Giải quyết tranh chấp trong kinhdoanh, thương mại bằng con đường toà án mang tính cưỡng chế cao và các bênkhông cần phải có sự thoả thuận trước.Hà Nội là một thành p
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “ Pháp luật về giải quyếttranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng con đường tòa án Thực tiễn giảiquyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố HàNội”, là đề tài nghiên cứu của riêng tôi không sao chép từ bất kỳ tài liệu nào Nếubị phát hiện sao chép, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Trường và Khoa
Sinh viên Vũ Huyền Trang
MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN 3
1.1 Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh thương mại…… 3
1.1.1 Khái niệm kinh doanh thương mại……… 3
1.1.2 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại………6
1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại……7
1.2.1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên……… 7
1.2.2 Hoà giải các tranh chấp……….9
1.2.3Giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại………10
1.2.4Giải quyết tranh chấp tại toà án……… 13
1.3 Giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án………….15
1.3.1Khái quát về cơ cấu tổ chức của toà án……… 15
1.3.2Đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế tại toà án………….17
1.3.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại toà án………18
1.3.4Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo BLTTDS 2004……… 18
1.3.5Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại của toà án 22
1.3.5.1 Thẩm quyền theo vụ việc……….23
1.3.5.2 Thẩm quyền theo cấp toà án………26
1.3.5.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ ……… 29
1.3.5.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn ……… 30
1.3.6Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án………31
1.3.6.1 Tại toà án cấp sơ thẩm……….31
1.3.6.2 Tại toà án cấp phúc thẩm……….51
Trang 31.3.6.3 Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật……56
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60
2.1 Khái quát về Toà kinh tế TAND thành phố Hà Nội……… 60
2.1.1 Sự hình thành và cơ cấu tổ chức của toà………60
2.1.2Thẩm quyền của toà……….62
2.2 Thực tiễn xét xử……… 63
2.2.1Một số vấn đề về công tác giải quyết án kinh tế qua các năm………63
2.2.2Đánh giá nguyên nhân số lượng án kinh tế tăng đột biến………… 76
2.2.3Phương hướng xét xử án kinh tế trong thời gian tới……… 77
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THỜI GIAN TỚI 79
3.1 Đối với pháp luật về giải quyết tranh chấp nói chung……….79
3.2 Đối với pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại……… 86
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC MẪU BIÊN BẢN CỦA TÒA……….93
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 41 BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự năm
2 TAND Toà án nhân dân
3 VKSND Viện kiểm sát nhân dân
4 HĐTP Hội đồng thẩm phán
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 5Hoạt động kinh doanh, thương mại là một hoạt động có từ rất xa xưa trênthế giới Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện các thương gia, các nhà buôn và giữa họdiễn ra các hoạt động trao đổi hàng hoá Chính các hoạt động này đã góp phầnkhông nhỏ vào sự phát triển kinh tế, sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc Ngàynay, khái niệm kinh doanh, thương mại ngày càng được hoàn thiện và mở rộnghơn để phù hợp với sự phát triển của xã hội, nó không chỉ còn là một khái niệmchung chung mà đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật Hầu hết cácquốc gia đều có các văn bản pháp luật để điều chỉnh, mặc dù có thể tên gọi có thểkhác nhau Như ở Nhật Bản và Thái Lan thì văn bản pháp luật điều chỉnh là Bộluật thương mại, còn ở Philipin và Việt Nam thì văn bản đó là Luật thương mại.Khái niệm kinh doanh, thương mại còn được quy định trong nhiều Hiệp định quantrọng của các tổ chức như ASEAN, WTO, trong luật mẫu về trọng tài thương mạiquốc tế của UNCITRAL Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm và phức tạpnên việc xảy ra tranh chấp là một vấn đề khó tránh khỏi Nhìn chung, hiện naytrên thể giới có 4 phương thức giải quyết cơ bản đó là: thương lượng, hoà giải,trọng tài thương mại và tại toà án Tuỳ và đặc điểm của mỗi quốc gia mà phươngthức giải quyết nào được sử dụng phổ biến hơn Ở Việt Nam, giải quyết tranhchấp trong kinh doanh, thương mại bằng con đường toà án đang là phương thứcgiải quyết thông dụng và phổ biến nhất hiện nay Giải quyết tranh chấp trong kinhdoanh, thương mại bằng con đường toà án mang tính cưỡng chế cao và các bênkhông cần phải có sự thoả thuận trước.
Hà Nội là một thành phố lớn tập trung rất nhiều hoạt động của đất nước.Trong đó thì hoạt động kinh doanh, thương mại diễn ra rất sôi động, điều đó cũngdẫn tới một thực tế là có rất nhiều tranh chấp giữa các bên trong quan hệ này Do
đó Toà án nhân dân Hà Nội nói chung và Toà kinh tế nói riêng với tư cách là toàán cấp tỉnh đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp này
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, tôi không nghiên cứu toànbộ các vấn đề về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại mà chỉ tậptrung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản như về thẩm quyền của toà án, trình tự thủ
Trang 6tục giải quyết tại phiên toà sơ thẩm và thực tiễn giải quyết tại Toà kinh tế - Toà ánnhân dân thành phố Hà Nội
Qua việc nghiên cứu này chúng tôi cũng xin đưa ra một số kiến nghị mong hoànthiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mạibằng con đường toà án
Cơ cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng con đường toà án
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Toà kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong thời gian tới
Trong quá trình viết báo cáo tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tìnhcủa giáo viên hướng dẫn – ThS Nguyễn Anh Tú và bác Phạm Tuấn Anh – Chánhtòa kinh tế, TAND tp Hà Nội cùng các cô, chú thẩm phán, cán bộ tòa án của tòa
Trong quá trình viết bài có thể chưa thu thập được đầy đủ thông tin, rấtmong sự đóng góp ý kiến của mọi người!
CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN
1.1 Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh thương mại
Trang 71.1.1 Khái niệm kinh doanh thương mại
Thuật ngữ “thương mại” ban đầu được dùng để chỉ các hoạt động buôn báncủa các thương gia Chính vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mại được hiểulà hoạt động mua bán hàng hoá với mục đích kiếm lời Cùng với quá trình pháttriển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dần sang các lĩnhvực khác liên quan đến mua bán hàng hoá, ban đầu là các dịch vụ kèm theo nhưvận tải, bảo hiểm, thanh toán… Ngày nay, khái niệm thương mại được hiểu theonghĩa rất rộng nó bao hàm tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lời từ đầu tư,sản xuất đến phân phối và cả dịch vụ sau bán hàng…
Ở các nước trên thể giới, khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng ravới với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìmkiếm lợi nhuận Ví dụ như, Bộ luật thương mại số 48 của Nhật Bản ngày 9/3/1899,thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đíchlợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điệnhay khí đốt, uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng Luật thương mại của Philipin tuykhông đưa ra các hành vi thương mại cụ thể mà quy định phạm vi điều chỉnh làcác hoạt động nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá dịch vụ với mục đích lợi nhuận.Ngoài ra, luật thương mại của Philipin còn điều chỉnh các giao dịch thương mạitrong tất cả các lĩnh vực kể cả lĩnh vực vận chuyển hành khách Bộ luật thươngmại của Thái Lan cũng đưa ra khái niệm thương mại khá rộng không chỉ bao gồmviệc mua bán hàng hoá mà cả các hoạt động thuê tài sản, thuê mua tài sản, tíndụng, thể chấp, đại diện, môi giới, bảo hiểm, công ty, hợp danh… Tuy nhiên, sựphát triển của thương mại trên toàn cầu đã làm nảy sinh nhiều cách hiểu khác nhau
về khái niệm thương mại của nhiều nước Nhằm mục đích giảm bớt sự khác biệt,từng bước thống nhất hoá cách hiểu về pháp luật thương mại trong quan hệ kinh tếquốc tế, ngày 21/6/1985 Uỷ ban pháp luật thương mại Liên Hợp Quốc(UNCITRAL) đã thông qua Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế trong đóđưa ra khái niệm về thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” cần được giảithích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thương
