Với mục đích cung cấp thêm hiểu biết, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An, cụ thể là trong việc kiểm soát nôn
Trang 1Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học
ĐỀ XUẤT Ý TƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Tên đề tài: Phân tích phác đồ dự phòng và hoặc điều trị nôn, buồn nôn do hóa trị liệu
tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023
2. Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Thu Huyền
STT: 35
MSV: 7052900457
Lớp: Nghệ An 6
3. Giới thiệu (tính cấp thiết của đề tài)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, ở các nước đang phát triển, ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ hai chỉ sau bệnh tim mạch và luôn được coi như một gánh nặng lớn về y tế Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, năm 2018 trên toàn cầu có khoảng 18,1 triệu ca ung thư mới mắc và khoảng 9,6 triệu người chết vì ung thư [86] Ở Việt Nam, năm
2018 có khoảng 165 nghìn trường hợp mới mắc ung thư và hơn 114 nghìn người chết
do ung thư [85] Hiện nay, trong những liệu pháp điều trị ung thư đang được áp dụng, hóa trị liệu là phương pháp được sử dụng phổ biến cho các thể bệnh ung thư [2]
Nôn và buồn nôn là một trong những phản ứng có hại thường gặp nhất và đáng
lo ngại nhất của hóa chất điều trị ung thư [44], [65] Khoảng 42% đến 52% bệnh nhân gặp nôn và buồn nôn sau hóa trị và ngoài ra có khoảng 10% đến 44% bệnh nhân có biểu hiện nôn trước khi điều trị ở những chu kỳ tiếp theo do đã từng xuất hiện nôn và buồn nôn ở những chu kỳ trước đó [21], [69] Tình trạng nôn và buồn nôn kéo dài có thể gây ra rối loạn điện giải, suy dinh dưỡng, giảm thể lực, mệt mỏi, lo lắng và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [21] Thậm chí, tình trạng này còn có thể dẫn tới tâm lý sợ hãi, kém tuân thủ điều trị, hậu quả là làm giảm hiệu quả điều trị ung thư trên bệnh nhân [65]
Khi sử dụng hợp lý các thuốc dự phòng, việc kiểm soát nôn và buồn nôn gần như đạt được trên 70% đến 80% số bệnh nhân [44] Dự phòng nôn và buồn nôn ngay trước khi bắt đầu hóa trị liệu đóng vai trò quan trọng, vì kiểm soát tốt nôn và buồn nôn trong pha cấp (0 – 24 giờ đầu sau hóa trị), có mối liên hệ với việc giảm nguy cơ xuất hiện nôn và buồn nôn trong pha muộn (trên 24 giờ sau hóa trị) [78] Đồng thời, kiểm
Trang 2soát nôn và buồn nôn tốt trong chu kỳ đầu có liên quan đến việc giảm nguy cơ gặp các biến cố này ở các chu kỳ tiếp theo [40]
Hiện nay, một số hiệp hội chuyên ngành Ung bướu trên thế giới đã đưa ra các hướng dẫn về dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu [35], [54], [67] Một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng việc tuân thủ theo các hướng dẫn điều trị này làm giảm nguy cơ gặp biến cố nôn và buồn nôn trên bệnh nhân [6], [40] Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành theo các khuyến cáo trong dự phòng biến cố phù hợp theo các hướng dẫn này còn có sự khác biệt lớn giữa các nghiên cứu [6], [66] Các bác sĩ thường ước tính nguy cơ gặp biến cố của bệnh nhân thấp hơn so với thực tế [26], [30]
Tại Việt Nam, dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân còn gặp nhiều thách thức Một số thuốc được chứng minh có hiệu quả trong dự phòng và được khuyến cáo trong các hướng dẫn điều trị chưa được cấp phép lưu hành, như các thuốc thuộc nhóm đối kháng thụ thể neurokinin-1 Nhiều yếu tố khác nhau thuộc về phác đồ hóa chất và thuộc về bệnh nhân có thể làm thay đổi nguy cơ và mức độ xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn [9] Điều này có thể dẫn đến những khác biệt trong thực hành phát hiện, dự phòng và quản lý biến cố trên quần thể bệnh nhân ở Việt Nam
Bệnh viện Ung bướu Nghệ An là bệnh viện chuyên khoa ung thư khu vực bắc trung bộ, quản lý hơn 800 giường bệnh nội trú, với tổng số bệnh nhân điều trị hóa chất lên đến khoảng 100 bệnh nhân mỗi ngày Với mục đích cung cấp thêm hiểu biết, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An, cụ thể là trong việc kiểm soát nôn và buồn nôn do hóa trị
liệu, nghiên cứu “Phân tích phác đồ dự phòng và hoặc điều trị nôn, buồn nôn do hóa trị liệu tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023” được thực hiện với 2 mục
tiêu nghiên cứu:
4.MỤC TIÊU :
1 Khảo sát đặc điểm của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023
2 Phân tích tính phù hợp và hiệu quả của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ung thư có chỉ định điều trị hóa chất chu kỳ
Trang 3đầu tiên tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ 29/07/2023 đến 30/09/2023.
