MỤC LỤC I Phần mở đầu 2 II Phần nội dung 3 Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà nước 3 1 1 Khái quát về ngân sách nhà nước 3 1 2 Khái quát về cân đối ngân[.]
Trang 1MỤC LỤC
I Phần mở đầu 2
II Phần nội dung 3
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà nước 3
1.1.Khái quát về ngân sách nhà nước 3
1.2.Khái quát về cân đối ngân sách nhà nước 6
Chương 2: Nội dung cơ bản của vấn đề cân đối ngân sách nhà nước 11
2.1.Các nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước 11
2.2.Cân đối giữa tổng thu và tổng chi, giữa các khoản thu và các khoản chi ngân sách nhà nước 13
2.3.Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước 19
2.4.Kiểm soát tình trạng ngân sách nhà nước- Bội chi ngân sách nhà nước 23
Chương 3: Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam 25
3.1.Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam và một số nước trên thế giới 25
3.2 Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước Việt Nam trước khi có luật ngân sách nhà nước 28
3.3 Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước từ khi có luật ngân sách nhà nước đến nay31 Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam 34
4.1 Thuận lợi, khó khăn trong cân đối ngân sách nhà nước 34
4.2 Định hướng cân đối NSNN trong thời gian tới: 34
III Phần kết luận 39
IV Danh mục tài liệu tham khảo 40
Trang 2I Phần mở đầu
Trong lịch sử phát triển nhân loại, mỗi một Nhà nước khi thành lập và bắt đầu đi vàohoạt động luôn cần phải có một quỹ ngân sách để đảm bảo thực hiện chức năng và nhiệm vụcủa mình Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ đó cần đòi hỏi phải có một ngân sách nhànước cân đối và ổn định Từ quá khứ đến hiện tại cũng đã có nhiều quan điểm, học thuyết khácnhau bàn về cân đối ngân sách nhà nước nhưng trong thực tiển để làm được vấn đề này là rấtkhó khăn, vì tình hình kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia luôn biến đổi không ngừng nó có thể làtăng trưởng, phát triển nhưng cũng có thể rơi vào khủng hoảng, suy thoái Điều này dẫn đếnngân sách nhà nước có thể rơi vào tình trạng bội chi hay bội thu Vì vậy mỗi quốc gia cần lựachọn và vận dụng những phương cách khác nhau phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội củanước mình để cân đối ngân sách nhà nước cho hiệu quả
Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, vấn đề cân đối ngân sách nhà nước là rấtquan trọng và cần được quan tâm đúng mức Bỡi lẽ, ngân sách nhà nước là công cụ tài chínhcốt yếu để Nhà nước điều phối toàn xã hội, giải quyết những vấn đề khó khăn của đất nước,đem lại sự công bằng cho người dân,… Thực tế ở Việt Nam trong thời gian vừa qua, mặc dùchính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách quản lý hành chính, đổi mới chính sách thu,chi ngân sách để hướng tới một ngân sách nhà nước được cân đối nhằm góp phần thúc đẩykinh tế phát triển, ổn định xã hội, kiểm soát tình trạng lạm phát, đưa Việt Nam tiến vào thời kỳhội nhập của nền kinh tế thế giới Tuy nhiên nhìn một cách tổng quát ngân sách nhà nước củaViệt Nam vẫn chưa thực sự ổn định và mất cân đối kéo theo đó là những hậu quả làm ảnhhưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và nhiều vấn đề xã hội nãy sinh như: thu vào ngânsách nhà nước không đủ chi dẫn đến nợ nước ngoài nhiều, lạm phát tăng nhanh, không cónguồn tài chính để đầu tư đúng mức vào hoạt động kinh tế…
Trang 3II Phần nội dung
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà nước 1.1.Khái quát về ngân sách nhà nước
1.1.1.Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước đã xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, hay thời kỳ phong kiếnnhưng thuật ngữ “ ngân sách nhà nước” được thừa nhận với một ý nghĩa đầy đủ của nó khimầm móng tư bản chủ nghĩa ra đời Lúc này nhà Vua không còn quyền tự quyết đối với cáckhoản thu chi của quốc gia nữa mà nó đã được chuyển giao lại cho Quốc hội Điều đó cũng tạo
ra một bước ngoặc mới về việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước được minh bạch và rỏràng hơn Ngân sách Nhà nước là một thuật ngữ xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào thế kỷ 17.Khi đó, ngân sách nhà nước được hiểu là một nguồn quỹ hoặc là túi tiền của người quản lýngân khố, nó là toàn bộ những khoản thu chi thuộc về Nhà nước và do Nhà nước thực hiện.Cho đến ngày nay, ngân sách nhà nước được hiểu là bảng kế hoạch tài chính lớn nhất của mộtquốc gia bao gồm tất cả các khoản thu chi phục vụ cho chức năng và nhiệm vụ của bộ máy nhànước, thông qua đó đảm bảo những lợi ích công cộng của xã hội
Ngân sách nhà nước là một phạm trù rất rộng và bao quát, vừa liên quan đến lĩnh vực kinh tếvừa liên quan đến góc độ quản lý Nhà nước Vì vậy hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau địnhnghĩa về ngân sách Nhà nước, nhưng thể hiện rõ nhất và đầy đủ nhất về bản chất của ngân sáchnhà nước là hai định nghĩa trên hai phương diện kinh tế và pháp lý
Ngân sách nhà nước xét về phương diện kinh tế:
Trước hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học Theo
đó, ngân sách nhà nước là bảng dự toán về các khoản thu và các khoản chi tiền tệ của một quốcgia, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện trong một khoản thời hạnnhất định, thường là một năm Từ định nghĩa đó ta thấy có 2 yếu tố cơ bản trong ngân sách nhànước:
+ Ngân sách nhà nước là một bảng kế hoạch tài chính của một quốc gia, thông qua hành
vi kinh tế là xác lập nội dung thu chi liên quan đến ngân quỹ của Nhà nước Do đó phải đượcQuốc hội với tư cách là người đại diện cho toàn thể nhân dân trong quốc gia đó quyết địnhtrước khi chính phủ đem ra thi hành trên thực tế, để đảm bảo cho việc thu, chi ngân sách cóhiệu quả và phù hợp với người dân Ngoài ra, Quốc hội còn là người giám sát chính phủ trong
Trang 4quá trình thi hành ngân sách và có quyền phê chuẩn bảng quyết toán ngân sách hàng năm dochính phủ đệ trình khi năm ngân sách kết thúc.
