MÁY VÀ THIẾT BỊ GIA CỐ NỀN MÓNG HỌC PHẦN Yêu cầu chung Hiểu được mục đích, ý nghĩa của việc gia cố nền móng Nắm được công dụng, cấu tạo, nguyên lý làm việc của một số loại máy và thiết bị gia cố nền m[.]
Trang 1MÁY VÀ THIẾT BỊ GIA CỐ NỀN MÓNG
HỌC PHẦN
Yêu cầu chung:
- Hiểu được mục đích, ý nghĩa của việc gia cố nền móng.
- Nắm được công dụng, cấu tạo, nguyên lý làm việc của
một số loại máy và thiết bị gia cố nền móng thông dụng.
- Nắm được phương pháp xác định một số thông số cơ bản
của các loại máy gia cố nền móng đã học.
Số tín chỉ: 02
Trang 2MÁY VÀ THIẾT BỊ GIA CỐ NỀN MÓNG
Trang 3MÁY VÀ THIẾT BỊ GIA CỐ NỀN MÓNG
HỌC PHẦN
Chương trình: 30 tiết = 15 buổi
- 1 buổi kiểm tra quá trình
- 1 buổi ôn tập
- 26 tiết giảng dạy.
- Giáo trình: Máy thi công chuyên dùng, PGS.TS Nguyễn
Bính, NXB Giao thông vận tải, Hà nội, 2005
Số tín chỉ: 02
Trang 4CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Mục đích, ý nghĩa của việc gia cố nền móng
- Hầu hết các công trình xây dựng nhân tạo đều truyền tải trọng bản thân và hoạt tải qua nền móng xuống đất Như vậy, nền móng là phần
đỡ và truyền toàn bộ tải trọng của công trình xuống lòng đất.
Trang 5CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
- Tùy theo tính chất công trình, tải trọng truyền xuống nền có thể
lớn hay nhỏ dưới các trạng thái lực phân bố đa dạng khác nhau Nếu nền đất tự nhiên có thể thỏa mãn được các điều kiện chịu lực của công trình xây dựng trên nó theo các thông số đánh giá như tính kháng nén (lún), tính kháng cắt (trượt) v.v ứng với các điều kiện địa chất, thủy văn biến động khác nhau, thì đương nhiên, công việc gia cố nền sẽ không cần đặt ra.
- Tuy nhiên trong đa số trường hợp, nền công trình đều phải gia cố,
một mặt, do tải trọng công trình trên nó truyền xuống bao giờ cũng lớn và càng ngày càng lớn, (qui mô công trình ngày càng lớn), mặt khác, nền đất mà trên đó là các công trình nhân tạo tập
Trang 6Tầng đất nền yếu cần gia cố này phổ biến có độ dày từ 2 đến 40m, cá biệt 200m với thành phần chủ đạo là á cát, á sét lẫn trầm tính hữu cơ gần như bão hòa nước.
Trang 7CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
- Như vậy, việc gia cố nền để tạo móng công trình là việc tất yếu Chi
phí cho việc gia cố nền trong giá thành công trình chiếm một tỷ lệ đáng kể, thấp nhất cũng 15−30%, có khi lên đến 40 − 50% giá thành công trình.
Trang 8CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
- Ở đây có thể phát sinh khái niệm: nền yếu và nền tốt Nền yếu thì
phải gia cố, nền tốt thì không; tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng đúng Thuật ngữ “nền yếu” và “nền tốt” có định tính hết sức tương đối, còn định lượng cũng thuộc phạm trù định nghĩa rằng ranh giới của chúng là:
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
- Điều chúng ta muốn nói là, tất cả đều tùy thuộc vào tĩnh tải và hoạt tải của công trình nhân tạo truyền xuống nền Nếu nền yếu mà vẫn chịu đựng được thì không cần gia cố, ngược lại, nếu nền tốt mà vẫn không thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật đặt ra thì vẫn cần gia cố Trong đa số trường hợp, độ ngậm nước của nền ở cả 3 trạng thái nói chung: hơi, lỏng, rắn là một yếu tố quyết định đến cơ tính của đất nền.
