Cơ sở của việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự
Pháp luật TTHS xác định giới hạn xét xử sơ thẩm dựa trên chức năng và nhiệm vụ của VKS và Tòa án, cùng với các nguyên tắc cơ bản của TTHS Điều này phản ánh mối quan hệ giữa các giai đoạn trong TTHS và vai trò của Tòa án trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Ngoài ra, cần giải quyết những quan điểm chưa thống nhất giữa VKS và Tòa án để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo Quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm được xây dựng trên những cơ sở vững chắc.
Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định dựa trên nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hoàn thiện quy trình tố tụng.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.14
TTHS, từ vị trí, vai trò của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành TTHS, cụ thể:
Việt Nam cam kết tôn trọng và bảo vệ quyền con người, với các nguyên tắc này được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp lý Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 Quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, và quyền không bị tra tấn là những quyền cơ bản được bảo vệ Trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, việc bảo vệ quyền con người ngày càng được chú trọng, đặc biệt là quyền bào chữa trong các vụ án hình sự Cần có sự bảo vệ trong quá trình buộc tội và xét xử, đồng thời bên bào chữa cần hiểu rõ giới hạn xét xử để chuẩn bị tốt cho việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo.
Thứ hai, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cần đổi mới và hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự (TTHS) Nhiệm vụ chính của TTHS là đấu tranh hiệu quả chống tội phạm và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân.
Việc quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong tiến trình tố tụng hình sự (TTHS) là rất cần thiết Điều này nhằm đảm bảo trách nhiệm của những người tiến hành TTHS và quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia, từ đó ngăn chặn việc truy cứu trách nhiệm hình sự và kết án không có căn cứ Trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) về giới hạn xét xử sơ thẩm là điều tất yếu, tạo cơ sở cho các cơ quan tố tụng thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng trong lĩnh vực tư pháp.
VKS và Tòa án trong TTHS có vị trí, chức năng và nhiệm vụ riêng biệt nhưng cần hoạt động độc lập để đạt được mục đích chung VKS thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, trong khi Tòa án thực hiện chức năng xét xử công bằng và khách quan Quyết định truy tố của VKS là cơ sở pháp lý cho hoạt động xét xử của Tòa án, do đó, chức năng xét xử định hướng các hoạt động TTHS và việc quy định giới hạn xét xử trong BLTTHS là cần thiết để đảm bảo sự cân bằng giữa các chức năng tố tụng.
Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được quy định dựa trên các chế định pháp lý quan trọng, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.16
BLTTHS tạo thành một hệ thống thống nhất nhằm đảm bảo chất lượng trong việc giải quyết các vụ án hình sự Nguyên tắc của TTHS đóng vai trò quan trọng và quyết định trong quá trình này.
Quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm dựa trên nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Bảo vệ quyền con người và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS quy định nguyên tắc này là hàng đầu trong hoạt động tố tụng hình sự, yêu cầu các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Mọi hành vi lạm quyền trong tố tụng đều vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN Tòa án, với chức năng xét xử, phải luôn tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS Giới hạn xét xử sơ thẩm thể hiện mối quan hệ chế ước giữa VKS và Tòa án trong giai đoạn này.
Nhà làm luật cần dựa vào tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước để đảm bảo nguyên tắc hiến định, từ đó củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.
Quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội theo Điều 13 BLTTHS 2015 là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, được ghi nhận trong Hiến pháp.
Năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã được ban hành nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và lợi ích hợp pháp của công dân Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và kết tội, dựa trên việc xem xét khách quan sự thật của vụ án Nguyên tắc này quy định rằng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tố tụng, trong khi bị can và bị cáo có quyền nhưng không bắt buộc phải chứng minh Do đó, nếu trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử không đủ cơ sở chứng minh, thì phải giải thích có lợi cho bị can, bị cáo Nếu không có đủ căn cứ để kết tội, Hội đồng xét xử phải tuyên bố bị cáo không phạm tội, từ đó xác định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phù hợp với nguyên tắc này.
Quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm dựa trên nguyên tắc xác định sự thật của vụ án theo Điều 15 BLTTHS 2015 Trách nhiệm xác định sự thật là chung của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm tìm ra sự thật khách quan Để đạt hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm, mọi hành vi phạm tội cần được phát hiện nhanh chóng.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, nhằm làm rõ chứng cứ có tội và vô tội, cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Nếu điều tra không đầy đủ, cần phải điều tra bổ sung; nếu xét xử không khách quan, phải sửa án hoặc hủy án Tòa án phải xác định hành vi của người bị truy tố có phải là hành vi phạm tội hay không, và nếu có, thì quyết định hình phạt phải tương xứng Trách nhiệm này thuộc về Tòa án, không thể dựa vào ý kiến chủ quan từ cơ quan truy tố hay người bào chữa để đưa ra phán quyết thiên vị Việc xác định sự thật của vụ án là cơ sở quan trọng trong quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội theo Điều 16 BLTTHS 2015 Hiến pháp 2013, BLTTHS và Luật tổ chức TAND đã ghi nhận nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền con người và quyền lợi hợp pháp của công dân.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.19
Ý nghĩa của việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự
1.3.1 Ý nghĩa chính trị - xã hội
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật tố tụng hình sự, là yếu tố quan trọng trong công tác cải cách tư pháp Tòa án và Viện Kiểm sát, với vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện quyền lực Nhà nước một cách khách quan và công minh, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân Do đó, việc nhận thức và quy định rõ ràng về giới hạn xét xử sơ thẩm trong các vụ án hình sự là cần thiết để đảm bảo quyền công dân của bị cáo, đặc biệt là quyền bào chữa của họ.
Tại phiên tòa, cần tạo điều kiện cho sự tranh tụng bình đẳng giữa bị cáo, người bào chữa và người thực hành quyền công tố Chủ tọa phiên tòa đóng vai trò điều khiển và làm trọng tài, lắng nghe ý kiến của đại diện VKS và các bên tham gia tố tụng Việc này giúp xem xét và giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Chỉ khi đó mới ngăn chặn được sự tùy tiện và lạm quyền của Tòa án và VKS, đảm bảo bản án và quyết định của Tòa án được khách quan và hợp pháp.
Chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã được xác định rõ trong các Nghị quyết và văn kiện, thể hiện quyết tâm thực hiện theo Hiến pháp năm 2013 Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 24/5/2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” là những văn bản quan trọng Việc xác định chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là TAND và VKSND, được thể hiện qua Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, cùng với nhiều bộ luật và pháp lệnh khác Những đạo luật này có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ công lý và quyền lợi của công dân.
Quyền con người và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân được quy định rõ ràng trong hệ thống văn bản pháp luật tại Việt Nam Luật tố tụng hình sự Việt Nam có hai nhiệm vụ chính: không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Việc quy định giới hạn xét xử là cơ sở pháp lý cho tòa án thực hiện quyền xem xét và xử án, giúp Thẩm phán và Hội thẩm độc lập trong quá trình xét xử, đồng thời đảm bảo quyền công tố của Viện kiểm sát được tôn trọng và thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo là một nhu cầu thiết yếu, nhằm đảm bảo công bằng xã hội Pháp luật TTHS quy định quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của bị cáo tại phiên tòa xét xử, và việc thực hiện quyền này cần được bảo đảm trong khuôn khổ xét xử sơ thẩm Đồng thời, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Tòa án nhân dân Giới hạn xét xử là yếu tố quan trọng để bảo đảm tòa án thực hiện chức năng xét xử, không phải là cơ quan buộc tội Quy định này cũng bảo đảm nguyên tắc quyền bào chữa, ngăn cản việc xét xử những người chưa bị truy tố hoặc xét xử theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố.
Việc quy định rõ giới hạn xét xử vụ án hình sự là rất quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, nhằm thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ và mục tiêu của Đảng và Nhà nước.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.26
Trong Chương 1, luận văn đã trình bày rõ ràng khái niệm về giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự và nêu bật những đặc điểm của nó Đồng thời, luận văn cũng phân tích các cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến việc hình thành chế định giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam.
Nghiên cứu về giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự trong Chương 1 là nền tảng để phân tích và đánh giá quy định của pháp luật TTHS hiện hành, cũng như thực tiễn áp dụng tại quận Hoàng Mai Tác giả sẽ đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS, từ đó nâng cao hiệu quả thực hiện chế định giới hạn xét xử của Tòa án tại quận Hoàng Mai.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.27
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
Khái quát lịch sử lập pháp của giới hạn xét xử sơ thẩm hình sự
Trước khi có BLTTHS 1988, vấn đề giới hạn xét xử được quy định tại Thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 của TANDTC Theo đó, khi Tòa án có ý kiến khác với VKS về tội danh và điều luật áp dụng, Tòa án phải tổ chức họp trù bị với VKS cùng cấp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án.
Thông tư này khẳng định vai trò độc lập xét xử của Tòa án, cho phép HĐXX quyết định tội danh của bị cáo dựa trên kết quả thẩm vấn và tranh tụng tại phiên tòa, không phụ thuộc vào cáo trạng của VKS Tuy nhiên, quy định tại Điều 170 BLTTHS 1988 giới hạn việc xét xử chỉ đối với những bị cáo và hành vi theo tội danh mà VKS truy tố, dẫn đến việc hạn chế nguyên tắc xét xử độc lập và đúng người, đúng tội Do đó, đã có nhiều kiến nghị từ Tòa án các cấp về việc sửa đổi quy định này.
Sau khi BLTTHS 1988 được ban hành, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất, vào ngày 08/12/1988, TANDTC và VKSNDTC đã ban hành Thông tư liên ngành số 01/TTLN Thông tư này hướng dẫn rằng các Tòa án không được xét xử những người và hành vi chưa được VKS truy tố, đồng thời không được xét xử bị cáo với tội danh nặng hơn tội danh đã được truy tố.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu Tòa án phát hiện cần truy tố thêm người hoặc tội danh nặng hơn, Tòa sẽ trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung và thay đổi bản cáo trạng Nếu Tòa đề nghị VKS thay đổi tội danh nhưng không được đồng ý, cả hai bên phải báo cáo lãnh đạo cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo Sau khi có báo cáo, lãnh đạo hai cơ quan sẽ thống nhất hướng xử lý Nếu có sự đồng thuận, cấp dưới sẽ thi hành theo hướng dẫn; nếu không, Tòa án sẽ xét xử theo tội danh khác nhẹ hơn mà VKS đã truy tố mà không cần thông báo trước cho VKS và các bên liên quan.
So với Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, BLTTHS năm 2003 đã có những sửa đổi quan trọng về giới hạn xét xử tại Điều 196 Cụ thể, Tòa án chỉ được xét xử những bị cáo và hành vi phạm tội mà Viện Kiểm sát (VKS) đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Điều này nhấn mạnh rằng chỉ những bị cáo đã được VKS truy tố mới có thể được đưa ra xét xử tại Tòa án.
Giới hạn của việc xét xử đã được đề cập trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, nhưng thực tế đã có quy định cụ thể từ các BLTTHS trước đó Tuy nhiên, những quy định này đã gây ra khó khăn cho quá trình xét xử của Tòa án Nhiều trường hợp cho thấy Tòa án cần truy tố thêm người hoặc tội danh nặng hơn, dẫn đến việc trả hồ sơ cho Viện Kiểm sát (VKS) để bổ sung hoặc yêu cầu cơ quan điều tra điều tra thêm, cũng như thay đổi nội dung cáo trạng.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.29
Nếu Viện Kiểm sát không đồng ý với đề nghị của Tòa án, Tòa án vẫn phải xét xử theo tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố, dẫn đến nhiều bản án sơ thẩm bị hủy Để khắc phục tình trạng này, điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng giới hạn xét xử cho Tòa án.
2 Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố
3 Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó"
Giới hạn xét xử của Tòa án theo khoản 1 và khoản 2 điều 298 BLTTHS năm 2015 cơ bản vẫn giữ nguyên như điều 196 BLTTHS năm 2003 Sự khác biệt nằm ở việc khoản 1 điều 298 BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi từ “Tòa án chỉ xét xử …” thành “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử”.
Quy định về giới hạn xét xử trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm
Bộ luật TTHS năm 2015 đã đánh dấu sự thay đổi lớn trong tư duy lập pháp, khắc phục nhiều hạn chế của BLTTHS năm 2003 Một trong những điểm đột phá là giới hạn xét xử sơ thẩm, cho phép Hội đồng xét xử linh hoạt hơn và đảm bảo tính độc lập của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật Điều này được quy định cụ thể tại Điều 298 BLTTHS.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.30
2.2.1 Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử
BLTTHS năm 2015 đã thay đổi quy định từ “Tòa án chỉ xét xử…” thành “Tòa án xét xử…”, mở rộng giới hạn xét xử của Tòa án Điều này cho phép Hội đồng xét xử có quyền khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có tội phạm bị bỏ lọt Quy định mới này phù hợp với nguyên tắc pháp luật TTHS về sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm, đồng thời giải quyết những bất cập trong chức năng tố tụng Việc bỏ từ “chỉ” cũng thể hiện tinh thần cải cách tư pháp và đảm bảo rằng phán quyết của Tòa án dựa trên kết quả xét hỏi, tranh tụng và chứng cứ công khai tại phiên tòa.
Theo quy định của BLTTHS, sau khi CQĐT hoàn thành kết luận điều tra và chuyển hồ sơ sang VKS, VKS sẽ xem xét để quyết định có truy tố hay không thông qua bản cáo trạng Cáo trạng là văn bản thể hiện quan điểm chính thức của VKS về tội danh của bị can, tuy nhiên, quan điểm này có thể thay đổi tùy thuộc vào kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, việc luận, kiểm tra và đánh giá chứng cứ được thể hiện qua phát biểu luận tội của Kiểm sát viên (KSV) Cáo trạng đóng vai trò là văn bản tố tụng pháp lý, giúp Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với những người và hành vi bị Viện Kiểm sát (VKS) truy tố Sau khi quyết định truy tố, nếu có căn cứ theo quy định của pháp luật, VKS có quyền rút quyết định truy tố trước khi Tòa án mở phiên tòa và đề nghị đình chỉ vụ án theo Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Sau khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án từ VKS với bản cáo trạng, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa sẽ nghiên cứu toàn bộ tài liệu chứng cứ để quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định này không đồng nghĩa với việc Tòa án đồng nhất quan điểm với VKS về tội danh Thẩm phán - Chủ tọa sẽ đưa ra quyết định dựa trên quan điểm của mình và căn cứ pháp lý để xét xử các bị cáo Mục đích của quyết định này là đảm bảo quyền lợi cho bị cáo và các bên tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật Do đó, quyết định của Thẩm phán - Chủ tọa là cơ sở để Tòa án tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo và hành vi đã bị VKS truy tố.
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.32 tọa phiên tòa quyết định đưa ra xét xử thì Tòa án mới được phép xét xử tại phiên tòa
Theo BLTTHS năm 2015, VKS phải thông báo cho bị can và người bào chữa khi ra quyết định truy tố Bản cáo trạng là cơ sở để bên bào chữa thực hiện quyền bào chữa, vì họ cần biết nội dung cụ thể của sự buộc tội Quy định cũng yêu cầu quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa ít nhất mười ngày trước phiên toà, giúp họ thực hiện quyền của mình như đề xuất thay đổi người tiến hành tố tụng Điều này đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, được ghi nhận tại điểm c Khoản 2 Điều 60 và điểm a Khoản 2 Điều 61 BLTTHS 2015.
Có những trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự, bao gồm: không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hoặc đã có bản án đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, việc khởi tố cũng không được thực hiện nếu đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, tội phạm đã được đại xá, hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm đã qua đời, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.33 Để làm rõ nội dung của quy định giới hạn xét xử sơ thẩm tại khoản
1 Điều 298 BLTTHS năm 2015 có thể phân tích làm rõ ở hai vấn đề như sau:
Tòa án chỉ có quyền xét xử những bị cáo mà Viện Kiểm sát (VKS) đã truy tố và quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 Đối tượng bị truy tố có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại Nếu có đồng phạm nhưng chưa bị VKS truy tố, Tòa án không có quyền xét xử những người này Trong trường hợp phát hiện tội phạm mới trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử (HĐXX) có thể ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự theo thẩm quyền quy định tại Điều 153 BLTTHS 2015.
Trong trường hợp chỉ có một người phạm tội và thực hiện một hành vi khách quan, giới hạn xét xử sẽ được xác định dựa trên hành vi của người phạm tội và tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố theo quy định của Bộ luật Hình sự Toà án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử dựa trên những căn cứ này.
Nếu A bị truy tố về tội giết người nhưng không bị truy tố về tội tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép, thì Toà án sẽ không xem xét hành vi tàng trữ vũ khí của A Trong trường hợp này, nếu Toà án nhận thấy việc VKS không truy tố A về tội tàng trữ vũ khí là thiếu sót, Toà án có thể yêu cầu điều tra bổ sung và trả hồ sơ để VKS tiến hành truy tố A về hành vi này.
Trong trường hợp VKS không truy tố sau khi đã trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Toà án chỉ có thể kiến nghị trong bản án hoặc gửi kiến nghị bằng văn bản đến VKS cấp trên Điều này nhằm xem xét việc không truy tố A về hành vi tàng trữ vũ khí trái phép theo yêu cầu của Toà án.
Trong trường hợp chỉ có một người phạm tội thực hiện nhiều hành vi khách quan, nếu Viện Kiểm sát (VKS) chỉ truy tố về một tội, nhưng Tòa án phát hiện có hành vi cấu thành tội khác, Tòa án có quyền xét xử tất cả các hành vi mà VKS truy tố nhưng không được kết án tất cả về một tội và cũng không được kết án thêm tội mà VKS không truy tố Ví dụ, Nguyễn Thị Lanh bị VKSND quận Hoàng Mai truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" do đã chiếm đoạt của ông Trần Văn Kì 540.000.000đ Tuy nhiên, trong quá trình xét xử, Thẩm phán phát hiện chỉ có 5 lần "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" với số tiền 400.000.000đ, còn 3 lần là "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" với số tiền 140.000.000đ Nếu VKS truy tố không đúng, Tòa án có thể trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung và thay đổi nội dung bản cáo trạng.
Nếu Viện Kiểm sát không đồng ý thay đổi nội dung bản cáo trạng sau khi điều tra bổ sung, vẫn sẽ truy tố Nguyễn Thị Lanh về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.35
HĐXX đã xét xử Nguyễn Thị Lanh với 8 hành vi "chiếm đoạt tài sản" của ông Kì, trong đó có 5 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 400.000.000đ HĐXX kiến nghị VKS cấp trên xem xét, nhưng không tuyên bố Nguyễn Thị Lanh không phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" liên quan đến số tiền 140.000.000đ mà bà đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của ông Kì Nếu tuyên bố không phạm tội đối với số tiền này, bản án sẽ không thể truy cứu trách nhiệm hình sự của Nguyễn Thị Lanh về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".