1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận kinh tế chính trị mac lenin (giá trị thặng dư)

52 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị thặng dư là gì? Thực tiễn kinh tế xhcn việt nam và vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tới nền kinh tế việt nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 155,52 KB
File đính kèm Kinh tế Chính trị Mac Lenin (Giá trị thặng dư).rar (143 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề: GIÁ TRỊ THẶNG DƯ LÀ GÌ? THỰC TIỄN KINH TẾ XHCN VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIẢ TRỊ THẶNG DƯ TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C. Mác là “nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác”. Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đã mua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm, thu về giá trị thặng dư. Sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Toàn bộ hoạt động của nhà tư bản hướng đến tăng cường việc tạo ra giá trị thặng dư thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối. Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản là nội dung chính của quy luật giá trị thặng dư. Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tư bản. Việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư có ý nghĩa quan trọng, là chìa khóa dẫn đến những vấn đề khác trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phải nói rằng học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển. Do vậy, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cùng với tính thực tiễn của nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng thời cũng đã vạch trần bản chất bóc lột của tư bản thông qua bóc lột giá trị thặng dư.Tư bản Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê. Tư bản không phải là một vật (không phải là tiền hoặc tư liệu sản xuất). Những vật này chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của nhà tư bản và được dùng vào việc bóc lột lao động làm thuê. Nên tư bản là một quan hệ sản xuất xã hội. Tư bản là quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra. b. Giá trị thặng dư Nguồn gốc của giá trị thặng dư Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất. Vì tư liệu tư bản sản xuấ và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sTn phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản. Bằng lao động của thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất vàchuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó đưọc gọi là giá trị thặng dư. Sự sản xuất của giá trị thặng dư: Là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản, là cơ sở của sụ tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nội dung của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê. Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Nó quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa tư bản. Nó là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn.LIÊN HỆ THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 1. Thực trạng Việt Nam hiện nay Là một quốc gia đi theo con đường XHCN, nền kinh tế cũng được cấu tạo chung thành nền kinh tế thị trường định hướng XNCH, trải qua nhiều năm chuyển đổi mô hình và cơ chế, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu cũng như thách thức trong nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau. Việc tiếp thu học thuyết kinh tế thị trường đã đưa đặt ra cho nước nhà và các nhà quản lý những bài toán về kinh tế, các phương pháp để sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa từ việc tận dụng nhiều phương pháp để tăng tỉ xuất và khối lượng giá trị thặng dư. Với thực tiễn là một quốc gia đang trong giai đoạn quá độ lấy kinh tế là trọng tâm. Tuy nhiên, các yếu tố XHCN hoặc xuất hiện nhưng không có hiệu quả, hoặc chưa rõ nét. Cụ thể là, thành phần kinh tế nhà nước tuy chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng hiệu quả thấp. Thậm chí một số tập đoàn kinh tế nhà nước lớn lâm vào tình trạng mất vốn, phá sản, nợ nần (nợ của doanh nghiệp nhà nước đến năm 2013 đạt con số hơn 1 triệu tỷ đồng). Hợp tác xã còn yếu kém hơn, đặc biệt là không hấp dẫn nông dân. Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu theo chính sách ngắn hạn, hiệu lực và hiệu quả thấp, các vấn đề về lũng đoạn thị trường, gian lận, hàng giả… diễn ra phổ biến. Nhà nước làm mất dần niềm tin ở nhân dân do quản lý nền kinh tế chưa thực sự hiệu quả và công bằng, do “lợi ích nhóm” chi phối nên nhiều chính sách kinh tế chưa thực sự xuất phát từ lợi ích chung của quảng đại nhân dân lao động. Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, tệ quan liêu, lãng phí và tham nhũng chưa được ngăn ngừa hiệu quả. Số đông người dân làm nông nghiệp có thu nhập thấp, hầu như rất khó thoát nghèo.

Trang 1

Đề: GIÁ TRỊ THẶNG DƯ LÀ GÌ?

THỰC TIỄN KINH TẾ XHCN VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIẢ TRỊ THẶNG DƯ TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 3

I KHÁI QUÁT CHUNG 3

1 Khái niệm 3

2 Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư trong Chủ nghĩa Tư bản 3

II Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 6

1 Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư 6

2 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 10

3 Ý nghĩa của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 4 Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường 20

III LIÊN HỆ THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 22

1 Thực trạng Việt Nam hiện nay 22

2 Bài học cho Việt Nam từ các nước tư bản thông qua thực hiện các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 22

3 Con đường và nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước 23

C TỔNG KẾT 30

Trang 3

A MỞ ĐẦU Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của

học thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C Mác là “nội dung căn bảncủa chủ nghĩa Mác” Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đã muasức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm,thu về giá trị thặng dư Sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tưbản Toàn bộ hoạt động của nhà tư bản hướng đến tăng cường việc tạo ra giá trịthặng dư thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối vàtạo ra giá trị thặng dư tương đối Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản

là nội dung chính của quy luật giá trị thặng dư Nó tác động đến mọi mặt của xãhội tư bản Việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất

ra giá trị thặng dư có ý nghĩa quan trọng, là chìa khóa dẫn đến những vấn đề kháctrong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Phải nói rằng học thuyết giá trị thặng

dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác, nhờ có nó mà toàn bộ

bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ vàtái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển Do vậy, phươngpháp sản xuất giá trị thặng dư cùng với tính thực tiễn của nó có ý nghĩa vô cùngquan trọng, đồng thời cũng đã vạch trần bản chất bóc lột của tư bản thông qua bóclột giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tS chính trị Lênin Giá trị thặng dư của C.Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và

Mác-số tiền mà tư bản bỏ ra Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư liệu sTnxuất và thuêmướn lao động Giá trị thặng dư chính là bộ phận của giá trị mới đổi rangoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bTn chiSmkhông Trong bất kì xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư bằngcách áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng những tri thức, trí tuệ vào

Trang 4

trong quá trình sản xuất, để phát triển kinh tế, nâng cao quyền lợi, chất lượngcuộc sống cho con người.Ngày nay, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoahọc-kỹ thuật và sự phát triểncủa nền kinh tế thị trường hiện đại, bức tranh thế giới

đã và đang diễn ra nhiều đổi mới hầu hết trên mọi lĩnh vực Nước ta đang trongthời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đểphù h]p với những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại, bổ sung

và phát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư “ Hai phươngpháp sản xuất giá trị thặng dư Vận dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dưnhằm phát triển doanh nghiệp và nền kinh tế trong điều kiện cạnh tranh của nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN

Trang 5

B NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG

1 Khái niệm

a Tư bản

Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không

công của công nhân làm thuê

Tư bản không phải là một vật (không phải là tiền hoặc tư liệu sản xuất).Những vật này chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của nhà tư bản và đượcdùng vào việc bóc lột lao động làm thuê Nên tư bản là một quan hệ sản xuất xãhội

Tư bản là quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giátrị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra

b Giá trị thặng dư

Nguồn gốc của giá trị thặng dư

Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất Vì tưliệu tư bản sản xuấ và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sảnxuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sTn phẩm làm

ra thuộc sở hữu của nhà tư bản Bằng lao động của thể của mình, công nhân sửdụng các tư liệu sản xuất vàchuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng laođộng trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớnhơn đó đưọc gọi là giá trị thặng dư

Sự sản xuất của giá trị thặng dư: Là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tưbản, là cơ sở của sụ tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản Nội dung của nó làsản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làmthuê Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại củachủ nghĩa tư bản Nó quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của

Trang 6

chủ nghĩa tư bản Nó là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồngthời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là mâu thuẫn

cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủnghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn

Bản chất của giá trị thặng dư:

- Để nghiên cứu yếu tố cốt lai để tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuấtcủa các nhà tư bản thì C.Mác đã chia tư bản ra hai bộ phận: tư bản bất biến và tưbản khả biến

-Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn vàchuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sảnxuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến và gọi là kí hiệu là c

-Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trìnhsản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và kí hiệu là v

=>Ta thấy, muốn cho tư bản khả biến hoạt động đưọc thì phải có một tư bản bấtbiến đã được ứng trước với tỉ lệ tương đương Và qua sự phân chia ta rút ra tư bảnkhả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động Còn tư bản bấtbiến có vai trò gián tiếp trong việc trong việc tạo ra giá trị thặng dư Từ đây, ta cókết luận: "Giá trị của một hàng hoá của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến

mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản khả biến (Tứcc là giá trị thặng dư đãđược sản xuất ra) Nó được biểu diễn bằng công thức: Giá trị = c + v + m

- Sự phân chia tư bản thành tư bản khả biến và tư bản bất biến đã vạch ra thực chấtbóc lột TBCN, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dưcủa nhà tư bản Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do công nhân tạo ra Nóđư]c biểu diễn một cách ngắn gọn qua quá trình Giá trị = c + v + m

-Giá trị mới do người công nhân tạo ra: v + m

Trang 7

-Như thế tư bTn bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là c + v Nhưng giá trị mànhà tư bản thu vào là c + v + m Phần M dôi ra là phần mà tư bản bóc lột của côngnhân.