5.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân trên 18 tuổi
- Bệnh nhân được truyền hóa chất lần đầu tiên (chưa từng truyền hóa chất trước đó) trong khoảng thời gian từ ngày 29/07/2023 đến 30/09/2023 tại các khoa nội bệnh viện Ung bướu Nghệ An
5.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không tiếp cận được (không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không phỏng vấn được ở bất kỳ một thời điểm theo dõi nào)
- Bệnh án không tiếp cận được hoặc thiếu thông tin
- Bệnh nhân có nôn trong vòng 24 giờ trước khi truyền hóa chất
- Bệnh nhân nôn, buồn nôn do các nguyên nhân khác như di căn não, tắc ruột, cổ trướng ác tính, rối loạn điện giải – bao gồm ít nhất một trong các trường hợp sau: tăng calci huyết, tăng glucose máu, giảm natri máu hoặc tăng ure máu [54]
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang trên bệnh nhân được lựa chọn vào nghiên cứu phù hợp với các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trên
5.2.2 Phương pháp lấy mẫu
Bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ trên được đưa vào mẫu nghiên cứu theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện
5.2.3 Quy trình nghiên cứu
Hằng ngày, nhóm nghiên cứu sàng lọc những bệnh nhân có y lệnh truyền hóa chất lần đầu tiên từ phiếu duyệt y lệnh truyền hóa chất tập trung tại Khoa Dược và đưa vào danh sách bệnh nhân lấy thông tin Với danh sách bệnh nhân lọc từ khoa Dược, nghiên cứu viên phỏng vấn bệnh nhân và hoặc trao đổi trực tiếp với bác sĩ để đảm bảo thu mẫu bệnh nhân truyền hóa chất lần đầu (không phải đợt truyền do bệnh tái phát hoặc đã từng truyền hóa chất ở cơ sở khác)
Vào ngày bệnh nhân truyền hóa chất, nghiên cứu viên tiếp cận bệnh nhân, phỏng vấn trực tiếp và xin thông tin liên lạc Những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu được loại khỏi nghiên cứu
Thông tin bệnh nhân trong hồ sơ bệnh án (đặc điểm bệnh nhân, đặc điểm bệnh
Trang 4lý và sử dụng thuốc) lưu tại khoa lâm sàng được thu thập theo mẫu Phiếu thu thập thông tin sử dụng thuốc trên bệnh nhân ung thư (phụ lục 1) Thông tin bệnh nhân thu
thập qua phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại nếu bệnh nhân không lưu lại tại bệnh viện bao gồm các thông tin về tiền sử và các biến cố nôn, buồn nôn trong 2 giai đoạn
nôn cấp và muộn, được thu thập theo mẫu Phiếu thu thập thông tin biến cố nôn/buồn nôn trên bệnh nhân ung thư (phụ lục 2) Những bệnh nhân không tiếp cận được ở cả
hai thời điểm phỏng vấn được loại khỏi nghiên cứu
Quy ước về thời điểm phỏng vấn: Trong giai đoạn nôn cấp, thời điểm phỏng vấn bệnh nhân là sau 24 giờ kể từ khi bệnh nhân kết thúc truyền hóa chất Thời điểm kết thúc truyền hóa chất được xác định từ bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân Trong giai đoạn nôn muộn, bệnh nhân được phỏng vấn sau 120 giờ kể từ thời điểm kết thúc truyền hóa chất
5.2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
Dựa trên số liệu thu thập được từ bệnh án và thông tin thu thập trên bệnh nhân, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát và phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu sau:
2.2.4.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 1: Khảo sát đặc điểm của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023.
- Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu: tuổi, giới tính, chẩn đoán ung thư nguyên phát, bệnh mắc kèm, giai đoạn bệnh, vị trí di căn
- Đặc điểm về tiền sử và một số yếu tố nguy cơ có thể gây nôn, buồn nôn: số lượng và tỷ lệ bệnh nhân có say tàu xe, lo lắng trước khi truyền hóa chất, tiền sử sử dụng rượu bia
- Đặc điểm phác đồ hóa chất điều trị ung thư: tần suất và tỷ lệ bệnh nhân có phác
đồ hóa xạ trị đồng thời, thời gian truyền hóa chất, phác đồ hóa chất sử dụng và nguy
cơ gây nôn của phác đồ
- Tần suất và tỷ lệ bệnh nhân sử dụng theo các thuốc dự phòng nôn (lựa chọn thuốc, liều dùng, đường dùng), các phác đồ dự phòng được sử dụng (thuốc dự phòng đơn độc hay phối hợp, số ngày dự phòng đối với pha muộn) trong dự phòng pha cấp
và pha muộn, trong đó phân chia theo mức độ nguy cơ gây nôn của hóa chất
5.2.4.2 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2: Phân tích tính phù hợp và hiệu quả của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023.
Trang 5- Tần suất và tỷ lệ phù hợp của từng phác đồ dự phòng theo các hướng dẫn (của NCCN 2023 và Bộ Y tế 2013) ở các mức độ: phù hợp về lựa chọn, phù hợp về phác đồ
và dự phòng đầy đủ
- Tần suất và tỷ lệ các vấn đề trong sử dụng thuốc theo các hướng dẫn về lựa chọn thuốc, liều dùng và số ngày dự phòng của phác đồ dự phòng trong pha cấp và muộn, phân chia theo mức độ nguy cơ gây nôn của phác đồ hóa chất
- Đặc điểm biến cố nôn, buồn nôn trên bệnh nhân: số lượng, tỷ lệ biến cố (nôn, buồn nôn, CINV) theo giai đoạn (cấp, muộn) và mức độ nặng của biến cố
- Các yếu tố có ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện biến cố nôn theo hai giai đoạn cấp và muộn: mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về phác đồ điều trị (hóa xạ trị đồng thời, mức độ gây nôn của phác đồ hóa chất), yếu tố thuộc về dự phòng theo hướng dẫn của NCCN và Bộ Y tế và các yếu tố thuộc về bệnh nhân
5.3 Một số quy ước về phân tích và đánh giá trong nghiên cứu
- Mức độ gây nôn của các phác đồ hóa chất
Mức độ gây nôn của các phác đồ hóa chất được phân loại theo quy định về mức
độ gây nôn do hóa chất theo hướng dẫn của NCCN [54], được trình bày cụ thể ở phụ lục 3 Nguy cơ gây nôn của phác đồ hóa chất được phân loại thành các mức độ: cao (>90%), trung bình (30 – 90%), thấp (10 – 30%), rất thấp (<10%)
Với phác đồ phối hợp nhiều hóa chất, nguy cơ gây nôn của phác đồ được đánh giá theo nguy cơ gây nôn của hóa chất có tiềm năng gây nôn cao nhất Riêng phác đồ
AC (anthracyclin kết hợp cyclophosphamid), phác đồ phối hợp 2 thuốc có nguy cơ gây nôn trung bình được phân loại phác đồ nguy cơ gây nôn cao [54], [89]
Với phác đồ hóa chất đường uống kết hợp với hóa chất đường tiêm: nguy cơ gây nôn của phác đồ được quy ước theo nguy cơ gây nôn của hóa chất dùng đường tiêm nếu nguy cơ gây nôn của hóa chất đường uống không vượt quá nguy cơ gây nôn của hóa chất đường tiêm (hóa chất đường uống trong nghiên cứu chỉ có nhóm tiền chất của 5-FU là capecitabin, có nguy cơ gây nôn thấp) [54]
