Nhóm ROYAL CREW Tài Chính Công Đề Tài Thực Trạng Thu Ngân Sách Nhà Nước Phần I Lí Luận về thu ngân sách nhà nước Ở Việt Nam, Đứng về phương diện pháp lí, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy[.]
Trang 1Tài Chính Công
Đề
Tài : Thực Trạng Thu Ngân Sách Nhà Nước
Phần I: Lí Luận về thu ngân sách nhà nước
Ở Việt Nam, Đứng về phương diện pháp lí, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Về mặt bản chất, thu NSNN
là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thu NSNN chỉ bao gồm
những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không
bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp
1 Khái niệm : Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình,
nhà nước đã đặt ra
các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp
để hình thành nên quĩ tiền tệ của mình Thực chất, thu ngân sách
nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập
trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ
Trang 2ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.
Đặc Điểm :
+ Nguồn hình thành tài chính được tập trung vào NSNN là
những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Thu NSNN phản ảnh các quan hệ kinh tế này sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữ Nhà nước vàcác chủ thể trong xã hội Sự phân chia đó là một yếu tố tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng kinh tế
- xã hội của nhà nước Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia là kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ
+ Thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ tiền tệ tập trung của Nhà nước
+ Thu NSNN nó gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập
Trang 3+ Thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ
và pháp luật của nhà nước Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu
1.1 Vai Trò:
Như chúng ta đã biết, NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn
bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước Thu NSNN chính là việc tạo lập quĩ NSNN, từ đó NSNN mới có khả năng phân phối và sử dụng quĩ tiền tệ này nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước Có thu thì mới có chi, thu phải tốt thì chi mới có thể tốt, vậy nên có thể khẳng địnhthu NSNN có vai trò đặc biệt quan trọng
1.2 Nội Dung :
+Thu thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật qui định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội,thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa
Trang 4nhà nước với các pháp nhân và thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân phối tài chính.
+Phí và lệ phí
Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tínhđối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lí của phí và lệ phí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn
bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình
Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lí cho các thể nhân và pháp nhân
+ Các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước
Các khoản thu này bao gồm:
Thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn góp thuộc sở hữu nhà nước;
Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của nhà nước;
Thu hồi tiền cho vay của nhà nước
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp
Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ các hoạt động của các cơ
sở sự nghiệp có thu của nhà nước
+ Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước
Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có tính chất phân phối lại, vừa có tác
Trang 5dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồnthu cho ngân sách nhà nước Các nguồn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
+ Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản
Các khoản thu này cũng là một phần thu quan trọng của thu ngân sách nhà nước và được pháp luật qui định
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng :
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước song nhìn chung, có một số nhân tố cơ bản như: GDP bình quân đầu người, tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế,
khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ và khoáng sản), mức độ trang trải các khoản chi phí củaNhà nước và tổ chức bộ máy thu nộp
+ GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầu người là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến thungân sách của một quốc gia
GDP (Gross Domestic Product) tức tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
GDP phản ánh mức độ phát triển nền kinh tế và phản ánh
khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước Mức
Trang 6độ phát triển nền kinh tế hàng hóa tiền tệ luôn là nhân tố quan trọng nhất đối với sự phát triển của mọi khâu tài chính GDP bình quân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào NSNN mà thoát ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế.
Chỉ số tăng trưởng kinh tế GDP của Việt Nam có sự thay đổi theo từng năm từ đó có sự tác động đến thu ngân sách nhà nước
Cụ thể, chỉ số GDP năm 2008 của Việt Nam là 6,23%, năm 2009 giảm xuống 5,3%, năm 2010 tăng lên 6,78%, đến năm 2011 giảm xuống 5,89% và năm 2012 tiếp tục giảm xuống 5,03% Ta
có thể thấy chỉ số GDP đã phản ánh thực trạng nền kinh tế nước
ta trong những năm gần đây, kinh tế suy thoái, thị trường bất ổn,tăng trưởng kinh tế giảm là tình hình chung của kinh tế thế giới.Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP có xu hướng giảm và
dự báo năm 2013 kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn hơn năm trước nhưng nguồn thu ngân sách nhà nước vẫn có xu hướng tăng dầntheo từng năm, năm 2008 đạt 416.783 tỷ đồng, năm 2009 đạt 442.340 tỷ đồng, năm 2010 đạt 558.158 tỷ đồng và năm 2012 đạt 741.500 tỷ đồng Tuy nhiên, mức độ tăng thu ngân sách vẫn không bù đắp được tình trạng bội chi của nền kinh tế
+ Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệuquả của các doanh nghiệp nói riêng Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Trang 7càng lớn sẽ phản ánh khả năng tái tạo và mở rộng các nguồn thunhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó đưa tới khả năng huy động cho NSNN Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao
tỷ suất thu NSNN Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cầncăn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động của Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn
về mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế
Kinh tế Việt Nam trong những năm qua cũng chịu nhiều sức ép quay lại vòng xoáy thứ hai kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính
nổ ra ở Mĩ và lan tỏa, tạo suy giảm kinh tế toàn cầu, tiêu biểu là
từ đầu năm 2012 tới nay:
Tổng chi và thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến
15/10/2012 ước tính đạt 678,6 nghìn tỷ đồng và 523,4 nghìn
tỷ đồng Đều giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái
Tỷ suất doanh lợi nhỏ hơn 1, ngân sách nhà nước thâm hụt
Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ suất doanh lợi càng lớn (tức thu
NS càng lớn hơn chi NS) làm cho ngồn tài chính càng lớn, nâng cao tỷ suất thu cho NSNN và ngược lại, khi kinh tế chậm phát triển, tỷ suất doanh lợi thấp làm giảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước
+ Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ và khoáng sản) là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách nhà nước
Trang 8Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho Ngân sách Nhà nước Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách
sẽ cao và có khả năng tăng nhanh Với cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và
khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn
Dầu thô đóng góp lớn cho NSNN nước ta Ở Việt Nam, tỷ trọng xuất khẩu dầu thô không cao như nhiều nước, song tỷ lệ động viên vào NSNN cũng đạt trên 20% và đóng góp đáng kể vào việc tăng tỷ lệ động viên vào NSNN
Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, thu dầu thô năm 2012 ước đạt140.107 tỷ đồng, bằng 161% so với dự toán (vượt 53.107
tỷ đồng) và tăng hơn 27% so với thực hiện năm 2011
+ Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước
Nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước là mức
độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước
Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như qui mô tổ chức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế - xã hội
mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách
sử dụng kinh phí của Nhà nước Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việctăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên Các nước đang phát triển thường rơi
Trang 9vào tình trạng nhu cầu chi tiêu của NSNN vượt quá khả năng thu,nên các Chính phủ thường phải vay nợ để bù đắp bội chi.
Nợ công có phạm vi rộng hơn nợ nước ngoài Nó bao gồm nợ củachính phủ và toàn bộ nợ của doanh nghiệp quốc doanh, gồm
cả nợ nước ngoài lẫn nợ trong nước, cũng như nợ của doanh nghiệp tư nhân mà nhà nước bảo lãnh Việc bao gồm nợ của doanh nghiệp quốc doanh vào nợ công là dựa trên tiêu chuẩn quốc tế đã được chấp nhận rộng rãi với lí do là nhà nước không thể hay khó lòng về mặt chính trị xóa trách nhiệm đối với nợ của các doanh nghiệp do chính chính phủ dựng lên
+ Tổ chức bộ máy thu nộp
Nhân tố tiếp theo có tác động trực tiếp đến thu ngân sách nhà nước là tổ chức bộ máy thu nộp
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu
quả hoạt động của bộ máy này Nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN
Hiện nay, thu NSNN Việt Nam đang đứng trước vấn đề thâm hụt trầm trọng, nhiều yếu tố giảm thu NSNN đang xuất hiện làm cho khả năng mất cân đối thu chi NSNN cả năm trở thành thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế
Chính sách tài khóa của Việt Nam chưa thực sự nuôi dưỡng
nguồn thu một cách hợp lí Việt Nam mới xây dựng chính sách thu nhưng làm thế nào để có nguồn thu thì chính sách chưa
Trang 10đề cập đến một cách thỏa đáng nên nguồn thu giảm sụt cũng có phần do chính sách tài khóa tạo ra Trong khi đó thực hiện chính sách tài khóa chưa nghiêm túc, đôi lúc còn chưa thực hiện tốt cácqui định tài chính việc chậm nộp thuế, thất thu thuế vẫn còn, chi tiêu lãng phí, thực hành tiết kiệm chưa cao,… nên dẫn tới việc thu NSNN chưa đạt mục tiêu đề ra.
Nguyên nhân khác là do cơ chế tài chính rườm rà, phức tạp nên giải nên giải ngôn của các dự án, công trình gặp nhiều khó khăn gây tổn hại tăng trưởng kinh tế Trước vấn đề trên để đạt được mục tiêu ngân sách cần tiếp tục kiềm chế lạm phát giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách tài khóa linh hoạt
Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế sẽ làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá Vay
nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng “nợ - trả - lãi – bội chi” sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của ngân sách nhà nước cho kì sau Việc vay
nợ sẽ làm tăng nguồn thu NSNN nhưng vay quá nhiều thì sẽ làm bội chi NSNN
Nhà nước phát hành thêm tiền vào lưu thông làm tăng nguồn thungân sách nhà nước Nhưng việc phát hành quá nhiều vào lưu thông lớn hơn lượng tiền cần thiết trong lưu thông thì sẽ gây ra lạm phát NSNN là do thiếu hụt các nguồn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây tăng trưởng nóng và không cân đối với khả năng tài chính quốc gia
Tăng các khoản thu đặc biệt là thuế sẽ làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước Việc tăng thuế có thể sẽ bù đắp việc thâm hụt
Trang 11ngân sách nhà nước và giảm bội chi ngân sách nhà nước Tuy nhiên nếu tăng thuế không hợp lí sẽ làm giá cả hàng hoá tăng gây ảnh hưởng đến lãi suất.
+ Nhân tố khác :
Một trong số những nhân tố có tác động không nhỏ đến nguồn thu ngân sách nhà nước đó là việc Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO
Nhìn chung, khi gia nhập WTO nguồn thu từ thuế cụ thể là
thuế nhập khẩu sẽ giảm đi Tuy nhiên, mức độ giảm không đáng
kể so với nguồn thu tăng thêm cho ngân sách nhà nước do quá trình hội nhập WTO mang lại
Khi gia nhập WTO Việt Nam phải mở cửa thị trường hàng hóa, ràng buộc mức trần cho tất cả các dòng thuế trong biểu xuất nhập khẩu, không sử dụng phí, lệ phí và các khoản thu khác
nhằm mục đích thu ngân sách (ngoài thuế nhập khẩu) Hơn nữa, Việt Nam giảm mức thuế nhập khẩu bình quân từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng 5-7 năm Mức thuế nhập khẩu bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% và mức thuế nhập khẩu bình quân đối với hàng phi nông sản giảm từ 16,8% xuống 12,6%
Việc cắt giảm thuế trong ngắn hạn sẽ có tác động nhất định giảmthu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, về lâu dài sẽ tác động khônglớn đối với nguồn thu ngân sách nhà nước Hiện nay ở nước ta, tổng thu từ thuế nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 9% tổng thu ngân sách nhà nước Đối với kim ngạch nhập khẩu, chỉ khoảng 20% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm chịu ảnh hưởng của việc
Trang 12cắt giảm thuế nhập khẩu; việc cắt giảm thuế lại được thực hiện theo lộ trình, không phải cắt giảm đối với tất cả mặt hàng, cũng không cắt giảm ngay trong giai đoạn đầu tiên Mặt khác, việc cắt giảm thuế chắc chắn sẽ làm tăng kim ngạch xuất nhập khẩu (việcgiảm thuế tất yếu sẽ thúc đẩy nhập khẩu hàng với số lượng lớn hơn nhập nhiều nguyên vật liệu đầu vào hơn…) và dẫn đến tăng thu thuế nhập khẩu, nên sẽ tác động không lớn, thậm chí về lâu dài sẽ làm tăng thu cho ngân sách nhà nước Kinh nghiệm cho thấy đối với một số mặt hàng có khi việc cắt giảm thuế lại là biện pháp hữu hiệu nhất kiềm chế nạn nhập lậu một số mặt hàng có giá trị lớn, thuế suất nhập khẩu cao (ví dụ mặt hàng điện thoại diđộng, vàng, kim loại quí, ô tô xe máy…) vì việc giảm thuế sẽ làm giảm động lực của việc nhập lậu vốn chứa đựng nhiều rủi ro, thúc đẩy việc nhập khẩu chính ngạch không bị rủi ro, không vi phạm pháp luật, thúc đẩy tăng thu ngân sách.
Phần II Thực trạng của thu Ngân
Sách Nhà Nước trong những năm gần đây
2 Diễn biến thu NSNN Việt Nam trong thời gian gần đây Thu ngân sách năm 2012 - Thành công và bài học kinh nghiệm
Năm 2012 được đánh giá là một trong những năm mà nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) gặp nhiều khó khăn nhất Ngành
Trang 13Tài chính đã thực hiện chủ trương: “Giảm thuế, nuôi dưỡng
nguồn thu để tăng thu” thông qua việc đề xuất Chính phủ ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường Vớiviệc triển khai Nghị quyết 13/NQ-CP, NSNN giảm thu 1,2% dự toán tổng thu cả năm 2012 và tổng giá trị thực tế doanh nghiệp (DN) được hưởng tương đương 1% GDP dự tính so với qui mô xấp xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009
Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng
11/2012, ngành Thuế đã xử lí miễn, giảm, gia hạn tiền thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ cho khoảng 457.500 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền
khoảng 19.025 tỷ đồng; trong đó: Thực hiện miễn và gia hạn tiềnthuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với khoảng 216.450 lượt DN và
hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng 11.160 tỷđồng; Thực hiện miễn, giảm và gia hạn tiền thuế thu nhập doanhnghiệp (TNDN) đối với khoảng 203.550 lượt DN, với số tiền
khoảng 4.940 tỷ đồng; Gia hạn tiền sử dụng đất cho trên 340
DN, với số tiền gần 2.470 tỷ đồng; giảm 50% tiền thuê đất năm
2012 cho khoảng 3.610 DN, với số tiền 445 tỷ đồng; Miễn thuế môn bài năm 2012 cho 33.510 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng 10 tỷ đồng…
Trang 14Cùng với các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN thì hàng loạt các biện pháp cải thiện và chống thất thu NSNN cũng được triển khai như: cải cách thủ tục hành chính; thường xuyên đôn đốc kịp thời người nộp thuế; tích cực thanh tra, kiểm tra thuế; chống gian lận thuế, nhất là chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI…
Hàng loạt giải pháp nói trên đã mang lại kết quả tích cực cho thu NSNN năm 2012 Tính đến 31/12/2012, tổng thu NSNN cả nước đạt 741.500 tỷ đồng, tức vượt 1.000 tỷ đồng so với dự toán kế hoạch là 740.500 tỷ đồng Thu từ dầu thô ước đạt ước đạt
128,7% so với dự toán - tăng 1,6% so với thực hiện năm 2011, đạt khoảng 112.000 tỷ đồng Thu NSNN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa ước đạt 467.200 tỷ đồng, đạt 96,4 % dự toán và tăng 10,7 % so với số thực hiện năm 2011 Tuy nhiên, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu theo ước
Trang 15tính chỉ đạt khoảng 82 % dự toán và thu từ đất đai ước tính chỉ đạt hơn 65 % dự toán thu Số thu này cũng phản ánh đúng tình trạng kinh tế năm 2012.
Tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản đã tác động mạnh đến thu NSNN từ đất đai, đặc biệt là thu ở các địa phương
có số thu từ đất đai lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Hầu hết các địa phương đều không đạt dự toán thu NSNN từ đất như Đà Nẵng năm 2012 chỉ đạt 37,1% dự toán thu từ đất
Đánh giá về tình hình thu NSNN năm 2012, có thể rút ra một vài bài học:
Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình
hình kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN Chủ trương giảm thuế để tăng thu NSNN của Chính phủ với Nghị quyết 13/NQ-CP là lí do quan trọng giải thích cho sự thành công của năm tài khóa 2012
Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường
kiểm tra, giám sát trong quản lí thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lí các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số
nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm