1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự việt nam

120 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Quy Định Về Giới Hạn Xét Xử Sơ Thẩm Trong Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Hình Sự
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 599 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, việc xác định, nhận thức và áp dụng đúng đắn quy định vềchế định này sẽ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, các chủ thể tiến hành tốtụng thực hiện đúng, đầy đủ chức năng nhiệm

Trang 1

Më ®Çu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giới hạn xét xử là một chế định liên quan chặt chẽ đến việc bảo đảm cácnguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, cũng như vấn đề định tội danh của các

cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự

Nội dung của quy định giới hạn xét xử phù hợp với thực tiễn, có căn cứkhoa học sẽ là cơ sở quan trọng đảm bảo cho Toà án xét xử độc lập, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội nhưng mặt kháccũng không bỏ lọt tội phạm

Mặt khác, việc xác định, nhận thức và áp dụng đúng đắn quy định vềchế định này sẽ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, các chủ thể tiến hành tốtụng thực hiện đúng, đầy đủ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong

việc xét xử các vụ án hình sự, khắc phục tình trạng "lấn sân" hoặc " bỏ trống sân" giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật nhằm đáp ứng một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp mà Nghị quyết 08 đề ra: "tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng trên cơ

sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, không hữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm" [5, tr.4].

Điều đó sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng và hiệuquả của công tác giải quyết án hình sự, đảm bảo quyền bình đẳng của mọicông dân, đấu tranh phòng và chống tội phạm có hiệu quả

Trong luật tố tụng hình sự nước ta, lần đầu tiên giới hạn xét xử sơ thẩmđược Luật hoá tại Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 Sựhiện diện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong BLTTHSViệt Nam có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự.Tuy nhiên, qua hơn mười năm thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩmtrong BLTTHS năm 1988 đã bộc lộ những hạn chế, những vướng mắc do vậy

Trang 2

khi xây dựng BLTTHS 2003, một trong tám vấn đề lớn được đưa ra thảo luậnchính là vấn đề giới hạn xét xử Các nhà làm luật đã cố gắng khắc phục nhữnghạn chế trong quy định của BLTTHS năm 1988 về vấn đề giới hạn xét xử, songsau gần bảy năm áp dụng trong thực tiễn các quy định của BLTTHS nói chung

và các quy định về giới hạn xét xử nói riêng, bên cạnh nhưng kết quả đã đạtđược thì quy định về giới hạn xét xử còn bộc lộ những điểm không hợp lý như:mặc dù xác định rõ bị cáo phạm tội khác nặng hơn tội mà viện kiểm sát truy tốnhưng do giới hạn của việc xét xử không cho phép Toà án xử bị cáo tội nặnghơn nên toà án phải xử theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố Điều đó gây bấtbình cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vànhững người tham dự phiên toà Họ cho rằng Toà án xử đúng người, nhưngkhông đúng tội, từ đó làm cho niềm tin của nhân dân đối với công lý bị giảmsút, không đảm bảo công bằng trong xã hội Hay khi Toà án thực hiện theohướng dẫn của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hộiđồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn thi hành một số

quy định trong phần thứ ba "Xét xử sơ thẩm" của BLTTHS năm 2003 để xử bị

cáo theo tội nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố thì bị cáo lại phải chịu khunghình phạt nặng hơn so với trường hợp chỉ xử bị cáo theo tội mà Viện kiểm sáttruy tố…

Những bất cập, mâu thuẫn này đã không đáp ứng được yêu cầu của côngcuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và công cuộc cải cách tưpháp mà trung ương Đảng đề ra, đó là:

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của

cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng của chiến lượccải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệmpháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp trọng tâm là hoànthiên pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND, bảo đảm toà ánxét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh [6]

Trang 3

Phải thực sự coi trọng chất lượng tranh tụng tại các phiên toàxét xử là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, thực sự tăng quyềnhạn, trách nhiệm tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán

để họ chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịutrách nhiệm trong hoạt động tố tụng [7]

Trong thời gian qua đã có một số tác giả viết bài liên quan đến giới hạncủa việc xét xử Các bài viết này phần lớn phê phán quy định về giới hạn xét

xử sơ thẩm trong BLTTHS năm 2003 và cũng có những bài viết nêu ra cácvướng mắc khi thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong BLTTHS.Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách sâu sắc, có hệ thống quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong phápluật tố tụng hình sự Việt Nam, chưa có công trình nào đánh giá được thực trạngquy định và thực trạng thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong phápluật tố tụng hình sự Việt Nam để từ đó chỉ rõ những bất cập, những hạn chế tạo

cơ sở đề ra những quan điểm và những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định vềgiới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành

Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam" làm luận văn

thạc sỹ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến giới hạn xét xử trong tố tụng hình

sự Việt Nam đã được một số nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các cán bộ làmcông tác thực tiễn tiến hành, công bố trong những công trình khoa học, cụ thể:

- Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Trần Văn Tín thực hiện năm 1997

với đề tài "Giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự" Trong công trình nghiên cứu

này, giới hạn xét xử sơ thẩm chỉ là một phần của đối tượng nghiên cứu vì luậnvăn tìm hiểu cả giới hạn xét xử phúc thẩm, giới hạn giám đốc thẩm và táithẩm Mặt khác, công trình nghiên cứu này chỉ phân tích những quy định của

Trang 4

BLTTHS năm 1988 về giới hạn xét xử Những quy định của pháp luật tố tụnghình sự hiện hành về giới hạn xét xử sơ thẩm cần được tiếp tục nghiên cứu.

- Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Ngô Thị Ánh với đề tài "Giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam" thực hiện năm 2007 Trong công

trình nghiên cứu này, giới hạn xét xử sơ thẩm cũng chỉ là một phần của đốitượng nghiên cứu vì luận văn đề cập đến cả giới hạn xét xử phúc thẩm Mặtkhác, luận văn tuy có nghiên cứu những quy định của BLTTHS năm 2003 vànhững hướng dẫn về giới hạn xét xử sơ thẩm của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, nhưng doBLTTHS và Nghị quyết mới được ban hành, nên luận văn còn thiếu nhữngphân tích sâu sắc về pháp luật thực định cũng như thực tiễn thi hành

- Ngoài ra có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:

"Mấy suy nghĩ về giới hạn xét xử" của tác giả Nguyễn Nông (Tạp chí Kiểm sát số 8/1997); "Về giới hạn xét xử của Toà án" của tác giả Vũ Gia Lâm (Tạp chí Luật học số 5/1997); "Bàn thêm về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự" của phó tiến sỹ Phạm Hồng Hải (Tạp chí Luật học số 4/1998); "Cần sửa đổi quy định giới hạn của việc xét xử trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành" của tác giả Nguyễn Đức Lương (Tạp chí Kiểm sát số 9/1999); "Bàn về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm" của tác giả Đinh Văn Quế (Tạp chí Toà án

số 11/1999); "Những căn cứ để quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự" của Thạc sỹ Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Luật học số 2 năm 1999); "Giới hạn xét xử của Toà án theo Điều 170 BLTTHS" của tác giả Nguyễn Đức Cường (Tạp chí Toà án số 12/2001); "Một số vấn đề về giới hạn xét xử" của Tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí luật học số 6/2003); "Vấn đề giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Thái Phúc (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2003); "Giới hạn xét xử và căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm" của tác giả Nguyễn Thanh Mai (Tạp chí Kiểm sát số 8/2003); "Bàn về giới hạn của việc xét xử trong Dự thảo Bộ luật tố

Trang 5

tụng hình sự" của Thạc sỹ Nguyễn Nông (Tạp chí Kiểm sát số 9/2003); "Một

số vấn đề cần nghiên cứu thêm trong Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự " của Luật sư Lê Kim Quế (Tạp chí Toà án số 10/2003); "Giới hạn của việc xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng năm 2003" của tác giả Phạm Vũ Ngọc Quang (Tạp chí kiểm sát số 12/2004); "Đảm bảo quyền tự bào chữa của bị cáo khi Toà án xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn" của tác giả Đinh Thế Hưng (Tạp chí Toà án số 22/2006); "Một số vấn đề về giới hạn của việc xét xử" của Thạc sỹ Đinh Văn Quế (Tạp chí Kiểm sát số 4/2006); "Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong trường hợp Toà án xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn khoản Viện kiểm sát truy tố" của tác giả Phạm Vũ Ngọc Quang (Tạp chí Kiểm sát số 23/2007); "Bàn về giới hạn của việc xét xử" của Thạc sỹ Nguyễn Nông (Tạp chí kiểm sát số chuyên đề 18 – 20/ 2008); "Lại bàn về giới hạn của việc xét xử " của Thạc sỹ Mai Bộ (Tạp chí Toà án số 21/2008); "Đổi mới phiên toà sơ thẩm hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp" của tác giả Nguyễn Thái Phúc (Tạp chí Nhà nước và pháp luật

số 2/2009)…

Các bài viết trên chủ yếu chỉ đề cập đến một số khía cạnh cụ thể nhưphân tích các khó khăn khi áp dụng quy định giới hạn của việc xét xử haynêu ra quan điểm phản bác hoặc bảo vệ quy định giới hạn của việc xét xử.Đặt vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện và đầy đủ lý luận về giớihạn xét xử sơ thẩm, phân tích thực trạng quy định và thi hành quy định về giớihạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam để từ đó chỉ ranhững bất cập, những hạn chế, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra nhữngquan điểm và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam về giới hạn xét xử sơ thẩm thì chưa có công trình nào nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là làm rõ khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm trong

tố tụng hình sự, phân tích quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm của pháp luật

Trang 6

tố tụng hình sự Việt Nam để có cách hiểu và áp dụng đúng đắn, phân tích quyđịnh về giới hạn xét xử sơ thẩm của pháp luật tố tụng hình sự một số nướcnhằm vận dụng những điểm hợp lý vào thực tiễn Việt Nam, đánh giá thựctrạng quy định và thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm để từ đó chỉ

ra những điểm chưa hợp lý của quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trongpháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và đề xuất các quan điểm và các giảipháp nhằm hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam

Để đạt được mục đích ấy thì nhiệm vụ nghiên cứu là:

- Phân tích cơ sở lý luận của việc hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử

sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Phân tích các quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam để có cách hiểu đúng và thống nhất

- Đánh giá thực trạng quy định và thi hành quy định về giới hạn xét xử

sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay

- Đề xuất những quan điểm và những giải pháp nhằm hoàn thiện quyđịnh về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụnghình sự Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: luận văn chỉ nghiên cứu quy định vềgiới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảngcộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Xã hội chủ nghĩa (XHCN), nhất

-là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị quyết số

Trang 7

08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và

quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020".

Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, kết hợpvới các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp

so sánh, phương pháp thống kê

- Chương 1 luận văn chú trọng sử dụng phương pháp phân tích, tổnghợp để hệ thống hoá, phân tích các vấn đề lý luận về giới hạn xét xử sơ thẩmtrong tố tụng hình sự

- Chương 2 luận văn chú trọng sử dụng phương pháp lịch sử, phươngpháp so sánh, phương pháp thống kê, kết hợp với phương pháp phân tích,tổng hợp để làm rõ quá trình hình thành, phát triển và đánh giá thực trạng quyđịnh và thực trạng thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong phápluật tố tụng hình sự Việt Nam

- Chương 3 luận văn chú trọng sử dụng phương pháp phân tích, tổnghợp để đề ra những quan điểm và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam về giới hạn xét xử sơ thẩm

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, có tính hệ thống và phântích sâu, tương đối toàn diện về giới hạn xét xử sơ thẩm Trong luận văn cónhững điểm mới sau:

- Đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện quy định về giớihạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Phân tích các quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm để có cách hiểu và

Trang 8

7 Ý nghĩa của luận văn

Ý nghĩa lý luận và đóng góp thực tiễn: luận văn góp phần làm rõ cơ sở

lý luận và thực tiễn để hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trongpháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhằm đóng góp vào việc xây dựng dựthảo BLTTHS đang do Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) chủ trìsoạn thảo và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật mà Nghị quyết số 48-NQ/TW đã đề ra

Ngoài ra luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trongcông tác giảng dạy và nghiên cứu môn luật tố tụng hình sự; luận văn còn cóthể được sử dụng cho những người làm công tác thực tiễn tham khảo nhằmnhận thức và áp dụng đúng về quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có 3 chương, 7 tiết

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH

VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG PHÁP LUẬT

1.1.1.1 Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm

Theo Từ điển Luật học, "Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc" [70, tr.869]; còn giới hạn của việc xét xử hình sự là: "Phạm vi Toà án cấp sơ thẩm được xem xét và quyết định về vụ án " [70, tr.309].

Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 đều quyđịnh Toà án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử Để đảm bảo cho Toà ánthực hiện được chức năng xét xử, pháp luật trao cho Toà án quyền hạn Đó làkhả năng pháp lý Toà án được xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ

án trong một phạm vi, giới hạn nhất định được gọi là giới hạn xét xử

Trước khi phân tích khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm cần phân biệtgiới hạn xét xử và phạm vi xét xử; giới hạn xét xử và thẩm quyền xét xử

Trang 11

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự giải thích chính thức trong các vănbản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền về sự khác nhau giữagiới hạn xét xử và phạm vi xét xử.

Có ý kiến cho rằng khi nói đến giới hạn xét xử là gắn với thủ tục xét xử

sơ thẩm, còn nói đến phạm vi xét xử là gắn với thủ tục xét xử phúc thẩm Theo chúng tôi, khi nói đến giới hạn xét xử cần phải hiểu rằng ở đâu cóxét xử ở đó có giới hạn xét xử Hai cấp xét xử là nguyên tắc cơ bản của tốtụng hình sự Do đó, khi đề cập đến giới hạn xét xử phải đề cập đến giới hạnxét xử ở cả cấp sơ thẩm và ở cả cấp phúc thẩm thì mới đầy đủ và toàn diện.Nghiên cứu chế độ hai cấp xét xử theo quy định của pháp luật tố tụnghình sự hiện hành thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm khi quyết định một vấn đềthì phải giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định Đây là đối tượng củaquyền kháng cáo, kháng nghị yêu cầu giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúcthẩm Khi có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệmxem xét, giải quyết lại vụ án ở cấp xét xử thứ hai nhằm kiểm tra tính hợppháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm để ra những quyếtđịnh cần thiết Đồng thời, Toà án cấp phúc thẩm sẽ giải quyết lại về nội dung

vụ án nếu Toà án cấp sơ thẩm giải quyết chưa đúng

Điều 241 BLTTHS năm 2003 quy định: "Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án" [40].

Như vậy, phạm vi xét xử của Toà án cấp phúc thẩm phụ thuộc vào nộidung kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, Toà án cấp phúc thẩm vẫn cóquyền xem xét toàn bộ vụ án khi cần thiết mà không bị giới hạn bởi nộidung kháng cáo, kháng nghị, khi đó phạm vi xét xử được mở rộng Nhưngkhi ra quyết định, Toà án cấp phúc thẩm lại bị giới hạn bởi nguyên tắckhông được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo trong trường hợp không có

Trang 12

kháng cáo hoặc kháng nghị của người bị hại hay người có thẩm quyềnkháng nghị theo hướng tăng nặng.

Theo Từ điển tiếng Việt: "Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định không thể hoặc không được phép vượt qua" [72, tr.764]

Như vậy, thực chất phạm vi chính là giới hạn Chúng tôi thống nhất với

quan điểm của Tiến sỹ Nguyễn Đức Mai khi cho rằng: "Phạm vi xét xử phúc thẩm là giới hạn mà pháp luật cho phép Toà án cấp phúc thẩm có quyền xem xét và ra các quyết định về vụ án theo các căn cứ mà pháp luật quy định"

[24, tr.10] Theo nghĩa đó, phạm vi xét xử phúc thẩm gồm hai nội dung: giớihạn xem xét và giới hạn ra quyết định của Toà án cấp phúc thẩm Bằng cáchlập luận này, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định phạm vi xét xử chính làgiới hạn xét xử

- Giới hạn xét xử và thẩm quyền xét xử

Theo Từ điển Luật học, "Thẩm quyền xét xử của Toà án là quyền xem xét

và quyết định trong hoạt động xét xử của Toà án theo quy định của pháp luật".

Theo đó, nội dung thẩm quyền xét xử của Toà án bao gồm thẩm quyền xemxét vụ án và thẩm quyền ra các quyết định về vụ án và

Thẩm quyền xét xử của Toà án được hiểu là một quyền chuyênbiệt được trao riêng cho Toà án, khác với thẩm quyền của các cơ quankhác, thẩm quyền xét xử là quyền chung của các Toà án không phânbiệt, phân cấp và phân vùng lãnh thổ Thẩm quyền xét xử của Toà áncòn được hiểu là thẩm quyền riêng của từng Toà án cụ thể được phânđịnh theo cấp, theo khu vực hành chính và theo vụ việc [70, tr.701].Trong luật tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của Toà án theo nghĩarộng bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết về vụ án, ra bản ánhoặc các quyết định khác như: quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạmđình chỉ vụ án… Theo đó, thẩm quyền của Toà án bao gồm hai yếu tố cóliên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về

Trang 13

nội dung Thẩm quyền về hình thức là quyền xem xét và phạm vi xem xét

đó chính là giới hạn xét xử của Toà án Thẩm quyền về nội dung là quyềnhạn giải quyết, quyết định của Toà án đối với những vấn đề được xem xét [22, tr.2]

Như vậy, nếu như thẩm quyền xét xử cho phép xác định một vụ việc nào

đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hay không, và khi vụ việcthuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án được xem xét và quyếtđịnh những vấn đề gì để giải quyết vụ án, thì giới hạn xét xử là phạm vi Toà

án được xem xét và quyết định về từng vấn đề của vụ án đó

Ở góc độ thẩm quyền theo cấp xét xử chúng ta có thể đặt vấn đề nghiêncứu thẩm quyền xét xử của Toà án cấp sơ thẩm và thẩm quyền xét xử củaToà án cấp phúc thẩm Tuy nhiên, trong phạm vi giới hạn của đề tài, tác giảchỉ nghiên cứu giới hạn xét xử sơ thẩm, không đặt vấn đề nghiên cứu giớihạn xét xử phúc thẩm và thẩm quyền xét xử phúc thẩm

Theo Từ điển Luật học "xét xử sơ thẩm (là một từ hán việt) có nghĩa là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại Toà án có thẩm quyền" [70].

