Đề tài nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á, từ đó đề xuất những chính sách để bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
GIỚI THIỆU
Lý do lựa chọn đề tài
Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và tăng trưởng kinh tế, phân bổ lại nguồn lực, giảm bất bình đẳng thu nhập và xã hội, cũng như quản lý doanh nghiệp nhà nước Thâm hụt ngân sách lớn có thể gây bất ổn kinh tế, ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực, tổng sản lượng đầu ra, tiết kiệm tư nhân, đầu tư tư nhân và cán cân tài khoản vãng lai Nghiên cứu của Arjomand và cộng sự chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia MENA Hiện nay, các quốc gia đang phát triển đối mặt với thâm hụt ngân sách lớn do thu nhập thấp dẫn đến nguồn thu thuế hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư cho cơ sở hạ tầng và bảo hộ ngành sản xuất trong nước đòi hỏi chi tiêu vượt quá khả năng thu thuế.
Thâm hụt ngân sách nhà nước là vấn đề quan trọng, đã thu hút nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến nó Neaime (2015) chỉ ra rằng gánh nặng nợ lớn và thu thuế không tương xứng với chi tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng làm gia tăng thâm hụt ngân sách Nghiên cứu của Arjomand và cộng sự (2016) cho thấy tăng trưởng kinh tế và lạm phát có tác động tích cực đến thâm hụt ngân sách, trong khi năng suất lao động lại ảnh hưởng ngược lại Khalid và Guan (1999) nhấn mạnh rằng thâm hụt tài khoản vãng lai, khi được tài trợ bởi nợ công, dẫn đến thâm hụt ngân sách lớn hơn theo thời gian Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách mà không xem xét tác động của các thành phần khác trong cán cân thanh toán quốc tế, như đầu tư trực tiếp nước ngoài Do đó, tác giả luận văn quyết định nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.
Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế có ảnh hưởng đáng kể đến cân đối ngân sách nhà nước ở 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á Nghiên cứu này sẽ phân tích mối liên hệ giữa cán cân thanh toán và ngân sách nhà nước, từ đó đưa ra những nhận định về tác động của các yếu tố kinh tế toàn cầu đến tình hình tài chính của các quốc gia này Qua đó, luận văn sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý ngân sách trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á, nhằm đề xuất các chính sách hiệu quả để bảo đảm sự ổn định của ngân sách nhà nước Nghiên cứu sẽ trả lời câu hỏi về mối liên hệ giữa các yếu tố này và tình hình ngân sách, cung cấp cái nhìn sâu sắc cho việc quản lý tài chính công tại các quốc gia trong khu vực.
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm các thành phần quan trọng như cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, có ảnh hưởng sâu sắc đến cân đối ngân sách nhà nước.
10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á như thế nào?
- Các giải pháp nào có thể cải thiện cân đối ngân sách nhà nước?
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn tiến hành phân tích định tính và định lượng nhằm khám phá tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Trong phân tích định tính, tác giả áp dụng thống kê mô tả và tổng hợp để đánh giá thực trạng của các thành phần như cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài Đối với phân tích định lượng, tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để xác định tính dừng của dữ liệu, sau đó áp dụng hồi quy POLS, FEM và REM để tìm ra mô hình tối ưu Kết quả hồi quy được kiểm định về tự tương quan, phương sai thay đổi và đa cộng tuyến Cuối cùng, tác giả sử dụng mô hình ước lượng GLS để khắc phục các vấn đề và phân tích tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với ngân sách nhà nước của các quốc gia này.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn thu thập dữ liệu theo năm trong giai đoạn từ năm
1991 đến năm 2017 của 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á: Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Mông Cổ.
Dữ liệu cho các biến trong mô hình nghiên cứu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới và trang web chỉ số các biến kinh tế www.ieconomics.com.
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của các thành phần trong cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á.
Luận văn này dựa trên các nền tảng lý thuyết và kết quả ước lượng GLS để đề xuất các chính sách nhằm đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước cho 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á.
Kết cấu đề tài
Đề tài gồm có các phần sau:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đế cân đối ngân sách nhà nước và các nghiên cứu trước đây
Chương này trình bày các nghiên cứu về cán cân thanh toán quốc tế và cân đối ngân sách nhà nước, đồng thời phân tích tác động của cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến ngân sách nhà nước thông qua các nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Chương trình trình bày phương pháp và mô hình nghiên cứu, giới thiệu các biến và giả định sử dụng, cùng với quy trình thực hiện hồi quy, kiểm định mô hình và kết quả ước lượng.
