Tính cấp thiết của đề tài luận văn Trong thời kỳ đất nước phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VŨ ANH TUẤN
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH – TỪ THỰC TIỄN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
MÃ SỐ: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự
hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là GS.TS Phạm Hồng Thái Các số liệu, nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Huế, ngày 19 tháng 5 năm 2017
Học viên
Vũ Anh Tuấn
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 3Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn, ngoài
sự nỗ lực cûa bân thån, em đã nhận được sự giâng däy, hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình cûa quý thæy cô täi Học viện Hành chính Quốc gia Trước hết, em xin chån thành câm ơn Ban Giám hiệu, quý thæy cô Khoa Nhà nước và Pháp luật, Khoa Sau đäi học - Học viện Hành chính Quốc gia và quý thæy cô tham gia giâng däy đã tận tình truyền đät kiến thức, giúp đỡ em trong thời gian học tập Đặc biệt, em xin gửi lời câm
ơn såu sắc tới GS.TS Phäm Hồng Thái đã dành nhiều thời gian, công sức trong giâng däy và hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời câm ơn đến ông Phäm Trung Uy - Chánh án Tòa án nhån dån tînh Quâng Ngãi, tập thể Lãnh đäo Tòa án nhån dån tînh Quâng Ngãi; Phòng Tổ chức - Cán bộ và toàn thể cán bộ Tòa án nhån dån tînh Quâng Ngãi là nơi em công tác đã giúp đỡ, täo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa học và luận văn Cuối cùng, em xin bày tô lời câm ơn đến gia đình, bän bè là nguồn động viên lớn, täo điều kiện và hết lòng chăm sóc, khuyến khích em tham gia học tập và nghiên cứu, để em có thể hoàn thành luận văn này Luận văn là thành quâ sự nỗ lực cûa cá nhån tác giâ trong thời gian qua Tuy nhiên, do kiến thức bân thån còn hän chế nên luận văn không tránh khôi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý quý báu cûa quý thæy cô và các bän để Luận văn này được hoàn chînh hơn
Xin chån thành câm ơn!
Huế, ngày 19 tháng 5 năm 2017
Học Viên
Vü Anh Tuçn
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 11
1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân 11
1.1.1 Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước 11 1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân17
1.2 Khái quát về tổ chức và hoạt động của Hệ thống Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam 25
1.2.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân cấp tỉnh 25 1.2.2 Nguyên tắc của tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 31
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng và mục tiêu đặt ra đối với việc đổi mới tổ chức
và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 31
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 31 1.3.2 Mục tiêu đặt ra đối với việc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 33 Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM 38
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 52.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển về tổ chức và hoạt động của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh từ năm 1945 đến nay 38
2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959 38
2.1.2 Giai đoạn từ 1959 đến 1980 40
2.1.3 Giai đoạn từ 1980 đến 1992 43
2.1.4 Giai đoạn từ 1992 đến 2002 45
2.1.5 Giai đoạn từ 2002 đến 2014 49
2.2 Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 55
2.3 Thực trạng tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Quảng Ngãi 63
2.3.1 Thực trạng về cơ cấu tổ chức tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi 63
2.3.2 Thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi 68
Tiểu kết chương 2 88
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH HIỆN NAY 89
3.1 Quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 89 3.1.1 Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải gắn liền với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân 89
3.1.2 Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải được tiến hành đồng bộ với cải cách hệ thống Tòa án nhân dân, các cơ quan tư pháp và các thiết chế khác trong bộ máy nhà nước 90
3.1.3 Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải được thực hiện một cách đồng bộ với quá trình cải cách thể chế 90
3.1.4 Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế, phục vụ cho việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 91
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 63.2 Một số giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh 92
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án 92
3.2.2 Trong hoạt động xét xử của Tòa án phải tuyệt đối trung thành với Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý, công bằng xã hội 92
3.2.3 Nghiên cứu khả năng trao cho Tòa án quyền giải thích pháp luật, phán xét tính hợp pháp, hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ban hành 95
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán và cán bộ của Tòa án 95
3.2.5 Nâng cao năng lực của Hội thẩm nhân dân 100
3.2.6 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả xét xử của Tòa án thông qua các bản án, quyết định đảm bảo công bằng, đúng pháp luật, khả thi 101
3.2.7 Kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức Hệ thống Tòa án theo hướng tinh giản, hiệu quả, bố trí sắp xếp nhân sự một cách hợp lý, sử dụng nhân sự đúng người đúng việc, đúng sở trường; đồng thời có chính sách phù hợp để thu hút đội ngũ những người có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt phục vụ cho sự phát triển của Hệ thống Tòa án 102
3.2.8 Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất, đồng bộ phù hợp, khả thi, dễ hiểu và dễ tiếp cận làm cơ sở pháp lý trong hoạt động xét xử của Tòa án 104
Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 7Viện kiểm sát nhân dân
Tòa án nhân dân
: VKSND : TAND
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong thời kỳ đất nước phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta hiện nay đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều văn kiện Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp
Trước hết, nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định nhiều nội dung về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân Nghị quyết nêu rõ:
Tòa án là: “Cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Bên cạnh đó, Nghị quyết còn xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và việc hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp Triển khai thực hiện những quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân tối cao xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp, trọng tâm là xây dựng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án theo chức
năng, nhiệm vụ đã được Hiến định Theo đó, tòa án là “Cơ quan xét xử của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” nhằm
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 9đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới
Mô hình hệ thống Tòa án nhân dân khi được tổ chức lại theo tinh thần cải cách tư pháp có bốn cấp gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố và tương đương) Trong đó:
Tòa án nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ, thẩm quyền xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền theo luật định;