Khái niệm này chỉ có ý nghĩa tương đối bởi vì, phần lớn các phiêntoà sơ thẩm được mở là để xét xử lần đầu tiên đối với vụ án Tuy nhiên, cónhững trường hợp do Toà án có thẩm quyền quyết định huỷ bản án để điềutra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại theo quy định tại các Điều 250, 287 và 300BLTTHS năm 2003 thì việc xét xử sơ thẩm không phải là xét xử lần thứnhất Sau khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên án, Viện kiểm sát vẫn có quyềnkháng nghị và những người tham gia tố tụng vẫn có quyền kháng cáo theoquy định của pháp luật

Chính vì vậy, cần hiểu: cơ sở pháp lý làm phát sinh việc xét xử sơ thẩm

là quyết định truy tố của Viện kiểm sát hoặc quyết định của Toà án cấp phúcthẩm, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm huỷ bản án, quyếtđịnh của Toà án để xét xử lại ở cấp sơ thẩm Trong khi đó cơ sở pháp lý để

Trang 14

xác định giới hạn xét xử là nội dung quyết định của Viện kiểm sát Dù việcxét xử sơ thẩm phát sinh trong trường hợp nào thì Toà án cấp sơ thẩm cũngchỉ được xét xử trong phạm vi truy tố của Viện kiểm sát (tức trong giới hạnxét xử sơ thẩm), Toà án không có quyền xét xử những bị cáo và những hành

vi chưa được Viện kiểm sát truy tố

Giới hạn xét xử sơ thẩm được quy định tại Điều 196 BLTTHS năm 2003:

Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh

mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản màViện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khácbằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố [40]

Như vậy, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong BLTTHS nước ta

có thể hiểu là phạm vi những người, những hành vi mà Hội đồng xét xử(HĐXX) sơ thẩm được xét xử tại phiên toà Phạm vi đó được hạn chế bởiphạm vi những người, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy

tố và trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Trong tố tụng hình sự, cơ quantiến hành tố tụng được tổ chức thành cơ quan điều tra, cơ quan truy tố (Việnkiểm sát), cơ quan xét xử (Toà án), mỗi loại cơ quan thực hiện một loại chứcnăng nhất định phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tộiphạm Xuất phát từ mục đích của tố tụng hình sự là chủ động phòng ngừa,ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh,kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người

vô tội, các cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toàán) phải có trách nhiệm phối hợp với nhau trong quá trình tố tụng Ngoài cácquy định thể chế hoá sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, luật tốtụng hình sự còn có những quy định thể chế hoá quan hệ chế ước giữa Toà án

và Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Việc xét xử của Toà án chỉđược tiến hành khi Viện kiểm sát truy tố Tuy nhiên, điều này hoàn toàn

Trang 15

không có nghĩa rằng cứ có truy tố của Viện kiểm sát thì Toà án phải mởphiên toà xét xử và phải xét xử như nội dung truy tố Theo quy định tại khoản

2 Điều 176 BLTTHS, Toà án sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án có thể ra mộttrong những quyết định sau đây:

mà Viện kiểm sát truy tố Toà án chỉ có quyền thay đổi tội danh đối với bịcáo khi tội danh đó bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố Toà án

có thể thay đổi khoản trong một điều luật mà Viện kiểm sát truy tố (cho dù

đó là khoản nặng hơn)

Quy định tại Điều 196 của BLTTHS năm 2003 chính là giới hạn củaviệc xét xử được hiểu theo nghĩa hẹp

Theo chúng tôi, giới hạn xét xử sơ thẩm được hiểu là: phạm vi xem xét

và phạm vi ra quyết định về vụ án hình sự của Toà án cấp sơ thẩm.

1.1.1.2 Bản chất của giới hạn xét xử sơ thẩm

Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy định: "Toà án chỉ xét xử những bị cáo

và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội

mà Viện kiểm sát truy tố"

Theo quy định trên thì bản chất của quy định về giới hạn xét xử sơ thẩmtrong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là quy định về mối quan hệ giữa hai

Trang 16

chức năng trong tố tụng hình sự đó là chức năng thực hành quyền công tố vàchức năng xét xử, thể hiện qua hình thức là mối quan hệ giữa Toà án (khi xétxử) với Viện kiểm sát (khi quyết định truy tố) Để hiểu rõ hơn về vấn đề này,chúng ta cần phải hiểu bản chất của chức năng thực hành quyền công tố vàchức năng xét xử.

Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra

thuật ngữ "thực hành quyền công tố" khi đề cập đến chức năng của Viện

kiểm sát (Điều 138) Thuật ngữ này được nhắc lại tại Điều 1 Luật tổ chứcViện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 1981 và Điều 137 Hiến pháp năm

1992 Như vậy, bên cạnh khái niệm truyền thống "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" đã xuất hiện thuật ngữ "quyền công tố và thực hành quyền công tố" trong hoạt động của Viện kiểm sát Tuy nhiên, cho đến hiện nay, chưa có

một tài liệu chính thức giải thích về thực hành quyền công tố Để làm rõ thếnào là thực hành quyền công tố trước hết phải làm rõ về quyền công tố

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung, phạm vi quyềncông tố Tuy nhiên, các quan điểm đều thừa nhận nói đến quyền công tốtrong xã hội có Nhà nước là nói đến công quyền Trong lĩnh vực tố tụng hình

sự nói đến quyền công tố là nói đến quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đốivới người phạm tội và thực hiện việc buộc tội trước Toà án Do vậy, chứcnăng thực hành quyền công tố là nhân danh quyền lực công để quyết địnhtruy tố người có hành vi phạm tội ra trước Toà án để xét xử Tuỳ theo môhình tổ chức bộ máy nhà nước mà việc giao cho cơ quan nào thực hiện quyềncông tố ở mỗi Nhà nước cũng khác nhau Có Nhà nước giao việc thực hiệnquyền công tố cho cơ quan công tố với mô hình tổ chức bộ máy trực thuộc cơquan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp Có Nhà nước giao việc thực hiệnquyền công tố cho Viện kiểm sát với hệ thống tổ chức bộ máy trực thuộc cơquan quyền lực Nhà nước cao nhất (Quốc hội) như Việt Nam, Nga, TrungQuốc… Tuy nhiên, dù giao chức năng thực hành quyền công tố cho cơ quan

Trang 17

nào nhưng nhìn chung, các cơ quan được giao chức năng thực hành quyềncông tố đều có quyền quyết định việc truy tố hay không truy tố, nếu truy tốthì trong quyết định truy tố thể hiện rõ truy tố ai, về hành vi gì, theo tội danhnào thuộc điều khoản nào của luật hình sự Ngoài cơ quan công tố thì không

có một cơ quan hay tổ chức nào có được quyền này

Còn nói đến chức năng xét xử là nói đến chức năng nhân danh quyềnlực công hoặc nhân danh một sự trung gian để phán quyết về tính hợp pháp

và tính có căn cứ của các vụ tranh chấp liên quan đến các bên hoặc của cácviệc dân sự liên quan đến việc công nhận hay không công nhận một sự kiệnpháp lý Việc xét xử nhân danh quyền lực công được giao cho Toà án Bêncạnh đó, có nhiều nước tổ chức cơ chế phán xét qua trọng tài, nhưng hìnhthức này chủ yếu dành cho việc phán xét đối với các tranh chấp dân sự, kinh

tế Còn đối với việc xét xử các vụ án hình sự thì pháp luật tố tụng của cácnước đều giao chức năng này cho Toà án với sự ghi nhận nhiều nguyên tắc tố

tụng mang tính phổ biến như nguyên tắc "độc lập xét xử của Toà án" (pháp luật nước ta ghi nhận nguyên tắc này dưới dạng quy định: “khi xét xử, các thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” - Điều 16 BLTTHS năm 2003 và Điều 130 Hiến pháp năm 1992); nguyên tắc "suy đoán vô tội" (pháp luật nước ta ghi nhận nguyên tắc này dưới dạng quy định:

“không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” - Điều 9 BLTTHS năm 2003)…

Cho dù hệ thống tố tụng hình sự khác nhau như hệ thống tố tụng tranh tụng(Anh, Mỹ, Úc…) hay hệ thống tố tụng thẩm vấn (như phần lớn các nướcChâu Âu lục địa và một số nước khác) hay mô hình pha trộn mang tính trunggian giữa hệ thông tố tụng tranh tụng và hệ thống tố tụng thẩm vấn (Liênbang Nga, Trung Quốc, Nhật bản) thì phiên toà hình sự cũng là nơi công khaikiểm tra, đánh giá các chứng cứ, nơi diễn ra tranh luận công khai giữa các bênbuộc tội và bên gỡ tội Kết quả tranh tụng tại phiên toà là cơ sở để Hội đồng

Trang 18

xét xử (HĐXX) ra phán quyết đối với vụ án Tuỳ theo mô hình tố tụng màchứng cứ để Toà án xem xét ra phán quyết do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sáthoặc Viện công tố cung cấp hay là do các bên buộc tội và bào chữa cung cấphoặc kết hợp cả hai Về cơ bản phán quyết của Toà án dựa trên cơ sở cácchứng cứ để phán xét về những người và các hành vi đã bị Viện kiểm sát (hayViện công tố) truy tố.

