II.Giải quyết vấn đề: 1.Chức năng, nhiệm vụ của tòa án nhân dân: a.Chức năng: Điều 127 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001quy định: “Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án n
Trang 1I.Đặt vấn đề:
Trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân là một trong bốn hệ thống các cơ quan nhà nước hợp thành
Vì vậy, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân vừa phải thực hiện các nguyên tắc chung trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước vừa phải thực hiện các nguyên tắc riêng do pháp luật quy định Trong bài tiểu luận này, chúng ta sẽ tìm hiểu các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo Hiến pháp năm 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002
II.Giải quyết vấn đề:
1.Chức năng, nhiệm vụ của tòa án nhân dân:
a.Chức năng:
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001quy định: “Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
b.Nhiệm vụ:
Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định: “Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân Bằng hoạt động của mình, tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.”
Trang 22.Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: 10 nguyên tắc
a.Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán và bầu Hội thẩm nhân dân:
*Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán:
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước; Phó Chánh án và Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; Thẩm phán các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của các hội đồng tuyển chọn thẩm phán; Chánh án, Phó Chánh án các Tòa án nhân dân địa phương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với thường trực hội đồng nhân dân địa phương; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Bộ trưởng
Bộ quốc phòng
Nhiệm kì của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân phương, Tòa án quân
sự là 5 năm
Việc thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán ở tất cả các cấp tòa án là
sự đổi mới trong tổ chức của tòa án nhân dân, nó giúp cho nhà nước chọn được những người có đủ điều kiện để thực hiện chức năng xét xử của tòa án Các Thẩm phán được bổ nhiệm sẽ có điều kiện tích lũy kinh nghiệm xét xử,
Trang 3nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân cũng như tính độc lập trong công tác xét xử
*Nguyên tắc bầu Hội thẩm nhân dân:
Đối với Hội thẩm nhân dân được thực hiện theo chế độ bầu cử Hội thẩm Tòa án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo
sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự quân khu và tương đương do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương sau khi thống nhất với cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương
Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo
sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm,bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án quân sự khu vực sau khi thống nhất với cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương Nhiệm kì của Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương, Hội thẩm quân nhân là 5 năm
b Nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm nhân dân ( Hội thẩm quân nhân ) tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán:
Với bản chất Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm nhân
Trang 4dân tham gia khẳng dịnh tính dân chủ của chế độ ta, coi công dân là người chủ của đất nước, có quyền tham gia quản lí nhà nước với nhiều hình thức khác nhau, trong đó có quyền tham gia vào hoạt động xét xử của tòa án Hội thẩm nhân dân là những người lao động sống và làm việc gần gũi với cuộc sống của nhân dân, thay mặt nhân dân tham gia vào hoạt động xét
xử của tòa án, đảm bảo cho việc xét xử của tòa án đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, sát với thực tế cuộc sống Trong quá trình xét xử, các thành viên trong Hội đồng xét xử đều có quyền đưa ra thảo luận tất cả các vấn đề quan trọng cần giải quyết tại phiên tòa, có quyền xét hỏi, nghị án, định tội, lượng hình, quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự Mọi quyết định của tòa
án đều là những ý kiến đã được thảo luận và biểu quyết theo đa số
Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán là điều kiện để Hội thẩm nhân dân phát huy được vai trò là người đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của tòa án
Trên thực tế, để Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán trong quá trình xét xử, một yêu cầu cần thiết hiện nay là phải nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho các Hội thẩm nhân dân
c Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật:
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa,
nó đảm bảo cho Tòa án nhân dân xét xứ khách quan, đúng pháp luật để bảo
vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện:
Khi xét xử tất cả các vụ án ở tất cả các trình tự tố tụng, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ căn cứ vào chứng cứ và các quy phạm pháp luật cần
Trang 5áp dụng để giải quyết các vụ việc và ra các bản án, quyết định cụ thể, không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp của bất kì ai
Khi xét xử, các thành viên trong Hội đồng xét xử cũng độc lập với nhau trong việc xác định chứng cứ, lựa chọn các quy phạm pháp luật cần được áp dụng để định tội và lượng hình đối với các vụ án hình sự, quyết định quyền và nghĩa vụ của đương sự trong các vụ án khác
Đối với một bản án có thể phải xét xử nhiều lần theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Đối với các bản án xét xử sơ thẩm thì không phải xin ý kiến chỉ đạo của tòa án cấp trên Ngược lại, khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không lệ thuộc vào chứng
cứ, kết luận và quyết định của tòa án đã xét xử sơ thẩm mà phải tự mình xác định chứng cứ, quy phạm pháp luật cần được áp dụng để có quyết định cụ thể
Nguyên tắc này đòi hỏi các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn luôn đề cao ý thức cá nhân với tư cách là người nhân danh nhà nước thực hiện chức năng xét xử để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thật sự chí công vô tư, kiên quyết bảo vệ pháp luật
d Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số:
Xét xử là hoạt động đặc thù do Tòa án nhân dân thực hiện nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân Bằng bản án, quyết định của tòa án mà các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được hưởng các quyền hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định Vì vậy, việc xét xử của tòa án phải khách quan, đúng pháp luật Muốn có bản án, quyết định khách quan, đúng pháp luật đòi hỏi phải phát huy trí tuệ tập thể Do đó, khi xét xử tất cả các vụ án ở tất cả các trình tự tố tụng đều phải thành lập Hội đồng xét xử
Trang 6Các văn bản pháp luật về tố tụng đã quy định cụ thể thành phần của Hội đồng xét xử ở từng cấp xét xử:
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Đối với vụ án mà
bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm nhân dân
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao gồm ba thẩm phán Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì số thành viên tham gia xét xử phải chiếm hai phần ba tổng số các thành viên của Hội đồng thẩm phán hoặc Ủy ban Thẩm phán đó
Nguyên tắc này đảm bảo cho tòa án xét xử khách quan, toàn diện, chống độc đoán Để đạt được kết quả cao trong quá trình xét xử thì mỗi thành viên trong Hội đồng xét xử phải nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án để đánh giá chứng cứ cũng như áp dụng đúng các quy phạm pháp luật
e Nguyên tắc tòa án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định:
Mục đích của nguyên tắc này để thu hút đông đảo nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, đồng thời nâng cao công tác giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân, thu hút đông đảo nhân dân tham tích cực vào cuộc đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác Hình phạt của các bản án, quyết định hình sự không chỉ nhằm trừng phạt mà còn có mục đích răn đe, phòng ngừa, giáo dục
Trang 7Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ các Tòa án nhân dân phải có kế hoạch xét xử các vụ án Kế hoạch xét xử phải niêm yết tại trụ sở của tòa án, tòa án phải thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi
cư trú và làm việc cuối cùng của bị cáo Đồng thời, tòa án phải thông báo cho bị cáo, người bị hại ( các vụ án hình sự ), các đương sự và những người
có liên quan đến vụ án biết thời gian, địa điểm xử án Đối với những vụ án quan trọng, tòa án phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
xử án của tòa án nhưng tòa án có thể xét xử lưu động ở nơi xảy ra vụ án để tăng cường tính giáo dục
Tại các phiên tòa, mọi công dân đủ 16 tuổi trở lên đều có quyền tham
dự Ngoài xét xử công khai, Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng quy định tòa
án có thể xét xử kín để giữ bí mật của Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ Nhưng dù xét xử công khai hay xét xử kín khi tuyên án, tòa án đều phải đọc công khai để mọi người đều được biết
f Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật:
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nó thể hiện nền dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa, khẳng định công dân là những người chủ của đất nước và được quy định trong các bản Hiến pháp của nước ta Trong hoạt động xét xử của tòa án, nguyên tắc này được quy định tai Điều 8 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002: “ Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”
Trang 8Theo quy định trên thì mọi tội phạm, mọi tranh chấp pháp lý do bất kì
ai thực hiện đều phải được tòa án nhân dân xét xử công bằng, không thiên
vị Trong những điều kiện, hoàn cảnh như nhau mà hành vi vi pham pháp luật như nhau thì tòa án đều phải áp dụng quy phạm pháp luật như nhau Mặt khác, khi xét xử tòa án phải bảo đảm sự bình đẳng của công dân về quyền và nghĩa vụ khi họ tham gia vào các thủ tục tố tụng do pháp luật tố tụng đã quy định
Để nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật được thực hiện trên thực tế đòi hỏi các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tinh thông về nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực sự “chí công vô tư” trong hoạt động xét xử
g Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
Để thực hiện quyền bào chữa của mình, bị cáo hoặc đương sự có thể tự mình bào chữa hoặc nhờ luật sư, người đại diện hợp pháp bào chữa cho mình Trong trường hợp cần thiết, mặc dù bị cáo không yêu cầu nhưng tòa
án vẫn phải yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo Đó là những trường hợp sau:
Bị cáo có nhược điểm về thể chất và tinh thần;
Bị cáo phạm tội nghiêm trọng mà hình phạt cao nhất là tử hình;
Bị cáo là vị thành niên phạm tội;
Bằng chứng cứ, lập luận bị cáo có thể chứng minh trước phiên tòa về những hành vi của mình là vô tội nhưng mức án phải được xử nhẹ hơn (đối với các vụ án hình sự) Các đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế… bằng chứng cứ, lập luận có thể khẳng định được quyền
Trang 9Để giúp các bị cáo và đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ, ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh tổ chức luật sư và ngày 21/2/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quy chế đoàn luật sư Gần đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh luật sư ngày 25/7/2001 thay thế Pháp lệnh luật sư ngày 18/12/1987 Theo các văn bản pháp luật này, ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã thành lập các đoàn luật sư để giúp các bị can, bị cáo và đương sự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình
h Nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước tòa án:
Tại Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định: “ Tòa án đảm bảo cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước tòa án”
Xuất phát từ thực tế ở nước ta có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên cùng một lãnh thổ Trong lịch sử dựng nước và giữ nước tất cả những dân tộc anh
em đã chung sức, đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc trong hoạt động xét xử của mình, tòa án phải đảm bảo nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình trước tòa án
Nguyên tắc này đảm bảo cho các chủ thể tham gia tố tụng tại phiên tòa như bị cáo, người bị hại, đương sự, người làm chứng… thể hiện một cách đúng đắn và chính xác ý chí của mình khi tham gia tố tụng, đồng thời giúp cho tòa án xét xử được chính xác, đúng sự thật khách quan của vụ án, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử
Trong trường hợp người tham gia tố tụng trình bày bằng ngôn ngữ dân tộc của họ thì tòa án phải chỉ định người phiên dịch
Trang 10i Nguyên tắc Tòa án nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước (Điều 16):
Tòa án nhân dân tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội Tòa án nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân Chánh án Tòa án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân,trả lời chất vấn của Đại biểu Hội đồng nhân dân
k Nguyên tắc tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử:
Nội dung quy tắc này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002: “Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử” Bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng Bản án, quyết định sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết nghị sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật Như vậy, Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã bảo đảm việc thực hiện quyền
tố tụng của bị cáo và các đương sự được xét xử qua 2 cấp: cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm Điều này thể hiện sự đoạn tuyệt với thủ tục
sơ thẩm đồng thời chung thẩm được áp dụng suốt mấy chục năm qua; nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người tham gia tố tụng, tránh những sai lầm đáng tiếc dẫn đến số lương án bị cải sửa, bị hủy hàng năm của các tòa án Đồng thời khi thực hiện chế độ hai cấp xét xử sẽ đưa thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về đúng bản chất là giai đoạn xét lại bản án, quyết định của tòa án