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện có kháng cáo, kháng nghị
và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, thành phố Tuy nhiên, tòa án nhân dân cấp tỉnh không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm và tái thẩm
Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có kháng cáo, kháng nghị và giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị
Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ Việc đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân tối cao cần thực hiện theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật và có kinh nghiệm trong ngành
Điều đáng lưu ý là việc thành lập Tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Tòa án, ở từng địa phương Việc nghiên cứu, xác định phạm vi thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cần theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
và những vụ án liên quan đến bí mật quân sự
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 10Đổi mới việc tổ chức phiên Tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tại các phiên Tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp
Trong Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam cũng nêu rõ: Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, và quyền con người Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp… Đặc biệt là, Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của
Đảng tiếp tục đề ra mục tiêu: “Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý; tôn trọng và bảo vệ quyền con người Hoàn thiện chính sách pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các
cơ quan tư pháp, đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp Đổi mới hệ thống tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm cải cách hoạt động xét
xử là trọng tâm của cải cách tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa đối với các khiếu kiệnhành chính” [10] Các quan điểm, định hướng nêu trên đều
khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống cơ quan tư pháp và trọng tâm của công tác xét xử Vì vậy, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp được coi là một nhiệm vụ trọng tâm của quá trình cải cách tư pháp Tuy nhiên, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân cấp tỉnh nói riêng trong thời gian qua cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn Cụ thể như
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 11về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, vấn đề mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện cũng đặt ra vấn đề thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; vấn đề đổi mới việc tranh tụng tại phiên Tòa… Chính vì vậy, đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có ý nghĩa quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả công tác xét xử trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay
Với lý do nêu trên, học viên đã lựa chọn đề tài: "Tổ chức và hoạt động
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh – Từ thực tế Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi" có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần hoàn
thiện pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hệ thống Tòa án nhân dân nói chung, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nói riêng để làm luận văn Thạc
sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, hội
thảo, các bài viết trên các tạp chí liên quan đến nội dung tổ chức hoạt động của Tòa án nhân dân Có thể phân loại thành hai nhóm như sau:
cấp Bộ, các luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến Tòa án nhân dân như:
+ Đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX.04.06 "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân"
+ Luận án tiến sĩ luật học, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật "Đổi mới tổ chức và hoạt động Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Lê Thành Dương năm 2002
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 12+ Luận án tiến sĩ luật học, Đại học luật Hà nội "Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền" của tác giả Trần Huy Liệu năm 2003
+ Luận án tiến sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà nội "Những vấn đề lý luận
và thực tiễn về cải cách hệ thống cơ quan Tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền" của tác giả Đỗ Thị Ngọc Tuyết năm 2005
+ Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội “Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân cấp huyện trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giải Nguyễn Minh Sử năm 2011
+ Sách tham khảo: "Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Giao thông vận tải năm 2002;
+ Sách "Hệ thống tư pháp và cái cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay" của tập thể các tác giả do GS.TS Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Khoa học xã hội năm 2002;
+ “Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ thẩm phán ở nước ta hiện nay” của tác giả Đỗ Gia Thư (Luận án tiến sĩ luật học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2006);
+ “Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân cấp huyện trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Sử (Luận án tiến sĩ luật học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2011);
+ Liên quan đến nhóm vấn đề này còn có kỷ yếu các cuộc hội thảo về lịch sử ngành Tòa án nhân dân
và hoạt động của Tòa án nhân dân được đăng trên các tạp chí:
+ “Những vấn đề chủ yếu của công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam” của TSKH.PGS Lê Cảm, tạp chí Tòa án nhân dân số 3 năm 2006;
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 13+ "Yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đối với đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp " của tác giả Nguyễn Mạnh Cường, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10 năm 2002;
+ “Bàn về quản lý thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp” của tác giả Đỗ Gia Thư đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, 2005;
+ “Cải cách tư pháp trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước” của tác giả Nguyễn Đăng Dung đăng trên đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề 2011;
+ “Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc tổ chức Tòa án theo tiêu chí chức năng, thẩm quyền” của tác giả Nguyễn Ngọc đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề 2011;
+ “Kiến nghị nhằm nâng cao vị thế độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử” của tác giả Nguyễn Minh Sử đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân,
xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” của Đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao năm 2013
+ Bài viết về: “Hoạt động của Tòa án nhân dân trong thời kỳ mới” của Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Tưởng Duy Lượng năm 2014
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 14+ Bài viết về “Thành tựu cải cách tư pháp nổi bật của Tòa án nhân dân” của Báo Công lý năm 2016
+ Bài viết về “Cải cách tư pháp nâng tầm vị thế của Hệ thống Tòa án nhân dân” của Tiến sĩ Lưu Bình Nhưỡng, Phó Chánh Văn phòng, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương năm 2014