Vậy vấn đề đặt ra là xử lý mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyềncông tố với chức năng xét xử như thế nào Hiện nay có nhiều quan điểm khácnhau về mối quan hệ nêu trên:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, vì chức năng xét xử được vận hành theo nguyên tắc "độc lập xét xử" Do vậy, để bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc

khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật mộtcách triệt để và để đảm bảo bản án của Toà án đúng người, đúng tội và đúngpháp luật, phán quyết của Toà án thể hiện được sự công minh, công bằng vàchính xác thì trên cơ sở các chứng cứ được xem xét và thẩm tra tại phiên toà,HĐXX có quyền phán quyết bị cáo có tội hay không có tội theo bất kỳ điềukhoản nào của BLHS khi có căn cứ mà không bị giới hạn bởi tội danh màViện kiểm sát truy tố Đây là quan điểm phổ biến hiện nay (điển hình chonhững tác giả theo quan điểm này là Mai Bộ, Nguyễn Văn Huyên, Kim Quế,Nguyễn Đức Cường, Hồ Sỹ Sơn…)

Quan điểm thứ hai cho rằng, chức năng xét xử theo nguyên tắc "độc lập xét xử" cần phải hiểu trong tương quan với chức năng thực hành quyên công

tố và nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Nguyên tắc

"thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" cần và

chỉ được hiểu với nghĩa là khi xét xử, HĐXX chỉ căn cứ vào chứng cứ kháchquan và các quy định của pháp luật để xét xử, không chịu bất kỳ sự tác động

nào ở "bên ngoài" Độc lập không thể hiểu với nghĩa là HĐXX có thể phán

xét bất kỳ theo hướng nào, về bất cứ vấn đề gì mà không quan tâm đến chức

Trang 19

năng thực hành quyền công tố và chức năng bào chữa Độc lập xét xử là độc

lập trong phạm vi chức năng xét xử, không thể làm thay, “lấn sân” chức năng

thực hành quyền công tố Từ đó, ý kiến này cho rằng cần quy định giới hạncủa việc xét xử theo hướng cụ thể như sau:

- Toà án chỉ xét xử về những hành vi và những bị cáo mà Viện kiểm sáttruy tố và Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử;

- Nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà HĐXX phát hiện thêm những người

và hành vi phạm tội mới thì tuỳ từng trường hợp mà Toà án có quyền kiến nghịViện kiểm sát xem xét, quyết định việc khởi tố để điều tra hoặc trả hồ sơ vụ án

để Viện kiểm sát khởi tố, điều tra và truy tố thêm trong cùng vụ án; Toà ánkhông có quyền đưa vụ án ra xét xử ngay những người và những hành vi này

- Trong phạm vi những hành vi và bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố và Toà

án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử, trên cơ sở chứng cứ, HĐXX có quyềntrả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung (giới hạn số lần trả), có quyền tuyên bố

bị cáo không phạm tội; tuyên bị cáo phạm tội theo tội danh mà Viện kiểm sáttruy tố; tuyên bố bị cáo phạm tội theo khoản mà Viện kiểm sát truy tố; cóquyền quyết định hình phạt trong phạm vi khung (khoản) của điều luật về tộiphạm đã bị truy tố Nếu có quan điểm khác quan điểm truy tố thì HĐXX trả

hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung [31, tr.72-73]

Quan điểm thứ ba cho rằng:

- Toà án chỉ xét xử những hành vi và bị cáo theo tội danh mà Viện kiểmsát đã quyết định truy tố và Toà án đã quyết đinh đưa vụ án ra xét xử;

- Toà án (HĐXX) có quyền khởi tố vụ án hoặc kiến nghị Viện kiểm sátkhởi tố vụ án đối với những hành vi phạm tội mà HĐXX phát hiện được quaviệc xét xử tại phiên toà;

- HĐXX có quyền tuyên tội danh khác nhẹ hơn hoặc bằng so với tộidanh mà Viện kiểm sát quyết đinh truy tố; có quyền tuyên khác khoản so vớikhoản mà Viện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật [31, tr.72 - 73]

Trang 20

Tóm lại, trong ba quan điểm trên thì quan điểm thứ nhất đã thừa nhận

vai trò của chức năng xét xử trên cơ sở nguyên tắc "độc lập xét xử", trên cơ

sở sự phân định rõ ràng, rành mạnh chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan Toà

án và Viện kiểm sát và đã giải quyết được triệt để sự không thống nhất giữahai cơ quan Còn quan điểm thứ hai thì lại nhấn mạnh vai trò của chức năngthực hành quyền công tố Quan điểm thứ ba tuy vẫn có nội dung nghiêng vềchức năng thực hành quyền công tố nhưng đã giải quyết được phần nào sự

"bất đồng quan điểm" giữa chức năng thực hành quyền công tố với chức

năng xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo Tuy nhiên quan điểm này chưa giảiquyết triệt để sự bất đồng quan điểm giữa Toà án và cơ quan Viện kiểm sátxẩy ra trong thực tiễn

Như vậy, nói đến giới hạn xét xử sơ thẩm là nói đến mối quan hệ giữaViện kiểm sát - cơ quan nhân danh Nhà nước truy tố bị can ra trước toà, thựchành quyền công tố và Toà án - cơ quan thực hiện chức năng xét xử Nhưngmối quan hệ này được xem xét và giải quyết trên cơ sở phải tôn trọng nguyêntắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữacủa bị cáo… Giới hạn xét xử sơ thẩm thực chất là nguyên tắc xử lý một cáchhài hoà mối quan hệ giữa ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (đó làchức năng buộc tội, chức năng xét xử và chức năng bào chữa) tại phiên toàhình sự sơ thẩm

1.1.2 Giới hạn xét xử sơ thẩm với các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

Giới hạn xét xử sơ thẩm là chế định pháp lý quan trọng liên quan mậtthiết với các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Những nguyên tắc cơbản của tố tụng hình sự là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tố tụng hình sự,được quy định trong BLTTHS và được ghi nhận trong các văn bản phápluật như Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức VKSND… Đồng thời, nội dung

Trang 21

của một số nguyên tắc còn được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hoàXHCN Việt Nam.

Các nguyên tắc cơ bản này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần vào việcđảm bảo cho quá trình tiến hành tố tụng được thực hiện một cách thống nhất, là

cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khitham gia tố tụng, góp phần vào việc động viên và tạo điều kiện để các cơ quan, tổchức và mọi công dân tham gia vào việc đấu tranh, phòng chống tội phạm và dânchủ hoá quá trình tố tụng Mặt khác, các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sựcòn có ý nghĩa cho việc định hướng xây dựng pháp luật tố tụng Chính vì vậy, cácquy định về thủ tục tố tụng phải phù hợp với các nguyên tắc tố tụng hình sự

1.1.2.1 Giới hạn xét xử sơ thẩm với nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán

và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Ở nước ta, trong tất cả các bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, 1959,

1980, 1992) đều quy định về sự độc lập xét xử của Toà án Nguyên tắc độc lậpxét xử của Toà án đã được quy định rất sớm ngay từ những văn bản pháp lýđầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Điều 69 Hiến pháp năm 1946

quy định: "khi xét xử các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được phép can thiệp" Khi Hiến pháp năm 1959 được ban hành, tại Điều 100 của Hiến pháp này tiếp tục quy định: "khi xét xử TAND có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Điều 4 Luật tổ chức TAND năm 1960 cũng quy định: "khi xét xử TAND có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" Các bản Hiến pháp năm

1980, 1992 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đều quy

định: "khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 131 Hiến pháp năm 1980 và Điều 6 Luật tổ chức TAND năm 1981) hoặc "khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 130 Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ

sung năm 2001, Điều 5 Luật tổ chức TAND năm 1992, năm 2002 và Điều 16

Trang 22

Một là, khi xét xử bất kỳ một vụ án nào, ở bất kỳ cấp xét xử nào, thẩm

phán và hội thẩm không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân hay tổ chức nào trongviệc đưa ra các ý kiến và quyết định của mình về vụ án

Hai là, căn cứ duy nhất mà thẩm phán và hội thẩm dựa vào để xét xử là

pháp luật

Hai nội dung trên đây của nguyên tắc có quan hệ biện chứng với nhau,chỉ khi thẩm phán và hội thẩm không bị phụ thuộc thì họ mới có điều kiện đểtuyệt đối tuân thủ theo pháp luật và ngược lại chỉ khi thẩm phán và hội thẩmtuyệt đối tuân thủ pháp luật, lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để xét xử thì

họ mới được độc lập, không bị phụ thuộc vào ai Có thể nói nguyên tắc "khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" là một

trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong tố tụng hình sự, nó cũng là mộttrong những điều kiện đảm bảo hiệu quả của công tác xét xử

Theo nguyên tắc này Toà án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử vàquyết định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì đó là tội gì được quyđịnh tại điều khoản nào của BLHS và quyết định của Toà án phải là quyếtđịnh khách quan, chính xác và độc lập HĐXX không để vì bất kỳ lý do gìchi phối mà xét xử không đúng pháp luật Khi xét xử HĐXX chỉ căn cứ vào

sự thật khách quan của vụ án, và "việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn

Trang 23

diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo…để

ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục" [5] Như vậy,

quyết định của HĐXX chỉ căn cứ những tình tiết xẩy ra trên thực tế và cácquy định của pháp luật chứ không thể bị phụ thuộc ý kiến của Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát, không bị tác động bởi bất kỳ lý do gì mà có thể ảnh hưởngđến tính đúng đắn của bản án và các quyết định của HĐXX

