬN19TÀI LIỆU THAM KHẢO20 PHẦN I: MỞ ĐẦU1. Sự cần thiết của đề tàiSự phát triển của Việt Nam trong hơn 35 năm qua rất đáng ghi nhận. Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019. Một trong các yếu tố đem lại thành công thì vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn là yếu tố quan trọng và cơ bản nhất bởi lẽ nó là điều kiện cần thiết, yêu cầu tất yếu đối với quá trình phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đặc biệt là Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong doanh nghiệp vấn đề tích luỹ vốn được xem là yếu tố để doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất tăng khả năng cạnh tranh và đem lại thu nhập cao trong tương lai, cùng với nó việc phân bố và sử dụng hiệu quả cũng là bài toán đòi hỏi các doanh nghiệp cần có sự lựa chọn và đưa ra các quyết định cần thiết. Thấy rõ được tầm quan trọng của việc tích luỹ vốn hiện nay, tôi đã lựa chọn đề tài “ Lý luận tích lũy tư bản của Học thuyết kinh tế MácLênin và ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” để có được cái nhìn sâu và rộng hơn về đề tài này.2. Đối tượng nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu của bài viết xoay quanh lý luận cơ bản về tích lũy tư bản và sự ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.3. Phạm vi nghiên cứu.Phạm vi nghiên cứu là những lý luận tích lũy tư bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và xoay quanh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Bài luận được nghiên cứu và hoàn thành tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.4. Phương pháp nghiên cứuVề phương pháp luận, tiểu luận sử dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này bao gồm phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp và đối chiếu.5. Giới thiệu nội dung nghiên cứu Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, cũng như các phần phụ lục khác, kết cấu đề tài gồm 3 chương như sau: Chương 1: Khái niệm lý luận về tích lũy Tư bản Chương 2: Tác dụng của tích lũy tư bản đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt NamChương 3: Một số khuyến nghị nhằm phát huy tác dụng của tích lũy Tư bản
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 2
PHẦN II: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ TÍCH LŨY TƯ BẢN THEO HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC – LÊNIN 3
1.1 Lý luận về tư bản 3
1.1.1 Khái niệm tư bản 3
1.1.2 Công thức chung của Tư bản 3
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản 5
1.2.1 Trình độ bóc lột giá trị thặng dư 5
1.2.2 Năng suất lao động 5
1.2.3 Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng 6
1.3 Tác dụng của tích lũy tư bản 6
1.3.1 Tích tụ tư bản trong hệ thống doanh nghiệp 6
1.3.2 Tập trung tư bản trong hệ thống doanh nghiệp 7
1.3.3 Tích lũy tư bản trong toàn bộ nền kinh tế 8
CHƯƠNG II: XU THẾ TÍCH LŨY TƯ BẢN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 9
Trang 22.1 Khái quát quá trình tích lũy tư bản diễn ra trong nền kinh tế
Việt Nam 9
1.2.1 Giai đoạn trước đổi mới năm 1986 9
1.2.2 Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay 10
2.2 Kết quả, thành tựu 11
2.2.1 Tư bản bị san sẻ 11
2.2.2 Nhiều nguồn tích lũy tư bản bù đắp 12
2.3 Hạn chế, thách thức 14
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY TÁC DỤNG CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN 15
3.1 Mục tiêu 15
3.2 Một số khuyến nghị 16
PHẦN III: KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 35 năm qua rất đáng ghi nhận.Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanhchóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trởthành quốc gia thu nhập trung bình thấp Từ 2002 đến 2018, GDP đầu ngườităng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019 Một trong các yếu tố đem lạithành công thì vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn là yếu tố quan trọng và
cơ bản nhất bởi lẽ nó là điều kiện cần thiết, yêu cầu tất yếu đối với quá trìnhphát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đặc biệt là Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay
Trong doanh nghiệp vấn đề tích luỹ vốn được xem là yếu tố để doanhnghiệp có thể mở rộng sản xuất tăng khả năng cạnh tranh và đem lại thu nhậpcao trong tương lai, cùng với nó việc phân bố và sử dụng hiệu quả cũng là bàitoán đòi hỏi các doanh nghiệp cần có sự lựa chọn và đưa ra các quyết địnhcần thiết Thấy rõ được tầm quan trọng của việc tích luỹ vốn hiện nay, tôi đã
lựa chọn đề tài “ Lý luận tích lũy tư bản của Học thuyết kinh tế Lênin và ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” để có được cái nhìn sâu và rộng hơn về đề tài này.