Trang 10CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.2 Các phương pháp gia cố nền móng chủ yếu
1.2.1 Phương pháp cải tạo sự phân bố ứng suất trên nền
Trang 11CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.2.3 Phương pháp gia cố nền bằng cọc cứng
- Móng cọc là một kết cấu quen thuộc trong xây dựng, làm nhiệm vụ truyền tải công trình xuống sâu trong nền đất có lớp (tầng) chịu lực tốt, khắc phục được biến dạng lún không đồng đều, chịu được tải trọng ngang, giảm khối lượng đào đắp, rút ngắn thời gian thi công do công nghiệp hóa chế tạo cọc và thiết bị thi công.
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
- Cọc và thiết bị đóng (hạ, đúc tại chỗ) rất đa dạng: cọc tre, gỗ, bê tông đặc, ống rỗng, thép, ván thép cọc nhồi các kiểu, trụ thẳng, nở hông (Franki), nở đáy cọc xoắn.
- Tuy nhiên không phải lúc nào gia cố nền bằng cọc cứng cũng có hiệu quả tốt nếu nền phía trên tốt mà ở dưới mũi cọc lại xấu; trường hợp đó phải dùng biện pháp khác.
- Nói chung, các loại cọc đều chịu tải của công trình xuống dưới nền theo hai dạng: cọc chống − chịu tải cơ bản ở mũi cọc, cọc treo − chịu tải
cơ bản theo ma sát hông ở thân cọc.
- Trường hợp cọc chịu tải hỗn hợp cả chống và treo đều phát huy tác dụng đương nhiên là rất tốt.
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.3 Phân loại thiết bị thi công cọc cứng
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.3 Đặc điểm sử dụng các loại búa đóng cọc
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 16CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 17CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.4 Khái niệm hạ cọc
- Cọc các loại có thể được đóng (bằng búa), hạ (bằng búa rung, vòi xói), đúc tại chỗ (khoan nhồi, vòi xói), vặn (cọc xoắn) hoặc kết hợp đóng, đầm (hạ) cọc ống rồi đổ bê tông Vì vậy, thuật ngữ "hạ cọc" ở đây có nghĩa rộng bao quát.
1.4.1 Đóng cọc
- Phương tiện đóng cọc phổ biến là búa hơi (hơi nước, hơi ép) và búa diezel Lực xung kích tác dụng lên đầu cọc là tác nhân cơ bản để hạ cọc Người ta chỉ có thể đóng cọc khi tương quan giữa búa và cọc gồm năng lượng xung kích của búa, trọng lượng búa, trọng lượng cọc và độ chối của cọc thỏa mãn các điều kiện sau:
Trang 18CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 19trong đó [Rc] − sức chịu tải giới hạn cho phép của cọc.
+ Về hệ số hiệu dụng của búa:
KB = (Q + q)/W Trong đó: Q, q − Trọng lượng búa và cọc.
Trang 20CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
W = (Q V )/(2g) − năng lượng xung kích.
với: V − Tốc độ rơi búa (m/s)
Trang 21Q = (1,5 − 2)q
Trang 22CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.4.2 Hạ cọc bằng rung động
- Những trường hợp không thể dùng búa xung kích để đóng cọc như: trọng lượng cọc quá lớn so với búa, hoặc nền cát v.v người ta có thể
hạ cọc bằng búa rung các loại (rung nối cứng, nối mềm, va rung).
- Búa rung tác động nhờ lực ly tâm tạo ra bằng khối lệch tâm quay Lực
ly tâm ở đây còn được gọi là lực kích động P tính theo biểu thức:
Trong đó: M − Mô men lệch tâm
ω − Tốc độ góc
− Gia tốc trọng trường
Trang 24CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.4.3 Đúc cọc tại chỗ bằng khoan nhồi
- Khoan nhồi các kiểu có mục đích tạo cọc (đúc cọc) tại chỗ Công nghệ khoan nhồi gồm 2 bước cơ bản: tạo lỗ khoan bằng máy khoan chuyên dụng và đúc cọc bê tông sau khi tạo lỗ.
- Công nghệ khoan nhồi (cọc) ra đời từ năm 1950 và ngày càng phát triển mạnh mẽ Nó cho phép tạo ra các móng cọc chịu lực rất lớn xây dựng các công trình cầu, các tòa nhà cao tầng, các công trình thủy lợi và thủy điện.
