TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN BỘ MÔN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY MÃ HỌC PHẦN.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
MÃ HỌC PHẦN: 23105EFIN2811
GV HƯỚNG DẪN:
NHÓM: 10
Hà Nội, tháng 02 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
I.Lý luận cơ bản về thu ngân sách nhà nước 2
1.1.Khái niệm Thu ngân sách nhà nước 2
1.2.Đặc điểm 2
1.3.Phân loại 2
1 3.1 Căn cứ vào nguồn phát sinh các khoản thu 2
1.3.2.Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế 2
1.3.3.Căn cứ vào yêu cầu động viên vốn vào ngân sách Nhà nước 3
1.4.Nguyên tắc 3
1.4.1.Nguyên tắc ổn định lâu dài 3
1.4.2.Nguyên tắc đảm bảo công bằng 3
1.4.3.Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn 4
1.4.4.Nguyên tắc giản đơn 4
1.4.5.Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế 4
1.5.Các yếu tố ảnh hưởng 4
1.5.1 GDP bình quân đầu người 4
1.5.2 Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế 4
1.5.3 Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên 5
1.5.4 Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước 5
1.5.5 Tổ chức bộ máy thu nộp 5
II.Thực trạng thu Ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay 5
2.1.Số liệu các năm 6
2.1.1 Năm 2018 6
2.1.2.Năm 2019 7
2.1.3.Năm 2020 9
2.2.So sánh các năm 11
2.2.1 So sánh năm 2018-2019 11
2.2.2 So sánh năm 2019-2020 12
2.3 Đánh giá hoạt động thu ngân sách nhà nước trong thời gian gần đây: 14
2.3.1 Thành tựu 14
2.3.2 Hạn chế 14
2.3.3 Nguyên nhân 14
III.Giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước 15
3.1.Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính 15
3.2.Nâng cao chất lượng công tác dự báo thu NSNN 15
3.3.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 15
3.4.Chống thất thu ngân sách 16
3.5.Phân bổ chi ngân sách tập trung 16
Trang 3I.Lý luận cơ bản về thu ngân sách nhà nước
1.1.Khái niệm Thu ngân sách nhà nước
“Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần
nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.”
1.2.Đặc điểm
- Thu NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước mà chủ yếu là quyền lực chính trị
- Thu NSNN được xác lập trên cơ sở luật định vừa mang tính chất bắt buộc(thuế, phí, lệ phí), vừa mang tính chất tự nguyện (các khoản đóng góp tựnguyện của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước)
- Nguồn tài chính chủ yếu của thu NSNN là thu nhập của các thể nhân và pháp nhân, được chuyển giao chủ yếu dưới hình thức bắt buộc cho Nhànước
- Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như: giá cả, thu nhập, lãi suất… Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự gia tăng, giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết vĩ mô của công cụ thu NSNN
- Thu NSNN gắn liền với hoạt động của Nhà nước: Nhà nước đề ra mục tiêu thu NSNN trong một thời kỳ nhất định, ban hành chính sách thu NSNN.Đồng thời, Nhà nước tổ chức bộ máy thu
và đảm bảo điều kiện cho công tác thu NSNN.Như vậy, thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính Quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước nhằm giải quyết hài hòa các mặt lợi ích kinh tế Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước, cũng như thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do cộng đồng giao phó
1.3.Phân loại
1 3.1 Căn cứ vào nguồn phát sinh các khoản thu
Thu ngân sách Nhà nước được chia thành thu trong nước và thu từ nước ngoài. Trong đó:
- Nguồn thu từ trong nước chiếm tỉ trọng lớn và đóng vai trò rất quan trọng đối với tổng thu ngân sách Nhà nước.
- Thu từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng tuy nhiên chiếm tỉ trọng không lớn và không phải quyết định
1.3.2.Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế
Thu ngân sách Nhà nước bao gồm:
- Thu thường xuyên là các khoản thu phát sinh tương đối đều đặn, ổn định về mặt thời gian và số lượng gồm thuế, phí, lệ phí Trong đó:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức
độ và thời hạn được pháp luật qui định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Trang 4 Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ (được qui định trong danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh về phí và lệ phí)
Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lí Nhà nước (được qui định trong danh mục
lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh về phí và lệ phí)
- Thu không thường xuyên là những khoản thu không ổn định về mặt thời gian phát sinh cũng như số lượng tiền thu được, bao gồm:
Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước
Thu từ hoạt động sự nghiệp
Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
Thu từ viện trợ nước ngoài, từ vay trong nước và ngoài nước và các khoản thu khác
1.3.3.Căn cứ vào yêu cầu động viên vốn vào ngân sách Nhà nước
(1) Thu trong cân đối ngân sách Nhà nước
Bao gồm các khoản thu:
- Thuế, phí, lệ phí
- Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, bao gồm: thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả lãi và gốc)
- Thu từ hoạt động sự nghiệp
- Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước;
- Các khoản thu khác theo luật định
- Trong các khoản thu nói trên thì thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng thu của ngân sách Nhà nước
(2) Thu bù đắp thiếu hụt
Khi số thu ngân sách Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội, vay từ nước ngoài…
1.4.Nguyên tắc
1.4.1.Nguyên tắc ổn định lâu dài
Trong điều kiện hoạt động kinh tế bìnhthường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà nước và tạo điều kiện để kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh
1.4.2.Nguyên tắc đảm bảo công bằng
Thiết lập hệ thống thuế phải có điểm công bằng đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế Do đó việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế Để đảm bảo được nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu
Trang 51.4.3.Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn
Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng,
cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế Các từ ngữ được sử dụng của văn bản phải thông dụng, dễ hiểu không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau Đảm bảo nguyên tắc này giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tình trạng lách luật, trốn lậu thuế
1.4.4.Nguyên tắc giản đơn
Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêutrong một sắc thuế Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thu thuế
1.4.5.Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế
Theo nguyên tắc này thiết lập hệ thống thuế phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế
về đối tượng tính thuế,phương thức thu nộp thuế suất Đồng thời phải thực hiện đầy đủ các cam kết mang tính chất quốc tế
1.5.Các yếu tố ảnh hưởng
1.5.1. GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầu người là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến thu ngân sách của một quốc gia GDP (Gross Domestic Product) tức tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
GDP phản ánh mức độ phát triển nền kinh tế và phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu
tư của một nước Mức độ phát triển nền kinh tế hàng hóa tiền tệ luôn là nhân tố quan trọng nhất đối với sự phát triển của mọi khâu tài chính GDP bình quân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào NSNN mà thoát ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế
1.5.2 Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả năng tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh
tế càng lớn, từ đó đưa tới khả năng huy động cho NSNN Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động của Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế
Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ suất doanh lợi càng lớn (tức thu NS càng lớn hơn chi NS) làm cho ngồn tài chính càng lớn, nâng cao tỷ suất thu cho NSNN và ngược lại, khi kinh tế chậm phát triển, tỷ suất doanh lợi thấp làm giảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 61.5.3 Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ và khoáng sản) là nhân
tố ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách nhà nước
Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho Ngân sách Nhà nước Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh Với cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn
1.5.4. Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước
Nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước là mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước
Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô
tổ chức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế –
xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu của NSNN vượt quá khả năng thu, nên các Chính phủ thường phải vay nợ để bù đắp bội chi
Nợ công có phạm vi rộng hơn nợ nước ngoài Nó bao gồm nợ của chính phủ và toàn bộ nợ của doanh nghiệp quốc doanh, gồm cả nợ nước ngoài lẫn nợ trong nước, cũng như nợ của doanh nghiệp tư nhân mà nhà nước bảo lãnh Việc bao gồm nợ của doanh nghiệp quốc doanh vào
nợ công là dựa trên tiêu chuẩn quốc tế đã được chấp nhận rộng rãi với lý do là nhà nước không thể hay khó lòng về mặt chính trị xóa trách nhiệm đối với nợ của các doanh nghiệp do chính chính phủ dựng lên
1.5.5. Tổ chức bộ máy thu nộp
Nhân tố tiếp theo có tác động trực tiếp đến thu ngân sách nhà nước là tổ chức bộ máy thu nộp
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này Nếu
tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN
Hiện nay, thu NSNN Việt Nam đang đứng trước vấn đề thâm hụt trầm trọng, nhiều yếu tố giảm thu NSNN đang xuất hiện làm cho khả năng mất cân đối thu chi NSNN cả năm trở thành thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế
II.Thực trạng thu Ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
2.1.Số liệu các năm
2.1.1 Năm 2018
Trang 7Thu nội địa 1,155,293
Thu từ dầu thô 66,048
Thu cân đối từ xuất, nhập khẩu 202,540
Thu viện trợ 7,780
Thu NSNN năm 2018 (tỷ đồng)
Quyết toán thu NSNN đạt 1.431.662 tỷ đồng, tăng 112.462 tỷ đồng (+8,5%) so dự toán, chủ yếu
do tăng thu từ tiền sử dụng đất, thuế xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô Trong đó:
Thu nội địa: quyết toán đạt 1.155.293 tỷ đồng, tăng 55.993 tỷ đồng (+5,1%) so dự toán, chủ yếu nhờ tăng thu tiền sử dụng đất (61.915 tỷ đồng); cơ cấu thu nội địa tiếp tục tăng
so với các năm trước (năm 2016 là 80,0% tổng thu NSNN, năm 2017 là 80,3%, năm
2018 là 80,7%) Năm 2018, một số ngành có đóng góp lớn cho NSNN như: sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước, công nghiệp chế tạo, công nghiệp thực phẩm,… tăng trưởng thấp hơn
dự kiến nên số thu ở 3 khu vực kinh tế không đạt dự toán, trong đó thu từ doanh nghiệp nhà nước giảm 7,9%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 14,6%; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giảm 3,8% so với dự toán
Cơ quan thuế đã nâng cao năng lực, đổi mới phương pháp kiểm tra, tổ chức triển khai hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin,
kê khai và nộp thuế điện tử, cải cách thủ tục hành chính, góp phần hạn chế tình trạng trốn lậu thuế; đồng thời chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tích cực triển khai nhiều giải pháp kiểm tra, chống chuyển giá, tăng cường quản lý thu, quản
lý sử dụng hóa đơn, kiểm soát kê khai, quyết toán thuế, tăng cường kiểm tra các dạng sai phạm thường xảy ra, kiểm tra hoàn thuế giá trị gia tăng, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và đôn đốc xử lý nợ thuế, nhất là những doanh nghiệp lớn, xử phạt các doanh nghiệp chây ỳ chậm nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế; tỷ trọng nợ thuế giảm so với năm trước Trong năm 2018, cơ quan thuế đã thực hiện thanh tra, kiểm tra 95.936 cuộc, tăng thu nộp NSNN 18.998 tỷ đồng
Thu từ dầu thô: quyết toán đạt 66.048 tỷ đồng, tăng 30.148 tỷ đồng (+84%) so với dự toán; chủ yếu do giá dầu thanh toán bình quân đạt 74,6 USD/thùng, tăng 24,6 USD/thùng
Trang 8so với giá xây dựng dự toán (50 USD/thùng) và sản lượng thanh toán đạt cao hơn dự toán
là 0,7 triệu tấn
Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: quyết toán đạt 202.540 tỷ đồng, vượt 23.540 tỷ đồng (+13,2%) so với dự toán Trong năm 2018 thực hiện giảm thuế suất theo cam kết với các thị trường Hàn Quốc, ASEAN làm giảm thu mạnh, nhờ đổi mới cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu hợp lý, nên giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng 11,5% so với năm 2017 và tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra thuế, tăng thu nợ đọng thuế, nợ thuế
đã giảm so với năm trước, góp phần tăng thu NSNN Trong năm đã hoàn thuế giá trị gia tăng cho các đơn vị kịp thời, đầy đủ theo đúng chế độ quy định là 111.783 tỷ đồng
Thu viện trợ không hoàn lại: quyết toán đạt 7.780 tỷ đồng, tăng 2.780 tỷ đồng (+55,6%)
so với dự toán
2.1.2.Năm 2019
Thu nội địa 1,277,988
Thu từ dầu thô 56,251
Thu cân đối từ xuất, nhập khẩu 214,239
Thu viện trợ 5,133
Thu NSNN năm 2019 (tỷ đồng)
Quyết toán thu NSNN đạt 1.553.612 tỷ đồng, tăng 142.312 tỷ đồng (+10,1%) so dự toán, chủ yếu do tăng thu từ các khoản thu về nhà, đất, thu khác ngân sách, thuế xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô Trong đó:
Thu nội địa: quyết toán đạt 1.277.988 tỷ đồng, tăng 104.488 tỷ đồng (+8,9%) so dự toán, chủ yếu nhờ tăng thu về nhà, đất (78.181 tỷ đồng), tăng thu từ thu hồi vốn, thu cổ tức, lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế, chênh lệch thu, chi của Ngân hàng nhà nước (24.835 tỷ đồng); cơ cấu thu nội địa năm 2019 tiếp tục có chuyển biến, bền vững hơn, tỷ trọng thu nội địa tăng so với các năm trước (năm 2016 là 80,0% tổng thu NSNN, năm 2017 là 80,3%, năm 2018 là 80,7%, năm 2019 là 82,2%), gần sát với mục tiêu đặt ra cho cả giai đoạn 2016-2020 (mục tiêu là
Trang 984-85%) Tuy nhiên, số thu ở 3 khu vực kinh tế không đạt dự toán được giao (thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 92,9%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 99,3%; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 98,6% dự toán), bởi các lý do sau: (i) một số ngành có đóng góp số thu lớn cho NSNN như nhóm ngành khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ôtô trong nước, sản xuất linh kiện điện thoại,… tăng trưởng thấp hơn dự kiến, giảm so với các năm trước;
(ii) số doanh nghiệp mới thành lập tăng song chủ yếu là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ được hưởng chính sách ưu đãi thuế theo quy định của luật nên số thuế đóng góp cho NSNN chưa đạt như khi xây dựng dự toán;
(iii) số doanh nghiệp chấm dứt kinh doanh, giải thể, tạm ngừng hoạt động ở mức cao,
Cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp quản lý thu, tăng cường chống thất thu; tăng cường công tác quản lý kê khai, kế toán thuế; thực hiện quản lý, kiểm soát chặt chẽ số chi hoàn thuế giá trị gia tăng, đảm bảo việc hoàn thuế đúng đối tượng, theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thu nợ thuế, tích cực thu hồi nợ đọng và tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế; tăng cường tuyên truyền, đối thoại, giải đáp vướng mắc, hỗ trợ người nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản
lý thuế nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cải cách chính sách, sửa đổi, bổ sung quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế và đặc biệt là đáp ứng yêu cầu cấp bách về cải cách thủ tục hành chính thuế Trong năm 2019, cơ quan Thuế đã thực hiện 96.243 cuộc thanh tra, kiểm tra, đạt 109,72% kế hoạch, tăng thu nộp NSNN 18.876 tỷ đồng; kiểm tra được 517.554 hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế
Thu từ dầu thô: quyết toán 56.251 tỷ đồng, tăng 26,1% (11.651 tỷ đồng) so với dự toán; chủ yếu do giá dầu thanh toán bình quân đạt 67,5 USD/thùng, tăng 2,5 USD/thùng so với giá xây dựng dự toán (65 USD/thùng); sản lượng thanh toán đạt 11,04 triệu tấn, cao hơn dự toán 0,61 triệu tấn.
Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: quyết toán 214.239 tỷ đồng, tăng 13,2% (25.039 tỷ đồng) so với dự toán =và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tăng thu
nợ đọng thuế, nợ thuế đã giảm so với năm trước, góp phần tăng thu NSNN Số hoàn thuế giá trị gia tăng theo thực tế phát sinh là 133.043 tỷ đồng, tăng 21.743 tỷ đồng so với dự toán, được thực hiện theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng
Thu viện trợ không hoàn lại: quyết toán đạt 5.133 tỷ đồng, tăng 1.133 tỷ đồng (+28,3%) so với dự toán
2.1.3.Năm 2020
Trang 10Thu nội địa 1,293,728
Thu từ dầu thô 34,598
Thu cân đối từ xuất, nhập khẩu
177,444
Thu viện trợ 4,808
Thu NSNN năm 2020 (tỶ đồng)
Quyết toán thu NSNN đạt 1.510.579 tỷ đồng, giảm 28.474 tỷ đồng (-1,9%) so với dự toán, chủ yếu do giảm các khoản thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu Trong đó:
Thu nội địa; quyết toán đạt 1.293.728 tỷ đồng, tăng 2.951 tỷ đồng (+0,2%) so với dự toán, chủ yếu là tăng từ các khoản thu về nhà đất (87.970 tỷ đồng), thu từ hoạt động xổ số kiến thiết (5.226 tỷ đồng) và thu khác ngân sách (22.229 tỷ đồng); tỷ trọng thu nội địa đạt 85,6% tổng thu NSNN, tăng so với các năm trước Từ cuối Quý III/2020, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh, đồng thời các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân ứng phó với dịch Covid-19 đã phát huy tác dụng, kinh tế phục hồi khá, tác động tích cực đến số thu NSNN Tuy nhiên, do ảnh hưởng quá lớn của dịch bệnh, đồng thời trong năm đã thực hiện nhiều giải pháp miễn, giảm, giãn thuế và các khoản thu NSNN nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, người dân chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên có 8/12 khoản thu không đạt dự toán, trong đó thu ngân sách từ 3 khu vực kinh tế không đạt dự toán (khu vực DNNN đạt 83,3%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,4%; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 91,2% dự toán)
Thu dầu thô; quyết toán 34.598 tỷ đồng, giảm 1,7% (602 tỷ đồng) so với dự toán do giá dầu thô thanh toán bình quân đạt 45,7 USD/thùng, giảm 14,3 USD/thùng so với giá dự toán (là 60 USD/thùng); sản lượng thanh toán đạt 9,56 triệu tấn, tăng 540 nghìn tấn so với dự toán
Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: quyết toán 177,444 tỷ đồng, giảm 14,7% (30,556 tỷ đồng) so với dự toán Năm 2020, mặc dù tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 545,4 tỷ USD, tăng 5,35% so với năm 2019, tuy nhiên, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng
có thuế giảm 12,9% so với dự toán (một số mặt hàng nhập khẩu có số thu lớn giảm mạnh như ô tô nguyên chiếc, sắt thép, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, hóa chất ) làm giảm thu ngân sách trong lĩnh vực này so với dự toán