Mác-2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài viết xoay quanh lý luận cơ bản về tíchlũy tư bản và sự ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu là những lý luận tích lũy tư bản của chủ nghĩa Mác– Lênin và xoay quanh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trang 4Bài luận được nghiên cứu và hoàn thành tại trường Đại học Bách Khoa HàNội.
4 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, tiểu luận sử dụng những phương pháp luận duyvật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp nghiên cứu được sử dụngtrong đề tài này bao gồm phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,phương pháp phân tích tổng hợp và đối chiếu
5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, cũng như các phần phụ lục khác,kết cấu đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Khái niệm lý luận về tích lũy Tư bản
Chương 2: Tác dụng của tích lũy tư bản đến nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN ở Việt Nam
Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm phát huy tác dụng của tích lũy Tưbản
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ TÍCH LŨY TƯ BẢN THEO
HỌC THUYẾT KINH TẾ MÁC – LÊNIN 1.1 Lý luận về tư bản
1.1.1 Khái niệm tư bản
Tư bản hay vốn trong kinh tế học là khái niệm để chỉ những vật thể cógiá trị, có khả năng đo lường được sự giàu có của người sở hữu chúng Tưbản là sở hữu về vật chất thuộc về cá nhân hay tạo ra bởi xã hội Tuy nhiên tưbản có nhiều định nghĩa khác nhau dưới khía cạnh kinh tế, xã hội, hay triếthọc
Trong kinh tế học cổ điển, tư bản được định nghĩa là những hàng hóasẵn có để sử dụng làm yếu tố sản xuất Với vai trò là yếu tố sản xuất, tư bản
có thể là mọi thứ như tiền bạc, máy móc, công cụ lao động, nhà cửa, bảnquyền, bí quyết, v.v nhưng không bao gồm đất đai và người lao động
Tư bản ở dạng hàng hóa có được nhờ mua bằng tiền hoặc tư bản vốn.Trong lĩnh vực tài chính và kế toán, khi đề cập đến tư bản là nói đến nguồnlực tài chính, đặc biệt là để bắt đầu hoặc duy trì một công việc kinh doanh,đôi khi còn được gọi là Dòng tiền hay Dòng luân chuyển vốn
1.1.2 Công thức chung của Tư bản
Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng làhình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiệndưới hình thái một số tiền nhất định Nhưng bản thân tiền không phải là tưbản Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúngđược sử dụng để bóc lột lao động của người khác
Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng làhình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiệndưới hình thái một số tiền nhất định Nhưng bản thân tiền không phải là tư
Trang 6bản Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúngđược sử dụng để bóc lột lao động của người khác.
Sự vận động của đồng tiền thông thường và đồng tiền là tư bản có sựkhác nhau hết sức cơ bản
Trong lưu thông hàng hóa giản đơn thì tiền được coi là tiền thôngthường, vận động theo công thức: H - T - H (hàng - tiền - hàng), nghĩa là sựchuyển hóa của hàng hóa thành tiền, rồi tiền lại chuyển hóa thành hàng hóa Ởđây, tiền tệ không phải là tư bản mà chỉ là tiền tệ thông thường với đúngnghĩa của nó Người sản xuất hàng hóa bán hàng hóa của mình lấy tiền tệ, rồilại dùng tiền tệ đó để mua một hàng hóa khác phục vụ cho những nhu cầu tiêudùng nhất định của mình Ở đây, tiền tệ chỉ là phương tiện để đạt tới một mụcđích bên ngoài lưu thông Hình thức lưu thông hàng hóa này thích hợp vớinền sản xuất nhỏ của những người thợ thủ công và nông dân
Còn tiền được coi là tư bản thì vận động theo công thức: T - H - T (tiền
- hàng - tiền), tức là sự chuyển hóa của tiền thành hàng hóa, rồi hàng hóa lạichuyển hóa ngược lại thành tiền
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư Mục đích lưu thông tư bản làsự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không
có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn C.Mác gọi côngthức T - H - T là công thức chung của tư bản, vì sự vận động của mọi tư bảnđều biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù đó là tư bản thươngnghiệp, tư bản công nghiệp hay tư bản cho vay Điều này rất dễ dàng nhậnthấy trong thực tiễn, bởi vì hình thức vận động của tư bản thương nghiệp làmua vào để bán ra đắt hơn, rất thích hợp với công thức trên Tư bản côngnghiệp vận động phức tạp hơn, nhưng dù sao cũng không thể tránh khỏinhững giai đoạn T - H và H – T’ Còn sự vận động của tư bản cho vay để lấylãi chẳng qua chỉ là công thức trên được rút ngắn lại T – T’