Với các phác đồ hóa chất nhiều ngày, mức độ nguy cơ gây nôn được xác định theo từng ngày Do đó, việc dự phòng nôn, buồn nôn cấp sẽ tính theo nguy cơ gây nôn của ngày truyền hóa chất đó Theo đó, trong pha muộn, phác đồ dự phòng nôn sẽ căn
cứ vào nguy cơ gây nôn của ngày cuối cùng có truyền hóa chất
Với phác đồ hóa chất nhiều ngày và khoảng cách giữa các lần dùng hóa chất
Trang 6lớn hơn 1 ngày thì chỉ xem xét phác đồ dự phòng nôn cấp và nôn muộn của ngày truyền hóa chất đầu tiên
Đối với phác đồ Xelox và docetaxel kết hợp capectabin, capecitabin uống từ ngày 1 đến ngày 14 là hóa chất đường uống có nguy cơ gây nôn thấp – rất thấp không khuyến cáo dự phòng thuốc chống nôn [54] Việc đánh giá dự phòng nôn và buồn nôn cho hai phác đồ này được quy ước như phác đồ một ngày và là ngày đầu tiên truyền oxaliplatin hoặc docetaxel kết hợp với capecitabin đường uống
Với phác đồ hóa – xạ trị đồng thời, nguy cơ gây nôn của bệnh nhân cũng được tính toán theo nguy cơ gây nôn của phác đồ có mức nguy cơ cao hơn
- Định nghĩa và phân loại biến cố
CINV cấp là biến cố nôn/buồn nôn xuất hiện kể từ khi truyền hóa chất đến 24 giờ sau khi kết thúc truyền hóa chất
CINV muộn là biến cố nôn/buồn nôn xuất hiện sau 24 giờ cho đến 120 giờ kể
từ khi kết thúc truyền hóa chất
Biến cố nôn, buồn nôn do hóa trị liệu được thu thập theo bộ câu hỏi MAT Bệnh nhân có biến cố nôn/buồn nôn cấp (CINV cấp) được định nghĩa là bệnh nhân xuất hiện nôn và/hoặc buồn nôn (điểm buồn nôn > 0 điểm) xảy ra trong giai đoạn nôn cấp và đánh giá dựa trên bộ câu hỏi MAT
Bệnh nhân có biến cố nôn/buồn nôn muộn (CINV muộn) được định nghĩa là những bệnh nhân xuất hiện nôn và/hoặc buồn nôn (điểm buồn nôn > 0 điểm) xảy ra trong giai đoạn nôn muộn và đánh giá dựa trên bộ câu hỏi MAT
Phân loại mức độ nặng của biến cố:
Biến cố nôn (theo số lần nôn/ngày): 1–2 lần/ngày; 3–5 lần/ngày và >5 lần/ngày
Biến cố buồn nôn (theo từng mức điểm): nhẹ (1–3 điểm), trung bình (4–6 điểm), nặng (7–10 điểm) [32]
- Tính phù hợp của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn trên bệnh nhân sử dụng hóa trị liệu
Tính phù hợp về lựa chọn thuốc trong các phác đồ chống nôn
Phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn được đánh giá theo hướng dẫn điều trị của NCCN hoặc Bộ Y tế (2013) [1], [54] Các khuyến cáo này được mô tả trong phụ lục 4
và phụ lục 5
Lựa chọn thuốc chống nôn trong phác đồ dự phòng trên bệnh nhân được đánh
Trang 7giá là phù hợp nếu bệnh nhân được sử dụng đầy đủ các thuốc chống nôn từng ngày đúng theo khuyến cáo của NCCN hoặc Bộ Y tế
Các trường hợp không phù hợp về lựa chọn thuốc được định nghĩa là:
Dự phòng thừa: bệnh nhân được dự phòng bằng các thuốc chống nôn cho các phác đồ hóa chất nhiều hơn, ngoài các khuyến cáo dự phòng theo hướng dẫn
Dự phòng thiếu: bệnh nhân không được dự phòng bằng các thuốc chống nôn cho các phác đồ hóa chất được khuyến cáo dự phòng theo hướng dẫn