-Trên đây chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư

-Các phạm trù tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư mà ta nghiêncứu sauđây sẽ biểu hiện về mặt lượng của sự bóc lột

-Tỷ suất giá trị thặng dư là tỉ số giữa hai giá trị thặng dư và tư bản khả biến

-Kí hiệu của tỉ xuất giá trị thặng dư là m -Ta có: m' = (m.100%)/v

-Tỷ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân.Thực chất đây là tỉ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết vàthời gian lao động thặng dư Nó nói lên quy mô bóc lột của tư bản

-Giá trị thặng dư phản ánh rất ra bản chất quan hệ bóc lột trong sản xuất Giá trịthặng dư càng cao đồng nghĩa với việc quan hệ bóc lột giữa người chủ và côngnhân càng nặng

-Hay nói cách khác, tư bản chủ nghĩa ra sức bóc lột sức lao động của người côngnhân để đẩy giá trị thặng dư mà mình có được lên mức cao nhất Chính vì vậy,người giàu sẽ mãi giàu còn người nghèo vẫn sẽ mãi loay hoay với cuộc sống thiếuthốn

Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là quá trình tạo ra giá trị kéo dài quá cáiđiểm mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng một vậtngang giá mới

2 Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư trong Chủ nghĩa Tư bản

Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình lao động tạo ra giá trị sửdụng của hàng hóa: quá trình này là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sảnxuất để tạo ra những giá sử dụng đáp ứng yêu cầu của xã hội Trong bất kì xã hộinào sản xuất cũng là quá trình kết hợp giữa hai yếu tố nêu trên, nhưng giữa các xã

Trang 8

hội khác nhau thì nó khác nhau ở trình độ phát triển, biểu hiện ở trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất.

Mặt khác, đây cũng là quá trình tạo ra và làm tăng giá trị của hàng hóa Dovậy, nhà tư bản phải tuân theo những quy luật giá trị tức là phải theo thời gian laođộng xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa

Quá trình sản xuất trong Chủ nghĩa Tư bản là quá trình sản xuát hàng hóa,nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất đểsản xuất ra một loại hàng hóa có giá trị sử dụng nhất định Bởi giá trị sử dụng lànội dung vật chất của hàng hóa và cũng là mang giá trị và giá trị trao đổi Tất cảnhững hoạt động trên của nhà tư bản cũng chính là quá trình sản xuất ra giá trịthặng dư

Ví dụ: Làm rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong CNTB

Để sản xuất sợi, một nhà tư bản cần chi các yếu tố như:

- Mua 10kg bông hết 20$

- Mua sức lao động một ngày (10 giờ đồng hồ) là 5$

- Tiền hao mòn máy móc là 5$

Giả sử, trong 5 giờ đầu của ngày lao động, người công nhân vận hành máy

móc đã chuyển được 10kg bông thành sợi có giá trị là 20$ Ngày lao động là 10giờ, trong một giờ lao động, người công nhân tạo ra một lượng giá trị là 1$, khấuhao máy móc là 5$ Như vậy giá trị sản phẩm mới là 30$ Nếu quá trình lao độngdừng lại ở đây thì nhà tư bản không có lợi già và người công nhân không bị bóclột Tuy nhiên, thời gian lao động là 10 giờ nên người công nhân phải tiếp tục làmviệc thêm 5 giờ nữa Trong 5 giờ đồng hồ đó, nhà tư bản chỉ cần đầu tư thêm 20$cho 10kg bông và 5$ tiền hao mòn máy móc Quá trình lao động lại tiếp tục diễn ra

và kết thúc quá trình này, người công nhân tạo ra sản phẩm có giá trị là 30$ (tươngđương với giá trị sản phẩm mới trong 5 giờ lao động đầu)

Trang 9

Tóm lại, trong một ngày lao động (10 giờ đồng hồ) người công nhân tạo ra

sản phẩm sợi có giá trị:

- Giá trị của bông 20kg được chuyển thành sợi là 40$

- Giá trị của máy móc được chuyển vào sợi là 10$

- Giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra trong 10 giờ lao động là 10$

=> Tổng cộng là 60$

Trong khi đó chi phí sản xuất mà nhà tư bản phải đầu tư:

- Tiền mua 20kg bông là 40$

- Tiền hao mòn máy móc là 10$

- Tiền mua sức lao động trong một ngày là 5$

=> Tổng cộng là 55$

So với chi phí sản xuất mà nhà tư bản bỏ ra (55$) thì giá trị của sản phẩm sợi(60$) lớn hơn 5$ Đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được

Vậy, giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức

lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không

Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư cũng là sự thống nhất giữa quá trìnhsản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình lớn lên giá trị (giá trị thặng dư)

II Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

1 Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư

a Quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng trong chủ nghĩa tư bản

Quá trình sản xuất trong chủ nghĩa tư bản trước hết là quá trình kết hợp cácyếu tố sản xuất (tư liệu sản xuất và sức lao động) để tạo ra hàng hóa Hàng hóa này

có 2 thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị (trong đó có giá trị thặng dư)

Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà làgiá trị, hơn nữa, cũng không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư Nhưng

Trang 10

để sản xuất giá trị thặng dư, trước hết nhà tư bản phải sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó, vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi và giá trị thặng dư Vì vậy, quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư

Trong quá trình sản xuất trong xí nghiệp tư bản đồng thời là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động và tư liệu sản xuất mà nhà tư bản đã mua để sản xuất hàng hóa, nên nó có những đặc điểm riêng và mang tính tất yếu:

Một là, công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, lao động của

anh ta thuộc về nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuất và được nhà

tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất

Hai là, sản phẩm là do lao động của người công nhân tạo ra, nhưng nó

không thuộc về công nhân mà thuộc sở hữu của nhà tư bản

Ví dụ: Làm rõ quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng của nhà tư bản

Một nhà sản xuất sợi:

- Trước hết, nhà tư bản bỏ tiền ra mua các yếu tố sản xuất (với đúng giá trị), giả định như sau:

+ Mua 10 kg bông : 10$

+ Khấu hao máy móc (để kéo 10kg bông) : 2$

+ Mua sức lao động (12h/ngày) : 3$

Tổng cộng : 15$

- Lao động của người công nhân (sản xuất hàng hóa) có tính hai mặt: Lao động cụ thể đã kéo bông thành sợi; lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới kết tinh trong hàng hóa Giả định với năng suất lao động nhất định, lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới kết tinh trong hàng hóa Giả định với năng suất lao động nhất định, lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới = 0.5$/h Sau 6h lao động, người công nhân tạo ra hàng hóa mới (sợi) có giá trị như sau: + Giá trị 10kg bông chuyển vào : 10$

Trang 11

+ Khấu hoa máy móc chuyển vào : 2$

+ Giá trị mới do công nhân tạo ra : 3$

Tổng cộng : 15$

Như vậy, giá trị của sản phẩm mới bằng số tiền nhà tư bản đã bỏ ra (15$),tức là chưa có giá trị thặng dư, và tiền chưa trở thành tư bản

b Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư

Qúa trình sản xuất ra hàng hóa có giá trị sử dụng cũng là quá trình nhà tưbản tiêu dùng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất giá trị thặng

dư Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều chịu sự kiểm soát của nhà tư bản vàthuộc sở hữu của nhà tư bản Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng laođộng cụ thể của mình công nhân lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất vàchuyển giá trị của chúng vào hàng hóa, bằng lao động trừu tượng, công nhận tao ragiá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư

Để hiểu rõ quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư diễn ra như thế nào, ta xéttiếp ví dụ: Một nhà tư bản sản xuất sợi:

Nhà tư bản mua sức lao động của công nhân là 12h/ngày, mà người côngnhân mới làm được 6h và mới chỉ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng theo hợp đồng kýkết ở trên, người công nhân phải làm việc 6h nữa Trong 6h này, nhà tư bản tiếptục bỏ tiền mua:

+ Giá trị 10kg bông chuyển vào : 10$

+ Khấu hoa máy móc chuyển vào : 2$

+ Giá trị mới do công nhân tạo ra : 3$

Trang 12

Một là, ngày lao động của người công nhân bao giờ cũng được chia thành

hai phần: Thời gian lao động cần thiết (là thời gian anh ta tạo ra lượng giá trị ngangbằng giá trị sức lao động) và thời gian lao động thặng dư (là thời gian tạo ra giá trịthặng dư cho nhà tư bản)

Hai là, giá trị thặng dư (m) là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị

sức lao động, do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt Quá trìnhsản xuất giá trị thặng dư chỉ là quá trình tạo ra giá trị kéo dài quá cái điểm mà ở đógiá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng một vật ngang giá mới

Ba là, mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản (T – H –T’) đã được giải

quyết: việc tiền chuyển hóa thành tư bản vừa diễn ra trong lưu thông ( mua, bánhàng hóa trong đó có sức lao động), vừa diễn ra trong lĩnh vực sản xuất (khi tiêudùng các yếu tố sản xuất- sức lao động của công nhân làm thuê đã tạo ra giá trịthặng dư) Chỉ có trong lưu thông nhà tư bản mới mua được một thứ hàng hóa đặcbiệt, đó là hàng hóa sức lao động Sau đó, nhà tư bản sử dụng hàng hóa đặc biệt đótrong sản xuất, tức là ngoài lĩnh vực lưu thông để sản xuất ra giá trị thặng dư chonhà tư bản Do đó tiền của nhà tư bản mới trở thành tư bản

