Trong khoa học Luật tố tụng hình sự cũng như trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự của nước ta người ta dùng các thuật ngữ khác nhau khi đề cập đến vấn đề này ở các giai đoạn tố tụ
Trang 1I Khái niệm:
Quốc hội- cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất trực tiếp thực hiện quyền lập pháp và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước Quyền hành pháp là hoạt động quản lí, điều hành xã hội được giao cho Chính phủ và các cơ quan trực thuộc nhằm đưa các Nghị quyết của Quốc hội, pháp luật, đường lối và chính sách của Nhà nước vào cuộc sống Quyền tư pháp (hay còn gọi là chức năng tư pháp) theo nghĩa rộng gồm cả hoạt động xét
xử của Tòa án và các hoạt động của các cơ quan Nhà nước khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử như điều tra, truy tố, kiểm sát, thi hành án, bổ trợ tư pháp Trong đó Tòa án là biểu hiện tập trung của quyền tư pháp- nơi mà kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa… được kiểm tra, xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra những phán quyết cuối cùng mang tính chất quyền lực Nhà nước, nơi phản ánh đầy
đủ và sâu sắc nhất nền công lý của xã hội ta…Bởi vậy quyền tư pháp còn được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm quyền xét xử của Tòa án
Để đảm bảo Tòa án có thể hoàn thành được chức năng xét xử, Nhà nước đã giành cho Toà án những quyền hạn nhất định Quyền hạn của Tòa án được hiểu là khả năng mà pháp luật cho phép Tòa án được xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án trong một phạm vi, giới hạn xác định Giới hạn, phạm vi xét xử được pháp luật quy định khác nhau ở mỗi trình tự khác nhau Giới hạn xét xử là một chế định rất quan trọng gồm nhiều nội dung phức tạp
và có liên quan đến nhiều chế định khác của tố tụng hình sự Tuy nhiên trong khoa học Luật tố tụng hình sự vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống Bởi vậy cho đến nay chưa có một khái niệm chính xác, đầy đủ và thống nhất về giới hạn xét xử phản ánh đầy đủ các nội dung của nó trong tố tụng hình sự
Trang 2Theo từ điển Tiếng Việt của trung tâm Từ điển học- Nhà xuất bản Đà Nẵng,
giới hạn là “phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua” Trong khoa học Luật tố tụng hình sự cũng như trong các văn bản
pháp luật tố tụng hình sự của nước ta người ta dùng các thuật ngữ khác nhau khi đề cập đến vấn đề này ở các giai đoạn tố tụng khác nhau: Ở trình tự xét xử
sơ thẩm, giới hạn của việc xem xét và quyết định vụ án của vụ án được gọi là giới hạn xét xử; trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, giới hạn của việc xét xử và quyết định vụ án (khi có kháng cáo, kháng nghị) được gọi là phạm
vi xét xử phúc thẩm hoặc phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm… và chưa có văn bản hướng dẫn nào về sự khác nhau này Trong khi đó, theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường đại học luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công an
nhân dân thì giới hạn của việc xét xử là “phạm vi tòa án cấp sơ thẩm được xem xét và quyết định về vụ án”
Theo quan điểm của pháp luật tố tụng hình sự, mỗi loại Tòa án (huyện, tỉnh, thành phố, tối cao) và mỗi cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) có 1 thẩm quyền xét xử nhất định đối với các vụ án hình sự Ngay cả với 1 vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án cũng không có quyền xem xét và quyết định tất
cả các vấn đề có liên quan trong vụ án mà chỉ có thể xem xét và quyết định một số vấn đề về vụ án, tức là chỉ ở một giới hạn- phạm vi nhất định được pháp luật tố tụng hình sự quy định Chỉ trong giới hạn- phạm vi này Tòa án mới có thể thực hiện được các quyền hạn của mình để quyết định các vấn đề
cụ thể về vụ án tủy từng trường hợp cụ thể và từng giai đoạn xét xử cụ thể Vượt ra ngoài giới hạn, phạm vi này, mọi quyết định về vụ án của Tòa án sẽ là bất hợp pháp và phải bị hủy bỏ Như vậy giới hạn xét xử và quyền hạn Tòa án
là hai mặt, hai yếu tố của một vấn đề thống nhất có liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành thẩm quyền xét xử của mỗi cấp Tòa án Quyền hạn Tòa án là biểu hiện mặt nội dung của thẩm quyền xét xử Nó xác định Tòa án được làm gì,
Trang 3trong điều kiện nào khi giải quyết vụ án Còn giới hạn xét xử là biểu hiện mặt hình thức của thẩm quyền xét xử Nó xác định Tòa án có thể thực hiện được quyền hạn của mình ở đâu, ở mức độ, phạm vi nào
Mặt khác, quyền hạn của Tòa án trong việc xem xét và quyết định các vấn đề
cụ thể về vụ án hình sự còn bị giới hạn bởi các quy định pháp luật hình sự, dân
sự, kinh tế… Điều đó có nghĩa là các quyết định về vụ án hình sự của Tòa án không những phải căn cứ vào các quy định pháp luật tố tụng hình sự mà còn phải dựa vào các quy định khác của pháp luật dân sự, kinh tế… tương úng phát sinh từ vụ án đó Như vậy từ những phân tích nêu trên, nếu hiểu theo
nghĩa rộng, giới hạn xét xử là “phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua” của Tòa án, bao gồm: giới hạn xét xử sơ thẩm,
giới hạn xét xử phúc thẩm, giới hạn xét xử giám đốc thẩm, giới hạn xét xử tái thẩm; còn nếu hiểu theo nghĩa mà các nhà luật học vẫn quan niệm thì giới hạn xét xử chỉ được đặt ra đối với Tòa án cấp sơ thẩm Trong phạm vi của đề tài,
ta sẽ chỉ xem xét giới hạn xét xử sơ thẩm của Tòa án
II Căn cứ xác định giới hạn xét xử:
Giới hạn xét xử của Tòa án được xác định trên các căn cứ chung là sự phân định các chức năng cơ bản giữa các chủ thể trong tố tụng hình sự trong đó chức năng cơ bản của Tòa án là xét xử các vụ án hình sự và các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự
Trong các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, các nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo có một vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định giới hạn xét xử
Là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, tức là làm trọng tài phân xử quan điểm giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, mà tự mình không có chức năng buộc
Trang 4tội nên Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Quy định này bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện đầy đủ quyền bào chữa của mình Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (sau đây viết tắt là BLTTHS) quy định rõ: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này” Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo Có thể khẳng định quyền bào chữa của bị cán, bị cáo là một quyền tố tụng cơ bản nhất, nhờ có hoạt động bào chữa mà giúp công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ, tránh được sự phiến diện, chủ quan trong khi tiến hành tố tụng Giới hạn xét xử được xác định bởi nhiệm vụ xác định sự thật của vụ án và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo Nội dung của nó thể hiện ở chỗ khuôn khổ của việc xét xử trong phạm vi đã truy tố của bị can Việc xác định đó bảo đảm cho
bị cáo thực hiện quyền bào chữa, phòng ngừa việc xét xử đối với tội không do lỗi của bị cáo, xét xử những người mà truy tố không đúng theo thủ tục đã được pháp luật quy định Bị can, bị cáo luôn ở địa vị pháp lý bất lợi nhất trong tất cả các giai đoạn tố tụng Vì thế bị can, bị cáo có quyền được chuẩn bị lời bào chữa đối với hành vi bị truy tố của mình Việc xét xử được giới hạn trong phạm vi bản cáo trạng và không đi quá phạm vi đó Điều đó cũng để thể hiện nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta và được thể hiện rõ trong Điều 201
BLTTHS: “Trong trường hợp bị cáo chưa được giao nhận bản cáo trạng theo quy định tại khoản 2 Điều 49 và quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 182 của Bộ luật này và nếu bị cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa” Theo Điều 182 BLTTHS, “Quyết định đưa
vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và
Trang 5người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên tòa.Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của
bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo”.
Tòa án phải giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa Việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử trước khi mở phiên tòa 10 ngày tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa và có thể đề xuất với Tòa
án những vấn đề cần giải quyết ngay như đưa thêm vật chứng ra xem xét, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; triệu tập them người cần xét hỏi tại phiên tòa Khi giao quyết định đưa vụ án
ra xét xử, phải lập biên bản yêu cầu bị cáo kí nhận Đối với những trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì Tòa án phải giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo, đồng thời phải niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử tại trụ sở chính quyền
xã ,phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo Thời gian qua, một số Tòa án cho rằng trách nhiệm của bị cáo là phải báo cho người bào chữa tham gia phiên tòa, trừ trường hợp luật sư được chỉ định bào chữa, nên Tòa án đã không giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người bào chữa, không triệu tập họ đến phiên tòa Quan niệm như trên là không đúng với quy định của pháp luật Việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người bào chữa là trách nhiệm của Tòa án (Công văn số 01/CT-TATC ngày 01/08/1990 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc triệu tập người bào chữa) Với vai trò là cơ quan thay mặt Nhà nước thực hiện chức năng xét xử trên cơ sở truy tố của Viện kiểm sát, để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, Tòa án hoàn toàn có quyền xét xử bị cáo theo các hướng sau:
Trang 6- Đình chỉ vụ án
- Xét xử theo hành vi và tội danh Viện kiểm sát truy tố
- Xét xử bị cáo theo một số hành vi Viện kiểm sát truy tố
- Xét xử bị cáo theo khung hình phạt nhẹ hơn
Khi xét xử tại phiên toà, nếu có sự thay đổi cơ bản so với các tình tiết xác thực của nội dung buộc tội mà bị cáo bị đưa ra toà, trong trường hợp này nội dung định tội bị thay đổi, bị cáo bị định tội không phải đối với hành vi mà bị cáo đã
bị buộc trước đó và bị cáo có thể bào chữa chống lại nó, mà là hành vi khác bị cáo chưa được biết và chưa được chuẩn bị cho việc bào chữa Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, khi đó Toà án có quyền xét xử vụ án và ra bản án nếu việc định tội làm giảm đi khối lượng (mức độ), loại đi một số chi tiết, tình tiết làm tăng trách nhiệm của bị cáo cũng như không liên quan đến việc xác định các tình tiết xác thực mà khác cơ bản so với nội dung buộc tội ban đầu Nếu những dữ kiện (tình tiết) của việc xét hỏi tại phiên toà chỉ ra định tội mới bằng hoặc nhẹ hơn tội phạm trước hoặc áp dụng hình phạt bằng hoặc nhẹ hơn, Toà
án tiếp tục xử và ra bản án theo nội dung định tội mới với điều kiện nội dung định tội mới đó gồm những tình tiết xác thực của nội dung định tội ban đầu Trường hợp ngược lại thì Toà án phải trả hồ sơ bổ sung Theo em đây là cách giải quyết hợp lí Nó giúp đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, đồng thời thể hiện tính thận trọng khi Hội đồng xét xử ra quyết định không có lợi so với định tội của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đối với bị cáo.Trong trường hợp không có sự thống nhất giữa Toà án và Viện kiểm sát khi Toà án định tội nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Toà án vẫn phải đưa vụ án ra xét xử theo cáo trạng của Viện kiểm sát nếu không có được sự thống nhất giữa Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và Tòa án cấp trên trực tiếp, rồi sau đó kiến nghị lên giám đốc thẩm để xem xét lại bản án
Trang 7Bên cạnh đó, xét xử là một trong ba quyền hợp thành quyền lực Nhà nước pháp quyền Ở nước ta, quyền xét xử tuy không phân lập với các quyền lập pháp và hành pháp nhưng cũng được phân định rõ ràng: Chỉ có Toà án là cơ quan có thẩm quyền xét xử Xét xử độc lập cũng đã trở thành một nguyên tắc
Hiến định (Điều 130 Hiến pháp 1992 quy định “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”) và được quy định lại như một nguyên tắc quan trọng bậc nhất của Luật tố tụng hình sự: “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều 16 BLTTHS) Theo quy định
tại Điều 196 BLTTHS thì Toà án được xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét
xử, Toà án không được xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát đã truy tố Quy định này buộc Toà án phụ thuộc vào sự đánh giá của Viện kiểm sát, có nghĩa là khẳng định tội danh do Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng đắn nên Toà án chỉ được xét xử theo tội danh đó và lựa chọn mức hình phạt đã được quy định trong điều luật mà Viện kiểm sát đã Viện dẫn (trừ trường hợp Toà án xét xử tội danh nhẹ hơn tội do Viện kiểm sát truy tố) Trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đều căn cứ vào hành vi phạm tội của bị can để xác định tội danh bị can thực hiện, nhưng quyết định người đó có tội hay không, phạm tội gì, chịu mức hình phạt như thế nào chỉ thuộc về Toà án Thực hiện giới hạn xét xử theo quy định của BLTTHS, việc xét xử của Toà án bị giới hạn bởi tội danh Viện kiểm sát truy
tố làm cho tính chất độc lập không được đảm bảo Thực tế xét xử cũng khó thuyết phục trong trường hợp Viện kiểm sát truy tố bị can về một tội danh nào
đó nhưng khi xét xử, Hội đồng xét xử xác định chắc chắn bị cáo không phạm tội đó mà phạm tội khác nặng hơn nhưng lại không được ra bản án kết luận bị cáo phạm tội nặng hơn đó Có ý kiến cho rằng quy định như vậy nhằm thể
Trang 8hiện quan hệ chế ước của Viện kiểm sát đối với Tòa án Nhưng pháp luật quy định Tòa án có quyền độc lập xét xử và kềm theo vế thứ hai không thể thiếu là
“chỉ tuân theo pháp luật” Điều đó có nghĩa Tòa án không được xét xử tùy tiện
mà phải tuân theo pháp luật, đó là giới hạn có giá trị pháp lí tối cao với việc xét xử của Tòa án Do vậy chỉ cần giới hạn về bị cáo và hành vi bị truy tố cũng đã đủ, không cần giới hạn về tội danh
Ngoài ra, các nguyên tắc khác của Luật tố tụng hình sự cũng là căn cứ để xác định giới hạn xét xử ở những mức độ khác nhau
Bên cạnh đó, giới hạn xét xử cũng được xác định trên cơ sở tính đặc thù của cấp xét xử đó Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường đại học
luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công an nhân dân thì sơ thẩm là “xét xử lần đầu để quyết định tất cả các vấn đề liên quan trong vụ án” Tuy nhiên theo các quy
định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì khái niệm này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì có nhiều phiên tòa sơ thẩm không phải “xét xử lần đầu tiên” đối với vụ án, đó là những phiên tòa xét xử sơ thẩm lại do Tòa án cấp trên hủy bản
án để xét xử lại ở cấp sơ thẩm Vì vậy cần hiểu cơ sở pháp lý làm phát sinh việc xét xử sơ thẩm là quyết định truy tố của Viện kiểm sát hoặc quyết định của Tòa án cấp trên hủy bản án để xét xử sơ thẩm lại Còn cơ sở pháp lý để xác định giới hạn xét xử là nội dung truy tố của Viện kiểm sát và nội dung tội danh và điều khoản được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án Các căn cứ riêng này được kết hợp với các căn cứ chung ở trên để xác định giới hạn xét xử Với Tòa án sơ thẩm, các căn cứ riêng gồm:
- Cáo trạng của Viện kiểm sát- quyết định truy tố bị cáo ra Tòa án
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án
Điều 196 BLTTHS quy định:
“Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Trang 9Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội
mà Viện kiểm sát đã truy tố.”
Trong quy định của Điều 196 BLTTHS có khái niệm “tội danh”, song Bộ luật hình sự 1999 (sau đây viết tắt là BLHS) chưa có quy định cụ thể về khái niệm này nên được hiểu theo nhiều cách khác nhau bởi các nhà nghiên cứu khoa học Luật hình sự Hiện nay khi nói tới tội danh người ta hay gắn với tên của một điều luật cụ thể được quy định tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự
1999 như tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự 1999), tội cố ý gây thương tích (Điều 104 Bộ luật hình sự 1999) Đây là quan điểm phổ biến, tuy nhiên quan điểm này cũng lưu ý trường hợp điều luật quy định tội ghép
Quan điểm khác lại cho rằng việc gắn với tên một điều luật cụ thể được quy định tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1999 chỉ đúng với trường hợp điều luật quy định một khung hình phạt như Điều 94, 128, 130, 146, 148… Bộ luật hình sự 1999 Còn với các điều luật nhiều khoản thì mỗi tội danh lại được hiểu như một khoản của điều luật Vì trong quyết định khởi tố, truy tố và bản
án phải Viện dẫn điều khoản mà bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử Vì việc phân loại tội phạm căn cứ vào khung hình phạt (khoản của điều luật) chứ không căn cứ vào tên của điều luật Với cách hiểu này thực chất của việc so sánh các tội danh là so sánh giữa các khoản của điều luật, thậm chí là so sánh mức hình phạt Nếu mức hình phạt bằng nhau thì căn cứ vào loại hình phạt và việc có hay không hình phạt bổ sung, vì hình phạt là thước đo và tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm Tội phạm càng nguy hiểm cho xã hội thì mức và loại hình phạt loại càng nặng Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng đã hướng dẫn cách xác định tội danh bằng, nặng hơn, nhẹ hơn Theo
Trang 10quan điểm của thạc sĩ Ngô Thị Ánh thì việc xác định tội danh theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP mới chỉ xác định một cách chung chung, chưa theo khoản
Ví dụ: “Đối với tội cố ý gây thương tích (Điều 104 của Bộ luật hình sự), điều
luật quy định loại hình phạt nặng nhất là tù chung thân, còn đối với tội giết người (Điều 93 của Bộ luật hình sự), điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất là tử hình; do đó, tội giết người nặng hơn tội cố ý gây thương tích” Nhưng nếu xét theo khoản, với khoản 2 Điều 93 BLHS thì chỉ có loại hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt cao nhất là 15 năm, với khoản 4 Điều
104 BLHS thì có cả loại hình phạt tù chung thân và mức hình phạt cao nhất với hình phạt tù có thời hạn là 20 năm Rõ ràng cách xác định theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP trong trường hợp này là không chính xác Ngoài ra, nếu xác định tội danh theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP thì có sự không đồng nhất giữa BLTTHS và Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP Theo Điều 167 và Điều 178 BLTTHS thì nội dung bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét
xử đều phải ghi rõ tội danh và điều khoản của BLHS mà Viện kiểm sát áp dụng đối với hành vi của bị cáo, nhưng đến khi định tội theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP thì lại xác định chỉ theo điều luật mà thôi, như thế sẽ dẫn đến xác định tội không sát với hành vi thực tế bị truy tố và đưa ra xét xử Như vậy nếu hiểu tội danh theo nghĩa là các khoản trong từng điều luật thì theo Điều 196 BLTTHS Tòa án có thể xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố
Theo Điều 196 BLTTHS, việc xét xử của Tòa án bị hạn chế bởi ba yếu tố:
- Tòa án chỉ xét xử những bị cáo mà Viện kiểm sát truy tố
- Tòa án chỉ xét xử những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố
- Tòa án xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố
Quyết định truy tố của Viện kiểm sát không chỉ là căn cứ phát sinh giai đoạn xét xử sơ thẩm mà còn xác định phạm vi hoạt động của tất cả các chủ thể tham