Thừa hay thiếu một thuốc (hoặc một nhóm thuốc) là việc dùng nhiều hơn hay ít hơn một thuốc (hoặc một nhóm thuốc) so với phác đồ dự phòng trong hướng dẫn Thừa một thuốc trong nhóm thuốc kháng thụ thể 5-HT3 bao gồm việc dùng kết hợp hai thuốc cùng trong nhóm kháng thụ thể 5-HT3 và thừa granisetron/ondansetron Thừa granisetron hoặc ondansetron được định nghĩa là dùng thêm granisetron hoặc ondansetron vào ngày tiếp theo trong phác đồ dự phòng cho hóa chất nhiều ngày hoặc phác đồ nguy cơ trung bình 1 ngày khi đã dùng palonosetron vào ngày 1 Theo hướng dẫn của NCCN trong dự phòng nôn và buồn nôn pha cấp cho phác đồ hóa chất kéo dài
3 ngày, một liều palonosetron 0,25 mg vào ngày đầu tiên cho hiệu quả dự phòng tương đương với liều lặp lại theo từng ngày các hoạt chất khác trong nhóm kháng thụ thể 5-HT3 Hướng dẫn của NCCN cho phác đồ nguy cơ gây nôn trung bình, nếu dùng palonosetron và dexamethason vào ngày thứ 1 dự phòng nôn cấp thì dự phòng nôn muộn bằng dexamethason hoặc không cần dự phòng pha muộn bằng thuốc kháng thụ thể 5-HT3 [54]
Tính phù hợp về phác đồ dự phòng nôn
Phác đồ dự phòng nôn được đánh giá là phù hợp với khuyến cáo nếu phác đồ
đó phù hợp về cả lựa chọn thuốc, liều dùng và số ngày dự phòng trong từng giai đoạn
dự phòng nôn cấp và dự phòng nôn muộn Phác đồ dự phòng pha cấp đối với hóa chất nhiều ngày được coi là phù hợp nếu như tất cả các ngày dự phòng pha cấp đều có phác
đồ dự phòng phù hợp
Tính phù hợp về liều thuốc dự phòng nôn được đánh giá bằng cách đối chiếu với tổng liều dùng một ngày được khuyến cáo Trường hợp bệnh nhân dự phòng nôn/buồn nôn bằng các corticoid khác ngoài dexamethason, liều của các corticoid sẽ được quy đổi về liều tương đương của dexamethason (1 mg dexamethason = 5 mg methylprednisolon = 7 mg prednisolon [83]) Liều dùng theo khuyến cáo của NCCN
Trang 8và Bộ Y tế được mô tả trong phụ lục 4 và phụ lục 5 Tương tự đối với các phác đồ hóa chất có chứa corticoid (ví dụ như các phác đồ CVP, R-CVP), tính phù hợp về lựa chọn, số ngày dự phòng và liều dùng của corticoid trong dự phòng CINV được đánh giá trên toàn bộ các corticoid bệnh nhân được dùng, bao gồm cả vai trò của corticoid
có trong phác đồ hóa chất [54]
Do tính có sẵn của thuốc kháng thụ thể 5-HT3 đường tiêm và không có thuốc đường uống ở bệnh viện Với sinh khả dụng đường uống của các thuốc này xấp xỉ 60%, tạm quy ước granisetron 1mg IV = 2 mg PO, ondansetron 8 mg IV = 16 mg PO [87], [88]
Trong đánh giá tính phù hợp phác đồ bao gồm lựa chọn thuốc, liều dùng và số ngày dùng đối với pha muộn
Các trường hợp không phù hợp về liều dùng, ngày dự phòng của thuốc chống nôn trong phác đồ dự phòng nôn được định nghĩa là:
Thừa liều: bệnh nhân sử dụng liều lớn hơn so với liều khuyến cáo
Thiếu liều: bệnh nhân sử dụng liều thấp hơn so với liều khuyến cáo
Thiếu ngày dùng: thời gian dự phòng của phác đồ dự phòng nôn, buồn nôn muộn ít ngày hơn so với khuyến cáo
Thừa ngày dùng: thời gian dự phòng của phác đồ dự phòng nôn, buồn nôn muộn nhiều ngày hơn so với khuyến cáo
Dự phòng đầy đủ