Trang 7C.Mác chỉ rõ "Vậy T - H - T' thực sự là công thức chung của tư bản,đúng như nó trực tiếp thể hiện ra trong lĩnh vực lưu thông"
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản
Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bảnphụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích luỹ và tiêu dùng
Nếu tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng đã được xác định, thì quy mô tíchluỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Có bốn nhân tố ảnhhưởng đến khối lượng giá trị thặng dư:
1.2.2 Năng suất lao động
Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệutiêu dùng giảm Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ:
– Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tíchluỹ có thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bảnkhông giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước
– Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ cũng cóthể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụthêm nhiều hơn trước
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ thêmcho tích luỹ nhờ việc sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới của vật
Trang 8liệu hiện có như những phế thải trong tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhâncủa xã hội, những vật vốn không có giá trị.
Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ táihiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh
1.2.3 Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộquy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm
Còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy đượcchuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao
Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Sựchênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất
Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc vàcông cụ lao động – nghĩa là sau khi trừ đi giá trị hao mòn của chúng đãchuyển vào sản phẩm – nhà tư bản sử dụng những máy móc và công cụ laođộng đó mà không đòi hỏi một chi phí khác
1.3 Tác dụng của tích lũy tư bản
1.3.1 Tích tụ tư bản trong hệ thống doanh nghiệp
Trước đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng còn thiếu thốn thì quátrình tích lũy vốn còn gặp rất nhiều trở ngại Nhà nước lại can thiệp quá sâuvào nền kinh tế dẫn đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hếtkhả năng của mình, nhiệm vụ tích tụ và tập trung vốn không đạt
được hiệu quả
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế, đời sống nhân dân đã được cải thiệt rõrệt, thu nhập quốc dân tăng lên…tuy nhiên nó vẫn còn quá nhỏ bé so với nềnkinh tế thế giới Một trong những nguyên nhân chính là thực trạng tích lũyvốn của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh nghiệp
Trang 9thấp Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến ngày 01/01/2004, cảnước có 72.012 doanh nghiệp thực tế hoạt động với tổng số vốn là 1.724.558tỷđồng (nếu quy đổi ra đô la Mỹ (thời điểm năm 2003) thì quy mô vốn củacác doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ tương đương với một tập đoàn đa quốc gia
cỡ trung bình trên thế giới) Trong đó doanh nghiệp Nhà nước chiếm 59,0/%tổng vốn của doanh nghiệp cả nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm19,55%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 21,44% tổng vốn cácdoanh nghiệp cả nước Xét riêng đối với mỗi doanh nghiệp, vốn của từngdoanh nghiệp rất nhỏ Thực tế cho thấy tiềm năng trong dân còn rất lớn nhưng
tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp, nhiều hộ gia đình và không ít doanh nghiệp cònđầu tư chưa hiệu quả, nguồn vốn không được luân chuyển từ nơi thừa đến nơithiếu Đầu tư của nhà nước tăng lên nhưng còn dàn trải, lãng phí, thị trườngvốn, tiền tệ chậm phát triển, lãi suất tín dụng chưa phù hợp với việc đẩy mạnhquá trình tích tụ và tập trung vốn, vì thế còn hạn chế đầu tư phát triển Việcquản lý sử dụng vốn còn phân tán, không tập trung tối đa vốn tiền mặt cũngnhư nhân tài vật lực để giải quyết những công trình thiết yếu của nền kinhtế.Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán cho thấyđây là một kênh huy động vốn thật sự hấp dẫn và rất đáng kể
1.3.2 Tập trung tư bản trong hệ thống doanh nghiệp