+ Ngân sách nhà nước có hiệu lực trong vòng một năm, tức là việc dự toán thu, chi đãđược đề ra phải hoàn thành trong năm ngân sách đó tính từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 hàngnăm Đây là khoản thời gian mà pháp luật quy định nhằm giới hạn rỏ việc thực hiện dự toánngân sách nhà nước Khoản thời gian này có thể trùng hoặc không trùng với năm dương lịchtùy theo tập quán của mỗi nước Việc quy định rỏ thời gian này nhằm tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động của ngân sách nhà nước, tránh sự tùy tiện, độc đoán của Nhà nước trong việcthu nộp và chi tiêu ngân sách
Ngân sách nhà nước xét về phương diện pháp lý :
Theo điều 14 luật ngân sách nhà nước 2015: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Qua những quy định và phân tích về ngân sách nhà nước ta thấy, ngân sách nhà nước chính
là một đạo luật tài chính do Quốc hội ban hành, dự toán về các khoản thu chi thực hiện trongmột khoảng thời gian nhất định của một quốc gia, bên cạnh đó NSNN còn là một công cụ tàichính quan trọng để Nhà nước thực hiện và điều tiết hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước.Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường và hội nhập thế giới như hiện nay, vai trò của NSNN càngtrở nên quan trọng hơn bao giờ hết
1.1.2.Đặc điểm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụhữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên cónhững đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước luôn gắn liền với quyền lực
kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lậpdựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác,bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tínhchất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ
Thứ hai, ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi
ích chung, lợi ích công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản
Trang 5thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết cácquan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc giagiữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư
Thứ ba, ngân sách nhà nước là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị có trách
nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủphải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chínhsách của Chính phủ Chính sách nào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không đượcthực hiện Chính vì như vậy mà, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nóbiểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước Quốc hội mà không thôngqua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và
có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị
Thứ tư, ngân sách nhà nước là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia.
Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung giantài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạotrong hệ thống tài chính quốc gia Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triểncủa toàn bộ nền kinh tế - xã hội Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộphận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thumang tính chất thuế Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách
để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vựccông nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời kỳ phong
kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sáchcủa Nhà nước phong kiến Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữaNhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếucó) Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu mộtnước (nhà vua) quyết định Trong thời kỳ hiện nay (Nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN),ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyếtđịnh là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội NSNN được giới hạn thời gian sửdụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhândân
Trang 61.2.Khái quát về cân đối ngân sách nhà nước
1.2.1 Các lý thuyết về cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách là một vấn đề quan trọng được đặt ra đối với mỗi Nhà nước, nó đảmbảo cho Nhà nước đó thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình Nhưng ở từng thời kỳkhác nhau thì chức năng và nhiệm của Nhà nước sẽ có sự thay đổi, nó được mỡ rộng và nânglên cùng với sự phát triển của nền kinh tế Đăc biệt khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thịtrường, Nhà nước đã có sự can thiệp vĩ mô vào hoạt động kinh tế Do đó, ngân sách nhà nước