Phác đồ dự phòng nôn, buồn nôn được định nghĩa là dự phòng đầy đủ theo khuyến cáo của NCCN hoặc Bộ Y tế nếu phác đồ chống nôn được sử dụng thỏa mãn tối thiểu (đủ hoặc thừa) về lựa chọn, thời gian và liều dùng của thuốc như trong hướng dẫn
5.4 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu thu thập trong nghiên cứu sẽ nhập trực tiếp, phân tích thống kê, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 và SPSS 20.0
Thống kê mô tả: các biến định lượng được mô tả bằng giá trị trung bình ± độ
lệch chuẩn (nếu số liệu tuân theo phân bố chuẩn), đại diện bằng trung vị (IQR) (nếu số liệu không tuân theo phân bố chuẩn), biến định tính được mô tả bằng số lượng và tỷ lệ phần trăm
Thống kê so sánh: tỷ lệ không xuất hiện biến cố CINV giữa các nhóm
Trang 9bệnh nhân khác nhau theo từng yếu tố ảnh hưởng So sánh các tỷ lệ dùng kiểm định Chi bình phương (2) Sự chênh lệch về nguy cơ xuất hiện biến cố ở các nhóm
có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
Phân tích hồi quy logistic đa biến: xác định các yếu tố ảnh hưởng tới khả
năng xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn trên bệnh nhân
Các yếu tố được đưa vào mô hình phân tích bao gồm: tuổi, giới tính, tình trạng
lo lắng trước khi dùng hóa chất (chỉ xét trong giai đoạn nôn cấp), tiền sử dùng rượu bia
và say tàu xe, xạ trị đồng thời, mức độ nguy cơ của phác đồ hóa chất, xuất hiện biến cố nôn, buồn nôn cấp (chỉ xét với giai đoạn nôn muộn), yếu tố dự phòng đầy đủ (chọn một trong 2 biến là dự phòng đầy đủ theo NCCN và dự phòng đầy đủ theo Bộ Y tế để chạy 2 mô hình khác nhau)
Các bước tiến hành:
Bước 1: lựa chọn các biến đưa vào mô hình
Các biến được lựa chọn đưa vào mô hình phân tích hồi quy đa biến là các biến độc lập có giá trị p<0,2 trong kiểm định so sánh
Bước 2: kiểm tra tính đa cộng tuyến
Tập hợp các biến đã lựa chọn sẽ được kiểm tra tính đa cộng tuyến qua giá trị VIF (variance inflation factor) Những biến có giá trị VIF>2 sẽ được loại khỏi mô hình
Bước 3: đưa các biến độc lập vào phân tích hồi quy logistic
Mô hình hồi quy logistic được xác định bằng phương pháp Backward stepwise (conditional) để chọn ra các biến ảnh hưởng có ý nghĩa Mức ý nghĩa được xác định với p<0,05 Kết quả thu được được thể hiện bằng tỉ suất chênh (OR) với khoảng tin cậy 95% (95%CI) Yếu tố độc lập được kết luận có ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện biến cố nôn, buồn nôn nếu khoảng tin cậy 95% CI của OR không chứa điểm 1
Đối với biến dự phòng đầy đủ theo khuyến cáo của NCCN và Bộ Y tế, giá trị
OR được hiệu chỉnh cho một số yếu tố ảnh hưởng (OR hiệu chỉnh) Yếu tố ảnh hưởng
là biến độc lập có ý nghĩa từ mô hình hồi quy logistic
6. KẾT QUẢ MONG ĐỢI
Mô tả đặc điểm bệnh nhân và phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn sử dụng trên bệnh nhân ung thư có hóa trị liệu tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023
Tính phù hợp và hiệu quả của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn trên bệnh nhân ung thư có hóa trị liệu tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2023