Trang 8mại, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng Những mốiquan hệ thương mại gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch: bất cứ giao dịchthương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, thoả thuận phânphối, đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng, cho thuê, xây dựng cáccông trình, tư vấn, kỹ thuật, đầu tư, cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thoả thuậnkhác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệphoặc kinh doanh, chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đườngkhông, đường sắt hoặc đường bộ Cách hiểu khái niệm thương mại nêu trên cũngtương đồng với cách hiểu trong một số hiệp định quan trọng của ASEAN, Hiệpđịnh thành lập tổ chức thương mại quốc tế gồm nhiều Hiệp định cấu thành nhưHiệp định GATT, GATS, TRIMP, TRIPS,…
Ở Việt Nam thuật ngữ “thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đờisống xã hội, tuy nhiên, có lẽ, hầu hết mọi người đều hiểu theo nghĩa thông thường
đó là hoạt động mua bán nhằm mục đích kiếm lời Tuy không trực tiếp nêu ra kháiniệm “thương mại” nhưng trong một số đạo luật của chúng ta cũng ít nhiều nóiđến khái niệm này Năm 1990, Quốc hội thông qua hai đạo luật rất quan trọng, đólà Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Hai luật này đã đưa ra một kháiniệm mới trong khoa học pháp lý Việt Nam có liên quan nhiều đến việc áp dụngpháp luật thương mại, đó là khái niệm “kinh doanh” Khái niệm “kinh doanh”cũng được nhắc lại trong Luật doanh nghiệp 1999, theo đó “kinh doanh là việcthưc hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuấtđến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinhlợi” (khoản 3 điều 2) Khái niệm này trong một chừng mực nhất định có nhữngquan điểm tương đồng với khái niệm thương mại theo nghĩa rộng được sử dụngphổ biến trên thế giới hiện nay và cũng được giải thích tại Luật mẫu về trọng tàithương mại quốc tế năm 1985 Khái niệm “thương mại” theo Luật thương mại
1997 được hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm 14 hành vi điều chỉnh các quan hệ muabán hàng hoá và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá Thậm chí đốitượng của việc mua bán hàng hoá cũng chỉ bị giới hạn ở các động sản, chủ yếu là
Trang 9các máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng, các độngsản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thứccho thuê, mua bán (điều 5 Luật thương mại 1997) Các bất động sản như nhà máy,công trình xây dựng (không phải là nhà ở), các quyền tài sản như cổ phần, cổphiếu, trái phiếu, các hành vi liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa như vậnchuyển hàng, thanh toán tiền mua hàng qua hệ thống ngân hàng… cũng khôngthuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 1997 Pháp lệnh trọng tài thươngmại ra đời và có hiệu lực ngày 01/7/2003 nêu rõ: “Hoạt động thương mại là việcthực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh baogồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại,
ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua Xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li xăng, đầu tư, tàichính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hoá, hành kháchbằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thươngmại khác theo quy định của pháp luật” Song có thể nói, khái niệm thương mạiđược hiểu theo nghĩa rộng này mới chỉ được tồn tại trong một văn bản quy phạmpháp luật có giá trị pháp lý cao mang tính nội dung Sự ra đời khái niệm “kinhdoanh” theo Luật doanh nghiệp 1999, sự tồn tại khái niệm “kinh tế” trong Pháplệnh Hợp đồng kinh tế 1989, cũng như khái niệm “thương mại” theo Pháp lệnhtrọng tài thương mại 2003 đã tạo sự nhận thức khác biệt trong cách hiểu về
“thương mại” so với Luật thương mại 1997 Phạm vi điều chỉnh rộng hẹp của kháiniệm thương mại trong hệ thống pháp luật nói trên đã tạo ra sự mâu thuẫn, chồngchéo trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về nội dung (Luật doanhnghiệp 1999, Luật thương mại 1997, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989) cũng nhưluật tố tụng (Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003) Đặc biệt điều này còn ảnhhưởng đến quá trình Việt Nam thích ứng với các quy định và tập quán thương mạiquốc tế Có thể nói đây là một trong những trở ngại lớn nhất của Việt Nam trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể là việc thực thi Hiệp định thương mạiViệt Nam – Hoa Kỳ cũng như các cam kết của Việt Nam khi đã trở thành thànhviên của Tổ chức thương mại thế giới Việc xác định phạm vi điều chỉnh theo diện
Trang 10hẹp của Luật thương mại 1997 trên thực tế đã phát sinh nhiều vấn đề, không chỉtrong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại mà còn ảnh hưởng đến việcgiải quyết các tranh chấp thương mại, tiếp sau đó là việc công nhận và cho thihành các bản án, phán quyết của trọng tài nước ngoài.
Khắc phục những nhược điểm trên, năm 2005 tại kỳ họp thứ 7, khoá XI,Quốc hội đã thông qua Luật thương mại 2005, có hiệu lực thi hànhngày01/01/2006 thay thế Luật thương mại 1997 Theo đó thì khái niệm “thươngmại” đã được mở rộng rất nhiều thông qua khái niệm “hoạt động thương mại” nhưsau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm muabán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt độngnhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 điều 3 Luật thương mại 2005) Khái niệmhàng hoá cũng được mở rộng “hàng hoá bao gồm tất cả các loại động sản, kể cảđộng sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai” Luậtthương mại có phạm vi điều chỉnh rộng, không bị giới hạn trong 14 hành vithương mại của Luật thương mại năm 1997 Luật này đã điều chỉnh tất cả các hoạtđộng thương mại bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và các khíacạnh thương mại của đầu tư và sở hữu trí tuệ phù hợp với quy định của WTO vàUNITRAL Việc mở rộng này giúp cho việc giải quyết các tranh chấp quốc tếđược thực hiện dễ dàng hơn
1.1.2 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại
Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là những bất đồng xảy ra tronghoạt động thương mại Khái niệm này tưởng chừng rất đơn giản, nhưng thực racho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về tranh chấp trong kinh doanhthương mại Ngay cả Luật thương mại 2005 là luật chuyên ngành điều chỉnh quan
hệ thương mại giữa thương nhân, nhưng cũng không hề có quy định cụ thể nào vềtranh chấp trong kinh doanh thương mại Do đó việc xác định chính xác thế nào làtranh chấp trong kinh doanh thương mại hiện nằm tản mạn trong các văn bản phápluật Tuy nhiên, mỗi văn bản lại có quy định khác nhau Trong khoản 1 điều 29BLTTDS có quy định: “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương
Trang 11mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợinhuận” Nhưng trong nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Toà án nhân dân tốicao lại hướng dẫn Toà kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấpvà các yêu cầu về kinh doanh thương mại quy định tại điều 29 và 30 BLTTDS;các tranh chấp kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng kýkinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận Pháp lệnh trọng tài 2003 quy định
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạtđộng thương mại được các bên thoả thuận…” Mà hoạt động thương mại đượcPháp lệnh này quy định là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại củacác cá nhân, tổ chức kinh doanh Do đó, so với BLTDS thì Pháp lệnh trọng tài quyđịnh khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại rộng hơn bao gồm mọi cánhân, tổ chức kinh doanh mà không yêu cầu phải có đăng ký kinh doanh
1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại
1.2.1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên
Đó là việc khi có tranh chấp hai bên có thể tự bàn bạc, dàn xếp, thảo luận
để đưa ra phương án giải quyết tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp của bênthứ ba cũng như là thông qua một thủ tục tố tụng nào Phương thức này là phươngthức cố điển, thông dụng nhất bởi nó dễ thực hiện, ít tốn kém, ít tổn hại đến uy tíncũng như bí mật kinh doanh, không bị ràng buộc bởi bất kỳ một nguyên tắc pháp