đã trở thành công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh tế và vấn đề cân đốingân sách nhà nước lại càng được quan tâm hơn với nhiều học thuyết bàn về nó
1.2.1.1 Lý thuyết cổ điển về cân bằng ngân sách
Theo quan điểm cổ điển, ngân sách nhà nước chỉ là công cụ cung cấp cho nhà nướcnhững nguồn tài chính cần thiết nhằm tài trợ cho những chi phí cho hoạt động hành chính, tưpháp, quốc phòng Nhà nước cũng chỉ cần huy động đủ nguồn lực cho những nhu cầu chi tiêuhạn hẹp đó của mình mà thôi (nghĩa là chỉ cần duy trì ngân sách tiêu dùng, ngân sách thườngxuyên)
Để thu hẹp ảnh hưởng của NSNN người ta đã cắt giảm tới mức tối thiểu các khoản chicủa NSNN, không để cho chúng vượt quá các khoản thu của NSNN Cân đối NSNN cần phảituân thủ nguyên tắc tổng thu thuế bằng chi NSNN mỗi năm Tổng thống Pháp G.Doumerguetóm tắt học thuyết cổ điển về cân bằng NSNN như sau: "Người đàn bà nội trợ đi chợ khôngđược tiêu quá số tiền trong túi Nhà nước cũng trong tình trạng y hệt: không được chi tiêu quá
số thu" Tức là, nhà nước chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi số thuế và chỉ được khai thácnguồn thu thuế để trang trải chi tiêu; số thu thuế không được lớn hơn số chi của NSNN
Như vậy, NSNN phải cân bằng tuyệt đối, bội thu hay bội chi NSNN nếu có đều là sụlãng phí nguồn lực của nhân dân Bên cạnh đó thuyết cổ điển về NSNN cũng cho rằng NSNNphải cân bằng cả khi lập kế hoạch và trong quá trình thực hiện Nếu chỉ cân bằng trong kếhoạch còn trong quá trình thực hiện lại không cân bằng được thì không thể coi là cân bằngthực sự
1.2.1.2 Các học thuyết hiện đại về cân đối ngân sách nhà nước
Lý thuyết về ngân sách chu kỳ
Quan điểm này cho rằng NSNN không cần cân bằng hàng năm mà nên cân bằng theo chu
kỳ vì nền kinh tế phát triển theo chu kỳ gồm 3 giai đoạn: phồn thịnh, khủng hoảng, suy thoái
Trang 7Khi nền kinh tế ở giai đoạn phồn thịnh, của cải vật chất được tạo ra nhiều, năng suất laođộng cao, thất nghiệp ít… NSNN có cơ sở để huy động được số thu thuế lớn hơn nhu cầu chitiêu Mặt khác trong giai đoạn này cũng nên tăng thuế suất, giảm chi tiêu NSNN để kìm hãmnền kinh tế không phát triển quá "nóng" Lúc này NSNN thặng dư là điều dễ hiểu Nếu khôngxem xét cân đối NSNN theo chu kỳ, chính phủ rất dễ dùng số thặng dư này để chi tiêu đầu tưvào những hoạt động không cần thiết, hoặc điều chỉnh chính sách thuế để giảm thu Nhữnghành động này dễ làm cho nền kinh tế rơi vào khủng hoảng.
Khi khủng hoảng xảy ra, nền kinh tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, của cải vật chất tạo
ra giảm, năng suất lao động xã hội thấp, thất nghiệp tăng… thu NSNN trong giai đoạn này sẽkhó khăn hơn Lúc này để kích thích phục hồi kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội thì nhànước cần giảm thuế và tăng chi tiêu dẫn đến kết quả bội chi NSNN Nếu ngại bội chi cố giữcân bằng theo quan điểm cổ điển trên cơ sở hạn chế chi tiêu sẽ làm cho nền kinh tế khó vượtqua suy thoái hơn
Quan điểm này vẫn tôn trọng nguyên tắc cân đối giữa số thu và số chi của NSNN nhưngthực hiện sự cân bằng trong một thời kỳ nhiều khóa liên tục ứng với từng chu kỳ phát triểnkinh tế Khi đó tình trạng bội thu hay bội chi NSNN trong từng dài khóa không hẳn mất cânđối, chúng có thể bù trừ cho nhau trong cả chu kỳ Tuy nhiên bội chi hay bội thu cần đượckhống chế trong một giới hạn nhất định mà chính phủ có thể kiểm soát được
Lý thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt
Lý thuyết này xuất phát từ quan điểm chi rằng kinh tế quyết định tài chính Như đã phântích ở trên, muốn thực hiện nguyên tắc ngân sách cân bằng tuyệt đối trong giai đoạn kinh tếsuy thoái nhà nước phải tiết kiệm chi tiêu hoặc tăng thuế Cả hai phương pháp trên đều kìmhãm sự phát triển của nền kinh tế và càng làm cho nền kinh tế khó thoát khỏi suy thoái hơn
Do vậy khi kinh tế suy thoái cần tránh sử dụng chúng bằng cách cố ý hi sinh sự cân bằng cuảNSNN Phải sử dụng sự mất cân bằng của ngân sách để góp phần đưa kinh tế thoát khỏi suythoái trên cơ sở tăng chi tiêu ngân sách hoặc giảm thuế để kích cầu
Tuy nhiên việc cố ý tạo sự thiếu hụt NSNN có thể tác động tiêu cực đến tình hình lưu thôngtiền tê, lạm phát có thể gia tăng nhưng những người ủng hộ lý thuyết này cho rằng sự phục hồikinh tế sẽ đem lại nguồn để NSNN trở về tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát Họ đưa racác lý do để giải thích:
Việc thúc đẩy những hoạt động nền kinh tế đang trì trệ sẽ làm nhẹ gánh nặng củaNSNN đối với khoản chi trợ cấp thất nghiệp