Tuy vậy các công trình bài viết trên chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu chung nhất về tổ chức quyền lực Nhà nước, hoặc có công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp về vấn đề này, nhưng khác về phạm vi nghiên cứu và thời điểm nghiên cứu đã lâu nên không cập nhật được những vấn đề đang đặt ra trong lý luận và thực tiễn hiện nay, đồng thời không phù hợp với Hiến pháp
2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, do đó nội dung không còn mang tính thời sự
Qua nghiên cứu, khái quát chung có thể thấy các công trình khoa học trên đây đã nghiên cứu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân Bởi vậy, luận văn tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay theo hướng có
hệ thống và toàn diện hơn để làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình đổi mới và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn dưới góc độ Luật Hiến pháp và luật Hành chính nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nói chung và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 153.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Tòa án như phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án trong bộ máy nhà nước;
- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay, trong đó đánh giá những thành tựu, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém;
- Xây dựng các quan điểm và đề xuất các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là vấn đề tương đối rộng, có thể được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tổ chức
và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; thực trạng và giải pháp đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời gian tới
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu công tác tổ chức và hoạt động của Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2015 đến 2017
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu công tác tổ chức và hoạt động tại
Tòa án nhân dân cấp tỉnh nói chung và tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nói riêng
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 16Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân mà không nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Tòa án quân sự
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật, về tổ chức
và hoạt động của Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp, những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới Đồng thời, tác giả nghiên cứu luận văn trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để phân tích, khái quát các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân nói chung, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nói riêng
- Phương pháp hệ thống: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích theo
hệ thống các vấn đề nghiên cứu đặt trong hệ thống có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ như một chỉnh thể thống nhất Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là một nội dung của đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, do vậy, phương pháp hệ thống được sử dụng để nghiên cứu
tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong mối quan hệ với đổi mới
tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân và bộ máy nhà nước
- Phương pháp lịch sử được sử dụng trong luận văn để nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và yêu cầu đổi mới pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 17- Luận văn sử dụng phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, xem xét từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
- Phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa được sử dụng trong Chương 3 nhằm đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; phát huy vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý và tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân đối với hoạt động của Tòa án
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận về
tổ chức và hoạt động của Hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân cấp tỉnh nói riêng nhằm thống nhất nhận thức về bản chất, vai trò hoạt động xét xử của toà án trong đời sống xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các các Tòa án
và các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp trong hoạt động của Tòa án nhân dân, đồng thời có thể sử dụng được cho việc giảng dạy tại Học viện Tư pháp; Học viện Tòa án, Đại học Kiểm sát và các cơ sở đào tạo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh hiện nay
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 18Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
1.1.1 Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước
Nghiên cứu học thuyết Mác - Lênin cho thấy rằng, trong quá trình phát triển của đời sống xã hội, khi chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia giai cấp
và đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được thì Nhà nước ra đời Nhà nước
ra đời đã trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, nhằm đàn áp, cai trị giai cấp khác Giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thống trị về kinh
tế, nắm giữ quyền lực chính trị, quản lý xã hội, thể hiện ý chí giai cấp mình thành pháp luật và buộc các giai cấp khác trong xã hội phải tuân thủ (lịch sử các nhà nước quân chủ cho thấy các chiếu chỉ, mệnh lệnh của nhà vua có tính phục tùng tuyệt đối) Tuy nhiên, ý chí của giai cấp thống trị sẽ không đạt được, nếu ý chí đó chỉ mới dừng lại ở việc thể hiện thành những quy phạm, những điều luật, hay bộ luật Để ý chí của giai cấp thống trị đi vào cuộc sống, trở thành ý chí chung của toàn xã hội thì nhà nước phải tổ chức ra bộ máy để thực hiện nhiệm vụ này, đó chính là bộ máy hành pháp với lực lượng đàn áp, cưỡng chế là quân đội và cảnh sát Đồng thời, để cho pháp luật – ý chí của giai cấp thống trị được tuân thủ trong đời sống xã hội, đòi hỏi phải hình thành một hệ thống cơ quan bảo đảm việc giám sát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đó là cơ quan xét xử Hệ thống cơ quan nhân danh Nhà nước để xét xử các hành vi vi phạm pháp luật chính là Tòa án
Như vậy, với sự ra đời của Nhà nước thì quyền lực nhà nước được thể hiện bởi: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; trong đó quyền
tư pháp là quyền xét xử do Tòa án thực hiện và chức năng xét xử không thể
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 19tách rời khỏi Nhà nước Ở chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, Nhà nước chủ yếu được tổ chức theo hình thức quân chủ, nên quyền lập pháp, hành pháp và xét xử đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến do nhà vua thống trị Nhà vua vừa là người ban hành các đạo luật, vừa là người quyết định tổ chức thực hiện và cũng là người có quyền lực xét xử cao nhất Vì vậy, Tòa án chưa được tổ chức thành hệ thống rõ nét và hoạt động độc lập với các
tổ chức khác trong bộ máy nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến Vào thế
kỷ 17 và 18, với sự phát triển mạnh mẽ của giai cấp tư sản - giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến của thời đại đã có tiếng nói, trào lưu chính trị kêu gọi, đấu tranh để hạn chế quyền lực tuyệt đối của nhà vua, tiến tới xóa
bỏ Nhà nước phong kiến Các học giả tư sản trong thời kỳ này đã đưa ra các luận điểm cho rằng cần phải có sự tách bạch quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó điển hình là tư tưởng của John Locce, Montesquieu Theo Montesquieu, quyền lực nhà nước được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và tư tưởng phân chia quyền lực này đã trở thành hạt nhân của học thuyết "Tam quyền phân lập" Montesquieu cho rằng khi quyền lập pháp được sáp nhập với quyền hành pháp và tập trung trong tay một người hay một tập đoàn người, thì sẽ không có tự do, bởi vì điều này có thể dẫn tới việc chính nhà vua hay nghị viện ấy sẽ đưa ra những đạo luật độc đoán để thi hành một cách vô nguyên tắc Đồng thời, sẽ không có tự do nếu quyền xét xử không được phân biệt với quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền xét
xử được sáp nhập vào quyền lập pháp, thì sẽ không có tự do; nếu quyền xét
xử được nhập vào quyền hành pháp thì Thẩm phán sẽ trở thành những kẻ áp bức Với tư tưởng này, ông cho rằng để có một Nhà Nước pháp quyền theo quan niệm phân lập quyền lực của Nhà nước tư sản, cũng như các cơ quan nhà nước khác, thì Tòa án phải được tổ chức độc lập, có sự tham gia đối trọng
và chế ước, kiểm soát với nhánh quyền lập pháp và hành pháp Theo quan
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 20điểm của giai cấp tư sản thì Tòa án là cơ quan bảo vệ pháp luật quan trọng nhất, bảo vệ công lý và là người trọng tài vô tư, khách quan để đánh giá các hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn đời sống xã hội Muốn vậy, hoạt động của Tòa án phải được quy định để không chỉ giới hạn ở việc xét xử đối với hành vi của các cá nhân mà còn đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước Hay nói cách khác, sự độc lập của Tòa án với cơ quan lập pháp và hành pháp là đảm bảo quan trọng nhất cho việc bảo vệ các quyền con người, hạn chế sự lạm quyền, xâm hại các quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân Sự độc lập của Tòa án với hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác lập chế độ dân chủ tư sản, đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến, hạn chế sức mạnh của nhà vua Tuy nhiên, tính độc lập của Tòa án trong Nhà nước tư sản cũng phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức hình thức chính thể (Cộng hòa Đại nghị, Cộng hòa Tổng thống), nhưng cho dù được tổ chức theo hình thức chính thể nào thì
sự độc lập của Tòa án chính là yếu tố quan trọng nhất để bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền và lợi ích Nhà nước, tổ chức và cá nhân Bàn về vấn đề này, A.Hamiton cho rằng trong tất cả các yếu tố khiến cho ngành tư pháp có thể duy trì được tính độc lập và cương quyết của mình, thì nhiệm kỳ của vị Chánh
án là yếu tố quan trọng nhất Chính vì vậy, với sự phát triển của tinh thần dân chủ thì hoạt động của Tòa án ngày càng mở rộng đến cả những người thực thi pháp luật khi chính họ có những hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí Tòa án còn xem xét đến các hành vi vi hiến
Ngay từ khi Nhà nước ra đời thì chức năng chung của Nhà nước là quản lý xã hội, biến ý chí của giai cấp thống trị thành pháp luật và dùng các công cụ, biện pháp quyền lực để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện Để quản lý Nhà nước, quyền lực nhà nước được thể hiện dưới các hình thức là
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 21xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Các hình thức này tương ứng với ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân
xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích của các chủ thể pháp luật Như vậy, nói đến tư pháp là nói đến việc xét xử theo pháp luật và quyền
tư pháp do hệ thống Tòa án độc lập thực hiện với chức năng đặc trưng là xét
xử, là một phương thức thực thi quyền lực nhà nước Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện việc xét xử, bảo vệ công lý; hiệu lực, hiệu quả xét
xử của Tòa án là thước đo tính dân chủ, công bằng và lòng tin của nhân dân Bản chất hoạt động xét xử của Tòa án là áp dụng pháp luật và thông qua đó Tòa án chuyển tải, thể hiện quyền lực nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị vào đời sống xã hội Vì vậy, nếu Tòa án hoạt động không minh bạch, khách quan thì công lý không được bảo vệ, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm Đồng thời, thông qua hoạt động xét xử, các quy định pháp luật còn được chuyển tải đến các đối tượng khác trong xã hội, giúp họ nhận thức, nâng cao ý thức pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Bàn về vấn đề này, V.I Lê
Nin đã viết: “Tòa án cần phải đảm đương một nhiệm vụ khác còn quan trọng
hơn nữa, đó là nhiệm vụ bảo đảm cho người lao động chấp hành một cách nghiêm chỉnh nhất kỷ luật và kỷ luật tự giác”.[38]
Như vậy, xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án Khi đảm nhận chức năng xét xử, Tòa án có vai trò, vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước Hoạt động xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước để xem xét, đánh giá và phán quyết về tính đúng đắn của hành vi theo pháp luật hay tính công bằng trong các tranh chấp giữa các bên liên quan Đặc trưng cơ bản của hoạt động xét xử là Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước và sự nhân danh quyền lực nhà nước đã làm cho các bản án, quyết định do Tòa án ban
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 22hành được bảo đảm thực thi bởi Nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Tuy nhiên, ở mỗi hình thái kinh tế xã hội, kiểu Nhà nước với chế
độ chính trị khác nhau, bộ máy nhà nước được tổ chức khác nhau, trong đó Tòa án có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cũng khác nhau Ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp
và hành pháp và đều do giai cấp thống trị (giai cấp chủ nô và giai cấp phong kiến) nắm giữ và sử dụng thông qua người đại diện là nhà vua Ở Nhà nước tư sản, để hạn chế dần khả năng thực hiện quyền lực vô hạn cũng như đảm bảo tính dân chủ trong đời sống xã hội, các nhà tư tưởng tư sản đã đưa ra lý thuyết
về tam quyền phân lập, theo đó quyền tư pháp có sự phân lập với quyền lập pháp và hành pháp để đảm bảo tính kiềm chế và đối trọng lẫn nhau Tòa án chính là một nhánh quyền lực nhà nước thực hiện chức năng xét xử các hành
vi vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội Cùng với quá trình phát triển của xã hội, thẩm quyền của Tòa án được
mở rộng; tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Tòa án được nâng cao
và ngày càng có tính hệ thống
Ở nước ta, mặc dù không áp dụng nguyên tắc tam quyền phân lập như nhiều nước tư sản nhưng những kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Tòa án của các nước trên thế giới cũng là cơ sở quan trọng để chúng ta vận dụng, tham khảo trong quá trình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Bộ máy nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Thực hiện quyền
tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Tòa án nhân dân
Do vậy, Tòa án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước; Tòa án thực hiện quyền tư pháp, là nơi thể hiện công lý trong bộ máy
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 23nhà nước Hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp là thước đo sự công bằng trong xã hội Hoạt động xét xử được coi là hoạt động trọng tâm trong việc thực hiện quyền tư pháp và chức năng xét xử được Hiến pháp quy định là chức năng riêng Tòa án, bởi vậy, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân được quy định tương đối cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam Theo Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là
cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.[30] Bằng quy định này, lần đầu tiên trong Hiến pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam được khẳng định là Tòa án nhân dân, theo đó, quyền tư pháp được hiểu là quyền xét xử So với thời kỳ trước Hiến pháp năm 2013 thì quyền tư pháp và cơ quan tư pháp có phạm vi thu hẹp hơn, điều này nảy sinh yêu cầu đổi mới trong nhận thức về quyền tư pháp
ở Việt Nam Với việc thực hiện chức năng xét xử, Tòa án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Tòa án nhân dân là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm
và hành vi vi phạm pháp luật
Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân được xác định là:
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 24tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác
Tòa án xét xử những vụ án hình sự; những vụ án dân sự (bao gồm những tranh chấp về dân sự; những tranh chấp về hôn nhân và gia đình; những tranh chấp về kinh doanh, thương mại; những tranh chấp về lao động); những vụ án hành chính; giải quyết những việc dân sự (bao gồm những yêu cầu về dân sự; những yêu cầu về hôn nhân và gia đình; những yêu cầu về kinh doanh, thương mại; những yêu cầu về lao động); giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; xem xét và kết luận cuộc đình công hợp pháp hay không hợp pháp Ngoài ra, Tòa án còn có thẩm quyền giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật (ra quyết định thi hành án hình sự; hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; ra quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc giảm mức hình phạt đã tuyên; ra quyết định xoá án tích) [31]
1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Với tư cách là một trong các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, để thực hiện vai trò của cơ quan có chức năng xét xử, bảo đảm công lý, tổ chức và hoạt động của Tòa án phải được tổ chức trên cơ sở những nguyên tắc chung
đã được Hiến pháp ghi nhận như nguyên tắc Đảng lãnh đạo (Điều 4 Hiến pháp 2013), nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 6) Với chức năng riêng của mình so với các cơ quan Nhà nước khác, TAND còn được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án có tính phổ biến là:
1.1.2.1 Nguyên tắc việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm nhân dân tham gia; khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán
Đây là một nguyên tắc đã được ghi nhận tại khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 Điều 8 Luật Tổ chức TAND 2014 đã qui định vấn đề này
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 25Theo nguyên tắc đó, khi xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính thì trong thành phần Hội đồng xét
xử có sự tham gia của các Hội thẩm (Hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân nhân) Đây là thành phần đại diện cho dư luận xã hội khi xem xét các khía cạnh của vụ việc, góp phần bảo đảm việc xét xử có lý và có tình Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao trình độ pháp lý, trình độ chuyên môn cho các Hội thẩm nhân dân thì điều quan trọng, người Hội thẩm phải là người đại diện, nói được tiếng nói đại diện cho dư luận xã hội tại nơi và thời điểm xảy ra vụ án Cũng
vì vậy, tác giả cho rằng không nên quá quan tâm về vấn đề trình độ pháp lý và trình độ chuyên môn của Hội thẩm, hay nói cách khác là không nên “thẩm phán hoá” Hội thẩm Với nguyên tắc hai cấp xét xử, sự tham gia của Hội thẩm trong Hội đồng xét xử là bắt buộc trong trình tự xét xử sơ thẩm và mang tính tuỳ nghi (khi thấy cần thiết) trong Hội đồng xét xử phúc thẩm Để đảm bảo tính khách quan, pháp luật đã qui định, khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, nói cách khác là Hội thẩm có quyền độc lập so với Thẩm phán Pháp luật về tố tụng đã cụ thể hoá nội dung này bằng cách qui định, khi các thành viên Hội đồng xét xử nghị án, biểu quyết về từng vấn đề cụ thể của vụ
án thì các Hội thẩm phải biểu quyết trước (với mục đích để hạn chế việc biểu quyết của Hội thẩm bị ảnh hưởng theo ý chí của Thẩm phán) Cũng chính vì Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán nên khi xét xử, mặc dù Thẩm phán là người chủ toạ phiên Tòa nhưng Hội thẩm vẫn có quyền tham gia vào tất cả các trình tự, thủ tục xét xử tại phiên Tòa
1.1.2.2 Nguyên tắc độc lập của Tòa án, khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp
2013 và được cụ thể hoá tại Điều 9 Luật Tổ chức TAND năm 2014 Nguyên tắc này qui định khi xét xử, giữa các thành viên Hội đồng xét xử (Thẩm phán
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 26và Hội thẩm) và mỗi thành viên Hội đồng xét xử đều có quyền độc lập với nhau và chỉ tuân theo pháp luật Cho dù Chánh án hoặc Phó Chánh án là một thành viên Hội đồng xét xử thì khi đó, Chánh án hoặc Phó Chánh án cũng chỉ
là một người có quyền độc lập với thành viên khác, không có quyền “ra lệnh” hay “chỉ đạo” thành viên khác trong Hội đồng xét xử Thẩm phán chủ toạ cũng chỉ quyền điều hành phiên Tòa là có tính riêng so với các thành viên khác nhưng không có quyền tố tụng cao hơn thành viên khác trong Hội đồng xét xử Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị tác động bởi bất cứ áp lực nào từ phía các cơ quan Đảng, chính quyền hoặc sự can thiệp của bất cứ
cá nhân, tổ chức nào Khi xét xử, các thành viên Hội đồng xét xử có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chứ không chịu sự chỉ đạo, điều hành của Tòa án cấp trên Khi xét xử, ngoại trừ bị tác động và chi phối bởi “giới hạn của việc xét xử” (ở trình tự xét xử sơ thẩm) và “phạm vi xét xử phúc thẩm”, các thành viên trong Hội đồng xét xử không bị phụ thuộc bởi những quan điểm, những luận cứ của Viện kiểm sát Các thành viên Hội đồng xét xử có quyền phán xét độc lập trên cơ sở pháp luật và chứng cứ, trên cơ sở đó, họ ban hành các quyết định pháp lý giải quyết vụ án
Việc qui định nguyên tắc này trong các bản Hiến pháp có sự thay đổi
về ngôn ngữ diễn đạt nhưng sự thay đổi đó phản ánh sự thay đổi về nhận thức nội dung của nguyên tắc trên Hiến pháp năm 1959 quy định dưới hình thức câu chữ là “Tòa án độc lập”, còn các bản Hiến pháp về sau thì đều qui định là
“Thẩm phán và Hội thẩm” xét xử độc lập Sự thay đổi đó nói lên rằng, nguyên tắc này không chỉ thể hiện tính độc lập của “Tòa án” khi xét xử (độc lập với các cơ quan khác) mà điều quan trọng là nhấn mạnh tính độc lập của từng thành viên Hội đồng xét xử với những tác động “bên ngoài” và với thành viên khác trong cùng Hội đồng.[28]
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 27Xét xử là quá trình áp dụng pháp luật để xử lý, giải quyết các tranh chấp, hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo công lý Bản chất của hoạt động xét
xử - tài phán là hoạt động đòi hỏi phải độc lập để đảm bảo công bằng, nếu hoạt động xét xử không độc lập thì việc xét xử sẽ không khách quan, sự độc lập của Tòa án được thể hiện cơ bản qua sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Về sự độc lập của Tòa án trong hoạt động xét xử, C.Mác đã nói: “Cấp trên của quan Tòa là luật pháp” Điều này đòi hỏi rằng khi xét xử, Thẩm phán độc lập, không bị ràng buộc bởi ý kiến của bất cứ ai, không bị chi phối bởi ý kiến của ai; không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, nhưng phải tuân theo pháp luật Thẩm phán, Hội thẩm phải căn
cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra ý kiến, quyết định của mình về từng vấn đề của vụ án, không được tuỳ tiện hay bằng cảm tính Do đó, để đảm bảo sự độc lập của Tòa án, pháp luật cần có sự quy định rõ ràng trách nhiệm của Tòa án, của thẩm phán và cơ chế đảm bảo không có sự tham gia, can thiệp trái pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Muốn vậy, trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, cần thiết phải có sự phân định rõ ràng về thẩm quyền của Tòa án và các cơ quan lập pháp và hành pháp cùng với trách nhiệm, nghĩa vụ tương ứng để ngăn ngừa sự lạm quyền và can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử Để đảm bảo sự độc lập của Tòa án, nhiều nước thiết kế mô hình tổ chức Tòa án theo địa hạt mà không trùng với phạm
vi địa giới quản lý hành chính của các cơ quan quản lý hành chính địa phương nhằm giảm thiểu sự can thiệp của cơ quan hành chính đối với hoạt động của Tòa án; quy định những cơ chế, điều kiện đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán không chỉ trong hoạt động xét xử mà còn liên quan đến các vấn đề an ninh khác đối với Thẩm phán và gia đình họ
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 28Yêu cầu đặt ra đối với Thẩm phán là phải hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không chịu áp lực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Bởi vậy, pháp luật tố tụng của các nước đều quy định quyền của người tham gia tố tụng được yêu cầu thay đổi thẩm phán khi có căn cứ cho rằng họ không vô tư, khách quan khi thực thi nhiệm vụ xét xử, đồng thời cũng quy định trách nhiệm của Thẩm phán phải từ chối tiến hành các hoạt động tố tụng khi có những căn cứ tương tự Nguyên tắc này cũng được thể hiện ở sự độc lập của Thẩm phán Tòa án cấp dưới trước sự chỉ đạo của Tòa án cấp trên và trường hợp bản án sơ thẩm không đúng pháp luật sẽ được xem xét lại theo các trình tự, thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Để có sự độc lập của Thẩm phán, ngoài việc quy định trách nhiệm của Tòa án và Thẩm phán thì pháp luật cũng thường đặt ra yêu cầu đối với Thẩm phán được lựa chọn, bổ nhiệm phải là những người có trình độ chuyên môn,
có hiểu biết pháp luật cao, có kinh nghiệm thực tiễn và sự công tâm, trách nhiệm trong việc thực thi nhiệm vụ bảo vệ công lý
Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy rằng để đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán, pháp luật quy định Thẩm phán được bổ nhiệm bởi nguyên thủ quốc gia theo nhiệm kỳ hoặc suốt đời và những điều kiện đảm bảo chế độ đãi ngộ về lương, điều kiện làm việc nhằm thể hiện sự tôn vinh và đề cao trách nhiệm của Thẩm phán phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn xét xử theo pháp luật
1.1.2.3 Nguyên tắc Tòa án nhân dân xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Đây là nguyên tắc đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 103
và được Luật Tổ chức TAND năm 2014 cụ thể hoá tại các Điều 10 và Điều
11 Nội dung của các nguyên tắc này qui định việc xét xử của Tòa án phải công khai để mọi người có thể tham dự, trừ những trường hợp cần phải giữ
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 29gìn bí mật quốc gia hoặc để đảm bảo thuần phong, mỹ tục hay để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì xét xử kín nhưng khi tuyên
án phải tuyên công khai Việc xét xử công khai là nhằm bảo đảm vai trò giám sát xã hội của công dân, các cơ quan, tổ chức đối với công tác xét xử của Tòa
án Khi xét xử, các thành viên Hội đồng xét xử phải xem xét tập thể đối với từng vấn đề của vụ án và khi biểu quyết, ý kiến của đa số sẽ có hiệu lực pháp
lý, đồng thời ý kiến thiểu số cũng được bảo lưu, ghi vào biên bản và được coi
là một trong các cơ sở để kiểm tra, xem xét lại bản án của Tòa án khi cần thiết Cũng chính vì nguyên tắc nói trên, pháp luật tố tụng qui định số lượng thành viên Hội đồng xét xử luôn luôn là số lẻ (ba hoặc 5 thành viên trong Hội
đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm)
1.1.2.4 Nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
Đây là các nguyên tắc đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại khoản
6 Điều 103 Nguyên tắc này được qui định rõ tại Điều 6 Luật Tổ chức TAND năm 2014, Điều 20 Bộ luật TTHS 2003 và Điều 17 Bộ luật TTDS 2015 Nội dung nguyên tắc này qui định Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử: xét xử
sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Vụ án được đưa ra xét xử ở cấp sơ thẩm: sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, các đương sự có quyền kháng cáo bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật, vụ án sẽ được đưa ra xét xử lại ở cấp phúc thẩm Sau khi xét xử phúc thẩm, bản án và quyết định của Tòa án sẽ
có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành
Xét xử tập thể là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Tòa án Nguyên tắc này thể hiện việc xét xử thông qua hội đồng (tùy vào cấp xét xử và tính chất vụ việc) nhằm phát huy trí tuệ tập thể, đảm bảo tính dân chủ, thận trọng, khách quan khi Tòa án đưa ra phán quyết Việc thực hiện nguyên tắc xét xử tập thể sẽ góp phần tạo ra sự đồng thuận, thống nhất về quan điểm, cách thức giải quyết vụ việc từ nhiều góc độ để đảm
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 30bảo tính khách quan, đúng pháp luật và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan Đồng thời, việc xét xử theo nguyên tắc tập thể còn là
cơ chế để tạo ra sự vô tư trong hoạt động xét xử, ngăn ngừa sự tùy tiện, thiên
vị trong xét xử và điều này sẽ tạo được niềm tin cho công chúng trong việc tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh các phán quyết của Tòa án Nguyên tắc này
ở một chừng mực nào đó cũng là rào cản để ngăn ngừa sự can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử từ những cơ quan, tổ chức, cá nhân bên ngoài cũng như sự e dè, ngần ngại của Thẩm phán và giảm áp lực cho Thẩm phán trong hoạt động xét xử Việc qui định Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử là nhằm bảo đảm hạn chế những trường hợp xét xử thiếu khách quan, góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử của Tòa án
1.1.2.5 Nguyên tắc Tòa án nhân dân xét xử kịp thời, công bằng
Đây là nguyên tắc hiến định, được qui định tại khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013 Luật Tổ chức TAND 2014 đã cụ thể hóa nguyên tắc này tại Điều
11, với nội dung qui định: Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật Nguyên tắc này đòi hỏi khi xét xử, Tòa án (Hội đồng xét xử) chỉ căn cứ vào các qui định của pháp luật (có hiệu lực chung với tất cả mọi người), trên cơ sở các chứng cứ khách quan, có cân nhắc đến các yếu tố riêng của vụ việc xét xử để đưa ra các phán quyết khách quan, công bằng Những yếu tố riêng được Tòa án cân nhắc khi xét xử cũng phải là những yếu tố đã được pháp luật dự liệu và qui định như hoàn cảnh địa điểm,
thời gian và đặc điểm nhân thân riêng của đương sự và vụ việc tranh chấp
1.1.2.6 Nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng của công dân