Như vậy, nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuântheo pháp luật với giới hạn xét xử sơ thẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Nếu quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm phù hợp, có căn cứ khoa học sẽ đảmbảo việc thực hiện nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉtuân theo pháp luật một cách triệt để Ngược lại, nếu quy định này bất hợp lý,không có căn cứ khoa học sẽ dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc cơ bản này.Chính vì vậy, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm cần phải phù hợp với nguyêntắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

1.1.2.2 Giới hạn xét xử sơ thẩm với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

Xác định sự thật khách quan là mục đích của quá trình giải quyết vụ ánhình sự và là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

Điều 10 BLTTHS quy định:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọibiện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách kháchquan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội

và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và nhữngtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành

tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không phải buộc chứng minh làmình vô tội [40]

Quá trình giải quyết vụ án hình sự thông qua các giai đoạn khác nhau,

Trang 24

nhưng các giai đoạn đó đều có mục đích chung là xác định sự thật của vụ án.Đây là nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án có nội dung như sau:

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụngphải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cáchkhách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội vàchứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảmnhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

Xác định sự thật của vụ án một cách khách quan là phải xác định nộidung của vụ án đúng như những gì đã xẩy ra trong thực tế, trên cơ sở nhữngchứng cứ có thật đã thu thập được

Xác định sự thật của vụ án một cách toàn diện có nghĩa là phải xác địnhđầy đủ các tình tiết của vụ án (cả tình tiết buộc tội, cả tình tiết gỡ tội, cả tìnhtiết tăng nặng, cả tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự)

Xác định sự thật của vụ án một cách đầy đủ có nghĩa là phải xác định tất

cả các tình tiết vụ án, không bỏ sót một tình tiết nào, cho dù đó là những tìnhtiết có liên quan đến tội danh, quyết định hình phạt hay những tình tiết khácliên quan đến nhân thân người phạm tội, liên quan đến mối quan hệ giữa bịcáo với những người tham gia tố tụng khác…

Công cụ để cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án xác định sự thậtkhách quan của vụ án là tất cả các biện pháp của tố tụng hình sự (bao gồm:biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ và những biệnpháp khác) Khi sử dụng các biện pháp này phải tuân thủ và trong giới hạnquy định của pháp luật, không được sử dụng biện pháp bất hợp pháp để tiếnhành làm rõ vụ án Sự thật của vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng phảixác định đó là toàn bộ diễn biến của sự việc phạm tội đã xảy ra

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, việc xác định sự thật kháchquan của vụ án không chỉ là mục đích của hoạt động tố tụng hình sự mà nó

Trang 25

còn thể hiện toàn bộ nội dung, bản chất của quá trình chứng minh tôi phạm;xác định sự thật của vụ án cũng tức là bảo đảm việc truy cứu trách nhiệmhình sự được đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và cũngkhông bỏ lọt tội phạm; xác định sự thật của vụ án không chỉ có ý nghĩa trongviệc truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việcgiải quyết các biện pháp tư pháp, giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự vànhững vấn đề liên quan khác.

Như vậy, xác định sự thật của vụ án có tầm quan trọng và có ý nghĩa vôcùng to lớn Mặt khác, nguyên tắc này còn có mối quan hệ biện chứng vớiquy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam Nếu quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm bảo đảm được cho Toà án xét

xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật tức là đã đảm bảo được nguyên tắcxác định sự thật của vụ án Ngược lại, nếu quy định về giới hạn xét xử sơthẩm không tạo điều kiện cho chủ thể thực hiện chức năng xét xử, xét xửnghiêm minh, công bằng và đúng pháp luật thì sẽ vi phạm nguyên tắc cơ bảnnày Do vậy, yêu cầu đặt ra là quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm phải phùhợp với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

1.1.2.3 Giới hạn xét xử với nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và nguyên tắc Toà án xét xử tập thể

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật

và nguyên tắc Toà án xét xử tập thể là hai nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình

sự Đây cũng là những nguyên tắc hiến định Tại Điều 52 và Điều 131 của

Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: "Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" và "… Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số" [38].

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị cũng yêu

cầu: "khi xét xử các Toà án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan…"

Trang 26

Trong các thiết chế dân chủ, quyền bình đẳng của mọi công dân có ýnghĩa nền tảng, là cơ sở để phân biệt Nhà nước quân chủ với Nhà nước cộnghoà Do vậy, ở Nhà nước ta các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ phápluật tố tụng hình sự nói riêng đều xác định vị trí bình đẳng của các công dân

không có sự phân biệt ưu đãi Điều 5 BLTTHS quy định: "Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật" [40].

Nội dung của nguyên tắc này là:

- Bất kỳ người phạm tội nào, dù họ là ai cũng bị xử lý theo pháp luậtkhông có ngoại lệ, tài sản và địa vị xã hội không mang lại đặc quyền trướcToà án và pháp luật Vấn đề này Lênin đã chỉ rõ: việc giảm nhẹ trách nhiệmhình sự đối với những kẻ phạm tội là đảng viên chính là một việc sai tráikhông dung thứ được [71, tr.65]

- Khi tham gia tố tụng hình sự mọi người đều có quyền và nghĩa vụ nhưnhau trong cùng một vai trò của người tham gia tố tụng như: bị can, bị cáo,người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan… họ đều có những quyền và nghĩa vụ như nhau do pháp luật tốtụng hình sự quy định

- Mọi người đều phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội củamình trước Toà án trên cơ sở những điều khoản do Bộ luật hình sự (BLHS)quy định

- Quá trình giải quyết tất cả các vụ án hình sự đều phải theo một trình tự,thủ tục thống nhất theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việc áp dụngpháp luật thống nhất không những là một đòi hỏi của pháp chế XHCN màcòn là biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của công dân Tínhthống nhất trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự chỉ cho phép cơ quan

và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự thủ

Trang 27

tục chung trên địa bàn toàn quốc và đối với tất cả những người tham gia tốtụng ở tất cả các vụ án khác nhau theo quy định của luật tố tụng hình sự.

- Những thủ tục tố tụng đặc biệt chỉ được áp dụng cho đối tượng vàtrong phạm vi pháp luật tố tụng hình sự quy định, như thủ tục áp dụng đối với

bị can, bị cáo là người chưa thành niên… [64, tr.11 - 12]

Để đảm bảo cho việc xử lý được thận trọng, khách quan, chống độc đoán

Điều 17 BLTTHS quy định: "Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số".

Theo nguyên tắc này việc xét xử các vụ án ở các cấp Toà án đều thựchiện theo chế độ hội đồng, chứ không phải theo cá nhân Khi quyết định cácvấn đề của vụ án được thực hiện bằng cách biểu quyết và quyết định củaHĐXX là ý kiến của đa số

BLTTHS quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi côngdân trước pháp luật và nguyên tắc Toà án xét xử tập thể là những nguyên tắc

cơ bản của tố tụng hình sự nhằm đảm bảo cho các bản án và các quyết địnhcủa Toà án được đúng đắn và đem lại công bằng cho mọi công dân Chính vìvậy, hai nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với quy định về giới hạn xét

xử sơ thẩm Nếu quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm tôn trọng quyền xét xửchỉ thuộc Toà án, HĐXX được toàn quyền quyết định về tội danh đối với bịcáo, bị cáo phạm tội gì thì bị xét xử về tội đó tức là đã đảm bảo việc thựchiện hai nguyên tắc cơ bản trên và ngược lại Nên yêu cầu khách quan đặt ra

là quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam phải phù hợp với nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi côngdân trước pháp luật và nguyên tắc Toà án xét xử tập thể

1.1.2.4 Giới hạn xét xử sơ thẩm với nguyên tắc tranh tụng

Tranh tụng không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp lý Tư tưởng

về tranh tụng xuất hiện từ thời cổ đại và được coi là một trong những nguyêntắc cơ bản của tố tụng hình sự Nó được áp dụng lần đầu tiên ở Nhà nước HyLạp, La Mã cổ đại và các quốc gia khác ở Châu Âu Ngày nay, đa số cácnước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa cũng như các nước thuộc hệ

Trang 28

thống pháp luật Ăng - Lô - Xắc - Xông đều thừa nhận tranh tụng là mộtnguyên tắc của tố tụng hình sự Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền

của Liên Hợp Quốc ngày 10/12/1948 quy định: "Mọi người đều có quyền hoàn toàn ngang nhau được phát biểu bình đẳng và công khai trước Toà án độc lập và không thiên vị, nơi quyết định các quyền và nghĩa vụ của mình hoặc về việc buộc tội mình có cơ sở trước Toà"

Ở Việt Nam, trong quá trình cải cách tư pháp và hoàn thiện quy địnhpháp luật tố tụng hình sự, do tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của vấn

đề tranh tụng đến chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện chức năng xét xửcũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nên nguyên tắc tranh tụngtrong tố tụng hình sự đã và đang được nghiên cứu, đề cập khá sôi nổi trongthời gian gần đây Mặc dù vậy, trong khoa học luật tố tụng hình sự và trongthực tiễn vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm không thống nhất về nguyên tắctranh tụng Có quan điểm phủ nhận nhưng có nhiều quan điểm lại khẳng địnhtranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nói chung và trongviệc thực hiện chức năng xét xử nói riêng Tác giả đồng ý với ý kiến cho rằngviệc thừa nhận hay phủ nhận một tư tưởng hay một chế định pháp lý nào đó

là nguyên tắc của tố tụng hình sự không thể chỉ xuất phát từ ý chí chủ quanhay sự ngẫu hứng mà phải căn cứ vào lý luận khoa học và thực tiễn

Tố tụng hình sự dù được tổ chức theo mô hình và hình thức tố tụng nàovẫn luôn tồn tại các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử cũng như chủ thểthực hiện chức năng đó Do vậy, nguyên tắc tranh tụng luôn tồn tại kháchquan không phụ thuộc vào việc chúng ta có thừa nhận hay phủ nhận và quátrình thực hiện chức năng xét xử luôn bị chi phối mạnh mẽ bởi nguyên tắc cơbản và quan trọng này

Tranh tụng là một trong những nội dung quan trọng, mang tính đột phácủa cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta đã được xác định trong Nghị quyết

số 08-NQ/TW của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư

Trang 29

pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị vềchiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đó là:

… bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và ngườitham gia tố tụng khác… mọi phán quyết của Toà án phải căn cứchủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy

đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bàochữa, bị cáo…để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sứcthuyết phục… các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện đểluật sư tham gia vào quá trình tố tụng [5]

… Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vịtrí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và ngườitham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ,nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét

xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp [7].