Trang 8 Chính sách cố ý tạo ra sự mất cân đối của NSNN xét cho cùng chỉ là một việc làmtrước hạn, căn cứ vào những việc chắc chắn xảy ra trong tương lai Nhờ chính sáchkích cầu hiệu quả, kinh tế sẽ dần hồi phục và khi đó nhà nước sẽ dần dần cắt giảmchi tiêu Mặt khác khi kinh tế ở giai đoạn hưng thịnh thuế sẽ đánh một cách luỹ tiến.Kết quả tránh được lạm phát và NSNN sẽ cân bằng
1.2.2.Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước
Xét về bản chất: Cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn thu mà nhà
nước huy động được tập trung vào ngân sách nhà nước trong một năm và sự phân phối, sửdụng nguồn thu đó thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm đó
Xét về góc độ tổng thể: Cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối tương quan giữa thu
và chi trong một tài khóa Nó không chỉ là sự tương quan giữa tổng thu và tổng chi mà còn thểhiện sự phân bổ hợp lý giữa cơ cấu các khoản thu và cơ cấu các khoản chi của ngân sách nhànước
Xét về phương diện phân cấp quản lý nhà nước: Cân đối ngân sách nhà nước là cân
đối về phân bổ và chuyển giao nguồn thu giữa các cấp ngân sách, giữa trung ương và địaphương và giữa các địa phương với nhau để thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao.Như vậy, ta có thể hểu, cân đối ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của chínhsách tài khóa, phản ánh sự điều chỉnh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhànước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước đã đề ra trong từng lĩnh vực vàđịa bàn cụ thể
1.2.3.Đặc điểm cân đối ngân sách nhà nước
Thông qua định nghĩa về ngân sách nhà nước, ta thấy ngân sách nhà nước là một loạihình ngân sách đặc biệt quan trọng Nó không chỉ mang những đặc điểm chung của các loạingân sách thông thường, mà còn hàm chứa những đặc điểm riêng thể hiện bản chất của mộtloại hình ngân sách của một quốc gia như:
Cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sáchnhà nước trong năm nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Nó vừa là công cụ thực hiện cácchính sách xã hội của nhà nước, vừa bị ảnh hưởng bởi những chỉ tiêu kinh tế-xã hội
Cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa tổng thu và tổng chi, giữa các khoản thu vàkhoản chi, cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn lực giữa các cấp trong hệ thống ngân sáchnhà nước, đồng thời kiểm soát được tình trạng ngân sách nhà nước, đặc biệt là tình trạng bộichi ngân sách nhà nước Cân bằng thu chi ngân sách nhà nước chỉ là tương đối chứ không thể
Trang 9đạt được mức tuyệt đối được vì hoạt động kinh tế luôn ở trạng thái biến động Nhà nước phảiđiều chỉnh hoạt động thu, chi cho phù hợp Bên cạnh đó, cần phân bổ nguồn thu hợp lý để đảmbảo sự ổn định về kinh tế – xã hội giữa các địa phương Mặt khác, nếu ngân sách không cânbằng mà rơi vào tình trạng bội chi thì cần đưa ra những giải quyết kịp thời để ổn định ngânsách nhà nước.
Cân đối ngân sách nhà nước mang tính định lượng và tiên liệu Trong quá trình cân đốingân sách nhà nước, người quản lý phải xác định các con số thu, chi ngân sách nhà nước sovới tình hình thu nhập trong nước, chi tiết hóa từng khoản thu, chi nhằm đưa ra cơ chế sử dụng
và quản lý nguồn thu phù hợp với hoạt động chi, từ đó để làm cơ sở phân bổ và chuyển giaonguồn lực giữa các cấp ngân sách Cân đối ngân sách nha nước phải dự toán được các khoảnthu, chi ngân sách một cách tổng thể để đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
1.2.4.Vai trò của cân đối ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Cân đối ngân sách nhà nước là một công cụ quan trọng để Nhà nước để can thiệp vào hoạtđộng kinh tế xã hội của đất nước, với vai trò quyết định đó thì cân đối ngân sách nhà nướctrong nền kinh tế thị trường có những vai trò sau:
Cân đối ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô chỉ ra rằng, cân đối NSNN là một trong ba cân đối quan trọng của nềnkinh tế Để ổn định kinh tế vĩ mô, ba cân đối này phải đảm bảo:
(S-I) + (T-G) = (X-M)
=> (G - T) = (S-I) + (M-X)
Trong đó:
S là tiết kiệm của khu vực tư nhân
I là đầu tư của khu vực tư nhân
Trang 10các mục tiêu của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng GDP thực ở tốc độ cao và
ổn định; tỷ lệ thất nghiệp thực tế được giữ ở mức thất nghiệp tự nhiên; lạm phát được duy trì ởmức vừa phải và có thể dự đoán được; duy trì tỷ giá hối đoái ổn định tương đối; ổn định cáncân thương mại nhằm chủ động trong quản lý nợ nước ngoài và hạn chế những áp lực của phầncòn lại của thế giới lên hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia
Cân đối ngân sách nhà nước góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế
Do sự chi phối của quy luật kinh tế khách quan, nền kinh tế thị trường vận động theo tínhchu kỳ của nó Thông qua cân đối NSNN, nhà nước có thể can thiệp để bằng phẳng hóa cácchu kỳ kinh tế
Khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái, quy mô sản xuất thu hẹp, của cải vật chất tạo ragiảm, năng suất lao động xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng…Nhà nước sẽ dùng chính sách tàikhóa mở rộng: giảm thuế và tăng chi tiêu, chính phủ có thể thực hiện chính sách kích cầu đểphục hồi kinh tế Và có thể làm gia tăng chi phí của nền kinh tế, do việc gia tăng bội chiNSNN, gia tăng cung tiền và lạm phát… Bởi vậy, để tối thiểu hóa chi phí, yêu cầu chính sáchkích cầu từ mở rộng chính sách tài khóa phải có hiệu quả Sự phục hồi kinh tế nhờ thực hiệnchính sách này phải làm giảm nhẹ gánh nặng của NSNN đối với khoản chi trợ cấp xã hội, đemlại nguồn thu để NSNN trở về tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát
Khi nền kinh tế ở giai đoạn hưng thịnh, quy mô kinh tế mở rộng, của cải vật chất tạo ranhiều, năng suất lao động xã hội cao, thất nghiệp giảm Trong giai đoạn này, chính phủ chủđộng thực hiện chính sách tài khóa thận trọng, thắt chặt trong chi tiêu NSNN nhằm kìm hãmhiện tượng phát triển quá “nóng” của nền kinh tế Thặng dư NSNN trong giai đoạn hưng thịnhđược dành cho dự trữ, trả nợ – nhất là nợ nước ngoài, hoặc thực hiện những chương trình, dự
án dài hạn, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng bền vững, ổn định
Kế đến là tạo lập ngân sách bổ sung Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ, bên cạnh việc
sử dụng quỹ dự trữ, nhà nước có thể phát hành trái phiếu chính phủ để tạo nguồn thu bù đắpthiếu hụt ngân sách và tài trợ cho những chương trình, dự án lớn có tính hiệu quả và khả thinhằm phục hồi nền kinh tế Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu chính phủ phải được đặt trongmột khuôn khổ quản lý nợ công hợp lý để giảm thiểu những tác động tiêu cực của nó đến tiếtkiệm và đầu tư của khu vực tư
Cân đối ngân sách nhà nước góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính có
hiệu quả
Thật ra, quan hệ giữa cân đối NSNN và phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả
là mối quan hệ nhân quả liên hoàn Cân đối NSNN góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài
Trang 11chính có hiệu quả Ngược lại, phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả sẽ giúp cho cânđối NSNN kỳ sau thuận lợi hơn Cân đối NSNN có thể góp phần phân bổ và sử dụng nguồnlực hiệu quả ngay từ khi lập dự toán NSNN bằng cách lựa chọn trình tự ưu tiên hợp lý trongphân bổ NSNN và sự gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với công táclập kế hoạch ngân sách.
Cân đối ngân sách nhà nước góp phần đảm bảo công bằng xã hội, giảm thiểu sự
bất bình đẳng giữa các địa phương
Nước ta với mỗi một vùng lại có một điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau, có những vùngđiều kiện kinh tế- xã hội rất khó khăn làm ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sốngcủa người dân, có những vùng điều kiện kinh tế- xã hội thuận lợi, phát triển làm cho thu nhập
và cuộc sống của người dân được nâng lên Vì vậy cân đối NSNN sẽ đảm được sự công bằng,giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa người dân và các vùng miền Nhà nước có thể huy độngnguồn lực từ những người có thu nhập cao, những vùng có kinh tế phát triển để hỗ trợ, giúp đỡnhững người nghèo có thu nhập thấp và những vùng kinh tế kém phát triển Bên cạnh đó, cânđối NSNN góp phần phát huy lợi thế của từng địa phương, tạo nên thế mạnh kinh tế cho địaphương đó dựa trên tiềm năng có sẵn của địa phương
Chương 2: Nội dung cơ bản của vấn đề cân đối ngân sách nhà nước
2.1.Các nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước
Luật ngân sách nhà nước năm 2015 quy định:
1 Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luậtđược tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm
vụ chi cụ thể Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định củapháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thựchiện Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sáchtrong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế
2 Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớnhơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển;trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằngthu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định Trườnghợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhànước
Trang 123 Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sửdụng cho chi thường xuyên.
4 Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn sau:
a) Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và cáckhoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
b) Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế vàphát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vaylại
5 Bội chi ngân sách địa phương:
a) Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉđược sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồngnhân dân cấp tỉnh quyết định;
b) Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ pháthành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và cáckhoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
c) Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và doQuốc hội quyết định Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địaphương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chungcủa ngân sách nhà nước
6 Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương:
a) Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thungân sách địa phương được hưởng theo phân cấp;
b) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấplớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sáchđược hưởng theo phân cấp;
c) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấpnhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thungân sách được hưởng theo phân cấp
Trang 132.2.Cân đối giữa tổng thu và tổng chi, giữa các khoản thu và các khoản chi ngân sách nhà nước
2.2.1.Tổng thu ngân sách nhà nước
Khái niệm: Thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần
nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu củanhà nước
Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nướchuy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Về mặt bản chất, thuNSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trìnhNhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nướcnhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhànước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp chođối tượng nộp Theo Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;
- Các khoản viện trợ;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Đặc điểm thu ngân sách nhà nước:
- Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chếhóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;
- Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển
ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v
- Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủyếu
- Thu ngân sách theo hai phương thức: tự nguyện và bắt buộc
2.2.1.1.Thu nội địa
Thuế nội địa: là thuế đánh vào công dân, hoạt động, tài sản trong nước Có rất nhiều
sắc thuế nội địa đánh vào cá nhân (thuế thu nhập, thuế tiêu thụ), đánh vào công ty (thuế pháp
Trang 14nhân, thuế môn bài, ), đánh vào các hoạt động (thuế giao dịch tài chính, thuế mua bán nhàđất, thuế thừa kế, ), thuế đánh vào đồ vật (thuế tài sản, lệ phí phòng cháy chữa cháy, lệ phíđăng ký ô tô xe máy, lệ phí công chứng, ) Lưu ý lệ phí thực chất là thuế; ở Việt Nam gọichúng là "các loại phí mang tính chất thuế".
2.2.1.2.Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu
Thuế xuất nhập khẩu (Import- export duty) là loại thuế gián thu, đánh vào các hàng
hóa được phép xuất nhập khẩu qua biên giới Việt Nam Thuế xuất nhập khẩu đóng vai trò quantrọng trong chính sách ngoại thương của mỗi quốc gia Đây là công cụ quan trọng trong việckiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ sản xuấttrong nước Về mặt lý luận có nhiều phương pháp tính thuế xuất nhập khẩu, mỗi quốc gia cóthể lựa chọn cho mình những phương pháp tính thuế thích hợp Các quốc gia ngoài công cụthuế quan, còn có thể sử dụng hàng rào phi thuế quan (như hạn ngạch nhập khẩu, tài trợ xuấtkhẩu, thu chênh lệch giá nhập khẩu, dùng bảng giá tối thiểu để áp dụng hàng nhập khẩu ) đểbảo hộ nền sản xuất trong nước
Về đặc điểm : Thuế xuất khẩu, nhập khẩu có đặc điểm cơ bản sau
- Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩuqua biên giới Việt Nam Chỉ có những hàng hoá được vận chuyển một cách hợp phápqua biên giới Việt Nam mới là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu, tiền thuế phải nộp cấu thành trong giá
- Hai là, điều tiết hoạt động nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng
Trang 152.2.1.3.Thu viện trợ không hoàn lại
Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% củatổng số vốn ODA
Viện trợ không hoàn lại thường đi kèm theo những ràng buộc về kinh tế, chính trị đốivới nước tiệp nhận Các nước dùng viện trợ như một công cụ chính trị để nhằm khẳng định vaitrò của mình ở các nước và khu vực tiệp nhận vốn
2.2.2.Tổng chi ngân sách nhà nước
- Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị,
xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ;
- Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, mang tích chất pháp lý cao;
- Các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô;
- Các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp là chủyếu;
- Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giátrị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, v.v (các phạm trù thuộc lĩnhvực tiền tệ)
2.2.2.1.Chi đầu tư phát triển
Khái niệm: Chi đầu tư phát triển là quá trình nhà nước sử dụng một phần thu nhập từ
quỹ NSNN và các quỹ ngoài ngân sách mà chủ yếu là quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng kinh tế- xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và dự trữ hàng hóa có tính chiến lược nhằm đảmbảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế Chi ĐTPT của tài chính công gồm
Trang 16có chi từ ngân sách nhà nước, từ tín dụng nhà nước, từ một số quỹ ngoài ngân sách Chi ĐTPT
là khoản chi lớn, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế Quy mô, kết cấu khoản chi này phụthuộc vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ Nhìn chung, chiĐTPT tập trung vào 1 số lĩnh vực chủ yếu sau:
Chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế – xã hội công cộng: Đây là khoản
chi lớn trong chi đầu tư phát triển, bao gồm chi đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp cáccông trình không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm như công trình giao thông, đêđiều, bệnh viện, trường học, nhà văn hóa…Việc đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầngkinh tế công cộng phải tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu
tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tínhchất “mồi” để thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho mục tiêu công cộng Đầu tư cho cơ sở hạtầng xã hội thường hướng vào đầu tư phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sơ vật chất phục
vụ các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường Nhìn chung khoản chiđầu tư này có vai trò quyết định trong việc tạo thế cân đối cho nền kinh tế – xã hội, hút vốn củacác chủ thể đầu tư khác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước, đầu tư góp vốn cổ phần vào các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế: Khoản chi hỗ trợ, góp vốn của
nhà nước thường được cân nhắc rất thận trọng Nhà nước chỉ đầu tư với những ngành quantrọng có quy mô lớn để dẫn dắt nền kinh tế theo mục tiêu phát triển của nhà nước Chẳng hạn,các cơ sở sản xuất ra tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt là những mặt hang còn phụ thuộc nhiềuvào nhập khẩu, các sản phẩm liên quan đến quốc phòng, an ninh, các doanh nghiệp công ích.Khoản chi này có xu hướng điều chỉnh giảm khi nền kinh tế hội nhập sâu hơn vào nền kinh tếthế giới Bên cạnh mục tiêu dẫn dắt nền kinh tế khoản chi hỗ trợ các doanh nghiệp còn được sửdụng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái sâu nhằm hạn chế đà suy giảm kinh tế Tuynhiên, khoản chi này chỉ xuất hiện mang tính nhất thời ở một khoảng thời gian nhất định
Chi dự trữ nhà nước: Chi dự trữ nhà nước nhằm mục đích duy trì sự phát triển cân đối
và ổn định của nền kinh tế Khoản chi này trước hết được sử dụng để ngăn chặn, hạn chế và bùđắp những tổn thất bất ngờ xảy ra đối với nền kinh tế do thiên tai, dịch bệnh, địch họa… manglại Trong nền kinh tế thị trường, khoản chi này còn được sử dụng để điều tiết nền kinh tế trướccác thất bại của thị trường nhằm thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô đặc biệt khi nền kinh tế gặpphải các cú sốc từ bên ngoài
Trang 17Chi tiêu công cho ĐTPT thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu công Số chi ĐTPTtrong từng năm tài chính phụ thuộc vào mức tăng thu nhập quốc dân và mục tiêu kinh tế xã hộicủa nhà nước trong giai đoạn đó Nhìn chung số chi cho ĐTPT của nhà nước chiếm tỷ trọngkhá lớn trông tổng số chi cho đầu tư phát triển của toàn xã hội, nó đóng vai trò “dẫn dắt” hoạtđộng đầu tư của các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Chi đầu tư phát triển là khoản chi có tính tích lũy, không để tiêu dùng hiện tại mà có tácdụng tăng trưởng kinh tế, là khoản chi không mang tính phí tổn, có khả năng hoàn lại vốn Vậytại sao chi đầu tư phát triển lại có thể có tác dụng tăng trưởng kinh tế? Có thể xét đơn giản nhưkhi nhà nước đầu tư xây dựng các công trình giao thông, bệnh viện, trường học, một mặt làmtăng cầu về các hàng hóa vật liệu xây dựng, làm sản lượng của các mặt hàng này tăng lên, tạocông ăn việc làm cho người lao động tham gia vào các công trình xây dựng và những ngườitrong ngành sản xuất vật liêu xây dựng, và từ đó kéo theo tăng trưởng của các ngành khác.Đơn giản như vậy có thể thấy chi đầu tư phát triển đã góp phần đạt được một số mục tiêu củanền kinh tế
Khoản chi này có thể ở dưới các hình thức như cấp phát không hoàn lại, có thể chi theo dựtoán kinh phí hoặc cấp phát theo lệnh chi tiền Chi đầu tư phát triển có mức độ ưu tiên thấphơn chi thường xuyên
2.2.2.2.Chi trả nợ và viện trợ
Chi trả nợ là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để trả các khoản nợ đến hạn phải trả,bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay
Chi viện trợ: viện trợ cho người dân bị thiên tai, lũ lụt,…
Chi trả nợ và viện trợ chiếm đa số các khoản chi tiêu của NSNN
2.2.2.3.Chi thường xuyên
Khái niệm: Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài
chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường
xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền
với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước Khoản chi này mang tính chấttiêu dùng, quy mô và cơ cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhànước Với xu thế phát triển của xã hội, nhiệm vụ chi thường xuyên của nhà nước ngày càng giatăng chính vì vậy chi thường xuyên cũng có xu hướng mở rộng
Nội dung:
Trang 18 Chi cho các đơn vị sự nghiệp: Đây là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp công lập
nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chămsóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh
tế theo chiều sâu
Chi cho hoạt động khoa học công nghệ: là các khoản chi cho nghiên cứu, ứng dụng,
phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm hiện đại hóa khoa học, công nghệ từ
đó giúp nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường làm việc, tăng năng lực cạnh tranhcho mỗi quốc gia cả về kinh tế, cả về xã hội Chi khoa học công nghệ được thực hiện thongqua các hội, ngành các địa phương Với xu hướng phát triển kinh tế theo chiều sâu, chi chokhoa học công nghệ ngày càng được mở rộng
Chi cho hoạt động giáo dục, đào tạo: là các khoản chi cho hệ thống giáo dục, đào tạo
từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thong đến đào tạo đại học và sau đại học Nhu cầu giáodục, đào tạo của xã hội ngày càng đòi hỏi gia tăng về số lượng và chất lượng, với nguồn tàichính có hạn NSNN không thể đáp ứng cho đủ các nhu cầu này mà chỉ đáp ứng một phần nhucầu trong khuôn khổ nhất định, cho một số đối tượng nhất định Khuôn khổ chi tiêu, đối tượngthụ hưởng phụ thuộc vào quan điểm của nhà nước và nguồn lực tài chính quốc gia
Chi cho hoạt động sự nghiệp y tế: là các khoản chi cho đảm bảo sức khỏe cộng đồng,
khám chữa bệnh cho người dân Trong khuôn khổ nhất định, chi tài chính công phải đáp ứngkinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh của một số đối tượng như trẻ nhỏ, những người thuộcdiện chính sách xã hội Chi tài chính công tập trung chủ yếu vào chi cho y tế dự phòng, y tếcông cộng nhằm đảm bảo sức khỏe chung của cộng đồng
Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao: là các khoản chi cho hoạt
động văn học, nghệ thuật, bảo tàng, truyền thanh, truyền hình, thể dục, thể thao… khoản chinày không chỉ nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sức khỏe về tinh thần chongười dân mà còn góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần khẳng định vànâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế
Chi cho hoạt động xã hội là các khoản chi cho đảm bảo xã hội và cứu tế xã hội:
Khoản chi này nhằm đảm bảo cuốc sống của người dân khi gặp khó khăn do ốm đau, bệnh tậthoặc những người già không nơi nương tựa nhằm ổn định xã hội
Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý hành chính): là các khoản chi
để đảm bảo hoạt động của hề thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địaphương như chi cho hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan chuyên môn cáccấp, viện kiểm sát và tòa án Trong xu hướng phát triển của xã hội, các khoản chi quản lý hành
Trang 19chính không chỉ dừng lại ở việc duy trì hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước để cai trị màcòn nhằm mục đich phục vụ xã hội Hoạt động này nhằm bảo vệ và hỗ trợ cho các chủ thể vàcác hoạt động kinh tế phát triển, chẳng hạn hoạt động cấp phép, công chứng, hộ khẩu…
Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội: Khoản chi cho an
ninh nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự yên bình cho người dân Chi quốc phòngnhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lấn của các thế lực bên ngoài Quy
mô của khoản chi này phụ thuộc vào sự biến động chính trị, xã hội trong nước và các yếu tốbất ổn từ bên ngoài Chi quốc phòng an ninh mang tính bí mậtt của quốc gia nên toàn bộ khoảnchi này do NSNN đài thọ và không có trách nhiệm công bố công khai như các khoản chi khác
Chi khác: ngoài các khoản chi trên, một số khoản chi không phát sinh đều đặn và liên
tục trong các tháng của năm nhưng vẫn thuộc về chi thường xuyên như chi trợ giá theo chínhsách của nhà nước, chi trả lãi tiền vay do chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội
2.3.Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước
2.3.1.Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách
Nguyên tắc:
Ngân sách trung ương - ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân địnhnguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể Việc phân định được đảm bảo bằng pháp luật Các cấp chínhquyền không được phép đặt ra hoặc điều chỉnh khoản thu của ngân sách cấp mình Mỗi cấpngân sách chỉ phải tiến hành nhiệm vụ thu chi trên cơ sở luật định
Bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới phải đảm bảo công bằng, đảmbảo yêu cầu phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương Số bổ sung này là khoản thu củangân sách cấp dưới Việc bổ sung không phải được thực hiện đồng loạt đối với mọi cấp ngânsách mà dựa trên khả năng thu, nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách mà ngân sách cấp trên sẽthực hiện việc cấp bổ sung
Không được dùng ngân của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp ngân sách khác.Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấpdưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sáchcấp trên cho cấp ngân sách thực hiện nhiệm vụ đó
Mối liên hệ giữa việc phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách:
Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiệnnhư sau:
Trang 20 Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấpnguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược,quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách;
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiệnnhững nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã Hội đồng nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu,nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lýkinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành vàthực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tàichính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp;
Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nướccấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên chocấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngânsách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng,phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu
và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định 3 đến 5 năm
Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
Trong thời kỳ ổn định ngân sách các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hàngnăm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn; sau mỗithời ký ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương,thực hiện giảm dân số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết sốthu nộp về ngân sách cấp trên;
Ngoài việc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy định tại điểm 5
và điểm 6 ở trên, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác,trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ
2.3.2.Phân định thẩm quyền quyết định thu, chi giữa các cơ quan Nhà nước
Luật NSNN (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực từ năm ngânsách 2017 (sau đây gọi tắt là Luật NSNN năm 2015), thay thế Luật NSNN số 01/2002/QH11(sau đây gọi tắt là Luật NSNN năm 2002) Luật NSNN năm 2015 tiếp tục kế thừa các quy định