Đánh giá việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001
-2010, Đại hội XI - Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Chúng ta đãtranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất lànhững tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực
và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã rakhỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thunhập trung bình Nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược 2001-2010 đã đượcthực hiện, đạt bước phát triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm
Trang 10Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người đạt 1.168USD Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện.Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, nhất làxóa đói, giảm nghèo Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cảithiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng Chính trị - xã hội ổnđịnh; quốc phòng, an ninh được giữ vững Công tác đối ngoại, hội nhập quốc
tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổnđịnh và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước”
1.3.3 Tích lũy tư bản trong toàn bộ nền kinh tế
Trong đường lối CNH, HĐH đất nước do Đại hội VIII của Đảng đề ra,vấn đề tích luỹ vốn để tiến hành CNH, HĐH có tầm quan trọng đặc biệt cả vềphương pháp, nhận thức chỉ đạo thực tiễn Ai cũng biết rằng để CNH, HĐHcần phải có vốn.Hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội
từ điểm xuất phát rất thấp, trong khi đó tiến hành công nghiệp hóa, hiện đạihóa lại phải cần nhiều vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Tuy đất nước vàkhu vực đã thoát khỏi khủng hoảng, nhưng nước ta vẫn là một nước nghèo,chậm phát triển thì vấn đề tích lũy vốn là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt,
có ý nghĩa tiên quyết đối với toàn bộ quá trình xây dựng, tại đại hội Đảng lầnthứ VIII Đảng ta đã khẳng định: “luôn chủ trương tự lực cánh sinh xây dựng,phát triển kinh tế, công nghiệp tích lũy vốn từ nội bộ kinh tế là chủ yếu”.Nhiều chuyên gia quốc tế đã cho rằng Việt Nam muốn phát triển và đạt tốc độtheo hướng rồng bay thì phải nỗ lực huy động và tích lũy vốn trong nước,tăng cường có hiệu quả với nguồn nước ngoài và đầu tư có hiệu quả cao Họ
đã tính toán rằng để tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm khoảng 10% thì tổng đầu tư trong nước của Việt Nam phải đạt từ 20-35%, từ nay đến
8-2020 để đạt được sự tăng trưởng GDP với tốc độ cao như vậy đòi hỏi phảiđẩy nhanh hơn nữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng
Trang 11đất nước ta đang đứng trước một bài toán vô cùng nan giải đó là tình trạngthiếu vốn về mọi mặt (vốn lao động, vốn tín dụng, vốn đầu tư phát triển) cầnphải giải đáp của nền công nghiệp: muốn phát huy tối đa nguồn nhân lực,nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân tài để phát huy tối đa cho công cuộccông nghiệp hóa hiện đại hóa thì phải đầu tư cho GDP đẩy nhanh ứng dụngkhoa họ công nghệ vào sản xuất cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng không thểthiếu vai trò của vốn Mặt khác chúng ta đang tiến tới hiệp định GEPT/AFTA( ASEAN) và tham gia vào khu vực tự do hoá thương mại Châu Á TBD(APEC) để đứng vững được chúng ta phải có sức cạnh tranh trên mọi thịtrường trong và ngoài nước Theo Marx “Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản,nếu muốn duy trì tư bản của mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng lênmãi và hẳn không thể nào tiếp tục làm cho tư bản đó ngày một tăng lên đượcnếu không có một sự tích lũy ngày càng nhiều thêm”
CHƯƠNG II: XU THẾ TÍCH LŨY TƯ BẢN TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 2.1 Khái quát quá trình tích lũy tư bản diễn ra trong nền kinh tế Việt Nam
1.2.1 Giai đoạn trước đổi mới năm 1986
Mô hình kinh tế trước năm 1986
Giai đoạn kinh tế trước năm 1986, hay còn gọi là Thời kì bao cấp, làgiai đoạn áp dụng mô hình kinh tế cũ - kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở miềnBắc cho cả nước sau thống nhất
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hànhchính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Cácdoanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sảnxuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiềnlương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế