1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn quận hoàng mai, thành phố hà nội

90 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định về giới hạn xét xử của Tòa án lần đầu tiên được đề cập đến tại Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự 1988: “Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN

QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN

QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài là trung thực và tôi xin chịu tráchnhiệm về tất cả những số liệu, kết quả nghiên cứu đó Đề tài này chưa được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả đề tài

Nguyễn Thị Minh Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm của giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự 8

1.2 Cơ sở của việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự 13

1.3 Ý nghĩa của việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự 22

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ 27

2.1 Khái quát lịch sử lập pháp của giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự 27

2.2 Quy định về giới hạn xét xử trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 29

Chương 3 THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 47

3.1 Thực tiễn thi hành quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Toà án nhân dân Quận Hoàng Mai 47

3.2 Giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm từ thực tiễn Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai 61

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 5

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Tổng số bị cáo/vụ án TAND quận Hoàng Mai 49

thụ lý và xét xử từ năm 2016 đến năm 2020 49

Bảng 3.2 Số vụ khi xét xử Tòa án thay đổi khung hình phạt nhẹ hơn so với VKS truy tố từ năm 2016 đến năm 2020 50

Bảng 3.3 Số vụ khi xét xử Tòa án áp dụng khung hình phạt nặng hơn so với khung hình phạt VKS truy tố từ năm 2016 đến năm 2020 51

Bảng 3.4 Số vụ khi xét xử tòa án thay đổi tội danh 52

so với VKS truy tố từ năm 2016 đến năm 2020 52

Bảng 3.5 Số liệu trả hồ sơ điều tra bổ sung của TAND 53

quận Hoàng Mai từ 2016-2020 53

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc cải cách tư pháp hướng tới xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc hoàn thiện tổ chức vàhoạt động của Tòa án, thiết chế duy nhất được giao quyền xét xử các vụ án

Để có thể thực hiện tốt quá trình cải cách tư pháp đối với hoạt động xét

xử của Tòa án, những chế định, quy định có liên quan đến việc xét xử trong

đó có quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm của Tòa án cần phải được nghiêncứu chuyên sâu để có cái nhìn từ tổng quát đến chi tiết các quy định của phápluật, từ đó phát huy những kết quả đạt được và đồng thời khắc phục nhữngquy định còn hạn chế Giới hạn xét xử là một quy định rất quan trọng của Tốtụng hình sự Quy định giới hạn xét xử vừa đảm bảo mục đích xét xử đúngngười, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm vừa đảmbảo được vị thế độc lập của Hội đồng xét xử, của Tòa án trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự

Quy định về giới hạn xét xử của Tòa án lần đầu tiên được đề cập đến tại

Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự 1988: “Toà án chỉ xét xử những bị cáo

và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Toà án đã quyết định đưa

ra xét xử.” Tuy nhiên, quy định này lại quá khát quát nên khi đưa vào thực

tiễn áp dụng đã xảy ra tình trạng nhận thức không thống nhât giữa VKS vàTòa án Tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, chế định này đã được sửa đổi,

bổ sung mở rộng thẩm quyền của Hội đồng xét xử: “Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.” Trên cơ sở

kế thừa và phát triển những quy

Trang 8

định trong các BLTTHS trước đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tiếptục sửa đổi, bổ sung và cơ bản hoàn thiện được những vấn đề bao quát nhấtcủa quy định về giới hạn xét xử tại Điều 298 Bộ luật này Đây được coi là một

sự tiến bộ trong quá trình lập pháp của nước ta Thực tế cho thấy, chế địnhnày đã và đang mang đến những hiệu quả nhất định mà các nhà làm luật đãmong đợi, giúp Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm,đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm củaTòa án trong xét xử để Tòa ánthực sự độc lập, thực hiện đúng chức năng của mình Tuy nhiên, cũng giốngnhư nhiều chế định khác, hiện nay việc nhận thức quy định về giới hạn xét xửvẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chính vì vậy mà dẫn đến những vướngmắc, khó khăn nhất định khi áp dụng quy định này trong thực tiễn tố tụng,gây khó khăn trong giải quyết các vụ án hình sự của nhiều địa phương trong

cả nước

Quận Hoàng Mai là một đơn vị hành chính cấp huyện thuộc thành phố

Hà Nội với diện tích rộng lớn, mật độ dân cư đông đúc, tình trạng tội phạmdiễn biến phức tạp về cả tính chất, mức độ trên phạm vi toàn quận Vì vậy,yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Tòa án nhândân quận Hoàng Mai trong việc đấu tranh phòng chống, đẩy lùi tội phạm ngàycàng được chú trọng Tuy nhiên, những vướng mắc, bất cập trong quá trìnhxét xử nói chung và trong việc thực hiện quy định về giới hạn xét xử tại địaphương nói riêng đã gây không ít khó khăn cho Tòa án địa phương khi thựchiện chức năng xét xử của mình

Do vậy, việc nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vàthực tiễn của giới hạn xét xử sơ thẩm phải được nhanh chóng đẩy mạnh, tạo

ra cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho Thẩm phán, Hội thẩm có thể áp dụngchính xác, giải quyết nhanh chóng vụ án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Trang 9

Xuất phát từ những lý do về tầm quan trọng của giới hạn xét xử đã nêu

trên, tác giả chọn đề tài: “Giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn

quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Dưới góc độ khoa học, việc nghiên cứu về giới hạn của việc xét xửcũng được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp ở một số công trình nghiên cứuđược công bố như :

Ở cấp độ luật văn thạc sĩ luật học đã có một số tác giả nghiên cứu trựctiếp hoặc gián tiếp về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như:

Luận văn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hoàn, Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011; Luận văn Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Phan Thị Ánh Tuyết, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2018; Luận văn Giới hạn xét xử trong Tố tụng hình sự của tác giả Ngô Thị Ánh, Đại học Luật Hà Nội, năm 2007; Luận văn Giới hạn xét xử trong Tố tụng hình sự của tác giả Trần Văn Tín, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1997; Luận văn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận 12, thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Thùy Liên, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2017; Luận văn Giới hạn xét xử theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Hồ Quốc Bình, Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam - Học

viện khoa học xã hội, năm 2016

Ở cấp độ giáo trình, bài viết đăng trên tạp chí đã có đề cập trực tiếp và

gián tiếp về giới hạn xét xử như: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt

Trang 10

Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2019; Bài viết Những hạn chế trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn việc xét xử sơ thẩm của tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh, Tạp chí Tòa án nhân dân số 20, năm 2010; bài viết Một số vấn đề về tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm của tác giả Nguyễn Hữu Chính, Tạp chí Tòa

án nhân dân số 13, năm 2012; bài viết Hoàn thiện mối quan hệ giữa Tòa án

và VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của tác giả Hồ Sĩ Sơn, Nhà

nước và pháp luật, năm 2005; bài viết Một số vấn đề cần chú ý khi xét xử vụ

án hình sự của tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí Luật học số 9, năm 2012; bài

viết Kiến nghị sửa đổi Điều 196 của Bộ luất Tố tụng hình sự 2003 về giới hạn của việc xét xử của hai tác giả Hoàng Minh Sơn và Vũ Quang Huy, Tạp chí

Tòa án nhân dân, số 14, năm 2015

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy nhiều công trìnhnghiên cứu dựa trên những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 nên đãkhông còn phù hợp Vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm vẫn có nhiều quan điểmkhác nhau, từ thời điểm BLTTHS năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thihành đến nay có ít công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về giới hạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu về giới hạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự gắn với thực tiễn áp dụng tại một địa bàn cụ thể

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Luận văn Thạc sĩ “Giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” vẫn là một nội dung mang tính mới, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn công cuộc đấu tranh, phòng

chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề (lý luận) chung

và những quy định của pháp luật về giới hạn xét xử; nội dung của

Trang 11

giới hạn xét; nghiên cứu thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS về giới hạnxét xử, làm rõ những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng để từ đó đưa ranhững giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiểu quả xét xử nói chung cũngnhư hiệu quả thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tạiTòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Để có thể đạt được mục đích trên, nhiệm vụ được đặt ra là phải phântích, làm rõ các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử vụ

án hình sự, quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, Hội đồng xét xử khi áp dụnggiới hạn xét xử Đồng thời, nghiên cứu đánh giá, thực tiễn hoạt động áp dụngquy định về giới hạn xét xử tại Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai Từ đó, đưa

ra những nhận xét, đánh giá về nguyên nhân và kiến giải hợp lý

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Để có thể đạt được những mục đích trên, đề tài tập trung nghiên cứu những đối tượng cụ thể :

+ Những vấn đề chung về giới hạn xét xử trong vụ án hình sự sơ

thẩm

+ Nội dung quy định về giới hạn xét xử theo quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự hiện hành và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân Quận HoàngMai

+ Những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định giới hạn xét xử trong Tốtụng hình sự từ thực tiễn hoạt động của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai,thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về giới hạn xét

xử theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành Cụ thể là từ khi VKS

Trang 12

chuyển hồ sơ cho Tòa án và Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi có bản

án, quyết định sơ thẩm vụ án hình sự Đồng thời, nghiên cứu thực tiễn ápdụng quy định về giới hạn xét xử dựa trên công tác hoạt động của Tòa ánnhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội trong năm năm (từ năm 2016năm đến năm 2020)

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Đề tài được phân tích, nghiên cứu cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối,chính sách hình sự, TTHS của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chốngtội phạm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoahọc luật tố tụng hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phươngpháp thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra án điển hình để làm rõ và giảiquyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra

6 Ý nghĩa của đề tài

Về lý luận, đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở lý luận về giới hạn

xét xử sơ thẩm vụ án hình , quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạnxét xử gắn với thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thànhphố Hà Nội trong năm năm vừa qua Do đó, kết quả nghiên cứu của đề tài gópphần hoàn thiện lý luận về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Về thực tiễn, các kiến giải được đưa ra trong đề tài là một kênh tham

khảo hữu ích cho các đơn vị như Tòa án nhân dân các cấp nói chung và đơn

vị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội nói riêng trong thựctiễn thực hiện quy định giới hạn xét xử sơ thẩm trong vụ án

Trang 13

hình sự Ngoài ra, kết quả

các đối tượng nghiên cứu,

của đề tài cũng có thể là tài liệu tham khảo cho ápdụng pháp luật có liên quan đến vấn đề này

7 Kết cấu của luân văn

Chương 1: Những vấn đề chung về giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét

xử sơ thẩm hình sự

Chương 3: Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự vềgiới hạn xét xử sơ thẩm tại Toà án nhân dân quận Hoàng Mai và một số kiếnnghị

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM

HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm của giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự

1.1.1 Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự

Tố tụng hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước, mà hệquả của nó có tác động lớn đến quyền con người, quyền công dân Chính vìvậy, các vấn đề liên quan đến TTHS luôn được sự quan tâm, nghiên cứu nhất

là hoạt động xét xử của Tòa án

Xét dưới góc độ tranh tụng, xét xử là một trong ba chức năng cơ bảncủa TTHS đó là: chức năng buộc tội; chức năng gỡ tội (bào chữa); chức năngxét xử Xét xử chỉ được thực hiện bởi một chủ thể duy nhất là Tòa án Khoản

1 Điều 102 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013xác định: "Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt nam,thực hiện quyền tư pháp" [40]

Xét dưới góc độ TTHS, xét xử là một giai đoạn trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự, do Tòa án có thẩm quyền tiến hành Thông qua hoạtđộng xét xử tại phiên tòa, HĐXX nhân danh Nhà nước xem xét công khai,khách quan, toàn diện kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa để đưa

ra phán quyết về vụ án Theo quy định của pháp luật TTHS, có hai cấp xét xử

là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, theo đó mỗi cấp Tòa án sẽ có thẩmquyền xét xử nhất định đối với các vụ án hình sự

Việc xét xử của Tòa án nói chung được thực hiện theo chế độ hai cấpxét xử, đó là chế độ xét xử sơ thẩm và chế độ xét xử phúc thẩm Qua nghiêncứu các công trình và tài liệu chuyên ngành TTHS đã công bố cho

Trang 15

thấy, khái niệm “xét xử sơ thẩm” trong TTHS được tiếp cận ở nhiều góc độkhác nhau:

Như vậy, trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này Mỗi góc

độ tiếp cận đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý nhất định, song xét tínhchính xác và đầy đủ thì hầu hết chỉ mang tính tương đối Theo quan điểm củatác giả: Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần đầu vụ án hình sự do Toà án đượcgiao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật Xét xử sơ thẩm đượcxác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình

sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do CQĐT, truy tố thu thập trong quá trìnhđiều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiếnhành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau,được tranh luận chất vấn những điều mà tại CQĐT họ không có điều kiệnthực hiệ n Do đó, xét xử sơ thẩm là thủ tục tố tụng vô cùng quan trọng đốivới toàn bộ quá trình tố tụng Tuy nhiên, để thực hiện nguyên tắc hai cấp xét

xử, kết quả xét xử (bản án hoặc quyết định) của tòa án cấp sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật ngay và có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử tại cấpphúc thẩm

Theo quan điểm của tác giả, giới hạn của việc xét xử là mối quan hệ tốtụng hình sự giữa Viện kiểm sát và Toà án ở giai đoạn xét xử từ sơ thẩm Mốiquan hệ này xuất hiện từ khi Viện Kiểm sát gửi cáo trạng và hồ sơ vụ án sangToà án và nó được thể hiện thông qua Kiểm sát viên được Viện trưởng Việnkiểm sát uỷ quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án, làm cáo trạng và giữ quyền công

tố trước toà cùng với Thẩm phán được giao nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án

và sẽ làm chủ toạ phiên toà nếu vụ án

Trang 16

được đưa ra xét xử Giới hạn xét xử là quy định pháp lí quan trọng có liênquan đến nhiều đến các chức năng của tố tụng hình sự Giới hạn xét xử làphạm vi những vấn đề thuộc nội dung vụ án mà hội đồng xét xử được phépxét xử tại phiên tòa Phạm vi đó không phải là vô hạn mà ngược lại nó đượchạn chế trước hết bởi phạm vi những người và những hành vi mà VKS truy tốtrong cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thì cơ sở pháp lý để xác định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sựtrong mọi trường hợp chính là nội dung quyết định truy tố của VKS và nộidung quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Tòa áncấp sơ thẩm xét xử vụ án hình sự trong phạm vi truy tố của VKS và quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán Tòa án không có quyền xét xử đốivới những bị cáo và những hành vi mà VKS không truy tố hoặc không đượcThẩm phán quyết định đưa ra xét xử

Trên cơ sở những phân tích và lý giải nêu trên, có thể đưa ra khái niệmkhoa học về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: "Giới hạn xét xử

sơ thẩm hình sự là phạm vi mà Tòa án cấp sơ thẩm được xem xét, giải quyếtcũng như mức độ xem xét, giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm theo quyếtđịnh truy tố của Viện kiểm sát và quyết định đưa vụ án ra xét xử của thẩmphán được phân công chủ tọa phiên tòa trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

1.1.2 Đặc điểm của giới hạn xét xử sơ thẩm trong Tố tụng hình

sự

Thứ nhất, giới hạn xét xử sơ thẩm thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa

Tòa án với VKS trong TTHS (quan hệ giữa cơ quan thực hành quyền công buộc tội với cơ quan thực hiện quyền tư pháp- xét xử mà thực chất là quan hệgiữa hai chức năng của Tố tụng hình sự) Giới hạn xét xử sơ thẩm thể hiệnmối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau giữa VKS và

Trang 17

tố-Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền Quyết định truy tố của VKS sẽ làm căn cứpháp lý thứ nhất để Tòa án khi tiến hành xét xử để xác định sự thật kháchquan của vụ án nhằm bảo vệ quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,cá nhân Hành vi bị truy tố, tội danh màVKS viện dẫn để truy tố tại bản cáo trạng là cơ sở để Tòa án xem xét thựchiện chức năng xét xử của mình, còn VKS thực hiện chức năng buộc tội trongsuốt giia đoạn điều tra và được kéo dài cho đến khi Tòa án cấp có thẩm quyền

ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Đối tượng bị Tòa án xét xử sơthẩm là hành vi và bị cáo mà Tòa án sơ thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xửtrên cơ sở quyết định truy tố của VKS Tòa án chỉ được xét xử những bị cáo

về những hành vi phạm tội của họ mà VKS truy tố, có nghĩa là Tòa án khôngđược xét xử thêm hành

vi hoặc bị cáo khi chưa được VKS truy tố VKS quyết định truy tố bằng cáotrạng ra trước Tòa án sơ thẩm cấp có thẩm quyền là cơ sở pháp lý đầu tiên đểTòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án thực hiện chức năng

xét xử chứ không phải là bên buộc tội, nên Tòa án không thể đưa ra xét xửnhững bị cáo ngoài diện VKS truy tố

Thứ hai, giới hạn xét xử sơ thẩm khẳng định vị trí, chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và tính độc lập của Tòa án và VKS Mặc dù VKS đã có cáotrạng quyết định truy tố bị can ra Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền để xét xử

về hành vi phạm tội do bị can đó gây ra theo điểm, khoản, điều được quy địnhtrong BLHS, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán được phâncông làm chủ tọa phiên tòa, khi nghiên cứu hồ sơ nếu xét thấy có căn cứ chorằng bị can phạm một tội khác, hoặc có đồng phạm khác, hoặc trong trườnghợp tài liệu, chứng cứ đã thu được trong giai đoạn điều tra cho thấy bị canphạm một tội khác nặng hơn tội mà VKS đã truy tố, thì Thẩm phán ra quyếtđịnh trả hồ sơ cho VKS để

Trang 18

điều tra bổ sung hoặc truy tố về một tội nặng hơn Trường hợp tội đó nhẹ hơnhoặc bằng tội VKS truy tố thì Thẩm phán không nhất thiết phải ra quyết địnhtrả hồ sơ để điều tra bổ sung Sau khi Thẩm phán trả hồ sơ điều tra bổ sung,hoặc đề nghị VKS truy tố lại về tội nặng hơn mà VKS vẫn giữ nguyên tộidanh quyết định truy tố thì Thẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử Ngoài

ra trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán còn có thể ra quyết định đìnhchỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật TTHS Như vậykhông phải lúc nào VKS truy tố bị can ra trước Tòa án thì Tòa án đều sẽ quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử Do vậy, Thẩm phán được phân công làm chủ tọaphiên tòa không quyết định đưa vụ án ra xét xử thì không có việc tiếp theo là

mở phiên tòa và Tòa án chịu tác động của giới hạn xét xử mà VKS đặt ratrong bản cáo trạng, vì vậy mọi quyết định truy tố của VKS phải được Tòa ánxem xét và thông qua bằng việc quyết định đưa vụ án ra xét xử Tại phiên toà,VKS giữ quyền công tố, thực hiện việc buộc tội, đề nghị kết tội bị cáo theonội dung của quyết định truy tố hoặc có thể rút toàn bộ quyết định truy tố.Quyết định nhũng vấn đề này thuộc về toà án theo đúng nguyên tắc “không ai

bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật ”(Điều 9 BLTTHS) Thực hiện chức năng của mình, toà án xét xử các bị cáotrong phạm vi quyết định truy tố của VKS đồng thời phải xét xử trong phạm

vi quyết định đưa vụ án ra xét xử của thẩm phán chủ tọa phiên tòa

Thứ ba, việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm hướng đến mục tiêu bảo

vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội (bị can, bị cáotrong giai đoạn xét xử sơ thẩm) đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của phápluật hình sự, sự tuân thủ pháp chế Mỗi cơ quan khác nhau có chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung nhằmbảo vệ tốt nhất quyền con người và giữ vững bản chất

Trang 19

của Nhà nước pháp quyền XHCN Với tư cách là chủ thể thực hiện quyền tưpháp Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án có thẩm quyền sau khi nghiên cứu toàn diện,khách quan hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử công khainhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, người đã bị VKS buộc tội là

có tội hay không có tội, nếu có tội thì phạm tội gì, để có thể ra bản án, quyếtđịnh phù hợp với hành vi mà VKS đã truy tố Chế định về giới hạn xét xử sơthẩm của Tòa án góp phần thực hiện mục tiêu của TTHS đó là: Không bỏ lọttội phạm, không làm oan người vô tội, đảm bảo quyền công tố của VKS cũngnhư sự độc lập của Tòa án (thẩm phán, hội thẩm) giúp việc xét xử được đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật

Tóm lại, phạm vi xem xét, giải quyết cũng như mức độ được xem xét,giải quyết khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án được không phải là vôhạn, bởi nó bị hạn chế trong phạm vi những người và những hành vi mà VKStruy tố trong bản cáo trạng cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử của thẩmphán được phân công làm chủ tọa phiên tòa

1.2 Cơ sở của việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự

Pháp luật TTHS quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm xuất phát từ chứcnăng, nhiệm vụ của VKS, Tòa án trong TTHS; các nguyên tắc cơ bản củaTTHS; mối quan hệ giữa các giai đoạn trong TTHS; vai trò của Tòa án trongquá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; nhu cầu cần giải quyếtnhững quan điểm chưa thống nhất giữa VKS và Tòa án; bảo đảm quyền và lợiích hợp pháp của bị can, bị cáo Quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm dựa trênnhững cơ sở sau:

1.2.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sựxuất phát từ quan điểm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt nhất quyền conngười, từ yêu cầu cải cách tư pháp, đổi mới và hoàn thiện thủ tục

Trang 20

TTHS, từ vị trí, vai trò của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành TTHS, cụthể:

Thứ nhất, xuất phát từ quan điểm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt nhất

quyền con người Những nguyên tắc về quyền con người luôn được ghi nhận

và khẳng định trong BLTTHS và các văn bản pháp lý là tất yếu và được hoànthiện dần theo thời gian Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Côngước quốc tế cơ bản về quyền con người, cụ thể: Tuyên ngôn quốc tế nhânquyền (UDHR) năm 1948; Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966(ICCPR), gia nhập ngày 24-9-1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội

và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 24-9-1982… Một trong những quyền conngười cơ bản là quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyềnkhông bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay các hình thức nào khác xâmphạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; không ai bị bắt nếukhông có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND;quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Trong tiếntrình cải cách tư pháp sâu rộng hiện nay thì vấn đề bảo vệ tốt nhất quyền conngười càng được quan tâm đẩy mạnh hơn nữa Ở đâu có buộc tội, ở đâu có xét

xử thì

ở đó cần có sự bảo vệ (bào chữa) cần được tiến hành trong phạm vi, giới hạncủa sự buộc tội cũng như sự xét xử Mặt khác, bên bảo vệ (bào chữa) cần biếtgiới hạn xét xử (trên cơ sở giới hạn buộc tội) để có thể chuẩn bị

tốt các điều kiện để bảo vệ (bào chữa) Do vậy nhu cầu bảo vệ quyền conngười nói chung, quyền bào chữa nói riêng đặt ra nhu cầu phải có giới hạn xét

xử sơ thẩm trong vụ án hình sự

Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu cải cách tư pháp, đổi mới và hoàn thiện

thủ tục TTHS Nhiệm vụ của TTHS là đấu tranh phòng chống tội phạm cóhiệu quả và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công

Trang 21

dânCũng bởi vậy, phải quy định rõ ràng, rành mạch chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành TTHS,nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của những người tiến hành TTHS, quyền

và nghĩa vụ của những người tham gia TTHS, của các cơ quan, tổ chức bảođảm ngăn chặn việc truy cứu trách nhiệm hình sự và kết án không có căn cứđối với con người, công dân Trong tiến trình thực hiện cải cách tư pháp, xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta việc ghi nhận và hoàn thiện cácquy định của BLTTHS về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là điều tấtyếu, đây là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụngthực hiện việc cải cách tư pháp có hiệu quả trong quá trình triển khai thựchiện chủ trương đường lối của Đảng trong lĩnh vực hoạt động tư pháp

Thứ ba, xuất phát từ sự phân định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn của VKS và Tòa án trong TTHS Tuy nhiên, để thực hiện được mục đíchchung đó, VKS và Tòa án cần phải thực hiện chức năng riêng có tính độc lập.Trong đó, VKS có thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo phápluật nhằm đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất,còn Tòa án thực hiện chức năng xét xử bảo đảm xét xử công bằng, kháchquan đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Quyết định truy tố của VKS là cơ

sở pháp lý làm phát sinh hoạt động xét xử của Tòa án Do đó, chức năng xét

xử là định hướng các hoạt động TTHS của Tòa án, và việc quy định về giớihạn xét xử của Tòa án trong BLTTHS là tất yếu khách quan để đảm bảo sựcân bằng và rạch ròi giữa các chức năng tố tụng (buộc tội và xét xử)

1.2.2 Cơ sở pháp lý

Việc quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được dựa trên nền tảngcác chế định pháp lý quan trọng có liên quan chặt chẽ với nhau trong

Trang 22

BLTTHS, tạo thành một thể thống nhất đảm bảo chất lượng giải quyết vụ ánhình sự Trong đó quan trọng nhất và quyết định nhất chính là hệ thống cácnguyên tắc của TTHS, bao gồm:

Thứ nhất, quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được dựa trên

nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 7 BLTTHS 2015): Xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, là bảo vệquyền con người, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng và Nhà nước ta đãxác định khi xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, hoàn thiện pháp luậtnói chung và các quy phạm pháp luật TTHS nói riêng Vì vậy, Hiến pháp năm

2013 và BLTTHS quy định nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN là một trongnhững nguyên tắc hàng đầu trong hoạt động TTHS, để các cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thực hiện theo đúng quy định của phápluật, không được giải quyết nguồn tin về tội phạm khi khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử ngoài những căn cứ mà BLTTHS quy định Nguyên tắc bảo đảmpháp chế XHCN đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành

tố tụng và những người tham gia tố tụng phải tuân thủ một cách nghiêmchỉnh, triệt để và thống nhất theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củamình theo quy định của pháp luật nói chung và TTHS nói riêng Mọi hành vilạm quyền trong hoạt động TTHS vượt quá chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncoi như là vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN Do vậy, Tòa án là cơ quantiến hành tố tụng và là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp với chứcnăng xét xử phải luôn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật TTHS.Giới hạn xét xử sơ thẩm là một quy định rất quan trọng thể hiện nội dung củamối quan hệ chế ước giữa VKS và Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Vì

lẽ trên, việc quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm các

Trang 23

nhà làm luật căn cứ vào tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về nguyêntắc hiến định bảo đảm pháp chế XHCN trong TTHS là cần thiết.

Thứ hai, quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được dựa trên

nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS 2015): Đây là một nguyên tắcrất quan trọng trong hoạt động TTHS, nguyên tắc này được Hiến pháp 2013

và BLTTHS 2015 ghi nhận nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn quyền con người,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiệnchức năng xét xử, và chỉ có Tòa án, mới là cơ quan có quyền kết tội mộtngười nào đó bằng biện pháp áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trên

cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện sự thật của vụ án tạiphiên tòa Đây là nguyên tắc, quy định trách nhiệm chứng minh tội phạmthuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng khôngbuộc phải có nghĩa vụ chứng minh Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố vàxét xử nếu xét thấy chưa có đủ cơ sở chứng minh, thì giải thích theo hướng cólợi cho bị can, bị cáo Theo đó, quá trình xét xử tại phiên tòa, nếu xét thấychưa có đủ căn cứ chứng minh bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử là một người

đã thực hiện hành vi phạm tội, thì HĐXX phải tuyên bố bị cáo không phạmtội Chính vì vậy, đây cũng là một trong những cơ sở để các nhà làm luật quyđịnh về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cho phù hợp với nội dung củanguyên tắc này

Thứ ba, quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được dựa trên

nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15 BLTTHS 2015): Xác định sựthật của vụ án là trách nhiệm chung của các cơ quan tiến hành tố tụng trongquá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm mục đích tìm ra sự thật khách quancủa vụ án Để đạt được hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm thìmọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện nhanh chóng,

Trang 24

kịp thời, chính xác và xử lý nghiêm khắc theo pháp luật Các cơ quan tiếnhành tố tụng phải xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện vàđầy đủ diễn biến của việc phạm tội đã xảy ra, nhằm làm rõ những chứng cứ cótội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, trách nhiệm này thuộc về cơ quantiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưngkhông bắt buộc phải chứng minh Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ ánhình sự, việc xác định sự thật vụ án cần phải dựa trên quan điểm, tư tưởngkhách quan, biện chứng Nếu việc CQĐT, điều tra không đầy đủ thì phải điềutra bổ sung, nếu việc xét xử không khách quan, chính xác thì phải sửa án, hủy

án Tòa án khi tiến hành xét xử vụ án hình sự trước hết phải xác định sự thật

vụ án một cách khách quan toàn diện, đầy đủ để xác định hành vi của người bịtruy tố có phải là hành

vi phạm tội không, nếu có hành vi phạm tội, thì phạm tội gì, người bị truy tố

có phải là người đã thực hiện hành vi phạm tội hay không, nếu là người thựchiện hành vi phạm tội thì quyết định áp dụng hình phạt như thế nào

là tương xứng Đây là trách nhiệm của Tòa án mà cụ thể là HĐXX phải tuânthủ, chứ không phải chủ quan dựa vào ý kiến buộc tội từ cơ quan truy tố VKS,hay ý kiến gỡ tội của người bào chữa, của bị can, bị cáo để đưa ra một phánquyết thiên vị hay cảm tính đối với một bên Cho nên, việc xác định sự thậtcủa vụ án cũng là một trong những cơ sở khi quy định về giới hạn xét xử sơthẩm trong BLTTHS

Thứ tư, quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được dựa trên

nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội (Điều 16 BLTTHS2015): Hiến pháp 2013, BLTTHS và Luật tổ chức TAND đã ghi nhận nguyêntắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội nhằm bảo vệ quyền conngười, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân trong

Trang 25

TTHS xuất phát từ quan điểm mở rộng tính dân chủ trong hoạt động tư pháptrong thời kỳ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Bảo đảm quyền conngười nói chung, quyền con người của người bị buộc tội nói riêng trongTTHS là một xu thế tất yếu trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Quyền bào chữa của người bị buộc tội được quy định trong BLTTHS lànhằm bảo đảm cho họ được trình bày quan điểm đối với việc bị buộc tội,đồng thời đưa ra các chứng cứ, những tình tiết cần thiết để các cơ quan tiếnhành tố tụng, người tiến hành tố tụng xem xét minh oan, hoặc giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho họ Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội khôngchỉ là biểu hiện của tính dân chủ trong hoạt động tư pháp mà còn là biểu hiệntính nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt động TTHS

Do vậy, pháp luật TTHS không chỉ quy định họ có quyền bào chữa màcòn có những đảm bảo cần thiết để quyền bào chữa của họ được thực hiện.CQĐT, VKS, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho họ thực hiện quyền bào chữađược thông qua việc giao nhận quyết định khởi tố bị can, quyết định tạm giữ,tạm giam, bản kết luận điều tra vụ án, cáo trạng và quyết định đưa vụ án raxét xử để họ tự chuẩn bị bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa thay cho họ,quyền được bào chữa của họ được thể hiện tập trung nhất tại phiên tòa sơthẩm, trong quá trình bào chữa họ và người bào chữa thay cho họ có thể trìnhbày tất cả những gì trên cơ sở pháp luật để làm sáng tỏ là mình không có tộihoặc được giảm nhẹ hình phạt Do vậy, trên cơ sở bảo đảm quyền bào chữacủa bị cáo được phát huy hiệu quả tại phiên tòa sơ thẩm, thì pháp luật TTHScần có quy định rõ ràng về giới hạn xét xử sơ thẩm nói riêng sao cho thật phùhợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vàngười bào chữa của họ nắm

Trang 26

được họ bị truy tố xét xử về hành vi nào, về tội gì, điểm, khoản, điều luật củaBLHS quy định, từ đó chuẩn bị chứng cứ, tài liệu để thực hiện quyền bàochữa Đây là một trong những cơ sở để nhà làm luật xây dựng chế định vềgiới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong BLTTHS.

Thứ năm, quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được dựa trên

nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật(Điều 23 BLTTHS 2015): Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân,nên việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia lànhằm đảm bảo tính dân chủ, khách quan, công bằng và chính xác trong hoạtđộng xét xử của Tòa án Đây là một trong những nguyên tắc rất cơ bản củaTTHS được Hiến pháp, các BLTTHS, luật tổ chức TAND ghi nhận Theo đó,nguyên tắc này thể hiện ở hai nội dung cơ bản đó là: Khi xét xử, Thẩm phán,Hội thẩm sẽ độc lập với nhau, không bị phụ thuộc vào bất cứ cá nhân hay tổchức nào trong việc đưa ra các ý kiến và phán quyết của mình về vụ án; khixét xử Thẩm phán, Hội thẩm chỉ căn cứ và tuân thủ các quy định của phápluật

Thứ sáu, quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được dựa trên

nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26 BLTTHS 2015):Trên cơ sở tư tưởng tranh tụng quán triệt trong các Nghị quyết 08/2002/NQ-

TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị, Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định về nguyên tắc tranh tụngtrong xét xử được bảo đảm, trên cơ sở đó mà BLTTHS 2015 cụ thể hóa thành

nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Đây được coi như một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng của TTHS Việt Nam trong giai

đoạn cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiệnnay Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về

“một số nhiệm vụ trong tâm

Trang 27

của công tác tư pháp trong thời gian tới” đã xác định "Bảo đảm tranh tụng dânchủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Việcphán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiêntòa" [13] Tranh tụng trong TTHS bao giờ cũng có sự tham gia của các bên cóquyền và lợi ích trái ngược nhau Việc pháp luật TTHS quy định cho các bêntham gia tố tụng có quyền đưa ra chứng cứ chứng minh và tranh luận để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa HĐXX có trách nhiệmxác định sự thật khách quan của vụ án bằng cách điều tra công khai, chínhthức về vụ án thông qua việc xem xét chứng cứ và nghe các bên tranh luận vềnội dung giải quyết vụ án tại phiên tòa để ra phán quyết Quá trình tranh tụngtại phiên tòa hình sự sơ thẩm được diễn ra giữa bên buộc tội là công tố viênVKS và bên bào chữa người bào chữa và bị cáo HĐXX thực hiện chức năngxét xử độc lập vớ i chức năng buộc tội của VKS và chức năng gỡ tội củangười bào chữa Có thể nói tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là mộthình thức tố tụng,

ở đó HĐXX không phải là người xét hỏi chính mà đóng vai trò như là người

"Trọng tài" điều khiển việc tranh tụng để các bên đối đáp ý kiến với nhauthông qua quá trình thẩm vấn và tranh tụng, trên cơ sở đó, HĐXX nhân danhNhà nước xác định sự thật của vụ án để ra một phán quyết một người cóphạm tội hay không phạm tội nhằm giải quyết vụ án một cách

khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật Do đó, Tòa án không phải là

cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội, nên không có tráchnhiệm chứng minh tội phạm, mà chỉ có trách nhiệm chứng minh vì sao đưa raphán quyết tuyên bố một người phạm tội hay không phạm tội và phải chịuhình phạt hay không phải chịu hình phạt Có thể nói, đây cũng là một trongnhững cơ sở khẳng định vị trí, vai trò của Tòa án là

Trang 28

người trọng tài trung lập, bảo đảm sự bình đẳng cho các bên trong quá trìnhxét xử vụ án hình sự, bảo đảm sự thật khách quan được xác định.

1.2.3 Cơ sở thực tiễn

Việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự còn xuất phát từthực tiễn tố tụng khi hai cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là Tòa án vàVKS thực hiện các hoạt động theo chức năng của mình Cụ thể là khi VKSthực hành quyền công tố: truy tố và buộc tội người hoặc pháp nhân bị truy tốtại phiên tòa sơ thẩm và khi Tòa án nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị xét xử hoặc khiHĐXX xét xử vụ án tại phiên tòa, quan điểm giữa hai cơ quan này có thểkhông thống nhất với nhau Trong trường hợp đó, cần phải giải quyết như thếnào để vừa bảo đảm quyền công tố của VKS không bị ảnh hưởng, hạn chếhoặc vô hiệu lại vừa bảo đảm quyền độc lập của Tòa án (Thẩm phán, Hộithẩm) cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo là mộtvấn đề cần xác định cụ thể Bởi vậy, phương án tốt nhất để đạt được mục đíchnày chính là việc phải quy định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.3 Ý nghĩa của việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự

1.3.1 Ý nghĩa chính trị - xã hội

Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật TTHS nói riêng,trong đó có quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm là góp phần vào việc thựchiện những nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp Tòa án và VKS làhai cơ quan tiến hành tố tụng nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực Nhànước một cách khách quan, công minh vì lợi ích của Nhà nước, của xã hộicũng như lợi ích của công dân Vì vậy, việc nhận thức và quy định về giới hạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự một cách đúng đắn là cơ sở bảo đảm cho bị cáothực hiện được những quyền công dân của mình, mà cụ thể là bảo đảm cho bịcáo có điều kiện để thực hiện quyền bào chữa của

Trang 29

mình tại phiên tòa, tạo điều kiện tranh tụng bình đẳng giữa bị cáo, người bàochữa của bị cáo với người thực hành quyền công tố Trong đó, chủ tọa phiêntòa với vai trò là người điều khiển phiên tòa, đồng thời làm trọng tài giữa cácbên tranh tụng, HĐXX lắng nghe ý kiến tranh luận của đại diện VKS thựchành quyền công tố và những người tham gia tố tụng khác, trên cơ sở đó mớixem xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đúng người, đúngtội, đúng pháp luật Chỉ như thế mới ngăn chặn được sự tùy tiện cũng như lạmquyền của Tòa án và VKS trong việc xử lý vụ án, đảm bảo cho bản án, quyếtđịnh của Tòa án được khách quan, đúng pháp luật.

1.3.2 Ý nghĩa pháp lý

Chiến lược cải cách tư pháp đã được định hướng trong các Nghị quyết,văn kiện của Đảng, đã được quán triệt thành các kế hoạch hành động thể hiệnquyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc cải cách tư pháp theo Hiếnpháp năm 2013, trong đó văn bản thể hiện quan điểm nhất quán đó là Nghịquyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đếnnăm 2020”, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 24/5/2005 về “Chiến lược xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướngđến năm 2020”, của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện bộ máycủa các cơ quan tư pháp mà trọng tâm xây dựng hoàn thiện tổ chức và hoạtđộng của hệ thống TAND và VKSND được thể hiện qua Luật Tổ chức TAND,Luật tổ chức VKSND năm 2014, và nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được bổsung sữa đổi trong đó có BLTTHS, BLHS Đây là những đạo luật cơ bản, rấtquan trọng, trực tiếp liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiếnhành tố tụng, liên quan đến yêu cầu duy trì và bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệcông lý, bảo vệ

Trang 30

quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của của công dân, đồngthời nhiều hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật khác được ban hành kháđầy đủ, tương đối phù hợp với thực tiễn làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành

tố tụng Thông qua quy định về giới hạn xét xử của Tòa án, nhiệm vụ của luật

tố tụng hình sự Việt Nam được thể hiện một cách rõ ràng gồm hai nhiệm vụ:Không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Việc quy định giới hạnxét xử là căn cứ pháp lý để tòa án thực hiện quyền xem xét và xử vụ án về nộidung, giúp Thẩm phán, Hội thẩm độc lập khi xét xử, đồng thời bảo đảmquyền công tố của Viện kiểm sát đượ c tôn trọng và thực hiện đúng quy địnhcủa pháp luật

1.3.3 Ý nghĩa thực tiễn

Như vậy, xuất phát từ nhu cầu tất yếu khách quan nhằm bảo đảmquyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, vừa bảo đảm về công bằng xã hội thìviệc pháp luật TTHS quy định quyền và bảo đảm quyền của người bị buộc tộinhất là bảo đảm quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của bị cáođược thực hiện tại phiên tòa xét xử và quyền được bào chữa được bảo đảmthực hiện thông qua giới hạn xét xử sơ thẩm là nhu cầu tất yếu

Đồng thời xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện

tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổchức và hoạt động của Tòa án nhân dân Chính giới hạn xét xử là yếu tố bảođảm cho tòa án luôn là tòa án - cơ quan thực hiện chức năng xét xử chứ khôngphải là cơ quan thực hiện chức năng buộc tội Mặt khác quy định này còn đảmbảo được nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, tòa ánkhông được xét xử những người chưa bị truy tố, không được xét xử nhữnghành vi của bị cáo theo tội danh không bị truy tố, không được xét xử theo tộidanh nặng hơn so với tội danh mà VKS

Trang 31

truy tố Từ đó, thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ, mục tiêu của Đảng và Nhànước ta Do đó, việc quy định rõ giới hạn xét xử vụ án hình sự có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tại Chương 1, luận văn đã làm rõ khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩmhình sự, chỉ ra những đặc điểm của giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự Bên cạnh

đó, luận văn cũng đã phân tích và làm rõ các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và

cơ sở thực tiễn của việc hình thành chế định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sựtrong pháp luận Tố tụng hình sự Việt Nam

Việc nghiên cứu những vấn đề chung về giới hạn xét xử sơ thẩm hình

sự được trình bày ở Chương 1 này là cơ sở để phân tích, đánh giá, nghiên cứuquy định của pháp luật TTHS hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng các quyđịnh về chế định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở quận Hoàng Mai.Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiệncác quy định của pháp luật TTHS nhằm thực hiện có hiệu quả chế định giớihạn xét xử của Tòa án trong thực tiễn ở quận Hoàng Mai

Trang 33

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ

áp dụng mà Tòa án có ý kiến khác với ý kiến của VKS thì bắt buộc Tòa ánphải họp trù bị với VKS cùng cấp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa ánthụ lý

Như vậy, Thông tư này đã xác định vai trò độc lập xét xử của Tòa áncho phép HĐXX căn cứ vào kết quả thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa đểquyết định tội danh của bị cáo mà không phụ thuộc vào cáo trạng truy tố củaVKS Sau thời gian dài thực hiện Thông tư nói trên thì lần đầu tiên vấn đềgiới hạn xét xử được quy định tại Điều 170 BLTTHS 1988 như sau: "Tòa ánchỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố vàTòa án đã quyết định đưa ra xét xử" Quy định này đã làm hạn chế nguyên tắcxét xử độc lập và xét xử đúng người, đúng tội, vì vậy, đã có nhiều ý kiến kiếnnghị từ phía Tòa án các cấp đề nghị sửa đổi

Sau khi BLTTHS 1988 ban hành, để việc áp dụng pháp luật một cáchthống nhất về nội dung mà điều luật quy định, ngày 08/12/1988 TANDTC vàVKSNDTC ban hành Thông tư liên ngành số 01/TTLN hướng dẫn: “Các Tòa

án không xét xử những người và những hành vi chưa được VKS truy tố vàkhông xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội

Trang 34

danh mà VKS truy tố” Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, qua nghiên cứu các tàiliệu chứng cứ mà trong quá trình điều tra, truy tố, Tòa án thấy cần truy tốthêm người, thêm tội hoặc xét xử bị cáo theo một tội danh khác nặng hơn, thìTòa án trả hồ sơ cho VKS điều tra bổ sung và thay đổi bản cáo trạng truy tố,trong trường hợp Tòa án đề nghị VKS thay đổi tội danh nặng hơn và đã traođổi mà VKS không nhất trí thì cả hai bên phải báo cáo ngay lãnh đạo cấp trêncùng cấp của mình xin ý kiến chỉ đạo Sau khi có văn bản báo cáo của hai cơquan cùng cấp dưới, lãnh đạo hai cơ quan cùng cấp trên trao đổi thống nhấthướng xử lý Trong trường hợp cả hai cùng thống nhất ý kiến thì hướng dẫncấp dưới thi hành, trường hợp không thống nhất ý kiến thì Tòa án cấp dướiphải xét xử theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS đã truy

tố, hoặc áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà VKS đã đềnghị, Tòa án không phải báo trước cho VKS và những người tham gia tố tụng[61]

So với BLTTHS năm 1988, thì BLTTHS năm 2003 có quy định sửa đổi,

bổ sung vấn đề giới hạn của việc xét xử tại Điều 196 BLTTHS năm 2003:

“Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy

tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Nội dung của quy định bao gồm:Thứ nhất, Toà án chỉ xét xử những bị cáo mà VKS đã truy tố và Toà án đãquyết định đưa ra xét xử

Như vậy, giới hạn của việc xét xử không phải là lần đầu tiên được đềcập đến trong BLTTHS năm 2015 mà đã được các BLTTHS trước đây quyđịnh rất cụ thể Tuy nhiên các quy định như trên đã dẫn đến một số khó khăncho việc xét xử của Tòa án Trên thực tế cũng đã có nhiều trường hợp Tòa ánthấy cần truy tố thêm người, thêm tội hoặc xét xử theo tội danh khác nặng hơn

đã trả hồ sơ để VKS tự mình bổ sung hoặc trả hồ sơ để cơ quan điều tra điềutra bổ sung, VKS thay đổi nội dung cáo trạng

Trang 35

Tuy nhiên, nếu VKS không nhất trí với đề nghị của Tòa án thì Tòa án vẫnphải xét xử theo tội danh mà VKS đã truy tố, dẫn đến nhiều bản án sơ thẩm bịhủy Để khắc phục bất cập nêu trên, điều 298 BLTTHS năm 2015 đã mở rộnggiới hạn xét xử cho Tòa án, cụ thể như sau:

2 Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đãtruy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội

Giới hạn xét xử của Tòa án theo khoản 1 và khoản 2 điều 298 BLTTHSnăm 2015 về cơ bản vẫn giữ nguyên như điều 196 BLTTHS năm 2003, chỉ

khác ở chỗ khoản 1 điều 298 BLTTHS năm 2015 đã sửa “Tòa án chỉ xét xử

…” trong quy định của BLTTHS 2003 thành “Tòa án xét xử những bị cáo vànhững hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ

đó là về giới hạn xét xử sơ thẩm Quy định mới đã cho phép Hội đồng xét xử

“linh hoạt” hơn và bảo đảm tính độc lập của Tòa án trong việc áp dụng phápluật Nội dung giới hạn xét xử được quy định cụ thể tại Điều 298 BLTTHSnhư sau:

Trang 36

2.2.1 Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử

Về mặt hình thức BLTTHS năm 2015 đã bỏ khái niệm “Tòa án chỉ xétxử…” trong quy định của BLTTHS năm 2003 thành quy định “Tòa án xétxử…” Như vậy, quy định mới đã mở rộng giới hạn xét xử của Tòa án: Ngoàichủ thể là “những bị cáo mà Viện kiểm sát truy tố” và “những hành

vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố” thì Hội đồng xét xử có quyền ra quyếtđịnh khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việcxét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm Có thể

thấy quy định của BLTTHS năm 2003 đã xung đột với nguyên tắc của phápluật TTHS là khi xét xử “thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo phápluật” và nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án Điều này vô hình chung cũng

đã tạo ra sự không rõ ràng trong chức năng tố tụng của các chủ thể tiến hành

tố tụng Việc thay đổi, bỏ từ “chỉ” đi theo quy định của BLTTHS năm 2015phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và tinh thần cải cách tư pháp được thể hiệntrong các Nghị quyết của Bộ Chính trị, đồng thời cũng tháo gỡ không ít khókhăn trong thực tiễn xét xử của Tòa án, bảo đảm sự độc lập của Tòa án trongxét xử, bảo đảm phán quyết của Tòa án phải trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranhtụng và những chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa

Theo quy định của BLTTHS, sau khi CQĐT có bản kết luận điều tra vụ

án chuyển sang VKS đề nghị truy tố đối với người phạm tội và những hành vi

do họ thực hiện ra trước Tòa án có thẩm quyền để xét xử, VKS sẽ xem xét để

ra quyết định có truy tố hay không bằng một bản cáo trạng Cáo trạng là vănbản tố tụng thể hiện quan điểm chính thức của VKS về tội danh của bị can,nhưng quan điểm trong cáo trạng không phải là cố định mà hoàn toàn có thểthay đổi phụ thuộc vào kết quả xét hỏi, tranh

Trang 37

luận, kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa, sự thay đổi quan điểm đó thểhiện trong phát biểu luận tội của KSV tại tòa Đồng thời cáo trạng là văn bản

tố tụng pháp lý để Tòa án làm căn cứ quyết định đưa vụ án ra xét xử về nhữngngười và những hành vi của họ đã bị VKS truy tố Sau khi ra quyết định truy

tố, nếu thấy có một trong những căn cứ theo quy định của luật định thì VKS

có quyền rút quyết định truy tố trước khi Tòa án mở phiên tòa và đề nghị Tòa

án ra quyết định đình chỉ vụ án theo Điều 282 BLTTHS năm 2015

Sau khi Tòa án tiếp nhận hồ sơ vụ án do VKS chuyển sang truy tố bằngmột bản cáo trạng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán đượcphân công làm Chủ tọa phiên tòa qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ

có trong hồ sơ vụ án một cách khách quan, toàn diện sẽ quyết định đưa vụ án

ra xét xử Việc Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa quyết định đưa vụ án ra xét xửkhông đồng nghĩa với việc Tòa án đồng nhất quan điểm với VKS về tội danh,điều khoản của BLHS mà VKS đã truy tố thể hiện trong bản cáo trạng Vìquyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa là một vănbản tố tụng được thể hiện về quan điểm của mình đối với vụ án thuộc thẩmquyền xét xử của Tòa án mình và có đủ căn cứ để đưa ra xét xử đối với những

bị cáo và những hành vi đã bị VKS truy tố Mục đích của quyết định đưa vụ

án ra xét xử là tạo điều kiện để cho bị cáo và những người tham gia tố tụngkhác có đủ điều kiện thực hiện các quyền của mình theo quy định của phápluật TTHS Như vậy, quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán - Chủ tọaphiên tòa chính là cơ sở để Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sựđối với những bị cáo và những hành vi của bị cáo đã bị VKS truy tố, và chỉnhững bộ cáo nào, những hành vi nào đã bị VKS truy tố được Thẩm phán -Chủ

Trang 38

tọa phiên tòa quyết định đưa ra xét xử thì Tòa án mới được phép xét xử tạiphiên tòa.

Theo quy định của BLTTHS năm 2015, khi ra quyết định truy tố VKSphải thông báo cho bị can, người bào chữa biết Bản cáo trạng giúp địnhhướng cho hoạt động bào chữa, bên bào chữa chỉ có thể bào chữa khi biết nộidung cụ thể của sự buộc tội Ngoài ra thì quyết định đưa vụ án ra xét xử phảiđược giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữachậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên toà, quy định này tạo điều kiệngiúp bị cáo và người tham gia tố tụng có điều kiện thực hiện các quyền củamình như: đưa ra yêu cầu, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng sau khinhận được quyết định đó Quy định này hướng đến việc đảm bảo mối quan hệvới nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, đồng thời đượcghi nhận cụ thể tại điểm c Khoản 2 Điều 60, điểm a Khoản 2 Điều 61BLTTHS 2015 về các quyền của bị can, bị cáo trong TTHS

Bên cạnh đó có những trường hợp không được khởi tố vụ án hình sựkhi có một trong các căn cứ sau: Không có sự việc phạm tội; Hành vi khôngcấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đếntuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản

án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truycứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với ngườikhác; Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141,

143, 155, 156 và 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hạikhông yêu cầu khởi tố

Trang 39

Để làm rõ nội dung của quy định giới hạn xét xử sơ thẩm tại khoản 1Điều 298 BLTTHS năm 2015 có thể phân tích làm rõ ở hai vấn đề như sau:

Thứ nhất, xét về giới hạn xét xử đối với đối tượng bị truy tố: “Tòa án

xét xử những bị cáo mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xétxử” Theo quy định của BLTTHS 2015, đối tượng bị VKS truy tố theo quyđịnh của pháp luật hình sự có thể là người (cá nhân) hoặc pháp nhân thươngmại phạm tội (tổ chức) Do đó, giới hạn xét xử sơ thẩm của Tòa án cũng đặt

ra đối với người hoặc pháp nhân thương mại đã bị VKS truy tố bằng quyếtđịnh truy tố Trong trường hợp vụ án có đồng phạm, vì lý do nào đó mà cóngười đồng phạm chưa bị VKS truy tố thì Tòa án cũng không có quyền xét xửđối với những người đồng phạm còn bị bỏ lọt đó Còn đối với trường hợp nếutrong quá trình xét xử tại phiên tòa mà HĐXX phát hiện ra tội phạm hoặcngười phạm tội mới cần phải điều tra thì HĐXX ra quyết định khởi tố hoặcyêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự theo đúng thẩm quyền quy định tại Điều

153 BLTTHS năm 2015

Trường hợp thứ nhất, nếu chỉ có một người phạm tội và chỉ thực hiện

một hành vi khách quan thì giới hạn của việc xét xử được xác định căn cứ vàohành vi mà người phạm tội thực hiện với hành vi mà VKS truy tố về một tộidanh được quy định trong BLHS và Toà án quyết định đưa ra xét xử

Ví dụ: A tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và giết người, nhưng VKSchỉ truy tố A về tội giết người mà không truy tố A về tội tàng trữ trái phép vũkhí trái phép thì Toà án không xét xử A về hành vi tàng trữ trái phép vũ khítrái phép Nếu Toà án thấy việc VKS không truy tố A về hành

vi tàng trữ trái phép vũ khí trái phép thì chỉ có thể quyết định trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung và yêu cầu VKS truy tố A về hành vi tàng trữ trái phép

Trang 40

vũ khí trái phép; trường hợp đã trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung mà VKSvẫn không truy tố thì Toà án chỉ có thể kiến nghị trong bản án hoặc kiến nghịbằng văn bản với VKS cấp trên trực tiếp để VKS cấp trên xe m xét việc khôngtruy tố A về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí trái phép mà Toà án yêu cầu.

Trường hợp thứ ba, nếu chỉ có một người phạm tội và người này cũng

thực hiện nhiều hành vi khách quan và tất cả những hành vi khách quan đóVKS chỉ truy tố về một tội, nhưng Toà án thấy trong các hành vi mà VKS truy

tố có hành vi cấu thành tội khác với tội mà VKS truy tố thì Toà án được xét

xử tất cả các hành vi mà VKS truy tố nhưng không được kết án tất cả cáchành vi đó về một tội và cũng không được kết án thêm tộ i mà VKS khôngtruy tố Chẳng hạn: Nguyễn Thị Lanh bị VKSND quận Hoàng Mai truy tố vềtội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" vì đã 8 lần chiếm đoạt của ông Trần Văn Kì

số tiền 540.000.000đ, trong thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa, Thẩmphán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa hoặc HĐXX qua nghiên cứu toàn

bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hoặc quá trình thẩm vấn côngkhai tranh tụng tại phiên tòa thấy rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Lanhchỉ có 5 lần "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" với số tiền 400.000.000đ, còn lại 3lần có hành vi "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" với số tiền140.000.0000 Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa trong thờihạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa HĐXX phát hiện được việc truy tố củaVKS đối với Nguyễn Thị Lanh là không đúng thì trả hồ sơ vụ án cho VKS đểđiều tra bổ sung để thay đổi nội dung bản cáo trạng để truy tố Nguyễn ThịLanh thêm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", nếu sau khi trả hồ sơ

để điều tra bổ sung thay đổi nội dung bản cáo trạng mà VKS không đồng ýthay đổi cáo trạng vẫn truy tố Nguyễn Thị Lanh như cũ, thì trong trường hợpnày

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w