1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Tài Chính Công - Đề Tài - Cân Đối Ngân Sách Nhà Nước .Docx

27 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cân Đối Ngân Sách Nhà Nước
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Công
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 45,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHỦ ĐỀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC A TỔNG QUÁT I Cân đối NSNN và các học thuyết 1 Khái niệm cân đối NSNN 2 Đặc điểm cân đối NSNN 3 Nguyên tắc cân đối NSNN 4 Các học thuyết cân đối II Bội chi NSNN 1 Khá[.]

Trang 1

CHỦ ĐỀ : CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

A TỔNG QUÁT:

I Cân đối NSNN và các học thuyết

1 Khái niệm cân đối NSNN

2 Đặc điểm cân đối NSNN

3 Nguyên tắc cân đối NSNN

4 Các học thuyết cân đối

II Bội chi NSNN

1 Khái Niệm

2 Các chỉ tiêu phản ánh bội chi NSNN

3 Nguyên nhân dẫn đến bội chi NSNN

4 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước

5 Giải pháp hạn chế và khắc phục hậu quả bội chi NSNNIII Thặng dư NSNN

IV Vai trò của Cân đối NSNN

V Thực trạng cân đối NSNN Việt Nam giai đoạn 2011-2018

1 Giai đoạn 2011-2015

2 Giai đoạn 2016-2018

Trang 2

B Nội dung

CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

I Cân đối NSNN và các học thuyết cân đối

1.Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước

- Xét về bản chất, cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn thu mà Nhà nước huy động được tập trung vào ngân sách nhà nước trong một năm và sự phân phối, sử dụng nguồn thu đó thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm đó

- Xét về góc độ tổng thể, cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối tương quan giữa thu và chi trong một tài khóa Nó không chỉ

là sự tương quan giữa tổng thu và tổng chi mà còn thể hiện sự phân bổ hợp lí giữa cơ cấu các khoản thu và cơ cấu các khoản chicủa ngân sách nhà nước

- Xét trên phương diện phân cấp quản lí nhà nước, cân đối ngân sách nhà nước là cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn thu giữa các cấp ngân sách, giữa trung ương và địa phương và giữa các địa phương với nhau để thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao

Cân đối ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là sự cân bằng

về số lượng biểu hiện qua các con số giữa tổng thu và tổng chi,

mà nó còn biểu hiện qua các khía cạnh khác nhau Tựu trung lại

ta có thể hiểu: Cân đối ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của chính sách tài khóa, phản ánh sự điều chỉnh mối quan

hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhà nước nhằm thực hiệncác mục tiêu kinh tế xã hội mà Nhà nước đã đề ra trong từng lĩnhvực và địa bàn cụ thể

Trang 3

2 Đặc điểm cân đối ngân sách nhà nước

– Thứ nhất, cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhà nước trong năm nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Nó vừa là công cụ thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước, vừa bị ảnh hưởng bởi những chỉ tiêu kinh tế-xã hội

– Thứ hai, cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa tổng thu

và tổng chi, giữa các khoản thu và khoản chi, cân đối về phân bổ

và chuyển giao nguồn lực giữa các cấp trong hệ thống ngân sách nhà nước, đồng thời kiểm soát được tình trạng ngân sách nhà nước, đặc biệt là tình trạng bội chi ngân sách nhà nước Cân

bằng thu chi ngân sách nhà nước chỉ là tương đối chứ không thể đạt được mức tuyệt đối được vì hoạt động kinh tế luôn ở trạng thái biến động Nhà nước phải điều chỉnh hoạt động thu, chi cho phù hợp Bên cạnh đó, cần phân bổ nguồn thu hợp lí để đảm bảo

sự ổn định về kinh tế – xã hội giữa các địa phương Mặt khác, nếu ngân sách không cân bằng mà rơi vào tình trạng bội chi thì cần đưa ra những giải quyết kịp thời để ổn định ngân sách nhà nước