Trang 25CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 26CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Để tạo ra lỗ khoan, người ta áp dụng các loại hình công nghệ:
− Công nghệ đúc khô
− Công nghệ dùng ống vách
− Công nghệ dùng dung dịch khoan.
Việc áp dụng loại hình công nghệ nào cho hợp lý là rất quan trọng, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm địa chất, thiết bị khoan và trình độ vận hành thiết bị.
Thiết bị (khoan) tạo lỗ có nhiều dạng khác nhau Việc đúc cọc bê tông được tiến hành sau khi làm sạch lỗ khoan và đặt cốt thép Cọc đúc xong phải tiến hành kiểm tra chất lượng nhờ các thiết bị kiểm tra hiện đại.
Trang 27CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 28CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
2.1 Máy búa cơ khí
- Máy búa cơ khí gồm các bộ phận chính: Máy cơ sở 1, thanh giằng
ngang 2, bộ phận dẫn hướng 3 và bộ phận va đập 4.
a) Cấu tạo chung; b) Nối búa trực tiếp; c) Nối búa gián tiếp; d) Nối búa tự động (Hình vẽ cấu tạo)
Trang 291.Máy cơ sở; 2.Thanh giằng ngang; 3 Giádẫn hướng; 4 Búa; 5 Pu ly treo búa;
6 Cáp; 7 Đòn điều khiển; 8 Cầu nối;
9 Dây dật; 10 Cầu nối; 11 Đối trọng;
12 Móc tự động, 13 CữCHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 30- Có ba cách nối búa:
+ Nối trực tiếp: cáp gắn chặt vào búa Cách nối này có nhược điểm là gây tải trọng động cho cáp khi búa rơi xuống, gây rối cáp và chóng hỏng cáp, Hình b.
+ Nối gián tiếp, Hình c: cáp nối với búa qua bộ phận trung gian là cầu nối 8 và móc cáp treo Khi búa đã được nâng tới độ cao thích hợp, kéo dây điều khiển, búa được nhả khỏi móc rồi rơi tự do đập vào cọc Sau đó cầu nối 8 cùng với móc được hạ xuống (do trọng lượng bản thân) tự động móc vào tai búa.
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 31+ Cách nối tự động, Hình d: cách này khác với cách nối gián tiếp ở chỗ có thêm đối trọng 11 và cữ tự động nhả búa 13 Khi tới độ cao thích hợp, cần điều khiển 12 tỳ vào cữ 13, búa được tự động nhả rơi xuống (không cần dây điều khiển) Cách này an toàn và năng suất cao hơn.
Tang cuốn cáp để nâng búa được dẫn động bằng động cơ Giá dẫn hướng được liên kết với máy cơ sở để dẫn hướng búa Giá này có thể thay đổi phương nghiêng để thay đổi hướng đóng cọc Bộ phận va đập là quả búa có khối lượng đủ lớn để truyền động năng rơi vào đầu cọc Khi tang cuốn cáp nâng búa đến độ cao xác định, búa sẽ được rơi xuống trượt theo rãnh dẫn hướng, đập vào đầu cọc thực hiện việc
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 322.2 Máy búa hơi song động tự động phối khí
- Búa hơi song động tự động (Hình) có áp lực hơi tác động hai chiều: nâng búa và hạ búa Búa có van tự động phối khí nên tần số va đập cao: 200 - 300 lần/phút, điều khiển nhẹ nhàng, điều chỉnh được lực đóng, búa làm việc không cần giá đóng vì có thể đặt trực tiếp lên đầu cọc.
- Nhược điểm của loại máy này là trọng lượng chết lớn (80 -90% trọng lượng toàn bộ) vì áp lực trong xi lanh có xu hướng đẩy búa lên khỏi đầu cọc do vậy cần trọng lượng máy lớn để giữ.
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 33Nguyên lí búa hơi song động:
1- Vỏ, 2-Pitông, 3- Búa, 4- Cọc
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 34- Cơ cấu gồm có vỏ van, ruột van các lỗ xả và rãnh dẫn khí Ruột van có thể di trượt tự động trong hộp van do sự thay đổi áp lực khí nén Nguyên
lý hoạt động của van như sau: khi đặt máy lên đầu cọc, chưa có áp lực khí trong van, ruột van và búa ở vị trí thấp nhất do trọng lượng bản thân Không khí nén đi vào cửa A, ra cửa B nâng đầu búa 3 lên, sau đó đầu búa rơi tự do xuống Loại tác động hai chiều này thì áp suất chất khí hoặc lỏng vừa nâng đầu búa lên vừa tạo lực ấn đầu búa xuống búa 3 lên xuống để đóng cọc Việc phân phối khí này hoàn toàn tự động nhờ có cơ cấu phối khí Các loại búa đóng cọc dẫn động một chiều có tần số va đập thường khoảng 60 lần/phút, còn loại tác động 2 chiều tần số va đập lên đến 120 lần/phút.