Vậy, việc nghiên cứu giá trị thặng dư được sản xuất ra như thế nào đã vạch

rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản

2 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Trang 13

Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng haiphương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối vàphương pháp giá trị thặng dư tương đối Mỗi phương pháp đại diện cho một trình

độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của

xã hội

a Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kĩthuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trịthặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày laođộng vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giátrị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Ví dụ: nếu ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thờigian lao động thặng dư là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là

8 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối ở đây sẽ là 32 Và tỷ suất giá trị thặng

dư là:

m’ = 32/32 * 100% = 100%

Giả định ngày lao động kéo dài thêm 2 giờ với mọi điều kiện không đổi thìgiá trị thặng dư tuyệt đối tăng từ 32 lên 48 thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là: m’ = 48/32 * 100% = 150%

Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hóa sức lao động phảii tìmmọi cách để kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động

Tuy nhiên ngày lao động chịu giới hạn về mặt sinh lý vì công nhân phải cóthời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe Việc kéo dài ngày laođộng còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân Do đó, ngày laođộng phải dài hơn thời gian lao động tất yếu và cũng không thể vượt giớihạn thể chất và tinh thần của người lao động

Trang 14

(-Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượngkhông cố định và có nhiều mức khác nhau Độ dài cụ thể của ngày lao động

do cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sởtương quan lực lượng quyết định Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòingày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ.)

● Khái niệm

Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng

dư được thực hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trongđiều kiện thời gian lao động tất yếu không đổi

● Đặc điểm

Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu củachủ nghĩa tư bản vậy thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là dựa vào lao độngthủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường thủ công

Đó là sự gia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Bởiphương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngàylao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng xuất lao động, giá trịsức lao động và thời gian lao động tất yếu là không thay đổi Có nghĩa là khi nhà tưbản muốn tăng giá trị thặng dư, thì nhà tư bản sẽ mua thêm máy móc, tư liệu sảnxuất, thuê nhân công để sản xuất ra hàng hóa, nhưng nhà tư bản chỉ mua thêm tưliệu sản xuất và bắt công nhân phải cung cấp thêm một lượng lao động và đồngthời tận dụng triệt để công xuất của máy móc hiện có Cái lợi ở đây là nhà tư bảnkhông cần ứng thêm tư bản, thuê thêm nhân công, mua thêm máy móc thiết bị,đồng thời máy móc sẽ được khấu hao nhanh hơn, hao mòn và chi phí bảo quảngiảm đi rất nhiều, thời gian thu lợi nhuận sẽ dài hơn

Việc kéo dài ngày lao động trong khi độ dài ngày lao động có giới hạn nhấtđịnh, nó không thể bằng thời gian lao động tất yếu, cũng không thể vượt quá giớihạn thể chất và tinh thần của người công nhân (ăn, ngủ,… để tái sản xuất sức lao

Trang 15

động đã hao phí trong ngày) Hơn nữa người công nhân có quyền đòi hỏi thời gianlao động phải tương ứng với tiền công được trả Độ dài ngày lao động bao nhiêutùy thuộc vào sự thỏa thuận và tương quan lực lượng giữa nhà tư bản và côngnhân.

Mặt khác, tăng cường độ lao động nếu dộ dài ngày lao động được xác định,

có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động trong một khoản thời gian nhất đinh, nên vềthực chất cũng như kéo dài thời gian lao động trong ngày Nhà tư bản có thể tăngthêm tư liệu lao động, yêu cầu hay thỏa thuận buộc công nhân làm việc khẩntrương hơn, căng thẳng hơn, tức là sức lực hao phí nhiều hơn, nhờ vậy mà giá trị

và giá trị thặng dư được tạo ra nhiều hơn

Việc kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động là những biện pháprất “lộ liễu”, vì vậy nó luôn vấp phải sự đấu tranh kinh tế của công nhân đòi tănglương, giảm giờ làm của công nhân Để tăng cường độ lao động thay cho kéo dàingày lao động nhà tư bản phải thay đổi máy móc của mình

Trang 16

Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2h, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vẫn là 4h khi đó ngày lao động được chia như sau:

Do đó, tỷ xuất giá trị thặng dư là: m’=6/4.100%=150%

Vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao độngtất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trịthặng dư tăng lên Trước đây tỷ suất giá trị thặng dư là 100% thì bây giờ là 150%

b Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Thời lượng ngày làm việc bị hạn chế về mặt thể chất và tâm lý của ngườilao động và ngày càng bị giai cấp công nhân phản đối Mặt khác, khi nền sảnxuất tư bản chủ ngĩa phát triển đến giai đoạn mà công nghiệp cơ khí và côngnghệ tiên tiến, năng suất lao động ngày càng tăng nhanh, thì nhà tư bản đãchuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất xã hội từ giá

c Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất giá trị thăng

dư đạt được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài giá trịthặng dư một cách tương ứng Thời gian lao động do năng suất lao động xãhội tăng lên với một ngày lao động không đổi nên giá trị thặng dư dophương pháp này tạo ra được gọi là giá trị thặng dư tương đối

Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian laođộng tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư Do đó, tý suất giá trịthặng dư là:

Trang 17

m’= (4/4)*100(%)= 100%

Giả sử ngày làm việc không thay đổi, nhưng người công nhân bây giwof chỉcần 3 giờ làm việc để tạo ra giá trị tiền lươnuômiws tương ứng với giá trịcông việc của anh ta thì thay đổi: 3 giờ là thời gian làm việc cần thiết và 5giờ làm thêm Do tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:

m’= (5/3)*100(%)=166%

Như vậy tỷ suất giá trị đã tăng từ 100% lên 166%

Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của nguời laođộng và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân Mặtkhác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơkhí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì cácnhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất laođộng xã hội, tức là bóc lột giá trị thặng dư tương đối

● Khái niệm

Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng

dư được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại để kéo dài mộtcách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng suất lao động xãhội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi Giá trị thặng dư được sản xuất

ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối

● Đặc điểm

Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệtđối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sảnxuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu Lịch sử phát triển của lựclượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua

ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đócũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối

Trang 18

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuấttheo chiều sâu, lao động phức tạp tăng lên và thay thế cho lao động giản đơn Để

có lợi cho mình các nhà tư bản buộc phải chú trọng đến nhân cách sáng tạo của laođộng làm thuê, có nghĩa là lao động bằng trí óc, lao động có trình độ kĩ thuật ngàycàng cao

Làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gianlao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Để rút ngắn thời gian lao độngtất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảmgiá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ

có thể thực hiện được bằng cách sử dụng máy móc làm tăng năng suất lao độngtrong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng củacông nhân và tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất

để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó, tức là tăng năng suất lao động xã hội

● Ví dụ

Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian laođộng tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư Điều đó có thể biểu diễn nhưsau:

Do đó, tý suất giá trị thặng dư là:

Trang 19

Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉcần 3 giờ lao động đã tạo ra được một lựơng giá trị mới bằng với giá trị sức laođộng của mình Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gianlao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư Điều đó được biểu diễnnhư sau:

Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:

Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%

● Nhận xét

Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sửdụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quátrình phát triển của chủ nghĩa tư bản Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máymóc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, mà trái lại tạođiều kiện để tăng cường độ lao động Ngày nay, việc tự động hóa sản xuất làm chocường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thầnkinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp

* So sánh phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

- Giống nhau:

Trang 20

+ Đều có các phạm trù về: giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sức động,giá trị thặng dư.

+ Đều đòi hỏi một trình độ nhất định về năng suất lao động, độ dài ngày laođộng

+ Giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối đều là một bộ phậngiá trị mới do sức lao động của công nhân tạo ra, dôi ra ngoài giá trị sức lao động

- Khác nhau:

Phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối

Phương pháp sản xuất GTTD tương đối

Thời gian - Thời kì đầu của CNTB, khi

năng suất lao động thấp thìphương pháp này chiếm ưu thế

- Khi khoa học công nghệ(KHCN) phát triển, ứng dụngthành tựu KHCNvào sản xuấtngày càng phổ biến, năng suấtlao động tăng cao thì phươngpháp này chiếm ưu thế

Cơ sở thực

tiễn

Dựa vào tăng cường lao động,thích hợp với thời kỳ đầu củachủ nghĩa tư bản, năng suất laođộng còn thấp

Dựa vào sự tăng nâng suất laođộng, chiếm ưu thế trong thời

kỳ chủ nghĩa tư bản đã pháttriển cao, năng suất lao độngtăng lên

Giới hạn Có giới hạn bởi thời gian tự

nhiên trong ngày và bởi yếu tốthể chất, tinh thần của người laođộng

Không có giới hạn vì năng suấtlao động có thể tăng lên vô hạn

Trang 21

c Giá trị thặng dư siêu ngạch

Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuấttốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cábiệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá, nhờ đó thu được giá trịthặng dư siêu ngạch

● Khái niệm

Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năngsuất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá thị trườngcủa nó