Chương 4: Phân tích định tính và định lượng về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước
Chương này trình bày kết quả phân tích định tính về thực trạng ngân sách nhà nước, cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Đồng thời, chúng tôi cũng trình bày kết quả hồi quy ước lượng mô hình nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước.
Chương 5: Kết luận, hàm ý và kiến nghị về chính sách
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đề xuất các kiến nghị về chính sách nhằm đảm bảo sự cân đối ngân sách nhà nước cho 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Cơ sở lý thuyết
2.1.1.1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước là quá trình điều chỉnh thu chi của chính phủ, phản ánh sự khác biệt giữa tổng số thu và chi tiêu Ngân sách nhà nước sẽ thâm hụt khi chi tiêu công vượt quá số thu thuế và có thặng dư khi số thu thuế lớn hơn chi tiêu Mối quan hệ giữa ngân sách nhà nước và chi tiêu công là ngược chiều; tăng chi tiêu công khi số thu thuế không đổi sẽ làm xấu đi ngân sách Ngược lại, khi số thu thuế tăng mà chi tiêu công không thay đổi, ngân sách nhà nước sẽ được cải thiện Những chính phủ có số thu bất ổn thường gặp thâm hụt ngân sách lớn hơn, trong khi việc kiểm soát chi tiêu tốt có thể giúp giảm thiểu thâm hụt ngân sách.
2.1.1.2 Tài trợ thâm hụt ngân sách
Theo Govil (2014), để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, chính phủ có thể thực hiện các hình thức vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm ngân hàng trung ương, các tổ chức tài chính nước ngoài, ngân hàng thương mại và khu vực phi ngân hàng trong nước.
Vay nợ ngân hàng trung ương được thực hiện bằng việc tăng cung tiền (Govil,
Việc tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách chỉ nên được thực hiện khi chính phủ thực sự cần phát hành tiền để lưu hành (Ghosh, 2002) Theo Boariu & Bilan (2007), phương trình sức mua tiền tệ của Irving Fisher được biểu diễn qua các yếu tố: M là lượng tiền tệ đang lưu hành, V là vòng quay của tiền, P là mức giá hàng hóa, và T là khối lượng giao dịch.
Khi cung tiền tăng mà khối lượng hàng hóa và dịch vụ không thay đổi, mức giá sẽ gia tăng, dẫn đến giảm thu nhập thực của cá nhân và tổ chức Việc tăng cung tiền nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến phân phối thu nhập theo mục tiêu của chính phủ, với số tiền bổ sung được sử dụng cho mua sắm hàng hóa, dịch vụ và chi tiêu công Mặc dù tăng cung tiền có thể làm tăng giá, nhưng tác động lâu dài đến lạm phát phụ thuộc vào cách chính phủ sử dụng nguồn lực.
Việc in thêm tiền có thể được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư, dẫn đến tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ Khi lượng tiền lưu thông tăng lên, số lượng giao dịch cũng sẽ tăng theo Tuy nhiên, trong dài hạn, nếu tiền in thêm chỉ được dùng cho chi tiêu tiêu dùng mà không làm tăng GDP, điều này có thể dẫn đến lạm phát.
Tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước thông qua vay nợ, bao gồm vay từ ngân hàng thương mại và các tổ chức phi ngân hàng, có thể dẫn đến hiện tượng lấn át đầu tư, lạm phát và gánh nặng nợ trong tương lai Chính phủ mở rộng chi tiêu bằng vay nợ sẽ làm tăng nợ công, kéo theo việc tăng thuế trong tương lai để trả lãi suất và gốc Theo mô hình Keynes, khi chi tiêu chính phủ tăng lên, sản lượng và thu nhập cũng sẽ tăng, từ đó giảm thâm hụt ngân sách Tuy nhiên, việc tài trợ thâm hụt bằng nợ có thể gây ra hiệu ứng chèn lấn, khi tăng cầu vay làm tăng lãi suất và giảm đầu tư tư nhân Hơn nữa, nếu thâm hụt phát sinh do giảm thuế, lãi suất cũng sẽ tăng và ảnh hưởng tiêu cực đến tiết kiệm và đầu tư tư nhân Việc vay nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt cũng làm tăng nợ nước ngoài và ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế Ngoài ra, thâm hụt ngân sách có thể được tài trợ bằng cách tăng thuế theo lý thuyết đường cong Laffer.
B Laffer đưa ra năm 1974 Lý thuyết cho rằng những thay đổi về thuế suất có tác động về mặt số học và kinh tế đến số thu thuế Về mặt số học, khi thuế suất hạ xuống sẽ làm giảm số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước tăng và ngược lại, khi thuế suất tăng làm tăng số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước giảm Về mặt kinh tế, theo Laffer (2004) việc giảm thuế suất tác động tích cực đến việc làm và sản lượng, do đó tạo ra động lực để tăng cường các hoạt động kinh tế Nếu thuế suất tăng sẽ không khuyến khích những hoạt động kinh tế bị đánh thuế Vì vậy, Mitchell
Năm 2010, các nhà hoạch định chính sách được khuyến cáo nên đặt mức thuế nhằm tối đa hóa tăng trưởng thay vì chỉ tối đa hóa số thu Đường cong Laffer không chỉ ra rõ ràng rằng việc cắt giảm thuế sẽ dẫn đến tăng hay giảm số thu thuế Sự thay đổi về thuế suất ảnh hưởng đến số thu thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm hệ thống thuế, thời gian áp dụng, khả năng tiếp cận các hoạt động kinh tế ngầm, thuế suất hiện tại, tỷ lệ lỗ hổng pháp lý và năng suất của nền kinh tế (Okafor và các cộng sự).
Lý thuyết đường cong Laffer, được mở rộng bởi Trostel (1995) trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển, chỉ ra rằng thâm hụt tài chính trì hoãn thuế hiện tại, dẫn đến việc tăng thuế suất trong tương lai Khi thuế dựa vào thu nhập, việc tăng thuế sẽ làm giảm tỷ lệ tiền lương ròng trong tương lai, trong khi giảm thuế suất hiện hành sẽ tăng tỷ lệ tiền lương ròng hiện tại Điều này có tác động đến đầu tư vốn nhân lực, từ đó ảnh hưởng đến tiêu dùng, việc làm, đầu tư vốn, tổng sản lượng và tỷ lệ tiền lương ròng (Okafor và các cộng sự, 2017).
2.1.2 Cán cân thanh toán quốc tế (BOP)
Cán cân thanh toán quốc tế, theo định nghĩa của IMF (2009), là báo cáo thống kê các giao dịch kinh tế giữa một quốc gia và các quốc gia khác trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc một quý Báo cáo này được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán kép, trong đó mỗi giao dịch được ghi nhận bằng hai bút toán: bút toán nợ và bút toán có.
2.1.2.2 Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế
Theo công ước quốc tế, cán cân thanh toán quốc tế bao gồm các thành phần chính như tài khoản vãng lai, tài khoản vốn, tài khoản tài chính, dự trữ ngoại hối và sai số thống kê.
Theo IMF (2009), tài khoản vãng lai phản ánh dòng chảy hàng hóa, dịch vụ, thu nhập sơ cấp và thứ cấp giữa một quốc gia và các nước khác Cân bằng tài khoản vãng lai được xác định bởi sự chênh lệch giữa tổng xuất khẩu, thu nhập phải thu và tổng nhập khẩu, thu nhập phải trả Tài khoản này bao gồm cán cân mậu dịch, xuất nhập khẩu dịch vụ, tiền lãi, lợi nhuận và cổ tức từ đầu tư nước ngoài, cùng với tiền lương của lao động ở nước ngoài và các khoản biếu tặng từ người di cư (Copeland, 2005).
Tài khoản vốn và tài khoản tài chính là những tài khoản quan trọng ghi nhận các dòng vốn ảnh hưởng đến tài sản và nợ nước ngoài của quốc gia Tài khoản vốn chủ yếu phản ánh các giao dịch mua bán tài sản cố định, trong khi tài khoản tài chính bao gồm các thành phần như đầu tư trực tiếp nước ngoài thuần, đầu tư gián tiếp nước ngoài thuần, và các hình thức đầu tư khác như cho vay, tín dụng thương mại, và tài sản dự trữ.
Dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương bao gồm vàng và các tài sản khác, những tài sản này có khả năng giao dịch dễ dàng trên thị trường tài chính quốc tế.
Theo IMF (2009), dự trữ ngoại hối là tài sản bằng ngoại tệ do các cơ quan tiền tệ quản lý, nhằm trực tiếp tài trợ cho sự mất cân bằng thanh toán và gián tiếp điều chỉnh mức độ cân bằng thông qua can thiệp trên thị trường ngoại hối để ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.
Sai số thống kê bao gồm giao dịch không thống kê được hoặc bị bỏ sót vì các hoạt động kinh tế ngầm, phi chính thức (Copeland, 2005).
2.1.2.3 Các yếu tố tác động đến cán cân thanh toán quốc tế
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn đã thực hiện phân tích định tính thông qua thống kê mô tả và phân tích tổng hợp nhằm đánh giá thực trạng cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á.
Bài viết phân tích tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á thông qua các kỹ thuật kinh tế lượng Mô hình hồi quy không đổi theo thời gian, hay còn gọi là Pool OLS, là kỹ thuật đơn giản nhất nhưng thường không hiệu quả Để khắc phục, các mô hình tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM) được sử dụng phổ biến Tuy nhiên, để vượt qua những nhược điểm của FEM và REM, phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được lựa chọn làm phương pháp luận chính Phần này sẽ tổng quát về các phương pháp Pool OLS, FEM, REM và mô hình GLS, cùng với các bước thực hiện hồi quy cụ thể.
Phương pháp Pool OLS được áp dụng cho dữ liệu có hệ số không đổi theo thời gian và cá nhân, giả định rằng giá trị tung độ gốc và hệ số độ dốc của biến giải thích là giống nhau ở tất cả các quốc gia trong mẫu Tuy nhiên, mô hình OLS có nhược điểm là dễ dẫn đến hiện tượng tự tương quan do hệ số Durbin-Watson thấp.
Mô hình tác động cố định (FEM) được sử dụng để phân tích tác động của các biến số thay đổi theo thời gian, giúp hiểu mối quan hệ giữa dự báo và các biến kết quả trong các thực thể như quốc gia, con người hay công ty Mỗi thực thể có những đặc điểm riêng có thể ảnh hưởng đến các biến dự đoán, và FEM giả định rằng các đặc điểm này có thể làm chệch các biến kết quả, do đó cần được kiểm soát Mô hình này loại bỏ ảnh hưởng của những đặc điểm không thay đổi theo thời gian, cho phép đánh giá hiệu quả thuần của các dự báo Một giả định quan trọng của FEM là những đặc điểm cá nhân không thay đổi theo thời gian và không tương quan với các đặc điểm khác Tuy nhiên, FEM có nhược điểm là dễ bị hiện tượng đa cộng tuyến khi có nhiều biến trong mô hình.
Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) giả định rằng sự khác biệt giữa các thực thể là ngẫu nhiên và không tương quan với các biến dự báo trong mô hình (Gujarati, 2011) Theo Greene (2008), điểm khác biệt giữa mô hình tác động cố định (FEM) và REM nằm ở việc sự biến động giữa các quan sát chéo có tương quan với các biến hồi quy trong mô hình Nếu sự khác biệt giữa các thực thể ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, thì nên áp dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên Một trong những lợi thế của REM là khả năng bao gồm các biến số bất biến theo thời gian.
Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát GLS (Generalized least squares model) được phát triển bởi Alexander Aitken vào năm 1934 và thường được sử dụng trong kinh tế lượng để ước lượng các tham số không xác định trong mô hình hồi quy tuyến tính, đồng thời khắc phục hiện tượng tự tương quan khi thực hiện hồi quy bằng các phương pháp như OLS, FEM, REM (Gujarati, 2011) Phương pháp này mang lại ước lượng không chệch, vững, hiệu quả và tiệm cận (Baltagi, 2008) Một trường hợp đặc biệt của GLS là bình phương nhỏ nhất có trọng số WLS (weighted least squares), áp dụng khi các biến trong mẫu không tương đồng nhưng không có sự tương quan giữa các biến quan sát Phương pháp GLS còn có một biến thể khác là bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS (Feasible generalized least squares), bao gồm hai bước: ước lượng bằng OLS và sử dụng phần dư để xây dựng ma trận hiệp phương sai, từ đó thực hiện hồi quy theo GLS Đối với mẫu lớn, FGLS thường hiệu quả hơn OLS, nhưng với mẫu nhỏ, ước lượng FGLS có thể không hiệu quả bằng OLS (Kuan, 2004).
Dữ liệu
Luận văn này phân tích số liệu từ 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka và Mông Cổ, trong giai đoạn 1991-2017 Tất cả các quốc gia này đều thực hiện chính sách định hướng thị trường với các biện pháp như tự do hoá thương mại và thả nổi tỷ giá hối đoái, dẫn đến tốc độ phát triển kinh tế nhanh và đồng đều, cũng như sự gia tăng dân số và tăng trưởng GDP bình quân đầu người không có sự chênh lệch lớn Hơn nữa, xu hướng tác động của các yếu tố trong cán cân thanh toán quốc tế đến ngân sách của các quốc gia này tương đối tương đồng Dữ liệu được thu thập từ Wordbank và các chỉ số kinh tế quốc tế, và bảng 3.1 sẽ cung cấp thông tin chi tiết về nguồn dữ liệu.
Bảng 3.1 Nguồn thu thập số liệu
Biến Tên biến Nguồn số liệu
BB/GDP (%) Cán cân ngân sách/Tổng thu nhập quốc nội www.ieconomics.com
CA/GDP (%) Cán cân tài khoản vãng lai/Tổng thu nhập quốc nội Wordbank
FDI/GDP (%) Đấu tư trực tiếp nước ngoài/Tổng sản phẩm quốc nội Được tính toán dựa trên số liệu của Wordbank
INF (%) Tỷ lệ lạm phát Wordbank
EX (Nội tệ/USD) Tỷ giá hối đoái Wordbank
GDP (USD) Tổng thu nhập quốc nội Wordbank
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên số liệu hàng năm của 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, luận văn tiến hành áp dụng mô hình hồi quy Pool OLS, FEM, REM, và GLS để phân tích tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước Nghiên cứu dựa trên mô hình hồi quy dữ liệu bảng được đề xuất bởi Anoruo & Ramchander (1998).
(BB/GDP)it =β1 + β2i(CA/GDP)it +β3i (FDI/GDP)it +β4iINFit +β4iEXit + β4iGDPit +ɛ t (3.1)
Trong bài viết này, BB/GDP đại diện cho cân đối ngân sách nhà nước trên tổng sản phẩm quốc nội, CA/GDP thể hiện cán cân tài khoản vãng lai trên tổng sản phẩm quốc nội, và FDI/GDP chỉ ra đầu tư trực tiếp nước ngoài trên tổng sản phẩm quốc nội Biến EX là tỷ giá hối đoái, trong khi GDP là tổng sản phẩm quốc nội Các chỉ số i và t lần lượt biểu thị cho quốc gia và thời gian, còn ɛ là sai số ngẫu nhiên của mô hình.
Giới thiệu các biến
Để loại trừ xu hướng gia tăng thâm hụt do mức giá và tăng trưởng kinh tế, chuỗi thâm hụt danh nghĩa được tính dựa trên tổng sản phẩm quốc nội (Xie & Chen, 2014) Luận văn tập trung vào tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế, như cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đến cân đối ngân sách, đồng thời sử dụng các biến kiểm soát như tỷ giá hối đoái (EX), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và lạm phát (INF) để đảm bảo kết quả không bị sai lệch.
Lạm phát có thể ảnh hưởng đến ngân sách của chính phủ thông qua việc tăng thuế suất và khung thuế, cũng như việc điều chỉnh chỉ số giá cho các khoản thu chi Ngoài ra, lạm phát còn tác động đến cân đối ngân sách khi chính phủ phải điều chỉnh chính sách nhằm đối phó với lạm phát cao, điều này có thể làm giảm khả năng cạnh tranh và tạo áp lực lên tỷ giá cố định, đặc biệt đối với các quốc gia tham gia thỏa thuận tỷ giá hối đoái.
Lạm phát có thể làm tăng lãi suất dài hạn, ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các chính phủ cũng có thể sử dụng lạm phát để giảm giá trị thực của nợ chính phủ danh nghĩa Do đó, tác động tổng thể của lạm phát đối với ngân sách nhà nước vẫn chưa rõ ràng.
Tỷ giá hối đoái (Nội tệ/USD) có ảnh hưởng đáng kể đến cân đối ngân sách của một quốc gia thông qua tác động đến xuất nhập khẩu Sự gia tăng của tỷ giá hối đoái cũng dẫn đến việc tăng nợ công, từ đó tác động tiêu cực đến ngân sách Để đảm bảo tính chính xác khi thực hiện hồi quy, biến tỷ giá hối đoái sẽ được chuyển đổi sang logarit Nepe.
Tăng trưởng GDP và tổng sản phẩm quốc nội (USD) là mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế vĩ mô Chính phủ có thể áp dụng chính sách tài khoá mở rộng hoặc thắt chặt để tác động đến tổng cầu, từ đó ảnh hưởng đến thu thuế và chi tiêu công Những chính sách này có tác động trực tiếp đến cân đối ngân sách nhà nước (Tujula, Mika; Guido, 2004) Để đảm bảo tính chính xác trong hồi quy, biến tỷ giá hối đoái sẽ được chuyển đổi thành logarit Nepe.
Các bước tiến hành
Kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị của Levin-Lin-Chu Với giả thiết H0: Dữ liệu bảng có nghiệm đơn vị
H1: Dữ liệu bảng ổn định
Nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, thì dữ liệu sẽ có tính dừng
Hồi quy Pool OLS, FEM, REM Sau khi thực hiện kiểm định tính dừng của dữ liệu
Bài viết này phân tích 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á thông qua mô hình hồi quy 3.1, sử dụng các ước lượng Pool OLS, FEM và REM Để đánh giá hiệu quả của kỹ thuật Pooled OLS và REM, luận văn áp dụng kiểm định LM test với các giả thiết phù hợp.
Nếu giả thiết H0 được chấp nhận, mô hình Pooled OLS sẽ cho kết quả hiệu quả hơn Ngược lại, nếu không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0, mô hình REM sẽ là lựa chọn tối ưu Để so sánh tính hiệu quả giữa hai mô hình FEM và REM, luận văn áp dụng kiểm định Hausman nhằm xác định xem có hiện tượng tự tương quan giữa ɛ i và uit hay không Kiểm định Hausman được thực hiện với các giả thiết cụ thể để đánh giá tính chính xác của các mô hình.
H0: ɛ i và biến độc lập không tương quan
H1: ɛ i và biến độc lập có tương quan
Nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, FEM sẽ hiệu quả hơn, và ngược lại, nếu không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0, REM sẽ hiệu quả hơn
Bài khóa luận sẽ lựa chọn mô hình hiệu quả nhất dựa trên kết quả kiểm định LM test và kiểm định Hausman Tiếp theo, tác giả sẽ tiến hành kiểm định các vấn đề tiềm ẩn của mô hình như đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan.
Đa cộng tuyến : là hiện tượng mà các biến giải thích trong mô hình có sự tương quan với nhau
Phương sai thay đổi là hiện tượng mà phương sai của biến phụ thuộc không đồng nhất theo từng giá trị của biến độc lập, dẫn đến ước lượng không hiệu quả Để kiểm tra sự xuất hiện của phương sai thay đổi trong kết quả ước lượng, các kiểm định như White, Park và Breusch-Pagan thường được áp dụng.
Tự tương quan là mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi quan sát theo thời gian hoặc không gian Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan, có thể sử dụng các phương pháp như kiểm định Breusch – Godfrey, kiểm định Durbin-Watson và phương pháp đồ thị.
Hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được thực hiện sau khi kiểm định các hiện tượng như đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan Phương pháp này giúp cải thiện độ chính xác của ước lượng trong mô hình hồi quy.
Kết luận
Chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của luận văn Để nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước, tác giả luận văn thu thập số liệu hàng năm của 10 quốc gia đang phát triển tại châu Á trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2017 Luận văn sử dụng phương pháp định tính và định lượng bằng hồi quy Pool OLS, FEM, REM, GLS theo mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là cân đối ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (BB/GDP), biến độc lập là cán cân tài khoản vãng lai trên tổng sản phẩm quốc nội (CA/GDP), đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trên tổng sản phẩm quốc nội (FDI/GDP) Tác giả sử dụng biến tỷ giá hối đoái (EX), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) làm các biến kiểm soát của mô hình hồi quy.