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 352.3 Máy búa đóng cọc diezel
2.3.1 Công dụng, phân loại búa diezel
- Công dụng: Búa diezel dùng để đóng các cọc bê tông cốt thép, ống thép, cọc gỗ và thường chỉ đóng trên nền thông thường (không phải nền yếu hoặc nền cứng) Búa loại này dùng dầu diezel và hoạt động như một động cơ diezel, gây ồn lớn và chấn động mạnh nên chỉ thích hợp với việc xây dựng các công trình xa nơi dân cư, xa các công trình xây dựng
đã có.
Riêng các loại búa nhỏ có thể đóng cọc tre, cọc gỗ để kè bờ Ở đây, thuật ngữ "búa điezel" được hiểu là cỗ máy đóng cọc sử dụng quả búa dùng dầu diezel; ngoài quả búa ra còn có giá búa, khung sàn với các thiết bị cần thiết hoặc máy cơ sở là máy kéo, cần trục.
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 36- Phân loại búa diezel
+ Theo nguyên tắc cấu tạo quả búa, có:
búa diezel cọc dẫn (xi lanh rơi)
búa diezel ống dẫn (pittông rơi)
+ Theo trọng lượng quả búa Q:
Trang 37Cấu tạo máy:
- Các bộ phận cơ bản của máy đóng cọc minh hoạ
ở Hình bên bao gồm cần, các tấm nối, giá dẫn
hướng, thanh ngang, đầu búa, mũ cọc và cáp kéo
Các tấm nối liên kết giá dẫn hướng với đầu cần
Giá dẫn hướng sử dụng để dẫn hướng đầu búa
đập vào mũ cọc Phần chân giá dẫn hướng liên
kết với cần bằng thanh ngang Để giảm tổn thất
năng lượng, đầu búa thường làm thành hai phần:
phần tĩnh và phần động Phần tĩnh liên kết với
móc nâng và buộc chặt vào phần động Phần tĩnh
sẽ tự động tách rời phần động khi nâng đầu búa
đến chiều cao lựa chọn Mũ cọc sử dụng để bảo
vệ đầu cọc không bị vỡ trong quá trình đóng cọc
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 38CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 39CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 40CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 41-Nguyên lý:
Các máy búa diêzel đều có nguyên lý làm việc tương tự của động cơ diezel Lợi dụng sự rơi tự do của búa để nén không khí trong xi lanh lại tới áp suất và nhiệt độ cao, nhiên liệu được phun vào gặp nhiệt độ
và áp suất cao tự bốc cháy, tạo áp lực khí lớn đột ngột đẩy búa lên cao và bắt đầu một chu trình mới loại máy này có cấu tạo gọn nhẹ,
dễ vận chuyển.
Nhược điểm: khởi động máy khó, đặc biệt là khi gặp đất mềm, công đóng cọc nhỏ vì phải tốn công để nén khí, tốc độ đóng chậm, thường đạt từ 50 - 80 lần/phút, nhiên liệu đắt tiền Lực đóng cọc lớn nên đầu cọc dễ vỡ, ảnh hưởng đến công trình xung quanh.
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 422.3.2 Máy búa diezel loại hai cọc dẫn
Cấu tạo (Hình): gồm bốn bộ phận chính: bộ phận
treo móc, búa, bộ phận dẫn hướng (hai cọc dẫn) và bệ máy.
Khi thả cáp 8, búa rơi xuống dọc theo hai cọc dẫn 4,
móc 6 tự động móc vào chốt 5, sau đó nâng cả xà
ngang và xi lanh đến vị trí trên cùng Giật đòn 9, chốt 5
trượt khỏi móc 6, xi lanh 10 rơi tự do theo hai cọc dẫn
chụp vào píttông 12 để đóng cọc và nén khí, làm áp
suất và nhiệt độ không khí trong buồng xi lanh tăng
lên, đồng thời chốt 11 đánh vào đòn 14, dầu được phun
vào không khí nén có áp suất và nhiệt độ cao trong
buồng xi lanh dưới dạng sương mù và tự bốc cháy, sinh
áp lực lớn, đẩy xi lanh tung lên Khi hết đà, xi lanh và
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 432.3.3 Máy búa diezel loại ống dẫn
-Phần va đập là píttông - đầu búa 22 trượt trong xi lanh dẫn hướng
21 Bệ 17 nằm trong xi lanh có lỗ lõm bán cầu Phía trên píttông
22 có bộ phận bôi trơn tự động, phía dưới có phần lồi ra tương ứng
với chỗ lõm bán cầu ở bệ 17 Cọc 16 liên kết với bệ 17 Bắt đầu,
cáp 8 kéo móc 20 đưa búa lên cao rồi thả pít tông 22 rơi tự do theo
xi lanh, ép vào đòn 23, mở bơm 24 làm dầu từ bình dầu 19 được
bơm vào xi lanh rồi đi vào phần lõm của bệ 17 Khi píttông che
kín lỗ 18, không khí trong xi lanh bị nén, làm áp suất và nhiệt độ
tăng lên Khi phần lồi của đầu búa, đập vào phần lõm của bệ 17
thực hiện việc đóng cọc, dầu bắn tung toé dưới dạng sương mù,
gặp không khí có áp suất và nhiệt độ cao sẽ tự bốc cháy, giãn nở,
đẩy píttông đi lên Khí cháy trong xi lanh thoát ra ngoài qua lỗ 18.
Khi hết đà, píttông tự rơi xuống và lặp lại một chu kì làm việc
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 442.3.4 Ảnh hưởng của khí cháy đến quá trình hạ cọc
- Ta đã biết rằng: trong quá trình búa diezel đóng cọc luôn có 2 thành phần lực tác dụng lên đầu cọc làm cọc chìm xuống nền, đó là:
− Lực va đập của quả búa qua đế búa xuống cọc.
− Lực do khí cháy sinh ra truyền xuống cọc.
Sau đây ta xét ảnh hưởng của khí cháy đến quá trình hạ cọc.
Xét trong 1 chu kỳ làm việc của búa: khi quả búa đi xuống tới vị trí che kín cửa
xả thì quá trình nén bắt đầu được thể hiện bằng điểm a trên đồ thị p (t).
Áp lực khí nén trong buồng đốt quả búa tăng dần từ a đến c và t1, tạo ra một lực F tác dụng lên đầu cọc, ví dụ ở điểm c, ta có: Fc = Pc A, với A là tiết diện ngang của quả búa, Pc − áp lực khí cháy tại thời điểm c.
Dưới tác dụng của lực khí cháy cọc chìm sâu vào nền và tăng đến giá trị lớn nhất
Hp khi khí cháy đạt áp lực lớn nhất Pz ứng với điểm z trên đồ thị Mặt khác dưới
dụng đàn hồi của nền, cọc sẽ bị đẩy lên một đoạn Hn, do đó chiều sâu dìm cọc
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC
Trang 45- Kết quả nghiên cứu cho thấy áp lực khí cháy tác dụng dìm cọc thực sự xuất hiện ở cuốiquá trình nén Khi hỗn hợp bị đốt cháy, áp suất trong buồng đốt tăng vọt và giai đoạncháy mãnh liệt nhất xảy ra trong khoảng thời gian τ = t2 − t1, khí cháy đạt áp lực Pz =(10 − 13) MPa tác dụng làm cọc chìm xuống nền Thường ở giai đoạn đầu cọc chìm tới
20 cm/1 lần búa rơi xuống, sau đó giảm dần độ sâu, vì càng về cuối lực cản cọc của nềncàng tăng
Hình Ảnh hưởng của khí cháy đến quá trình hạ
cọc.
1 đồ thị biểu diễn sự thay đổi
áp lực khí cháy P trong buồng đốt búa diezel ống dẫn − theo thời gian t.
2 đồ thị biểu diễn độ chìm của cọc vào nền tương ứng với quá
cọc do khí cháy.
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI MÁY ĐÓNG VÀ HẠ CỌC