GTTD siêu ngạch = Giá trị xã hội – Giá trị cá biệt

C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trịthặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đềudựa trên cơ sở tăng năng xuất lao động song khác nhau ở chỗ: Giá trị thặng dưtương đối thu được do tăng năng xuất lao động xã hội, giá trị thặng dư siêu ngạch

có được do tăng năng xuất lao động cá biệt Do đó, giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ

có một số ít nhà tư bản thu được, giá trị thặng dư tương đối thì cả xã hội tư bản thuđược Giá trị thặng dư siêu ngạch không chỉ thể hiện mối quan hệ bóc lột của nhà

tư bản đối với người công nhân làm thuê mà còn trực tiếp biểu thị mối quan hệ

Trang 22

cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau Các nhà tư bản luôn tìm cách cải tiến kỹthuật, tăng năng xuất lao động nhằm hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa.

● Ví dụ

Về giá trị thặng dư siêu ngạch: Một chiếc xe hơi được sản xuất tại nướcngoài chỉ có giá 10.000 USD, nhưng khi nhập vào một nước khác sẽ bị đánh thuếlên đến 100% thì giá bán của nó tại thị trường đó ít nhất là 20.000 USD Vì vậy,nếu một người kinh doanh sử dụng các biện pháp để trốn thuế mà vẫn bán với giáhiện hành trên thị trường thì họ đã đạt được siêu lợi nhuận

* So sánh giá trị thặng dư tương đối với giá trị thặng dư siêu ngạch:

- Giống nhau: Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối cùng

có một cơ sở chung đó là dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động để rút ngắn thờigian lao động cần thiết

- Khác nhau:

Giá trị thặng dư tương đối Giá trị thặng dư siêu ngạch

- Dựa trên cơ sở tăng năng xuất lao

động xã hội

- Giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ

giai cấp các nhà tư bản thu được

- Vạch rõ mối quan hệ bóc lột của toàn

bộ giai cấp các nhà tư bản với toàn bộ

giai cấp công nhân làm thuê

- Dựa trên cơ sở tăng năng xuất laođộng cá biệt

- Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ domột số các nhà tư bản có kỹ thuật tiêntiến thu được

- Phản ánh mối quan hệ giữa các nhà

tư bản cá biệt với công nhân làm thuê

và mối quan hệ giữa các nhà tư bản vớinhau

Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnhnhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản

Trang 23

xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng xuất lao độnggiảm giá trị của hàng hoá.

d Mối quan hệ giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Thực ra, hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư không hề bị tách rờinhau, mà chỉ trong mỗi thời kì khác nhau sự vận dụng hai phương pháp là nhiềuhay ít tùy thuộc vào sự biến chuyển của lực lượng lao động và sự pháp triển củakhoa học công nghệ Trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản thì phương pháp sảnxuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng nhiều hơn so với phương pháp sảnxuất giá trị thặng dư tương đối, còn trong thời kì sau của chủ nghĩa tư bản thìngược lại

Trong xã hội hiện nay, việc nhà tư bản kết hợp tốt hai phương pháp sản xuấtgiá trị thặng dư đã ngày càng tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản, tuyphương pháp kéo độ dài ngày lao động không còn phù hợp nhưng các nhà tư bảnlại tìm cách tăng cường độ lao động, tức người lao động phải hao phí nhiều sức laođộng trong một thời gian Đồng thời, cũng bằng cách tăng cường các phương tiện

kĩ thuật, máy móc hiện đại và quản lí để bóc lột ngày càng nhiều sức lao động làmthuê Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao động chân tay bị cắt giảm nhưngđiều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường độ lao động của người công nhân, màtrái lại giao việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc

độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục, người công nhân phải chạy theo tốc độ vậnhành máy làm cho cường độ lao động tăng lên năng suất lao động tăng Ngoài ra,

để sản xuất hiện đại áp dụng tự động hóa cao, cường độ lao động người công nhâncũng được tăng lên với hình thức mới đó là cường độ lao động thần kinh thay thếcho cường độ lao động cơ bắp, tạo ra sản phẩm chứa nhiều chất xám có giá trị lớn.Nên sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh vi của haiphương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trịthặng dư tương đối

Trang 24

3 Ý nghĩa của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

a Ý nghĩa về mặt lí luận

Nắm được các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư giúp nhà nước đưa racác biện pháp bảo vệ những quyền chính đáng của người lao động bằng luật vàcác chế tài cụ thể

Vận dụng những tư tưởng và các nguyên lí trong phương pháp sản xuất giátrị thặng dư một cách có hiệu quả để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế đất nước, tạotiền đề vững chắc đưa nền kinh tế đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa

Cần đầu tư nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ, nâng cao đời sống,chất lượng nguồn lao động trong nước

Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất của tư bản chủ nghĩa thì để tăng năng suấtlao động có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư làm giàu cho xã hội Muốntăng sản phẩm xã hội thì sử dụng hết, sử dụng có hiệu quả lực lượn lao động xãhội Đồng thời những ngành còn sử dụng nhiều lao động như: công nghiệp chếbiến, nông nghiệp, dịch vụ… muốn kích thích sản xuất, tăng năng suất lao độngcao cần nhanh chóng áp dụng khoa học- kĩ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệmchi phí sản xuất

=> Đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tếquốc dân là là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế

b Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Trên cơ sở ý nghĩa về mặt lý luận, Đảng và nhà nước ta đề ra đường lốichính sách trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay ở Việt Nam.Khẳng định rõ hơn bản chất bóc lột của tư bản đối với người lao động làm thuê vàchứng minh tính khách quan của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng vàNhà nước và nhân dân ta lựa chọn

Trang 25

Hiện nay, Việt Nam muốn tăng năng suất lao động, muốn làm giàu cho xãhội thì phải sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động xã hội Lực lượng lao động nước

ta được xét trên hai phương diện:

+ Về mặt số lượng: nước ta có nguồn lao động dồi dào, đông đảo, nhưngchưa được sự được quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khaithác một cách tối ưu nhất có thể Thực tế, nguồn lực lượng lao động xã hội ở nước

ta chưa thực sự phát triển, đang có hướng đi và hướng phát triển mới

+ Về mặt chất lượng: chất lượng nguồn lực lao động chưa cao, trình độ taynghề còn thấp, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất Trình độ của lựclượng lao động nước ta khá thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếpthu cái mới Tuy nhiên, họ lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài bản,điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lực lượng lao động và ảnh hưởng đến

sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Để kích thích sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, ta phải áp dụngnhững thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý sảnxuất theo xu hướng phát triển tất yếu và tính xã hội hóa ngày càng cao của lựclượng sản xuất mâu thuẫn ngày càng gay gắt với tính chất tư nhân của quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa

4 Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường

a Lợi nhuận

Lợi nhuận được thể hiện thông qua các hình thức khác nhau mà trong đó nổi bật làcác hình thức dưới đây:

+ Chi phí sản xuất hàng hóa

+ Bao nhiêu chất của bản chất lợi nhuận (P)

+ Tỷ xuất lợi nhuận: các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận

+ Lợi nhuận bình quân

* Chi phí sản xuất hàng hóa (k):

Trang 26

Khái niệm: Là phần giá rị của hàng hóa, bù lại giá cả của những tư liệu sản suất đãtiêu dùng và giá cả của sức lao động đã được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa (sốtiền nhà tư bản bỏ ra mua c & v để sản xuất hàng hóa).

Với công thức:

k = c + v

Từ đó chúng ta suy ra được rằng giá trị hàng hóa (G) sẽ được chuyển đổi:

Từ G = c + v + m thành G = k + m

Trong đó: k là chi phí sản xuất của hàng hóak là chi phí sản xuất của hàng hóa

c là giá trị của chi phí máy móc, nguyên vật liệu

k là chi phí sản xuất của hàng hóa k là chi phí sản xuất của hàng hóa

v là thời gian lao động tất yếuk là chi phí sản xuất của hàng hóa

m là thời gian lao động thặng dư

* Bản chất của lợi nhuận (P)

- Khái niệm: Lợi nhuận chính là giá trị thặng dư khi được coi là con đẻ của chi phísản xuất TBCN (do k sinh ra) Trong đó: k là chi phí sản xuất của hàng hóa

P là biểu hiện của mk là chi phí sản xuất của hàng hóa

P là mục tiêu, động lực của SX kinh doanh

* Tỉ suất lợi nhuận ( P’)

- Khái niệm: Là tỷ lệ phần trăm giữa P và toàn bộ tư bản ứng trước

Tỉ suất lợi nhuận được tính theo công thức sau đây:

p’ =  100%k 100%

P V

C

m

Trong đó Trong đó: P & P’ thể hiện lợi ích kinh tế trong nền KTTT

Các nhân tố Tnh hưởng đSn P’: k là chi phí sản xuất của hàng hóa

Tỷ suất giá trị thặng dư (m’) k là chi phí sản xuất của hàng hóa

Cấu tạo hữu cơ của TB c/vk là chi phí sản xuất của hàng hóa

Tốc độ chu chuyển của TBk là chi phí sản xuất của hàng hóa

Tiết kiệm TBBB ©

Ngày đăng: 04/10/2023, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w