– Thứ ba, cân đối ngân sách nhà nước mang tính định lượng và tiên liệu Trong quá trình cân đối ngân sách nhà nước, người quản lí phải xác định các con số thu, chi ngân sách nhà nước so với tình hình thu nhập trong nước, chi tiết hóa từng khoản thu, chi nhằm đưa ra cơ chế sử dụng và quản lí nguồn thu phù hợp với hoạt động chi, từ đó để làm cơ sở phân bổ và chuyển giao nguồn lực giữa các cấp ngân sách Cân đối ngân sách nha nước phải dự toán được các khoản thu, chi ngân sách một cách tổng thể để đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội

Trang 4

3 Nguyên tắc cân đôi ngân sách

Theo luật ngân sách nhà nước 2015, quy định rõ về nguyên tắc cân đối ngân sách như sau:

3.1 Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi

cụ thể Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thểtheo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cânđối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết

về hội nhập quốc tế

3.2 Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước

3.3 Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng chođầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên

3.4 Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn sau:a) Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

Trang 5

b) Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các

tổ chức quốc tế và phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vay lại

3.5 Bội chi ngân sách địa phương:

a) Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;

b) Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

c) Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định Chính phủ quy định cụthể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước

3.6 Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương:

a) Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp;

b) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp;

c) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của

Trang 6

ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp.

4 Các học thuyết cân đối

* Lí thuyết cổ điển về cân bằng ngân sách

Theo lí thuyết này, nội dung của cân bằng ngân sách rất đơn giản: “ Mỗi năm số thu phải ngang với số chi”

Quan điểm này bao gồm hai nguyên tắc cơ bản sau:

 Một là, tổng số những khoản chi không được quá tổng số những khoản thu

 Hai là, tổng số những khoản thu của ngân sách không bao giờ được lớn hơn tổng số những khoản chi của ngân sách Tức là ngân sách nhà nước phải được cân bằng tuyệt đối, bội chi hay bội thu ngân sách đều biểu hiện sự lãng phí về nguồn lực trong nhân dân

Ngoài ra, thuyết này còn đòi hỏi ngân sách nhà nước phải cân bằng cả khi lập dự toán và trong quá trình thực hiện, nếu chỉ cân bằng khi lập dự toán còn trong quá trình thực hiện lại

không cân bằng thì không thể coi là cân bằng thực sự

* Các học thuyết hiện đại về cân đối ngân sách nhà nước

Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường tự do cạnh tranh thì sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế đóng một vai trò rất quan trọng, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, lúc này cân đối ngân sách lại trở thành một công cụ thiết yếu hơn Trong bối cảnh đó, quan điểm về cân đối ngân sách nhànước cũng có nhiều thay đổi

 Lí thuyết về ngân sách chu kỳ

Trang 7

Nền kinh tế trãi qua một chuỗi dài các chu kỳ, mỗi chu kỳ đều trãiqua giai đoạn phồn thịnh và suy thoái Ở giai đoạn phồn thịnh của nền kinh tế thì của cải vật chất tạo ra nhiều, năng suất lao động xã hội cao, thất nghiệp ít,…Do đó nguồn thu vào ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn nhu cầu chi tiêu và ngân sách nhà nước thường ở tình trạng bội thu Vì vậy nếu không xem xét cân đối ngân sách nhà nước theo chu kỳ, Nhà nước rất dễ dùng số bội thu này chi tiêu vào những việc không cần thiết Ngược lại, khi cókhủng hoảng xãy ra nền kinh tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, của cải vật chất tạo ra ít, năng suất lao động của xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng,…Dẫn đến việc thu ngân sách gặp nhiều khókhăn, ngoài ra Nhà nước còn chi tiền để phục hồi nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh làm cho ngân sách nhà nước dễ rơi vào tình trạng bội chi

Như vậy, theo thuyết này sự cân bằng ngân sách nhà nước sẽ không duy trì được trong khuôn khổ một năm mà sẽ duy trì trongkhuôn khổ một chu kỳ kinh tế Nghĩa là, nguyên tắc cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước vẫn được tôn trọng nhưng sự cân bằng ngân sách nhà nước phải thực hiện trong một chu kỳ phat triển kinh tế