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 31Quyền bình đẳng trước pháp luật là một trong những quyền của công dân, được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và Hiến pháp của các nước Điều 7 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào” Như vậy, để đảm bảo mọi công dân được bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có sự phân biệt thì Tòa án phải trở thành công cụ hữu hiệu để bảo vệ sự bình đẳng và không có sự phân biệt về địa vị xã hội, tôn giáo, dân tộc, nguồn gốc xã hội, điều kiện kinh tế Để đảm bảo sự bình đẳng của công dân trong hoạt động xét xử, Điều 14 Luật Tổ chức TAND 2014 đã qui định: Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trước Tòa án Nguyên tắc này đòi hỏi khi xét xử, Tòa án (Hội đồng xét xử) chỉ căn cứ vào các qui định của pháp luật (có hiệu lực chung với tất cả mọi người), trên cơ sở các chứng cứ khách quan, có cân nhắc đến các yếu tố riêng của vụ việc xét xử để đưa ra các phán quyết khách quan, công bằng
1.1.2.7 Nguyên tắc khi xét xử, Tòa án bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Nguyên tắc này được qui định tại khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013 và Điều 14 Luật Tổ chức TAND năm 2014 Nguyên tắc này qui định trong quá trình xét xử, quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự luôn được bảo đảm, thể hiện qua việc bị cáo có quyền tự mình mời người bào chữa cho mình Nếu người bào chữa được mời không vi phạm qui định về những trường hợp không được bào chữa thì Tòa án phải chấp nhận người bào chữa
do bị cáo mời Trong một số trường hợp đặc biệt, nếu bị cáo không mời người
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 32bào chữa thì Tòa án (cơ quan tiến hành tố tụng nói chung) phải mời người bào chữa cho bị cáo Trong các quan hệ pháp luật tố tụng khác, các đương sự được bảo đảm quyền bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, do vậy họ
có quyền tự mình bảo vệ (viện dẫn chứng cứ, cung cấp chứng cứ, tài liệu, tranh luận khi xét xử, khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo qui định của pháp luật tố tụng); hoặc có quyền nhờ người khác (luật sư, người đại diện hợp pháp) đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tòa
án phải tôn trọng các quyền của đương sự
Ngoài những nguyên tắc nói trên, trong tổ chức và hoạt động, Tòa án còn thực hiện theo một số nguyên tắc khác như nguyên tắc về dùng tiếng nói, chữ viết dùng trước Tòa án là tiếng Việt Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa
án nhân dân, trường hợp này phải có phiên dịch
1.2 Khái quát về tổ chức và hoạt động của Hệ thống Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân cấp tỉnh
1.2.1.1 Vị trí của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Với chức năng xét xử, TAND cấp tỉnh có vị trí đặc biệt quan trọng so với các cơ quan Nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp ở cấp tỉnh nói
riêng, được thể hiện qua những điểm sau:
Thứ nhất, TAND tỉnh xét xử nhân danh Nhà nước, căn cứ vào pháp luật
hiện hành của Nhà nước để đưa ra những phán quyết thể hiện trực tiếp ý chí của Nhà nước, của nhân dân đối với từng vụ việc cụ thể Ý chí đó phải được thể hiện bằng những quyết định mang tính chất pháp lý cao, đánh giá khách quan bản chất sự việc cụ thể và được thể hiện dưới hình thức là bản án hay quyết định của Tòa án Như vậy, hoạt động xét xử của TAND tỉnh phản ánh một cách trực tiếp và sâu sắc bản chất của Nhà nước, ý chí của nhân dân
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 33Thứ hai, thông qua hoạt động xét xử của mình, TAND tỉnh thực hiện
được việc kiểm tra hành pháp của các cơ quan Nhà nước, quyền công dân, quyền con người, hơn nữa là còn góp phần bảo vệ cho trật tự xã hội được an Tòan, ổn định, phát triển lành mạnh và bền vững
Ở nước ta, trong giai đoạn hiện nay, TAND cấp tỉnh có vị trí trung tâm trong việc tổ chức, thực hiện quyền tư pháp ở cấp tỉnh với chức năng tổ chức
và tiến hành hoạt động xét xử là một trong những quan điểm cơ bản định hướng hoạt động cải cách tư pháp đã được khẳng định trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp nước ta đến năm 2020 và đã được Hiến pháp năm 2013 quy định tại điều 102:
“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Do vậy, vị trí của TAND tỉnh trong bộ máy Nhà nước cũng như trong Hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam cũng từng bước được xác định, được biểu hiện ngày một rõ nét hơn
1.2.1.2 Chức năng của Tòa án nhân dân tỉnh
Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân gồm: Tòa
án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định, là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Trên cơ
sở các qui định nêu trên, các đạo luật về tổ chức TAND các năm 1960, 1981,
1992, 2002 và 2014 đều khẳng định chức năng xét xử của cơ quan Tòa án Xuất phát từ địa vị pháp lý của Tòa án, trên cơ sở các qui định của pháp luật, nhất là các qui định của các đạo luật về tổ chức Tòa án và các đạo luật về tố tụng, chúng ta có thể nhận thấy rằng, chức năng xét xử của Tòa án là chức năng xuyên suốt, thống nhất trong suốt quá trình ra đời và phát triển của Tòa
án Tuy nhiên, về phạm vi chức năng xét xử của Tòa án thì có những thay đổi theo hướng tăng hơn về phạm vi các loại việc được giao cho Tòa án xét xử Ban đầu, các TAND, trong đó có TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 34những vụ án hình sự, dân sự (hiểu với nghĩa là các vụ án về dân sự liên quan đến tranh chấp về tài sản và những tranh chấp về nhân thân phi tài sản, các vụ
án về hôn nhân gia đình) Sau đó, trên cơ sở các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án về kinh tế (năm 1993), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án về lao động (năm 1994), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (năm 1996), Luật Phá sản doanh nghiệp (năm 1993) và sau đó là Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2004 và Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015, các Tòa án được giao thêm có thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế (từ khi có Bộ luật TTDS 2004 thì gọi là vụ án kinh doanh, thương mại), lao động, hành chính và giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (đối với Tòa
án cấp tỉnh) Với tư cách là một trong các cấp của hệ thống Tòa án, TAND tỉnh có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại,
lao động, hành chính thuộc thẩm quyền theo qui định của pháp luật
Bên cạnh chức năng xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền, theo qui định của pháp luật tố tụng, TAND tỉnh còn có trách nhiệm trong một số hoạt động thi hành án hình sự, dân sự Cụ thể như việc ra quyết định thi hành án hình sự, hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, xét giảm hình phạt hoặc thời gian thử thách của án treo, xét miễn chấp hành hình phạt, ra quyết định thi hành án
và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình Điểm mới theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 là thêm chức năng kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị
1.2.1.3 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh
Với chức trách là cơ quan Nhà nước có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính và giải quyết các việc