Như vậy, các Nghị quyết của Bộ chính trị đã xác định rõ tranh tụng tạiphiên toà là rất quan trọng Ở Việt Nam, trong quá trình cải cách tư pháp vàhoàn thiện pháp luật, do tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của vấn đềtranh tụng đến chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện chức năng xét xử,cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và là nguyên nhân giảithích vì sao nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự đã và đang đượcnghiên cứu, đề cập khá sôi nổi trong thời gian gần đây Mặc dù, chưa ghinhận tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự, song tranh tụng đãđược ghi nhận thông qua nhiều điều luật quy định về quyền và nghĩa vụ củacác bên tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và thủ tục tranh luận công

khai tại phiên toà "Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn đó chính là thành tựu của sự phát triển tư tưởng, của nền văn minh nhân loại" [66] Tranh tụng không chỉ thể hiện bản chất nhân đạo mà còn

Trang 30

phản ánh cả xu hướng dân chủ và tiến bộ của loài người nói chung và củalĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng Đặc thù của hoạt động tố tụng hình sự đó

là những người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán)đều là những người không chứng kiến sự việc phạm tội, không có lợi ích cánhân trong vụ án, nhưng lại phải lập lại bức tranh của tội phạm một cáchkhách quan, trung thực, toàn diện Vì vậy, phải có cách tiếp cận khoa họcmới có thể tìm ra sự thật của vụ án [75, tr.50] Trong toàn bộ các giai đoạn tốtụng thì tranh tụng tại phiên toà được coi là trọng tâm và có tính chất quyếtđịnh cho toàn bộ quá trình tố tụng, bởi vì, tại nơi đây Toà án xem xét cácchứng cứ một cách khách quan, toàn diện để quyết định những vấn đề quantrọng như bị cáo phạm tội hay không phạm tội, nếu phạm tội thì phạm tội gì?mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo như thế nào để tương xứng vớitính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

Mặt khác, quá trình tranh tụng là một quá trình dân chủ và bình đẳngcủa các bên trong việc xét xử vụ án hình sự tại phiên toà, phải bảo đảm sựđộc lập với nhau và phân định rõ ràng chức năng buộc tội, gỡ tội và xét xửtheo giới hạn sau: chức năng buộc tội do kiểm sát viên thực hiện; chức năng

gỡ tội do người bào chữa và bị cáo thực hiện; còn chức năng xét xử do Toà

án thực hiện Có thể khẳng định đây là bộ phận cấu thành quan trọng của quátrình tranh tụng trong tố tụng hình sự mà thiếu nó thì không thể nói đến tranhtụng trong xét xử vụ án hình sự tại phiên toà Tại phiên toà, kiểm sát viên đạidiện cho bên buộc tội đưa ra chứng cứ để buộc tội bị cáo; bị cáo và người bàochữa đại diện cho bên gỡ tội đưa ra chứng cứ để chứng minh mình vô tộihoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Thông qua tranhtụng sẽ phân định rõ vai trò và chức năng của các bên tham gia vào quá trình

tố tụng hình sự, là cơ sở cho việc xác định sự thật khách quan của vụ ánnhằm không làm oan người vô tội, cũng không bỏ lọt tội phạm, đồng thờinhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trang 31

Tranh tụng thực chất là một quá trình xác định sự thật khách quan của

vụ án, đồng thời cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích, các nhiệm

vụ đặt ra của luật tố tụng hình sự và bảo đảm cho các chủ thể tham gia vàoquá trình tố tụng có thể thực hiện một cách có hiệu quả nhất chức năng củamình ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự

Trong quá trình tranh tụng thì tranh tụng tại phiên toà tạo cơ hội tốt nhất

để đạt đến chân lý, khi chưa có tranh tụng tại phiên toà hoặc tranh tụng tạiphiên toà là hình thức thì khó đạt đến chân lý khách quan, khó nói đến dânchủ, đến các bản án, quyết định công minh, đúng người, đúng tội và đúng pháp

luật Theo Kết luận số 290 ngày 05/11/2002 của TANDTC thì: "Nội dung của tranh tụng là tranh luận làm rõ sự thật khách quan về mọi tình tiết của vụ án,

áp dụng đúng những quy định của pháp luật để giải quyết vụ án" và "kết quả tranh tụng về vụ án được thể hiện bằng phán quyết (bản án hoặc quyết định) của HĐXX Phán quyết này là hình thức pháp lý ghi nhận kết quả để kết thúc quá trình tranh tụng giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội" [26, tr.24]

Như vậy, có thể nói tham gia vào quá trình tranh tụng gồm các chủ thểcủa chức năng buộc tội và các chủ thể của chức năng bào chữa Toà án khôngphải là một trong các bên tranh tụng Thông qua việc thực hiện chức năng xét

xử, Toà án là người trọng tài vô tư, khách quan điều khiển quá trình tranhtụng Để thực hiện chức năng là người trọng tài đứng giữa hai bên mà phân

xử thì Toà án phải có thái độ khách quan, vô tư, công minh, HĐXX không bịràng buộc bởi yêu cầu đề nghị của bất cứ bên nào (kể cả bên đó là Viện kiểmsát), HĐXX chỉ bị ràng buộc bởi pháp luật và mọi phán quyết của Toà án chỉdựa trên căn cứ duy nhất là pháp luật

Có thể nói rằng, tranh tụng có vai trò, nội dung quan trọng Vì vậy,Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến vấn đề tranh tụng điều đó thểhiện rõ nét trong Nghị quyết số 08/NQ-TW và Nghị quyết số 49/ NQ-TWcủa Bộ chính trị và thể hiện trong những quy định của BLTTHS Việc thực

Trang 32

hiện tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng có ý nghĩa rất quantrọng trong tiến trình cải cách tư pháp nói chung và trong hoạt động xét xửnói riêng Thừa nhận tranh tụng trong tố tụng hình sự là khẳng định vị trí,vài trò của Toà án là trọng tài công minh giữa các bên buộc tội và gỡ tội.Độc lập đưa ra quyết định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì đó

là tội gì được quy định tại điều khoản nào của BLHS chỉ thuộc vê Toà án

Do vậy, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam hiện hành phải đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của vấn đề

tranh tụng do Nghị quyết của Bộ chính trị đã đề ra đó là: "… việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà… và … nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp" [7]

1.1.3 Giới hạn xét xử với vấn đề định tội danh

Định tội danh là hoạt động thực tiễn quan trọng của các cơ quan tiếnhành tố tụng và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của phápluật Định tội danh đúng tạo tiền đề bảo đảm cho việc quyết định hình phạtđúng Theo Từ điển Luật học:

Định tội danh là hoạt động nhận thức, áp dụng pháp luật hình

sự được thực hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, kháchquan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội theo đúng nội dungcủa quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tươngứng và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của cấu thành tộiphạm nhất định với các tình tiết của hành vi phạm tội bằng các

phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [70, tr.266]

Định tội danh là hoạt động thực tiễn trong áp dụng pháp luật Trên cơ sởcủa các quy định pháp luật, các cơ quan và những người có thẩm quyền địnhtội danh sẽ xem xét, đánh giá một hành vi đã thực hiện trong thực tế có thoảmãn dấu hiệu của một tội phạm nào đó được quy định trong BLHS Có thể

Trang 33

nói, đây là quá trình xác định hành vi của một người có tội hay không có tội,nếu có tội thì đó là tội gì được quy định tại điều khoản nào của BLHS.

Bản chất của định tội danh suy cho cùng là so sánh, đối chiếu

và kiểm tra để xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểmcho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan có phù hợp vớicác dấu hiệu tương ứng của một tội phạm cụ thể nào đó được quyđịnh trong phần riêng BLHS hay không [9, tr.39]

Cơ sở pháp lý của việc định tội danh là BLHS Một số quy định củaBLTTHS cũng tạo nên cơ sở bổ trợ cho việc định tội danh: Giới hạn của địnhtội danh là các quy định của pháp luật hình sự và các tình tiết thực tế của vụ

án, bất kỳ một chủ thể định tội nào cũng phải tuân thủ giới hạn này và cũngchỉ được dựa trên cơ sở đó Bất kỳ một sự ràng buộc nào đối với chủ thể địnhtội danh đều làm ảnh hưởng đến kết quả định tội danh, hậu quả là mục đíchcủa định tội danh không đạt được

Mặt khác, trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, Nhànước phải đảm bảo cho việc định tội không bị diễn ra tuỳ tiện, thiếu căn cứ.Định tội danh là hoạt động diễn ra vô hình, tồn tại trong suy nghĩ của nhữngngười tiến hành định tội danh, suy nghĩ đó được chính thức thừa nhận khi nóđược thể hiện trên các văn bản áp dụng pháp luật Với tư cách là một hoạtđộng tư duy - một giai đoạn cao của quá trình nhận thức thì định tội danhluôn luôn được xác định theo hướng: phải nắm bắt được bản chất của sự việc,người định tội danh phải nhận diện vụ việc một cách khoa học, khách quan

và toàn diện Hậu quả cơ bản của định tội danh là việc áp dụng hình phạt.Định tội danh sai sẽ dẫn tới quyết định hình phạt sai Từ đó làm cho hìnhphạt đã tuyên không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi phạm tội (có thể là quá nhẹ hoặc quá nặng), làm cho bị cáokhông thấy được hành vi của mình là sai trái, từ đó không tự giác tuân thủpháp luật Đồng thời việc định tội danh sai sẽ không thuyết phục được quầnchúng nhân dân về tính đúng đắn, nghiêm minh và công bằng của pháp luật

Trang 34

[28, tr.11]

Định tội danh là hoạt động có tính tư duy và sáng tạo, đòi hỏi sự tỉ mỉ vàchính xác cao của những người tiến hành định tội danh khi xem xét đánh giácác tình tiết của vụ án Định tội danh đúng loại trừ truy cứu trách nhiệm hình

sự oan sai, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân Nếu những người định tội danh thiếu cẩn trọng, bỏ sót một hoặcmột số tình tiết nào đó của vụ án hoặc quá coi nhẹ hoặc quá nhấn mạnh mộttình tiết nào đó dẫn đến bỏ qua một hoặc một số tình tiết khác thì đều có thểđưa đến hậu quả định tội danh không đúng đối với người đã thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội (ví dụ: hành vi của họ có tội lại xác định không cótội hoặc ngược lại thực tế họ phạm tội này nhưng lại định cho họ phạm tộikhác…) Dẫn đến hậu quả xét xử oan, sai

Mặt khác, định tội danh đúng chính là sự thể hiện hoạt động có hiệuquả, ý thức tuân thủ pháp luật triệt để cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạtđộng nghề nghiệp của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó góp phần nâng cao

uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan này cũng như hỗ trợ cho việccủng cố và tăng cường pháp chế XHCN

Từ đó, thấy được sự cần thiết phải định tội danh đúng Tuy nhiên, thựctiễn chỉ ra rằng, để định tội danh chính xác là một việc làm không đơn giảnxuất phát từ thực tiễn vô cùng đa dạng của tội phạm ở nước ta, những aithường xuyên theo dõi các tạp chí chuyên ngành như: tạp chí TAND, tạp chíKiểm sát… đều có thể thấy rõ: một vụ án cụ thể được đưa ra nhưng có rấtnhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc định tội danh đối với vụ án đó, việctrao đổi về định tội chỉ được dừng lại khi Ban biên tập đăng ý kiến của Banbiên tập về tội danh của vụ án đó

Vậy lý do vì sao? bởi định tội danh là vấn đề phức tạp, để định tội danhđúng người tiến hành định tội danh phải có một số điều kiện cơ bản sau:

Thứ nhất: phải có năng lực về chuyên môn.

Trang 35

Thứ hai: phải có đạo đức nghề nghiệp.

Ngoài ra để định tội danh đúng cần có một hệ thống pháp luật hoànchỉnh

Mặt khác, trong từng giai đoạn của tố tụng hình sự các cơ quan tiếnhành tố tụng đều có trách nhiệm xác định hành vi của một người có phải làhành vi phạm tội hay không, nếu phạm tội thì phạm tôi gì, thuộc điều khoảnnào của BLHS nhưng việc xác định đó lại phụ thuộc vào quá trình thu thập

và đánh giá chứng cứ mang cả yếu tố chủ quan và khách quan Chính vì vậyviệc xác định tội danh của bị can, bị cáo có thể xẩy ra sai sót, không phảitrường hợp nào cũng đúng, không phải trường hợp nào cũng nhận được sựđồng thuận của cả ba cơ quan Do vậy, cần xác định trách nhiệm của từng cơquan trong việc đánh giá hành vi phạm tội và tội danh đối với bị can, bị cáo.Việc xác định bị can phạm tội gì theo điều khoản nào của BLHS (tội danh) ởgiai đoạn tiền xét xử không có giá trị bắt buộc đối với Toà án Bởi vì chỉ cóqua phiên toà xét xử công khai với sự tham gia của bên buộc tội và bên bàochữa, mọi vấn đề liên quan đến tội danh đối với bị cáo mới được quyết định.Như vậy, định tội danh đúng là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản,

do vậy, việc định tội danh của Cơ quan điều tra hay định tội danh của Việnkiểm sát có thể sai sót Vì vậy, nếu như pháp luật ràng buộc Toà án phải xét

xử theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố sẽ ảnh hưởng đến việc bảo đảmtính khách quan trong xét xử

Do vậy yêu cầu khách quan của hoạt động định tội danh không chophép tồn tại một quy định có tính ràng buộc chủ quan đối với chủ thể địnhtội danh, nhất là chủ thể bị ràng buộc lại là cơ quan có chức năng xét xử, là

cơ quan có nghĩa vụ phải xét xử vừa đúng người nhưng lại phải xét xử đúngtội Vì vậy, pháp luật cần trao cho Toà án quyền quyết định tội danh đối với

bị cáo sau khi đã xem xét toàn bộ vụ án, sau khi đã thẩm vấn và tranh tụngcông khai tại phiên toà là phù hợp và đúng đắn, có đầy đủ cơ sở lý luậnvững chắc

Trang 36

Định tội danh đúng để quyết định hình phạt được chính xác đối với bịcáo là cơ sở, tiền đề cho việc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật,bản án của Toà được chính xác và có sức thuyết phục cao Chính vì vậy quyđịnh về giới hạn xét xử sơ thẩm phải bảo đảm cho các chủ thể định tội danh,trong đó có Toà án có quyền độc lập, chỉ bị giới hạn của quy định pháp luậthình sự mà không bị giới hạn bởi bất kỳ ý kiến chủ quan của một chủ thể nào

kể cả ý kiến đó là của Viện kiểm sát

1.1.4 Ý nghĩa của việc quy định và thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm

Quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm có căn cứ khoa học, cũng như việcnhận thức đúng đắn, đầy đủ để áp dụng đúng quy định về giới hạn xét xử sơthẩm có một ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn

Thứ nhất, nó bảo đảm tính xác định và định hướng cho hoạt động tố

tụng của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử vụ ánđặc biệt là đối với Toà án trong việc thực hiện các quyền hạn của mình trongquá trình xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể của vụ án Chính vì vậy màcác chủ thể tham gia vào quá trình xét xử vụ án có điều kiện tập trung vàoviệc thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả,ngăn chặn được sự tuỳ tiện cũng như sự lạm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệmcho nhau từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, đảm bảo sự phốihợp tốt giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm cho tố tụng đạthiệu quả cao nhằm chủ động phòng ngừa ngăn chặn tội phạm, phát hiệnchính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,không để lọt người phạm tội và không làm oan người vô tội

Thứ hai, nội dung của quy định giới hạn xét xử sơ thẩm phù hợp với

thực tiễn, có căn cứ khoa học là cơ sở đảm bảo cho việc tuân thủ nghiêmchỉnh các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS (như nguyên tắc khi xét xử, thẩmphán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc xác định sự

Trang 37

thật của vụ án; nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trướcpháp luật…) và các quy định khác của BLTTHS nhằm đảm bảo cho đạo luật

tố tụng hình sự nước ta đồng bộ, khoa học và phù hợp, đảm bảo được yêu cầucủa công cuộc cải cách tư pháp do Đảng đề ra, góp phần đảm bảo cho Toà ánxét xử độc lập, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mọi phán quyết củaToà án chính xác có sức thuyết phục cao, góp phần thiết thực vào việc nângcao chất lượng và hiệu quả của công tác giải quyết án hình sự, đảm bảo chomọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đấu tranh phòng và chống tộiphạm có hiệu quả, nâng cao uy tín, lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan

tư pháp và đối với nền công lý nước nhà, góp phần bảo vệ thành quả cáchmạng, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Thứ ba, giới hạn xét xử sơ thẩm còn đảm bảo cho bị cáo thực hiên tốt

quyền bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngăn chặnviệc xét xử bị cáo cả về những hành vi mà Viện kiểm sát không truy tố, loạitrừ việc xét xử những người không bị Viện kiểm sát truy tố Nếu trong quátrình giải quyết vụ án Toà án xét xử cả những người chưa bị truy tố hoặc xét

xử cả những hành vi của bị cáo chưa bị truy tố thì Toà án đã vi phạm nguyêntắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo được Hiến pháp, BLTTHS và Luật tổchức TAND ghi nhận Chúng tôi cũng hoàn toàn đồng ý với quan điểm củatác giả Nguyễn Văn Huyên khi cho rằng trong trường hợp này Toà án đã tước

đi quyền bào chữa của bị cáo, họ bất ngờ khi bị xét xử và không hề biết trướcmình bị xét xử về hành vi gì, chỉ đến khi phiên toà sơ thẩm được mở ra họmới biết Vậy nên họ sẽ không có sự chuẩn bị trước về ý kiến bào chữa.Trong trường hợp này Toà án xét xử không có sự tranh luận giữa bên buộctội và bên bào chữa nên không có cơ sở để xác định sự thật của vụ án [17]

Thứ tư, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm chặt chẽ, có căn cứ khoa

học sẽ giải quyết tốt mọi trường hợp nảy sinh trong thực tế, không để xẩy ratình trạng thực hiện đúng quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm thì lại vi phạm

Trang 38

với các quy định khác của BLTTHS, hoặc ngược lại thực hiện nghiêm chỉnhcác quy định của BLTTHS thì lại vi phạm quy định về giới hạn xét xử sơthẩm Đồng thời còn tạo điều kiện thuận lợi cho những người làm công tácthực tiễn và góp phần thiết thực bảo đảm cho Toà án hoàn thành tốt nhiệm vụcủa mình khi thực hiện chức năng xét xử.

1.2 YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH

VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH

Trong việc bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân thì Toà án là công cụ hữu hiệu và quan trọng nhất Toà án ở hầuhết các quốc gia dân chủ đều được xem là công cụ quan trọng nhất bảođảm quyền con người khi các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bịxâm phạm Thông qua chức năng xét xử, Toà án là nơi bảo đảm cao nhấtcác quyền của con người và quyền của công dân Có thể nói mức độ dânchủ của một xã hội được đo bằng kết quả hoạt động của Toà án Xét xửcủa Toà án còn là hoạt động nhằm đưa ra phán quyết cuối cùng về nhữngvấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của con người trong cáclĩnh vực quan trọng nhất như tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản và thậmchí cả quyền được sống của con người… Có thể nói rằng sau bản án vàquyết định có hiệu lực của Toà án thì không còn hình thức pháp lý nàokhác để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Toà án

Trang 39

chính là nơi mà công dân có thể tìm thấy được công lý và sự công bằngtrong xã hội.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi thực hiên chức năngxét xử được thể hiện ở hai nội dung:

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người, những cơ quan vànhững tổ chức bị tội phạm xâm hại

- Ngoài việc trừng phạt người phạm tội thì khi xét xử Toà án còn phảibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị Viện kiểm sát buộc tội (đó là

Hiện nay, yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp đang đòi hỏi các Toà

án khi xét xử phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,thực sự dân chủ, khách quan, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theopháp luật… bản án và quyết định của Toà án phải đúng pháp luật có sức thuyếtphục cao Mặt khác, chúng ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền XHCN, một Nhà nước coi trọng pháp luật, Nhà nước quản lý

xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, pháp luật trong Nhà nướcpháp quyền XHCN là pháp luật phải đảm bảo sự công bằng cho mọi côngdân và tổ chức, bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

Do vậy, để đạt được các yêu cầu đó thì mọi quy định của BLTTHS phảiđảm bảo Toà án xét xử khách quan, chính xác, nghiêm minh và đúng pháp luật

Hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nói riêng phảiđảm bảo sự công bằng, đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luậtkhông phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị

Trang 40

xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật (Điều 5 BLTTHS).

1.2.2 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm thực hiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là kim chỉ nam cho mọi hoạtđộng trong tố tụng hình sự Vì vậy, trong quá trình khởi tố, truy tố, xét xử vàthi hành án phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc này

Tuy nhiên, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Điều 196 BLTTHSnăm 2003 buộc Toà án phải xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố,không được phép xử bị cáo theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà Việnkiểm sát truy tố cho dù có căn cứ đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của tốtụng hình sự như: nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập vàchỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắcbảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và nguyên tắcToà án xét xử tập thể…

Do vậy, việc hoàn thiện quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm là phải xuấtphát từ yêu cầu khách quan bảo đảm thực hiện các nguyên tắc cơ bản của tốtụng hình sự

1.2.3 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội đúng pháp luật

Để đảm bảo cho Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm củacông tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định: phải bảo đảm tranh tụng vớiluật sư; người bào chữa và người tham gia tố tụng khác… mọi phán quyếtcủa Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ

sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của ngườibào chữa, bị cáo… để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyếtphục…và Điều 184, khoản 3 điều 222 và khoản 3 Điều 224 BLTTHS quy

Ngày đăng: 07/07/2022, 01:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh - TS. Trần Văn Luyện - TS. Trần quang Tiệp - TS. Nguyễn Đức Mai - ThS. Nguyễn Sĩ Đại - ThS. Nguyễn Văn Cừ - ThS. Bùi Anh Dũng (2004), Bình luận khoa học BLTTHS Việt Nam năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh - TS. Trần Văn Luyện - TS. Trần quang Tiệp- TS. Nguyễn Đức Mai - ThS. Nguyễn Sĩ Đại - ThS. Nguyễn Văn Cừ- ThS. Bùi Anh Dũng (2004), "Bình luận khoa học BLTTHS Việt Namnăm 2003
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh - TS. Trần Văn Luyện - TS. Trần quang Tiệp - TS. Nguyễn Đức Mai - ThS. Nguyễn Sĩ Đại - ThS. Nguyễn Văn Cừ - ThS. Bùi Anh Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Nguyễn Thị Bắc (1999), "Giới hạn của việc xét xử theo điều 170 BLTTHS", Tạp chí Kiểm sát, (12), tr.37 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới hạn của việc xét xử theo điều 170BLTTHS
Tác giả: Nguyễn Thị Bắc
Năm: 1999
3. Phạm Văn Beo (2004), "Về việc xác định tội danh", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (8), tr.69 - 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc xác định tội danh
Tác giả: Phạm Văn Beo
Năm: 2004
4. TS. Dương Thanh Biểu (2008), "Những định hướng cơ bản về việc sửa đổi, hoàn thiện BLTTHS theo định hướng cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm sát, (số Tết 3-2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những định hướng cơ bản về việc sửađổi, hoàn thiện BLTTHS theo định hướng cải cách tư pháp
Tác giả: TS. Dương Thanh Biểu
Năm: 2008
5. Bộ chính trị (2002), Nghị quyết số 08/NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chính trị (2002), "Nghị quyết số 08/NQ/TW về một số nhiệm vụ trọngtâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2002
6. Bộ chính trị năm (2005), Nghị quyết số 48/NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chính trị năm (2005), "Nghị quyết số 48/NQ/TW về chiến lược xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 địnhhướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ chính trị năm
Năm: 2005
7. Bộ chính trị năm (2005), Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chính trị năm (2005"), Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ chính trị ngày02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ chính trị năm
Năm: 2005
8. ThS. Mai Bộ (2008), "Lại bàn về giới hạn của việc xét xử", Tạp chí Toà án nhân dân, (21), tr.11 - 15, 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về giới hạn của việc xét xử
Tác giả: ThS. Mai Bộ
Năm: 2008
9. Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh, lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2004), "Định tội danh, lý luận, hướng dẫnmẫu và 350 bài tập thực hành
Tác giả: Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2004
10. Nguyễn Ngọc Chí (2009), "Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (2), tr.35 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thẩmphán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2009
11. ThS. Lê Kim Chung (2006), Vi phạm pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ThS. Lê Kim Chung (2006), "Vi phạm pháp luật trong giải quyết các vụán hình sự
Tác giả: ThS. Lê Kim Chung
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
12. Nguyễn Đức Cường (2001), "Giới hạn xét xử của toà án theo điều 170 luật tố tụng hình sự", Tạp chí TAND, (12), tr.11 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới hạn xét xử của toà án theo điều 170luật tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Đức Cường
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Trần Văn Độ (2000), "Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giới hạn xét xử", Tạp chí TAND, (3), tr.1 - 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giới hạnxét xử
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2000
15. PTS. Phạm Hồng Hải (1998), "Bàn thêm về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự", Tạp chí Luật học, (4), tr.36 - 39, 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về giới hạn của việc xét xử sơthẩm vụ án hình sự
Tác giả: PTS. Phạm Hồng Hải
Năm: 1998
16. Hội đồng thẩm phán TANDTC (2004), Nghị quyết số 04/2004/NQ- HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng thẩm phán TANDTC (2004)
Tác giả: Hội đồng thẩm phán TANDTC
Năm: 2004
17. ThS. Nguyễn Văn Huyên (1999), "Những căn cứ để quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự", Tạp chí Luật học, (2), tr.45 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những căn cứ để quy định giới hạncủa việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Tác giả: ThS. Nguyễn Văn Huyên
Năm: 1999
18. TS. Nguyễn Văn Huyên (2003), "Một số vấn đề về giới hạn của xử", Tạp chí Luật học, (6), tr.47 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giới hạn của xử
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2003
19. Đinh Thế Hưng (2006), "Đảm bảo quyền tự bào chữa của bị cáo khi toà án xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn", Tạp chí TAND, (22), tr.18 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền tự bào chữa của bị cáo khi toàán xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn
Tác giả: Đinh Thế Hưng
Năm: 2006
20. Vũ Gia Lâm (1997), "Về giới hạn xét xử của toà án", Tạp chí Luật học, (5), tr.46 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giới hạn xét xử của toà án
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Năm: 1997

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w