 Lí thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt

Lí thuyết cổ điển đã chỉ ra, muốn thăng bằng ngân sách trong giai đoạn suy thoái thì phải giảm thu hoặc tăng chi Nhưng cả hai phương pháp này đều kiềm hãm sự phát triển kinh tế, làm cho nền kinh tế càng đình trệ hơn Do vậy khi kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái, phải tránh sự kiềm hãm đó bằng cách cố găng hysinh thăng bằng ngân sách, phải sử dụng sự mất cân đối ngân sách, tăng chi tiêu để đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái Tuy nhiên, việc cố ý tạo sự thiếu hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng xấu đến chính sách tiền tệ, lạm phát gia tăng Nhưng

Trang 8

những người ủng hộ thuyết này cho rằng: “ Sự phục hồi kinh tế

sẽ đem lại nguồn để ngân sách nhà nước trở về tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát”

II Bội chi Ngân sách nhà nước

1 Khái Niệm

Căn cứ theo Điều 4 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP: “ Bội chi ngân sách nhà nước là bội chi ngân sách Trung ương được xác định bằng chênh lệch thiếu giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu ngân sách trung ương của năm ngân sách Ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sáchnhà nước”

=>>Bội chi NSNN là tình trạng chi NSNN vượt quá thu NSNN trong 1 năm ,là hiện tượng ngân sách nhà nước không cân đối thể hiện trong sự so sánh giữa cung và cầu về nguồn lực tài

chính của NN

Bội chi NSNN trong thực tế còn gọi là thâm hụt NSNN

Theo quy định hiện hành tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2016/NĐ-CP thì bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sáchtrung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh:

 Bội chi ngân sách trung ương

- Được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sáchtrung ương và tổng thu ngân sách trung ương trong một năm ngân sách;

 Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh

Trang 9

- Là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương trong một năm ngân sách.

2 Các chỉ tiêu phản ánh bội chi NSNN

 Mức thâm hụt NS =Chi NS – Thu trong cân đối

=(Chi thường xuyên – Thu trong CĐ) + Chi đầu tư pt

 Tỷ lệ thâm hụt NSNN theo tổng thu NS(thu trong cân đối)

3 Nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách

a) Các nguyên nhân khách quan:

 Do tác động của chu kì kinh doanh

Kinh tế ở giai đoạn khủng hoảng thì sẽ làm cho nguồn thu NSNN sút giảm, nhưng nhu cầu chi tiêu lại tăng lên để giải quyết nhữngkhó khăn mới về kinh tế, xã hội

Trang 10

Ở giai đoạn phồn thịnh, thu của nhà nước tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng Điều này làm giảm mức bội chi

NSNN Mức bội chi do tác động của chu kì kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kì

 Cơ cấu chi bất hợp lí

Do nhà nước chủ động sử dụng bội chi NSNN như một công cụ sắc bén của chính sách tài khóa để kích cầu,khắc phục tình trạng suy thoái nền kinh tế

 Hiệu quả thấp

Trong 2 năm 2007, 2008 nước ta đã tiếp nhận lượng vốn rất lớn

từ nước ngoài, nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển

Trang 11

của đất nước Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, gây lãng phí nguồn NSNN và kiềm hãm sự phát triển các vùng miền, dẫn đến thâm hụt NSNN

 Hệ thống thuế không thực sự hiệu quả

4 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước

Khi nghiên cứu về những ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước, các nhà kinh tế đều cho rằng: ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế phụ thuộc vào việc nó tácđộng đến lãi suất thị trường, tiết kiệm quốc gia, đầu tư và cán cân thương mại như thế nào

a) Tác động của bội chi ngân sách nhà nước đến lạm phát

Một số chính sách bù đắp bội chi NSNN đã có tác động đến lạm phát ở Việt Nam những năm gần đây, chủ yếu là Nợ công (bao gồm vay nợ nước ngoài và vay nợ trong nước)

 Vay nợ nước ngoài:

Khi Chính phủ vay nợ nước ngoài, thời gian đầu, một dòng ngoại

tệ lớn chảy vào trong nước sẽ làm giảm sức ép cân đối ngoại tệ Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, việc Chính phủ phải cân đối nguồn ngoại tệ trả nợ gốc và lãi sẽ đẩy nhu cầu ngoại tệ tăng cao, khiến tỷ giá có xu hướng tăng, làm giảm giá đồng nội tệ, làmtăng chi phí nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên liệu, tăng chi phí đầu vào của nền kinh tế, dẫn tới các nguy cơ lạm phát

 Vay nợ trong nước:

Chính phủ vay nợ trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ, nếu ban đầu chỉ có các định chế tài chính, các doanh

Trang 12

nghiệp và các tầng lớp dân cư mua trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính phủ bảo lãnh được bán chủ yếu cho các NHTM lớn, nên khi các NHTM cầm cố lại lượng trái phiếu này tại ngân hang trung ương để lấy tiền mặt (nghiệp vụ tái chiết khấu), sẽ làm tăng cung tiền, dẫn đến lạm phát tăng.

Bên cạnh đó, việc Chính phủ vay nợ trong nước làm tăng lãi suất,làm giảm đầu tư, sản lượng giảm Nếu không có biện pháp làm tăng năng suất lao động thì lượng cung hàng hóa giảm, do đó dẫn đến giá cả chung tăng

Ở Việt Nam, từ năm 2009 đến nay, tỷ trọng vay trong nước trong

cơ cấu nợ đang có xu hướng tăng Điều nay đã gián tiếp làm tăngcung tiền, là một trong những nguyên nhân cơ bản góp phần làmtăng lạm phát (tốc độ tăng cung tiền M2 của Việt Nam giai đoạn 2000-2010 là 31.4% khiến cho tỷ lệ cung tiền M2 trên GDP tăng nhanh)

Việc vay nợ để bù đắp thâm hụt trong giai đoạn trước còn tạo ra nguy cơ tiềm ẩn lạm phát cho giai đoạn sau nếu số nợ ngày càngcao trong khi không có khả năng chi trả, dễ dẫn đến phải in tiền

Trang 13

Trái phiếu Chính phủ là kênh tài trợ quan trọng cho thâm hụt ngân sách Trong những năm qua, do sự thâm hụt liên tục của NSNN, cùng với sự thay đổi trong cơ cấu nợ của Việt Nam,

chuyển từ vay nợ nước ngoài sang vay nợ trong nước khiến cho lượng vốn huy động trên thị trường trái phiếu Chính phủ trong nước tăng ngày càng nhanh Điều này góp phần đẩy lãi suất lên cao và làm giảm lượng vốn vay trên thị trường mà đáng ra khu vực tư nhân có thể tiếp cận với giá thấp

c) Tác động của bội chi NSNN đến cán cân thương mại

Bội chi NSNN tăng làm tăng thâm hụt cán cân thương mại

- Bội chi NSNN và tác động của đầu tư trong nước:

Y = C + I + G + NX

Y – C – G = I + NX

S = I + NX

Trong nền kinh tế, tiết kiệm quốc dân bằng tổng đầu tư và thặng

dư cán cân thương mại Bội chi NSNN làm giảm tiết kiệm quốc dân, từ đó sẽ làm giảm đầu tư trong nước và làm giảm xuất khẩuròng

 Khi thâm hụt ngân sách, chi tiêu của Chính phủ lớn làm cho chi tiêu trong nước tăng và sản lượng trong nước không bù đắp được nên Chính phủ phải tăng nhập khẩu và làm giảm xuất khẩu ròng

 Khi thâm hụt ngân sách, tiết kiệm giảm làm cho vốn đầu tư giảm và lãi suất tăng cao, từ đó kiềm chế đầu tư trong

nước Hàng hóa sản xuất trong nước ít đi càng không đủ bù đắp lượng thiếu ở trên Vì vậy lượng hàng xuất khẩu giảm

và tăng cường nhập khẩu để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước Dẫn tới thâm hụt cán cân thương mại

Ngày đăng: 28/09/2023, 19:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w