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 35khác theo qui định của pháp luật, thẩm quyền của TAND nói chung và của TAND tỉnh nói riêng thực chất là thẩm quyền xét xử các vụ án Phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án là một trong các nội dung của hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND Theo từ điển Luật học thì “thẩm quyền xét xử là sự phân định thẩm quyền xét xử các vụ án giữa các Tòa án với nhau Việc phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào những dấu hiệu nhất định và tính chất của từng vụ án cụ thể; thẩm quyền xét xử theo loại việc, thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ hoặc theo địa phương, thẩm quyền xét xử theo vụ án có liên quan với nhau” Đối với vấn đề thẩm quyền của TAND tỉnh, pháp luật điều chỉnh nội dung thẩm quyền giữa Tòa án cấp tỉnh với Tòa
án cấp huyện, cấp tỉnh này với cấp tỉnh khác và TAND cấp cao
Vấn đề thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh là nội dung phức tạp vì
nó có liên quan đến thẩm quyền xét xử đối với các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật qua các thời kỳ khác nhau, đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn tư pháp cũng như năng lực của các Thẩm phán
- Theo pháp luật hiện hành thì thẩm quyền của TAND cấp tỉnh được qui định như sau:
+ Điều 37 Luật Tổ chức TAND năm 2014 và khoản 2 Điều 170 Bộ luật
Tố tụng hình sự (BLTTHS) qui định TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử:
Sơ thẩm những vụ việc theo quy định của pháp luật tố tụng; sơ thẩm những
vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử; phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 36nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị; và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật
+ Theo Điều 37 BLTTDS 2015, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử
sơ thẩm những vụ việc: Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của BLTTDS, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của BLTTDS; yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của BLTTDS, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2
và khoản 4 Điều 35 của BLTTDS; tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật nà BLTTDS y
mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện
+ Theo Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong
cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 37không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện
có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi
cư trú trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa
án Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án Trong trường hợp cần thiết,
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 38Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại Điều 31 của Luật này
1.2.2 Nguyên tắc của tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Với tư cách là một cấp trong hệ thống tổ chức của TAND, TAND cấp tỉnh tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân Theo đó, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bao gồm:
- Nguyên tắc việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm nhân dân tham gia; khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán;
- Nguyên tắc độc lập của Tòa án, khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
- Nguyên tắc Tòa án nhân dân xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số;
- Nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm;
- Nguyên tắc Tòa án nhân dân xét xử kịp thời, công bằng;
- Nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng của công dân;
- Nguyên tắc khi xét xử, Tòa án bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng và mục tiêu đặt ra đối với việc đổi mới tổ chức
và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Theo các quy định trong Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước và của hệ thống cơ quan xét xử, địa vị pháp lý của TAND tỉnh chịu sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan, chẳng hạn như các quy định pháp luật, việc tổ
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 39chức hệ thống các cấp chính quyền hay việc phân định địa giới hành chính ở mỗi quốc gia, hay các nhóm quan hệ cơ bản như:
Một là: Mối quan hệ giữa TAND tỉnh với các cơ quan quyền lực khác
Trên cơ sở nguyên tắc hiến định "Quyền lực Nhà nước thống nhất và thuộc về nhân dân "và các nguyên tắc "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa(CHXHCN) Việt Nam'' [30], TAND tỉnh có sự phụ thuộc vào Quốc hội, bởi vì: Quốc hội là cơ quan
có thẩm quyền ban hành ra các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án, các quy tắc tố tụng của Tòa án Ngoài ra Quốc hội còn
có ảnh hưởng gián tiếp đến TAND tỉnh đó là Quốc hội bầu và bãi nhiệm chức Chánh án TAND tối cao, có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với vị trí này Quan trọng hơn nữa là Quốc hội quyết định ngân sách hằng năm của Hệ thống Tòa án
Cũng trên nguyên tắc "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương"[30], để đảm bảo thống nhất quyền lực Nhà nước ở địa phương, TAND tỉnh được tổ chức theo đơn vị hành chính và chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Chánh án TAND tỉnh phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác và chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp
Do đó, vị trí của Tòa án nhân dân cấp tỉnh chưa có vị trí tương xứng trong mô hình tổ chức Tòa án; hoạt động xét xử ở một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh chưa thực sự độc lập, bị can thiệp, chi phối từ các cơ quan, người có thẩm quyền; bộ máy tổ chức của Tòa án nhân dân cấp tỉnh còn thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ; trong tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh còn
có sự đan xen, chồng chéo giữa quan hệ tố tụng và hành chính; công tác cán
bộ và các điều kiện cơ sở vật chất chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hiện nay
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN
Trang 40Ba là: Mối quan hệ giữa TAND tỉnh với TAND tối cao, TAND tỉnh với
TAND cấp cao, TAND tỉnh với TAND cấp huyện
Với tư cách là một trong ba cấp Tòa án theo địa giới hành chính (cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương) và theo hai cấp theo thẩm quyền xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm), TAND tỉnh là một trong các cơ quan tư pháp ở cấp tỉnh (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án), có vị trí trung gian giữa TAND huyện và TAND tối cao Về mặt tổ chức TAND tỉnh có vị trí như là cơ quan
"cấp dưới' trực tiếp của TAND tối cao và là cơ quan "cấp trên" trực tiếp của TAND huyện Chánh án TAND tối cao có quyền hạn bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh án, Phó Chánh án; trình Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán các Tòa án khác Tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm và cán bộ TAND tỉnh
Như vậy, theo các quy định trong pháp luật hiện hành thì TAND tỉnh có
vị trí độc lập tương đối trong bộ máy Nhà nước cũng như trong hệ thống cơ quan xét xử của nước ta Sự phụ thuộc của TAND tỉnh vào hệ thống các cơ quan này
là tương đối lớn Những đặc điểm về vị trí của TAND tỉnh trong bộ máy Nhà nước, trong hệ thống cơ quan xét xử đã ảnh hưởng đến hoạt động của TAND tỉnh, đặc biệt là phán quyết của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc
Chính vì vậy, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập và phát huy những kết quả hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân
1.3.2 Mục tiêu đặt ra đối với việc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải được tổ chức theo thẩm quyền xét xử trong hệ thống Tòa án nhân dân nhằm nâng cao năng lực xét xử, đáp ứng các
Khoa Luật - ĐH QUỐC GIA HN