lý nào, đặc biệt là giữ được mối quan hệ lâu dài giữa các bên, thậm chí còn tăngcường sự hiểu biết, sự hợp tác giữa các bên nếu như thương lượng thành công.Khi xảy ra tranh chấp thì hầu như các bên sẽ lựa chọn phương thức này đầu tiên,
họ chỉ lựa chọn phương thức khác khi mà đã thực hiện phương thức này nhưngkhông có kết quả Xuất phát từ bản chất của các mối quan hệ trong kinh doanhthương mại, đó là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, do vậy mà nguyên tắc tự dothoả thuận cũng được đặt lên hàng đầu Theo đó thì trong quan hệ kinh doanhthương mại, cũng như việc giải quyết các tranh chấp hoàn toàn có quyền tự thoảthuận trên cơ sở những gì mà pháp luật không cấm Thương lượng chính là sự thểhiện quyền tự do thoả thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp Các bên tự đề
Trang 12xuất các phương phương án, cách thức thoả thuận mà không phải tuân theo bất kỳmột thủ tục pháp lý nào Có thể nói việc thương lượng giữa các bên có 3 đặc trưng
cơ bản sau: thứ nhất là các bên tự mình bàn bạc thoả thuận để giải quyết tranhchấp mà không cần có sự giúp đỡ của bất kỳ bên thứ ba hay cơ quan nào Thứ hailà quá trình thương lượng giữa các bên không phải tuân theo bất cứ một nguyêntắc hay trình tự thủ tục tố tụng mang tính pháp lý nào Pháp luật chỉ quy địnhthương lượng như một quyền của các bên mà không quy định các hành vi cụ thểcủa các chủ thể Do đó các bên hoàn toàn có thể thoả thuận những gì mà pháp luậtkhông cấm Thứ ba là việc thực hiện các kết quả thương lượng là hoàn toàn phụthuộc vào sự tự nguyện của các bên, không có một sự ràng buộc cưỡng chế mangtính pháp lý nào Có chăng, cái ràng buộc các bên thực hiện trong trường hợp này
đó là uy tín của các bên mà thôi Quá trình giải quyết tranh chấp có thể được thựchiện bằng nhiều phương thức khác nhau do hai bên lựa chọn, hai bên có thể gặpmặt trực tiếp hoặc gửi cho nhau các tài liệu thể hiện các quan điểm của mình nhằmđưa ra được cách giải quyết hợp lý hoặc cũng có thể kết hợp thương lượng trựctiếp và gián tiếp
Tóm lại, thương lượng là phương thức rất thuận tiện, đơn giản, ít tốn kém,nhanh chóng, linh hoạt, hiệu quả bảo vệ được uy tín, bí mật trong kinh doanh củacác bên Tuy nhiên, nó sẽ là rất khó thực hiện nếu các bên không có thiện chí, đặcbiệt là kết quả thương lượng có thể sẽ không được các bên thực hiện, các bên cóthể tìm cách trì hoãn thương lượng kéo dài vụ tranh chấp Do đó, khi lựa chọnphương thức này để giải quyết các bên cũng cần lưu ý để có thể tìm ra được cáchthức giải quyết cho phù hợp nhất
1.2.2 Hoà giải các tranh chấp
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp cùng với sự hỗ trợ của bênthứ ba làm trung gian hoà giải Bên thứ ba tham gia giải quyết tranh chấp với vaitrò là người thuyết phục, đưa ra ý kiến để các bên tham khảo Khác với hình thứcgiải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại hay toà án, ở đây, các ý kiến củabên thứ ba chỉ mang tính chất tham khảo, các bên có thể nghe theo hoặc không,
Trang 13quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên Hoà giải với sự tham gia của bên thứ
ba trong trường hợp này là hoà giải ngoài tố tụng, còn hoà giải được tiến hành tạitrọng tài hay toà án là hoà giải trong tố tụng
Hoà giải ngoài tố tụng có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, trong quá trình giải quyết tranh chấp luôn có sự xuất hiện của bênthứ ba làm trung gian đưa ra các ý kiến, các giải pháp để các bên có thể lựa chọn .Điểm khác biệt giữa hoà giải và thương lượng chính là sự xuất hiện của bên thứ
ba Thương lượng được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ, còn hoà giải lạiluôn có người thứ ba tham gia Tuy nhiên, bên thứ ba làm trung gian hoà giảikhông có quyền quyết định, không có quyền áp đặt bất cứ một vấn đề gì ràng buộccác bên, họ chỉ là người đưa ra các sang kiến, các giải pháp mang tính thuyết phụccòn quyền quyết định cuối cùng vấn thuộc về các bên
Hoà giải cũng khác biệt với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hay toà án.Cả ba hình thức này đều có sự xuất hiện của bên thứ ba, nhưng vai trò bên thứ bacủa toà án hay trọng tài lại có quyền đưa ra các phán quyết ràng buộc các bên
Thứ hai, quá trình giải quyết tranh chấp bằng hoà giải không phải tuân theomột quy trình tố tụng khuôn mẫu nào do pháp luật quy định Mọi cách thức để giảiquyết tranh chấp đều do các bên thoả thuận cũng giống như thương lượng
Thứ ba, cũng giống như thương lượng, kết quả hoà giải thành cũng đượcthực thi hoàn toàn trên sự tự nguyện của các bên, không có một cơ chế pháp lýnào bảo đảm hay cưỡng chế thi hành Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, ngườithứ ba được các bên lựa chọn có vai trò rất quan trọng Pháp luật không hề quyđịnh về tiêu chuẩn của bên thứ ba, tuy nhiên, để được các bên tin tưởng lựa chọn
họ phải là người có đầy đủ các yếu tố như: có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, amhiểu pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt là phải độc lập với các bên Họphải là người không có lợi ích liên quan hoặc xung đột với lợi ích của các bêntranh chấp
Tóm lại, cả hoà giải và thương lượng thực chất là phương thức giải quyếttranh chấp thông qua cơ chế thoả thuận của các bên, nó không mang tính chất tố
Trang 14tụng, đơn giản, ít tốn kém và kết quả phụ thuộc chủ yếu vào sự tự nguyện của cácbên Ngoài ra, hoà giải với sự tham gia của bên thứ ba trong quá trình giải quyếttranh chấp nên còn có ưu điểm mà thương lượng không có Người thứ ba làmtrung gian hoà giải thông thường là người có trình độ, am hiểu, có kinh nghiệm,khách quan, biết được vị thế của các bên nên thường dễ làm cho ý chí của các bên
dễ gặp nhau hơn Kết quả hoà giải được ghi nhận và có sự chứng kiến của bên thứ
ba nên mức độ tôn trọng và tự nguyện cao hơn so với thương lượng Tuy nhiên,cũng giống như thương lượng, hoà giải cũng gặp phải khó khăn về vấn đề thi hànhvà khi hoà giải có sự xuất hiện của bên thứ ba nên có thể làm ảnh hưởng đến uytín và bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp
1.2.3 Giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạtđộng của trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập, nhằm chấm dứt xung độtbằng việc đưa ra một phán quyết trên cơ sở sự thoả thuận của các bên tranh chấpvà có hiệu lực bắt buộc đối với mỗi bên Theo quy định của Pháp lệnh trọng tàithương mại năm 2003 thì “trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranhchấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thoả thuận và được tiếnhành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp lệnh này quy định” (khoản 1 điều 2).Như vậy, qua khái niệm này ta đã phần nào thấy được bản chất của trọng tàithương mại Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thươngmại có các đặc trưng như sau:
Thứ nhất, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của
bên thứ ba là các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất và việc giải quyếttranh chấp tại trọng tài thương mại phải được các bên thoả thuận Giống như hoàgiải, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại cũng có sự xuất hiện của bênthứ ba Tuy nhiên, trong hoà giải pháp luật không quy định điều kiện của bêntrung gian hoà giải còn trong tố tụng trọng tài pháp luật có quy định điều kiện củatrọng tài viên, nếu trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp không đủ điềukiện như pháp luật quy định thì có thể ảnh hưởng đến hiệu lực của quyết định
Trang 15trọng tài Theo quy định tại điều 12 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì trọngtài viên phải thoả mãn những điều kiện sau: là công dân Việt Nam có năng lựchành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực vô tư khách quan; cóbằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành học từ năm năm trở lên; ngườiđang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kếtán mà chưa được xoá án tích không được làm trọng tài viên; Thẩm phán, Kiểm sátviên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức đang công tác tại toà án nhân dân,Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án không được làmtrọng tài viên Tại điều 3.2 Pháp lệnh cũng quy định rõ là khi giải quyết tranhchấp, trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư, phải căn cứ vào pháp luật vàtôn trọng thoả thuận của các bên Như vậy, không phải ai cũng có thể trở thànhbên thứ ba giải quyết tranh chấp trong tố tụng trọng tài.
Đối với hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thông quathương lượng hoặc hoà giải thì khi có tranh chấp các bên có thể không cần có thoảthuận trước mà vẫn có thể thương lượng hoặc hoà giải được Còn đối với hìnhthức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thì các bên bắt buộc phải cóthoả thuận trọng tài, nếu không hình thức này sẽ không được sử dụng để giảiquyết tranh chấp Theo quy định tại khoản 2 điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại
2003 thì “thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằngtrọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt độngthương mại” Thoả thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản, thoả thông quathư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chícủa các bên, giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài được coi là thoả thuận trọngtài bằng văn bản Thoả thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợpđồng hoặc một thoả thuận riêng (điều 9 Pháp lệnh trọng tài thương mại) Tuynhiên, thoả thuận trọng tài là để giải quyết tranh chấp nếu phát sinh nên nó khôngthể phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng mà điều khoản hợp đồng tồn tại độc lậpvới với hợp đồng Việc gia hạn, huỷ bỏ hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lựccủa điều khoản trọng tài (điều 11 PL trọng tài thương mại)
Trang 16Thoả thuận trọng tài không phải đương nhiên có hiệu lực, nó có thể vô hiệunếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại điều 10 PL trọng tài thương mại
Đặc trưng thứ hai của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đó làquá trình giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố tụng chặt chẽ Đây làđiểm khác biệt cơ bản giữa phương thức trọng tài và hai phương thức giải quyếttrước Giải quyết tranh chấp tại trọng tài, trọng tài viên và các bên đương sự phảituân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của
tổ chức trọng tài đó quy định Nếu quy trình tố tụng này không được tuân thủ, mộthoặc các bên không có cơ hội công bằng để trình bày trường hợp của mình trướctrọng tài viên thì quyết định của trọng tài có thể sẽ không được công nhận vàkhông được cho thi hành
Đặc trưng thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài làphán quyết do trọng tài tuyên bố với các đượng sự của vụ tranh chấp Phán quyếtcủa trọng tài vừa kết hợp yếu tố thoả thuận (các bên đương sự có thể thoả thuận vềnội dung tranh chấp, cách thức giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với tranhchấp…), vừa kết hợp yếu tố tài phán và phán quyết này có giá trị bắt buộc đối vớicác bên Mặc dù phán quyết trọng tài là kết quả của sự thoả thuận có tính chấtriêng tư giữa các bên tranh chấp nhưng phán quyết của trọng tài vẫn có hiệu lựcbắt buộc đối với các bên tranh chấp trừ khi một trong số các bên có yêu cầu toà ántuyên bố huỷ quyết định trọng tài và toà đã xem xét cho huỷ quyết định trọng tài.Nếu các bên không tự nguyện thi hành thì có thể bị cưỡng chế thi hành
Về hình thức thì trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài
vụ việc (trọng tài Ad-hoc, Hội đồng trọng tài do các bên thoả thuận thành lập và
sẽ giải tán khi giải quyết xong tranh chấp); trọng tài thường trực (trọng tài quychế) là các trung tâm trọng tài, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cố định, códanh sách trọng tài viên va hoạt động theo điều lệ riêng
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp kết hợp được nhiều
ưu điểm của các hình thức giải quyết tranh chấp khác như: đảm bảo sự tự do thoảthuận ý chí, bí mật và uy tín cho các bên, giữ được quan hệ giữa các bên sau khi
Trang 17giải quyết như hình thức thương lượng, hoà giải, đảm bảo sự chặt chẽ về thủ tục tốtụng và tính tài phán như hình thức toà án Lựa chọn trọng tài, các bên tranh chấp
có thể yên tâm vì tranh chấp sẽ được trọng tài giải quyết nhanh chóng, dứt điểm,tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc Do vậy mà trọng tài là hình thức giải quyếttranh chấp phổ biến ở những nước có nên kinh tế thị trường phát triển, được cácnhà kinh doanh sử dụng như một hình thức tối ưu để giải quyết các tranh chấpphát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại
1.2.4 Giải quyết tranh chấp tại toà án
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danhquyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ vàbản án hay quyết định của toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuânthủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước
Các đặc trưng cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp bằng conđường toà án như sau:
Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án có sựtham gia của bên thứ ba đó là toà án thông qua hoạt động xét xử của hội đồng xét
xử gồm có các thẩm phán và hội thẩm nhân dân Toà án là cơ quan xét xử nhândanh quyền lực nhà nước và việc giải quyết tranh chấp bằng toà án không cần phải
có sự thoả thuận trước Nếu như các bên không có thoả thuận gì về phương thứcgiải quyết tranh chấp thì tranh chấp sẽ được giải quyết tại toà án nếu như các bênkhông tự thương lượng hoặc hoà giải được Cũng giống như hình thức trọng tài thìcác thành viên tham gia hội đồng xét xử cũng phải thoả mãn các điều kiện màpháp luật có quy định Nếu không thoả mãn các điều kiện này thì không đượctham gia xét xử, nếu không thì bản án do những người này tuyên có thể không cóhiệu lực
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp tại toà án phải tuân thủ nguyên tắc tốtụng do pháp luật quy định Việc sai nguyên tắc tố tụng có thể bị kháng cáo khángnghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật
Trang 18Thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp là bản án do Hội đồng xét xửtuyên có giá trị bắt buộc đối với các bên khi nó có hiệu lực pháp luật, nó có thể bịkháng cáo, kháng nghị Khi bản án đã có hiệu lực thi hành thì các bên phải tựnguyện thi hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Cả trọng tài thương mại và toà án đều là hai phương thức giải quyết tranhchấp kinh doanh thương mại theo mang tính chất tố tụng nhưng chúng có nhữngđiểm khác biệt cơ bản sau: toà án là cơ quan nhà nước, do đó phán quyết của toàán mang tính quyền lực, pháp lý, còn trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp (phichính phủ), do đó phán quyết của trọng tài mang tính xã hội, pháp lý Toà án cóthẩm quyền giải quyết những tranh chấp kinh tế theo quy định của pháp luật.Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt độngthương mại nếu trước hoặc khi xảy ra tranh chấp các bên có thoả thuận trọng tàivà thoả thuận đó không vô hiệu Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét
xử kín để giữ gìn bí mật của nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc đểgiữ kín bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ Phiên họp giảiquyết tranh chấp theo thủ tục của trọng tài thương mại không công khai Nguyêntắc hoà giải là thủ tục bắt buộc trừ một số trường hợp đối với phương thức toà án,còn trọng tài thì không cần Lựa chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranhchấp các bên có nhiều quyền tự định đoạt hơn như là có thể chọn trung tâm trọngtài hoặc hội đồng trọng tài do các bên thành lập, có thể lựa chọn và đề nghị thayđổi trọng tài viên còn trong tố tụng toà án thì các bên không có quyền chọn mà chỉ
có thể đề nghị thay đổi thành phần hội đồng xét xử nếu chứng minh được rằng họkhông thoả mãn điều kiện do pháp luật quy định
Trên đây mới chỉ nói qua về bản chất của phương thức giải quyết tranhchấp kinh doanh thương mại bằng con đường toà án, còn cụ thể về thẩm quyềnnguyên tắc giải quyết, trình tự, thủ tục giải quyết xin được nghiên cứu kỹ lưỡngtrong phần II dưới đây
1.3 Giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án
1.3.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức của toà án
Trang 19Ở Việt Nam, hệ thống được tổ chức theo đơn vị hành chính, lãnh thổ Theoquy định tại điều 2 Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002 thì ở Việt Nam có cáctoà án sau: Toà án nhân dân tối cao; các toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương; các toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộctỉnh; các toà quân sự; các toà khác do luật định Trong đó toà án nhân dân tối caolà cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống toà án Toà án nhân dân tối cao gồm có
các toà: toà quân sự trung ương, toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động,
toà hành chính và các toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao Trong đó thì toà hình
sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính, toà án nhân dân tối cao,
giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng Các toà phúc thẩm toà án
nhân dân tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn phúc thẩm những vụ án mà bản án,quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới trực tiếp bịkháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại đối vớicác quyết định của toà án nhân dân cấp tỉnh về tuyên bố phá sản; giải quyết khiếunại tố cáo đối với các quyết định của toà án nhân dân cấp tỉnh về việc giải quyếtcác cuộc đình công theo quy định của pháp luật
Toà án nhân dân cấp tỉnh gồm có toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà
hình sự, toà hành chính, trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hộiquyết định thành lập thêm các toà chuyên trách theo đề nghị của chánh án toà án
nhân dân tối cao Trong đó, toà kinh tế có những nhiệm vụ và quyền hạn là sơ
thẩm những vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật, phúc thẩm những vụ ánkinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấpdưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, giải quyết việc phásản theo quy định của pháp luật
Toà án nhân dân cấp huyện không có các toà chuyên trách, các vụ việcthuộc thẩm quyền của toà án cấp huyện sẽ được giao cho các thẩm phán chuyêntrách giải quyết Do đó những vụ án hình sự thì sẽ giao cho những thẩm phánchuyên trách về hình sự, những vụ án kinh tế sẽ được giao cho những thẩm phán
Trang 20chuyên trách về kinh tế vv… TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm những vụán theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, chúng tôi chỉ tập trung vàonghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại nên theoquy định của pháp luật nó sẽ thuộc thẩm quyền của toà kinh tế hay của thẩm phánchuyên trách về các tranh chấp trong kinh doanh thương mại tại toà án cấp huyện,
do đó tất cả những vấn đề nói dưới đây về phương thức giải quyết tranh chấp kinhtế tại toà án đều là thẩm quyền của toà kinh tế hoặc là thẩm quyền giải quyết cáctranh chấp kinh tế của toà án nhân dân cấp huyện
1.3.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế tại toà án
Trong kinh doanh giữa các chủ thể phát sinh các quan hệ kinh tế mà nội dung làcác quyền và nghĩa vụ của họ, mỗi bên đều phải thực hiện các nghĩa vụ của mình.Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau có thể một bên không thực hiện hoặc thựchiện không đúng không đầy đủ, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của bên kia dẫnđến tranh chấp kinh tế và yêu cầu tất yếu là phải giải quyết tranh chấp đó Khitranh chấp kinh tế xảy ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thoả thuận trong kinhdoanh, pháp luật cho phép các bên gặp nhau tự bàn bạc tìm cách giải quyết Trongtrường hợp các bên không thể giải quyết được bằng thương lượng, hoà giải vàcũng không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì tranh chấpkinh tế đó sẽ được giải quyết theo một thủ tục luật định ở toà án (TAND cấphuyện hoặc toà kinh tế TAND cấp tỉnh) Quá trình giải quyết một vụ tranh chấpkinh tế theo một thủ tục nhất định trước cơ quan toà án gọi là tố tụng kinh tế.Trong quá trình giải quyết vụ việc kinh doanh thương mại thì phát sinh các mốiquan hệ giữa toà án với những bên tham gia tố tụng kinh tế, và giữa họ với nhau.Đặc điểm của các quan hệ này là:
- Chúng phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế ở toà án
- Một trong các chủ thể bắt buộc của quan hệ pháp luật kinh tế là toà án
- Căn cứ pháp lý phát sinh tranh chấp, đồng thời làm phát sinh quan
Trang 21hệ pháp luật tố tụng kinh tế là sự vi phạm pháp luật kinh tế hoặc sự tranh chấp vềquyền và nghĩa vụ giữa các bên;
- Mục đích của việc giải quyết tranh chấp tại toà án là nhằm bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp đang bị vi phạm của các bên tham gia quan hệ kinhtế nói riêng và nền kinh tế nói chung;
- Nội dung của pháp luật kinh tế bao gồm những quy định về những
nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế, thẩm quyền và trình tự giải quyết tranhchấp kinh tế của toà án các cấp, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng
1.3.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại toà án
Từ trước ngày 01/01/2005 thì văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng đượcáp dụng để giải quyết các tranh chấp kinh tế đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế ngày 16 tháng 3 năm 1994 Kể từ ngày 01/01/2005 (ngày có hiệu lựccủa BLTTDS) thì văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng được áp dụng làBLTTDS 2004 thay thế cho Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
1.3.4 Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo BLTTDS 2004
Nguyên tắc cơ bản của một đạo luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm chỉđạo mang tính chất khái quát, xuyên suốt trong cả đạo luật Nội dung của các quyđịnh tiếp theo chỉ là sự cụ thể hoá các tư tưởng này Do vậy trong giải quyết tranhchấp trong kinh doanh, thương mại thì toà án cũng phải tuân thủ đầy đủ cácnguyên tắc này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Theo quy địnhcủa BLDS 2004 thì trong giải quyết các vụ án dân sự có 21 nguyên tắc Trong cácnguyên tắc này thì có 4 nguyên tắc được coi là cơ bản và đặc trưng trong tố tụngdân sự nói chung cũng như trong tố tụng kinh tế nói riêng
- Nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự
(Điều 5 BLTTDS 2004)
“1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có
Trang 22đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền
chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.”
Các quan hệ kinh tế là các quan hệ được xác lập một cách tự nguyện, xuất pháttừ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự cưỡng ép, đe doạ nàotrong quá trình xác lập, thực hiện Trong quan hệ này các bên hoàn toàn có quyềnquyết định quyền và nghĩa vụ của mình và được nhà nước bảo đảm nếu không tráivới các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Nên khi phát sinh tranh chấp,bên bị vi phạm có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình, nhưng ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâmphạm cho dù đã có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ Nguyên tắc quyền quyết địnhvà tự định đoạt của đương sự được thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình
tố tụng: họ có thể khởi kiện hoặc không khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụviệc, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoảthuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việcthực hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thể hiện cả trong các giai đoạn của quátrình thi hành bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật
- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng kinh tế
“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
3 Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp
do Bộ luật này quy định.”
Trang 23Xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự thìcác đương sự có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình, và khi đã thực hiện quyền đó thì họ đồng thời có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, hoặc đưa ra chứngcứ để phản đối yêu cầu của bên kia, vì không ai khác ngoài các đương sự là ngườibiết rõ nhất nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, hoặc yêu cầu có liênquan đến quyền và lợi ích, cũng như những bằng chứng để chứng minh cho yêucầu của mình
Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêucầu của mình là phù hợp, nhưng trên thực tế nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, làmảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án Chẳng hạn, do tính chất của việc giảiquyết tranh chấp, nếu bên nguyên đơn có lợi thì họ sẽ nhiệt tình tìm kiếm, sẵnsàng cung cấp chứng cứ cho Tòa án, và bên bị đơn thì ngược lại, nếu bị bất lợi thì
họ không muốn cung cấp chứng cứ cho Tòa án, hoặc khi có vấn đề liên quan đến
cơ quan quản lý hữu quan, Tòa án có văn bản yêu cầu các cơ quan này cung cấptài liệu theo quy định của pháp luật, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nênkhó thực hiện được ngay Do đó nếu không có cơ chế để Tòa án xác minh, thuthập chứng cứ thì sẽ hạn chế nhiều đến việc giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến thờihạn và chất lượng giải quyết vụ án Trong điều kiện như vậy, thẩm phán muốn cócăn cứ giải quyết vụ án một cách công bằng, đúng pháp luật thì phải tự mình tiếnhành một số biện pháp thu thập chứng cứ
Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực này, quy định như vậy sẽ tạo ra cho thẩm phán
cơ chế giải quyết vụ việc khép kín từ thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ đếnxét xử, khó bảo đảm nguyên tắc khách quan, nhất là trong trường hợp có vấn đềtiêu cực sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực, xét xử không đúng, làm ảnh hưởngđến lòng tin của người dân vào Tòa án, vào pháp luật
Liên quan đến việc thu thập và cung cấp chứng cứ trong TTDS, BLTTDS 2004
đã bổ sung quy định về trách nhiệm của “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự,
Trang 24Toà án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản
lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ.”(Điều 7/BLTTDS 2004)
- Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng dân sự (điều 10 BLTTDS 2004)
“Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của
Bộ luật này.”
Bản chất của quan hệ pháp luật kinh tế là các quan hệ tự nguyện, do đó việcgiải quyết tranh chấp kinh tế cũng phải dựa trên nguyên tắc này theo những biệnpháp nhất định, trong đó hoà giải là một biện pháp quan trọng và là nguyên tắc bắtbuộc trong tố tụng dân sự Hoà giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiệnnhằm mục đích phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các bên tham giaquan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết tranh chấp kinh tế Đồng thời làm tốthoà giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của nhà nước, công sứccủa cán bộ nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại, tố cáotrong lĩnh vực tư pháp
BLTTDS 2004 cũng được quy định cụ thể việc hoà giải được thực hiện ở tất cảcác giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tạiphiên toà, trừ những vụ án không được hoà giải như yêu cầu đòi bồi thường gâythiệt hại đến tài sản của nhà nước hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ nhữnggiao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
- Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
(điều 21 BLTTDS 2004)
“1 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân
sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.
2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà đối với những vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải
Trang 25quyết của toà án, các vụ việc dân sự mà viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của toà án.”
Hoạt động tố tụng dân sự khá đa dạng, phức tạp, lại dễ xâm phạm đến quyền,lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên ngoài việc áp dụng pháp luật phải quy định
cụ thể quyền, nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể thì cần phải có cơ chế kiểm sát cáchoạt động này Chính vì thế, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
đã được pháp luật quy định là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự
Khác với tố tụng hình sự thì viện kiểm sát với vai trò thực hiện quyền công tốtham gia tất cả các vụ án, trong tố tụng kinh tế viện kiểm sát không tham gia tất cảnhững vụ án mà chỉ tham gia những phiên toà theo quy định của pháp luật Trướcđây thì viện kiểm sát có quyền khởi tố đối với một số vụ việc dân sự, nhưng hiệnnay thì vấn đề có khởi kiện hay không phụ thuộc vào các đương sự, viện kiểm sátkhông có quyền khởi tố nữa
1.3.5 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại của toà án
Trong kinh doanh thương mại, khi xảy ra tranh chấp không phải lúc nào toà áncũng có thẩm quyền giải quyết Toà án chỉ giải quyết khi có yêu cầu của đương sự(nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự) và tranh chấp đó phảithuộc thẩm quyền giải quyết của toà án Ở nước ta, hệ thống toà án được tổ chứctheo đơn vị hành chính lãnh thổ, để tránh chồng chéo thì việc phân định thẩmquyền giữa các toà án là rất quan trọng, tránh tình trạng một vụ án có thể được rấtnhiều toà thụ lý hoặc không có toà nào thụ lý Điều này cũng góp phần cho toà ángiải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc Bên cạnh đó, việc xác định thẩmquyền giữa các toà án một cách hợp lý, còn tạo điều kiện thuận lợi cho các đươngsự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước toà án, giảm bớt nhữngphiền phức cho đương sự Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của các toà án mộtcách hợp lý và khoa học còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điềukiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ ở mỗi toà án và các
Trang 26điều kiện khác, trên cơ sở đó có kế hoạch đáp ứng bảo đảm cho toà án thực hiệnđược chức năng, nhiệm vụ.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại là quyền xem xétgiải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, quyền ra quyết định khi giảiquyết các tranh chấp đó theo quy định của pháp luật
Khác với thẩm quyền xét xử hành chính và thẩm quyền xét xử hình sự của toàán, thẩm quyền của toà án trong giải quyết các tranh chấp kinh tế có những đặctrưng sau:
Thứ nhất, toà án nhân danh quyền lực nhà nước, độc lập trong việc xem xét giảiquyết và ra các phán quyết đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệ mang tínhchất kinh doanh thương mại
Thứ hai, thẩm quyền của toà án được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự Dovậy, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung về tố tụng thì toà án khi xem xét vàgiải quyết các tranh chấp phải tôn trọng và bảo đảm quyền thoả thuận, quyền tự dođịnh đoạt của các đương sự Phạm vi thẩm quyền được giới hạn trong các yêu cầumà đương sự đưa ra và những vấn đề khác mà trên cơ sở thoả thuận của họ Thẩmquyền của toà án gồm:
+ Thẩm quyền theo vụ việc;
+ Thẩm quyền theo cấp;
+ Thẩm quyền theo lãnh thổ;
+ Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
1.3.5.1 Thẩm quyền theo vụ việc
Trước hết, để hiểu thẩm quyền của toà án theo vụ việc thì chúng ta cần hiểu thếnào là vụ việc dân sự Vụ việc dân sự là những vụ việc về các lĩnh vực mà phápluật tố tụng dân sự coi là quan hệ xã hội về dân sự theo nghĩa rộng Vụ việc dân sựbao gồm vụ án dân sự và việc dân sự Vụ án dân sự là các tranh chấp dân sự theonghĩa rộng được các bên khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết Vụ án dân sự gồm
4 loại tranh chấp bao gồm: những tranh chấp dân sự theo nghĩa hẹp (điều 25BLTTDS 2004); những tranh chấp về hôn nhân gia đình (điều 27 BLTTDS);
Trang 27những tranh chấp về kinh doanh, thương mại (điều 29 BLTTDS); những tranhchấp về lao động (điều 31 BLTTDS) Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đềnày, chúng tôi chỉ xin nói về loại vụ việc dân sự đó là những tranh chấp về kinhdoanh thương mại quy định tại điều 29 BLTTDS Việc dân sự là những việc cánhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu toà án công nhậnmột sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của mình hoặccủa cá nhân, tổ chức khác yêu cầu công nhận cho mình quyền về dân sự Việc dânsự cũng bao gồm 4 loại: việc dân sự theo nghĩa hẹp (điều 26 BLTTDS); việc hônnhân và gia đình (điều 28 BLTTDS); việc kinh doanh thương mại (điều 30BLTTDS); việc lao động (điều 32 BLTTDS).
Thẩm quyền theo vụ việc là thẩm quyền của toà án trong việc thụ lý vụ án hoặccác việc về kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng kinh tế Thẩm quyền theo
vụ việc của toà án phân định thẩm quyền của toà án với thẩm quyền của các cơquan tổ chức khác trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội;phân định thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ việc theo thủ tục tốtụng dân sự với thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các loại việc theo thủtục tố tụng hình sự, tố tụng hành chính; phân định thẩm quyền của toà án trongviệc giải quyết các vụ việc về kinh doanh thương mại với thẩm quyền giải quyếtcác vụ việc dân sự khác như hôn nhân gia đình, lao động, các vụ việc dân sự theonghĩa hẹp Việc xác định thẩm quyền của toà án theo thủ tục tố tụng nào phải căncứ vào tính chất của loại quan hệ pháp luật nội dung mà toà án cần giải quyết Các
vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật nội dung có cùng tính chất sẽ thuộc thẩmquyền của toà án theo các thủ tục tố tụng tương ứng Ở Việt Nam các quan hệ phátsinh trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân gia đìnhđược điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật dân sự, luậtthương mại, luật lao động, luật hôn nhân gia đình Tuy nhiên, các quan hệ phápluật này đều có cùng tính chất là các quan hệ tài sản, nhân thân được hình thànhtrên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện, thoả thuận và tự định đoạt của các chủ thể
Do đó, mà các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ này phải thuộc thẩm quyền dân
Trang 28sự của toà án và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Ở đây, chúng tôi chỉxin đi sâu về thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các tranh chấp về kinhdoanh, thương mại tức là thẩm quyền của toà kinh tế (bao gồm cả thẩm quyền củaTAND cấp huyện trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế).
Theo quy định tại điều 29 BLTTDS 2004 thì toà án có thẩm quyền giải quyếtcác tranh chấp về kinh doanh, thương mại sau:
“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
Trang 294 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.”
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại
Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP thì toà kinh tế còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận.
Như vậy, có thể nói toà kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinhdoanh thương mại mà các bên đều có mục đích lợi nhuận Điều này cũng tương đốiđồng nhất với khái niệm về hoạt động thương mại được quy định trong Luật thươngmại 2005 và Pháp lệnh trọng tài thương mại Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổchức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức
đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợinhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó Nếu các bên không có mục đích lợinhuận thì việc giải quyết các tranh chấp này lại thuộc thẩm quyền của toà dân sự.Hoạt động kinh doanh, thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi thươngmại Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng
ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy,nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh thương mại Ví dụ: Công ty TNHH Ađược cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực may mặc Hoạt độngcủa Công ty A không chỉ giới hạn ở việc may sản phẩm là hàng dệt may để phục vụthị trường mà còn bao gồm cả hành vi mua nguyên vật liệu về để sản xuất, xâydựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, thuê xe ô tô để đưa công nhân đi làm, đinghỉ hàng năm theo chế đọ hoặc mua một số ti vi để cho công nhân giải trí sau giờlàm việc…
1.3.5.2 Thẩm quyền theo cấp toà án
Việc xem xét theo vụ việc có thể được xem là căn cứ đầu tiên, cơ bản, quantrọng trong việc xem xét vụ việc đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của toà ánkhông? Nếu có, thì phải xác định toà án nhân dân cấp nào có thẩm quyền giảiquyết Hệ thống toà án của chúng ta được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ.Trong các toà án thì tòa án nhân dân cấp huyện và toà án nhân dân cấp tỉnh là có
Trang 30thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự Vì vậy, phải xác định xem toà ánnhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết đối với những loại tranh chấp nàovà toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết đối với những tranh chấpnào.
Tuy không thành lập phân toà kinh tế ở toà án nhân dân cấp huyện nhưng theoquy định tại khoản 1 điều 33 BLTTDS 2004 thì toà án nhân dân cấp huyện cóthẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp về kinh doanh thươngmại gồm: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; kýgửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá,hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa Tuy nhiên, theo quyđịnh tại khoản 3 điều này thì những tranh chấp trên mà có đương sự hoặc tài sản ởnước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ởnước ngoài, cho toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà ánnhân dân cấp huyện
Nhưng theo quy định tại điều 3 Nghị quyết số 32/2004/QH11 của Quốc hội vềviệc thi hành BLTTDS 2004 thì kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực (01/01/2005),những toà án cấp huyện có đủ điều kiện thì được giao thực hiện ngay thẩm quyềnmới, đối với những toà án cấp huyện chưa có đủ điều kiện thì vẫn tiếp tục thựchiện thẩm quyền xét xử như trước khi BLTTDS 2004 có hiệu lực, là giải quyếtnhững tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng, trừnhững trường hợp có nhân tố nước ngoài (điều 13 khoản 1 Pháp lệnh thủ tục các
vụ án kinh tế) Hiện nay, theo quy định tại Nghị quyết 742/2004/NQ-UBTVQH11thì có tất cả 123 toà án cấp huyện được thực hiện thẩm quyền xét xử theo quy địnhtại điều 33 BLTTDS 2004 Trong đó, Hà Nội có 5 toà án cấp quận đó là Q.HoànKiếm, Q Đống Đa, Q.Hai Bà Trưng, Q Thanh Xuân, Q Ba Đình
Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại của toà ánnhân dân cấp tỉnh thuộc về toà kinh tế và uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấptỉnh Theo đó thì toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết rất nhiều tranhchấp về kinh doanh, thương mại Toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm
Trang 31quyền sơ thẩm tất cả những tranh chấp về kinh doanh thương mại, trừ những tranhchấp thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện Cụ thể là các tranh chấp vềvận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán
cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm;thăm dò, khai thác; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệgiữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữacông ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhauliên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách,chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; các tranh chấp khác về kinh doanh,thương mại mà pháp luật có quy định Các tranh chấp về kinh doanh, thương mạimà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơquan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho toà án nước ngoài cũng thuộc thẩmquyền của toà án nhân dân cấp tỉnh Ngoài ra, toà án nhân dân cấp tỉnh còn cóthẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp thuộc thẩm quyềngiải quyết của toà án nhân dân cấp huyện mà toà án nhân dân cấp tỉnh thấy cầnphải lấy lên để giải quyết (điều 34 BLTTDS 2004)
Theo quy định của pháp luật thì ngoài thẩm quyền sơ thẩm thì toà kinh tế toà ánnhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án,quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp huyện bị kháng cáo,kháng nghị Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân câp tỉnh có thẩm quyên giám đốcthẩm, tái thẩm với những vụ án mà bản án quyết định sơ thẩm có hiệu lực phápluật của toà án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị theo trình tự tố tụng
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại của tòa tối caothuộc toà kinh tế, toà phúc thẩm và hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao.Toà kinh tế toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những
vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp tỉnhbị kháng nghị theo trình tự tố tụng Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao cóthẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật của toà án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng thẩm
Trang 32phán toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối vớinhững vụ án mà bản án, quyết định của các toà thuộc toà án nhân dân tối cao bịkháng nghị theo trình tự tố tụng
1.3.5.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ
Việc xác định thẩm quyền theo vụ việc và thẩm quyền theo cấp giúp cho chúng
ta có thể xác định được một vụ việc xảy ra có thuộc thẩm quyền giải quyết của toàán hay không và toà án cấp nào sẽ giải quyết vụ việc đó Tuy nhiên, do đặc điểmcủa hệ thống toà án ở nước ta, nên việc xác định đến đó chưa đủ kết luận toà án cụthể nào sẽ giải quyết vụ việc đó Một công ty ở thành phố Hồ Chí Minh ký hợpđồng mua bán hàng hoá với công ty ở Hà Nội trị giá 1 tỷ đồng, sau đó giữa haibên có tranh chấp và giữa hai bên không có thoả thuận trọng tài Vấn đề đặt ra làtoà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hay TAND thành phố Hà Nội có thẩmquyền giải quyết tranh chấp trên Do đó, để xác định toà án nào có thẩm quyềngiải quyết trong tình huống trên thì chúng ta cần phải đi xác định xem thẩm quyềngiải quyết theo lãnh thổ của toà án
Theo quy định tại điều 35 BLTTDS thì toà án có thẩm quyền giải quyết tranhchấp về kinh doanh, thương mại là toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn làcá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là tổ chức Quy định này của phápluật là hoàn toàn có căn cứ khoa học, bởi vì bị đơn trong vụ án về kinh doanhthương mại là người bị buộc phải tham gia tố tụng Về mặt tâm lý bị đơn, ngườiđại diện hợp pháp của họ thường không muốn tham gia tố tụng và thường nêu ranhững khó khăn để không đến với toà án Việc quy định như vậy sẽ tạo điều kiệnthuận lợi để bị đơn, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Mặt khác,toà án này cũng có khả năng điều tra và nắm được các vấn đề cụ thể của vụ việc,trên cơ sở đó có đường lối giải quyết phù hợp với vụ việc này Tuy nhiên, để tạođiều kiện thuận lợi cho các bên đương sự và để phù hợp với tính chất của quan hệpháp luật nội dung thì pháp luật còn quy định cho các đương sự có thể tự thoảthuận với nhau bằng văn bản yêu cầu toà án nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở củanguyên đơn giải quyết những tranh chấp về kinh doanh thương mại
Trang 33Đối với tranh chấp về bất động sản thì toà án nơi có bất động sản sẽ có thẩmquyền giải quyết Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất khôngthể dịch chuyển được và thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất độngsản sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính quyền địa phương nơi có bất động sản đólưu giữ Do vây, toà án nơi có bất động sản sẽ là toà án có điều kiện tốt nhất đểtiến hành xác minh, xem xét tại chỗ tình trạng của bất động sản và thu thập cácgiấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản Đối với tranh chấp về bất động sản thìcác bên đương sự không có quyền thoả thuận là toà án nơi không có bất động sảngiải quyết Do đó, trong một tranh chấp mà bị đơn không cư trú hoặc có trụ sở tạinơi có bất động sản thì toà án nơi bị đơn đó cư trú hoặc có trụ sở đó sẽ không cóthẩm quyền giải quyết và chỉ có toà án nơi bất động sản tồn tại mới có thẩm quyềngiải quyết
1.3.5.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Trong thực tế, nếu chỉ xác định thẩm quyền của toà án theo vụ việc, theo lãnhthổ thì sẽ phát sinh những vụ việc có nhiều toà án cùng có thẩm quyền giải quyếthoặc có những trường hợp không thể xác định được toà án có thẩm quyền giảiquyết Ví dụ như trong một tranh chấp mà có rất nhiều bị đơn, hoặc có trường hợplại không thể xác định được nơi bị đơn cư trú… Vì vậy để bảo đảm quyền và lợiích hợp pháp của nguyên đơn (những người đang rất bức xúc) trong những trườnghợp này, trong điều 36 BLTTDS 2004 có quy định có thể xác định thẩm quyềncủa toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn Cụ thể khi yêu cầu giải quyết tranhchấp kinh doanh, thương mại, nguyên đơn có quyền lựa chọn:
+ Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tàisản giải quyết nếu không biết nơi cư trú làm việc của bị đơn;
+ Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc chi nhánh giải quyết nếu tranh chấp tranhchấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức;
+ Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cư trú,làm việc, trụ sở tại Việt Nam;
Trang 34+ Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết nếu tranh chấp phát sinh từquan hệ hợp đồng;
+ Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết nếu cácbị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở khác nhau;
+ Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết nếu tranh chấp về bấtđộng sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau
Ngoài ra, trong điều 37 BLTTDS 2004 còn quy định khi mà tranh chấp khôngthuộc thẩm quyền của toà án đã thụ lý thì toà án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụviệc cho toà án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý Tranh chấp về thẩm quyền giữacác toà án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh do chánh án toà án nhân dâncấp tỉnh giải quyết Tranh chấp về thẩm quyền giữa các toà án nhân dân cấp huyệnthuộc các tỉnh khác nhau hoặc giữa các toà án nhân dân cấp tỉnh do chánh án toàán nhân dân tối cao giải quyết
Việc nhập hoặc tách vụ án được quy định tại điều 38 BLTTDS 2004
1.3.6 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án1.3.6.1 Tại toà án cấp sơ thẩm
1.3.6.1.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án
Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã quy định quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân Trong các quyền đó thì quyền dân sự của công dân
có ý nghĩa rất quan trọng Theo đó thì công dân được phép xử sự theo một cáchnhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định đểthoả mãn lợi ích của mình Quyền năng này được bảo đảm bằng sự cưỡng chế củanhà nước Sử dụng quyền dân sự này, trong quan hệ kinh doanh thương mại cánhân tổ chức có các quyền tự do kinh doanh và các quyền hợp pháp khác để tạo rathu nhập đáp ứng nhu cầu của mình Nhà nước ta bảo hộ quyền chính đáng ấy.Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệtheo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền: côngnhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi cảichính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại Trong
Trang 35quan hệ kinh doanh thương mại, khi xảy ra tranh chấp mà các bên muốn yêu cầu
cơ quan nhà nước là toà án bảo vệ quyền lợi cho mình thì thủ tục đầu tiên mànguyên đơn cần làm đó là khởi kiện vụ án Khởi kiện vụ án kinh tế là yêu cầu toàán giải quyết những tranh chấp kinh tế Quyền khởi kiện vụ án kinh tế thuộc vềcác chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kinh tế Điều 161 BLTTDS 2004 có quyđịnh: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diệnhợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án cóthẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Tuy khôngtrực tiếp quy định về điều kiện khởi kiện nhưng trong điều này cũng cho thấy cánhân, tổ chức muốn khởi kiện được phải thoả mãn những điều kiện sau
Thứ nhất là điều kiện về chủ thể: Đối với cá nhân, họ chỉ có quyền khởi kiệnkhi họ có đủ năng lực hành vi dân sự, trong trường hợp họ bị mất năng lực hành vithì quyền khởi kiện của họ được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp Cơquan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm Ngoài ra, cả cá nhân và cơ quan
tổ chức khởi kiện phải có quyền lợi bị xâm phạm Trừ trường hợp cơ quan, tổchức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dânsự để yêu cầu toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vựcmình phụ trách
Thứ hai là vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án Thứ ba là vụ án còn thời hiệu khởi kiện Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủthể được quyền khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ tranh chấp bảo vệ quyềnvà lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởikiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điều 159.1 BLTTDS) Theo quyđịnh của pháp luật nếu không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệukhởi kiện vụ án kinh tế là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, cơ quan tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước bị xâm phạm, cácquy định về thời hiệu khởi kiện được áp dụng theo quy định của BLDS 2005.Việcpháp luật quy định thời hiệu khởi kiện vừa có ý nghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 36pháp cho cá nhân, tổ chức không bị xâm phạm vừa đảm bảo việc giải quyết tranhchấp được nhanh chóng kịp thời Vì vậy việc khởi kiện phải tiến hành trong thờihiện khởi kiện.
Thứ tư là tranh chấp chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định củatoà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực phápluật
Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến toà ánnhằm giải quyết tranh chấp kinh tế Do đó, nó phải thoả mãn những điều kiện theoquy định của pháp luật
Nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì thông thường thẩm phán
sẽ lập một đề xuất thụ lý và nếu được lãnh đạo toà duyệt thì phải báo cho đươngsự biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí Án phí sẽ do toà án dự tính tuỳ theo từng vụán, căn cứ trên mức độ lỗi, lợi ích của các bên từ vụ tranh chấp và theo khung ánphí do Chính phủ quy định, toà án sẽ ghi vào phiếu báo và giao cho người khởikiện để họ nộp Theo quy định tại điều 15 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 quyđịnh về án phí và lệ phí thì:
Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế không có già ngạch là500.000 đồng
Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế có giá ngạch được quyđịnh như sau:
Giá trị tranh chấp kinh tế (x) Mức án phí
Trang 37Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án là 200.000 đồng.
Khi khởi kiện nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, và là một điều kiện đểtoà án thụ lý vụ án để giải quyết Còn vấn đề nguyên đơn có phải chịu án phí haykhông, tỷ lệ là bao nhiêu do toà án quy định vào cuối quá trình tố tụng Ngườikháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúcthẩm phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm
Sau khi người khởi kiện nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì toà án quyếtđịnh tiến hành thủ tục thụ lý vụ án Trong trường hợp người khởi kiện được miễnhoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì toà án phải thụ lý vụ án khi nhậnđược đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo Thụ lý vụ án là thủ tục pháp lýkhẳng định sự chấp nhận của toà án đối với đơn khởi kiện của đương sự để giảiquyết vụ án Việc thụ lý vụ án được thể hiện bằng việc toà án sẽ ghi vào sổ thụ lý
vụ án Thụ lý vụ án là công việc đầu tiên của toà án trong quá trình tố tụng Nếukhông có việc thụ lý của toà án sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình tốtụng Thụ lý vụ án dân sự bao gồm hai hoạt động cơ bản là nhận đơn khởi kiệnxem xét và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết Việc thụ lý vụ án có ý nghĩa pháp lýquan trọng vì nó đặt trách nhiệm cho toà án phải giải quyết vụ án trong thời gianluật định Thụ lý vụ án còn có ý nghĩa thiết thực bảo đảm việc bảo vệ kịp thờinhững quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
1.3.6.1.2 Chuẩn bị xét xử tại toà án cấp sơ thẩm
- Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày thụ lý vụ án đến ngày toà án đưa ra một trong các quyết định giải quyết vụ án Thời hạn chuẩn bị xét xử làkhoảng thời gian cần thiết để toà án tiến hành lập hồ sơ vụ án, xác minh, thu thậpchứng cứ, hoà giải vụ án, và xem xét để đưa vụ án ra xét xử Đối với các tranhchấp kinh tế thì thời hạn là 2 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với các vụ án cótính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án toà án có thể quyếtđịnh gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá một tháng Trongthời hạn chuẩn bị xét xử, toà án tiến hành các công việc chủ yếu sau:
Trang 38Một là, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, toà án phảithông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc toà án
đã thụ lý vụ án
Hai là, toà án xác minh, thu thập chứng cứ Theo đó, toà án có quyền yêu cầuđương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ, hoặc cung cấp những vấn đề cần thiết Yêucầu cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý nghĩacho việc giải quyết vụ án; yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cầnthiết; xác minh tại chỗ tình hình vụ án, trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quanchuyên môn định giá hoặc lập hội đồng giám định tài sản có tranh chấp Thôngthường sau khi thụ lý vụ án thì toà sẽ làm giấy triệu tập các bên đương sự đến lấylời khai của mỗi bên Trong trường hợp nếu như lời khai của các bên có sự khácnhau thì toà án sẽ cho các bên đối chất và lập biên bản đối chất
Ba là, Toà án sẽ tiến hành hoà giải để các đương sự có thể thoả thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án
Toà án tiến hành hoà giải tất cả các vụ án dân sự - đây là thủ tục bắt buộc phảitiến hành, trừ những vụ án không thể tiến hành hoà giải được thì toà án có thểquyết định đưa vụ án ra xét xử mà không cần hoà giải Các vụ án kinh doanh,thương mại không thể tiến hành hoà giải được quy định tại điều 182 BLTTDS.Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về các vấn để phải giải quyết trong
vụ án thì toà án lập biên bản hoà giải thành, trong đó nêu rõ nội dung của tranhchấp và những nội dung đã được thoả thuận Biên bản này chưa có giá trị pháp lý,
nó chỉ là tài liệu xác nhận một sự kiện và nó là cơ sở để toà án ra quyết định côngnhận sự thoả thuận của đương sự Biên bản hoà giải phải có các nội dung theo quyđịnh tại khoản 1 điều 186 BLTTDS Ngoài ra, biên bản hoà giải thành phải có đầyđủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký củathư ký toà án ghi biên bản và của thẩm phán chủ trì phiên hoà giải Biên bản nàyđược gửi ngay cho các đương sự tham gia phiên hoà giải
Trang 39Khi phiên hoà giải kết thúc, các bên đã thoả thuận được với nhau về việc giảiquyết tranh chấp Tuy nhiên, BLTTDS quy định phải dành cho các bên đương sựmột khoảng thời gian nữa để họ suy nghĩ và cân nhắc lại tất cả những nội dung mà
họ đã thoả thuận giải quyết tranh chấp Hết thời hạn đó mà không có đương sự nàothay đổi ý kiến thì toà án mới tiến hành ra quyết định công nhận Theo quy địnhtại điều 187 BLTTDS thì hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giảithành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì thẩmphán chủ trì phiên hoà giải hoặc một thẩm phán được Chánh án toà án phân công
ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự Thẩm phán chỉ ra quyếtđịnh công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu họ thoả thuận được với nhau
về việc giải quyết toàn bộ vụ án Trong trường hợp quy định tại điều 184.3 củaBLTTDS mà các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụán thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được thẩm phán
ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sựvắng mặt, nếu ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của họ thì nó chỉ được công nhậnkhi được người vắng mặt kia đồng ý
Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luậtngay sau khi nó được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tụcphúc thẩm Quyết định này chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩmnếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc tráipháp luật, trái đạo đức xã hội Việc hoà giải thành một vụ án kinh doanh, thươngmại không chỉ là giải quyết mâu thuẫn giữa các đương sự mà còn đơn giản hoá thủtục, tiết kiệm thời gian và công sức cho các đương sự
Trong trường hợp các đương sự không thoả thuận được với nhau, thì toà án lậpbiên bản hoà giải không thành và không có căn cứ để toà án ra quyết định tạmđình chỉ hoặc đình chỉ vụ án thì toà án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính như quy định trong điều 195BLTTDS
Trang 40Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp luật quy định để tạmngừng việc giải quyết vụ án thì toà án sẽ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ ánđó.
- Tạm đình chỉ giải quyết vụ án là việc toà án tạm ngừng việc giải quyết vụán khi có những căn cứ do pháp luật quy định Đây chỉ là việc tạm ngừng giảiquyết chứ không phảỉ là ngừng hẳn, nếu có căn cứ pháp luật cho rằng nguyênnhân của việc tạm đình chỉ này không còn nữa thì mọi hoạt động tố tụng sẽ đượckhôi phục Do đó toà án không xoá tên vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổthụ lý vụ án mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết địnhtạm đình chỉ Nếu các đương sự đã nộp tiền, tạm ứng án phí, lệ phí thì không trảlại mà gửi tại kho bạc nhà nước và xử lý khi toà án tiếp tục giảỉ quyết vụ án.Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủtục phúc thẩm (điều 190 BLTTDS) Pháp luật tố tụng không quy định về thời hạntạm đình chỉ giải quyết vụ án mà chỉ quy định toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ ánkhi lý do tạm đình chỉ không còn (điều 191 BLTTDS) Các căn cứ của việc tạmđình chỉ giải quyết vụ án được quy định trong điều 189 BLTTDS 2004 như sau:
“1 Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó.
2 Một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật.
3 Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế.
4 Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án.
5 Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định”
Quyết định tạm đình chỉ được ra trong quá trình chuẩn bị xét xử nên thẩm phánđược phân công giải quyết vụ án sẽ có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ
- Đình chỉ giải quyết vụ án