BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỀ BÀI Đề số 2 Giải quyết tình huống NHÓM 2 LỚP N07 TL1 Hà Nội, 2023 BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM 1 Kế hoạch làm việc nhóm Bu[.]
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM 1.Kế hoạch làm việc nhóm
Buổi 1: Tổ chức họp; lên dàn ý bài làm và tổng hợp dàn ý của các thành viên Buổi 2: Phân công thực hiện các phần trong dàn bài
Buổi 3: Tổng hợp nội dung và phân công chỉnh sửa
Buổi 4: Tổng hợp nội dung và phân công chỉnh sửa
Buổi 5: Tổ chức họp; bổ sung nội dung; chỉnh sửa hình thức, thống nhất ý kiếnBuổi 6: Hoàn thiện nội dung cuối cùng; phân công thuyết trình, làm powerpointBuổi 7: Đánh giá hoạt động nhóm, diễn tập thuyết trình
2 Phân chia công việc và đánh giá
tốt
Trung bình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
A Cơ sở lý luận ………1
I Khái quát về quyền tác giả và tác phẩm 1
1 Quyền tác giả 1
2 Tác phẩm 2
II Trích dẫn tác phẩm 3
1 Trích dẫn tác phẩm 3
2 Quy định về trích dẫn hợp lý tác phẩm 3
B Giải quyết tình huống ……….4
I Các tiêu chí để trích dẫn tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền 4
II Hành vi của ông A là xâm phạm quyền tác giả của ông B 7
1 Ông B có quyền tác giả đối với tác phẩm 8
2 Hành vi của ông A là hành vi xâm phạm 9
C Liên hệ thực tiễn thông qua tình huống ……… 14
1 Liên hệ thực tế 14
2 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, vi phạm quyền tác giả liên quan đến ngoại lệ quyền tác giả 16 3 Giải pháp định hướng pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả qua hành vi trích dẫn tác phẩm 16 KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
PHỤ LỤC 19
Trang 5Trước khi vào nội dung chính nhóm 2 chúng em xin được nhắc lại đề bài đưa ra như sau:
Ông Nguyễn Văn A xuất bản cuốn sách “Thơ Đường - Bình luận và khảocứu” năm 2012 Trong cuốn sách, ông A có trích dẫn nhiều bài nghiên cứu thơĐường của một số nhà nghiên cứu văn học với mục đích để bình luận Đặc biệt,ông A có trích dẫn nguyên văn 3 bài viết của ông Lê Văn B (đã đăng trong cáctạp chí “Xưa và Nay” và tạp chí “Văn Nghệ” ) để bình luận
Ông B kiện ông A đến Tòa án vì cho rằng ông A đã xâm phạm quyền tác giảcủa mình khi sử dụng 3 tác phẩm của ông mà không xin phép, không trả tiền.Ông A lại cho rằng pháp luật cho phép trích dẫn để bình luận thì không phải xinphép và trả tiền Thực chất tác phẩm của ông A đã trích dẫn trên 20 tác phẩmcủa nhiều nhà nghiên cứu để bình luận Riêng 3 bài viết của ông B, ông A tríchdẫn nguyên văn để người đọc có thể nhìn thấy đầy đủ và toàn diện 56 điểm saitrong 3 bài viết của ông B khi nghiên cứu về thơ Đường
Trên cơ sở phân tích vụ việc, hãy làm rõ:
1 Xác định các tiêu chí để trích dẫn tác phẩm không phải xin phép, khôngphải trả tiền?
2 Căn cứ vào các tiêu chí đó để xem xét hành vi của ông A là sử dụng hợppháp hay xâm phạm quyền tác giả của ông B?
Trang 6Trong quá trình giải quyết tình huống này, nhóm sử dụng Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019, năm 2022 (Luật SHTT)
NỘI DUNG
A Cơ sở lý luận
I Khái quát về quyền tác giả và tác phẩm
1 Quyền tác giả
a Khái niệm quyền tác giả
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT thì quyền tác giả là quyền
của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Theo khoản 1 Điều 3 LSHTT thì đối tượng quyền tác giả bao gồm tácphẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tácgiả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tínhiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
b Nội dung quyền tác giả
Trang 7Theo quy định tại Điều 18 LSHTT hiện hành, quyền tác giả đối với tác
phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản 1
2 Tác phẩm
a Khái niệm
Tại Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sđbs năm 2009, 2019, 2022)
có đưa ra định nghĩa cụ thể về tác phẩm như sau: Tác phẩm là sản phẩm sáng
tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
b Đặc điểm
Tác phẩm - với tư cách là đối tượng của quyền tác giả thì việc chỉ ra cácđặc điểm để nó được bảo hộ là cần thiết:
Trước tiên, tác phẩm phải là sự sáng tạo trực tiếp của con người, bởi vậy
tác phẩm phải mang dấu ấn cá nhân, mang đặc trưng riêng biệt của người sángtạo Chủ thể của hoạt động sáng tạo là các tác giả thông qua quá trình hoạtđộng của trí não, kinh nghiệm của bản thân và các yếu tố hỗ trợ khác tạo rathành quả chính là tác phẩm
Thứ hai, tác phẩm phải là sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo chứ
không chỉ đơn thuần là các dạng sản phẩm chỉ được hình thành bằng kết quảlao động của con người mà không chứa đựng một hàm lượng chất xám nhấtđịnh
Thứ ba, tác phẩm phải là duy nhất và khác biệt với các tác phẩm khác.
Việc sao chép rập khuôn theo lối mòn không được bảo hộ Kết quả sáng tạo củatác phẩm trong từng lĩnh vực xác định dựa trên cơ sở đánh giá của các nhàchuyên môn gắn với “sự sáng tạo của tác giả” Xác định tính “mới” tùy thuộcvào từng yêu cầu của tác phẩm hay lĩnh vực nhất định, có những trường hợpchỉ là sự sắp đặt, tuyển chọn lại những tác phẩm đang tồn tại và được bảo hộ(tuyển tập truyện ngắn, tuyển tập thơ, nghệ thuật sắp đặt ) Tác phẩm được
1 Xem mục 1 của Phụ lục
2
Trang 8bảo hộ mà không phụ thuộc vào mục đích, ý nghĩa, nội dung, giá trị của tácphẩm.
Thứ tư, tác phẩm mang đặc tính vô hình, nên việc chiếm hữu tác phẩm
(kể cả chiếm hữu bản gốc của tác phẩm) cũng không thể là một trong các yếu
tố xác nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu tác phẩm
Thứ năm, tác phẩm được thể hiện thông qua một dạng vật chất nhất
định, hay nói cách khác tác phẩm phải được định hình trong một “phương tiệnthể hiện” cụ thể.2
II Trích dẫn tác phẩm
1 Trích dẫn tác phẩm
Trích dẫn “là việc lấy một hoặc nhiều phần (đoạn) của một tác phẩm của
người khác đưa vào tác phẩm của mình Người ta có thể trích dẫn để giải thích
về một ý kiến, chứng minh một quan điểm, một cách nhìn, hoặc để nhận xét, bình luận hay phê phán một tác phẩm, một tư tưởng…” Trong các lĩnh vực như
khoa học – kĩ thuật, văn học – nghệ thuật, việc trích dẫn tác phẩm để đánh giá,bình luận so sánh, cung cấp, trao đổi thông tin… là hết sức cần thiết
2 Quy định về trích dẫn hợp lý tác phẩm
Trên cơ sở quy định của Công ước Berne, khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trítuệ quy định ba trường hợp trích dẫn tác phẩm đã được công bố mà khôngphải xin phép, không phải trả tiền bao gồm:
Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặcminh họa trong tác phẩm của mình Trong đó, phần trích dẫn chỉ nhằm mụcđích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩmcủa mình Phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gâyphương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phùhợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn
2 PGS.TS Trần Văn Nam (chủ biên), Quyền tác giả ở Việt Nam: Pháp luật và thực thi, NXB Tư pháp Hà Nội (2014)
Trang 9Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấnphẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tácgiả
Các trường hợp trích dẫn trên đều không là những trường hợp sử dụngtác phẩm với mục đích phi thương mại, tạo điều kiện cho việc trao đổi, chia sẻ,phổ biến thông tin, kiến thức
Bên cạnh đó, việc trích dẫn tác phẩm thuộc trường hợp giới hạn Quyền
tác giả theo Điều 25 LSHTT phải thỏa mãn hai điều kiện sau:
Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đếđược đề cập trong tác phẩm của mình
Phần tích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn, phù hợp với tính chất,đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn
Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam không quy định cụ thể tỉ lệ trích dẫn baonhiêu phần trăm là “phù hợp”, mà tính “phù hợp” phụ thuộc vào tính chất, đặcđiểm của loại hình tác phẩm được trích dẫn và mục đích trích dẫn
B Giải quyết tình huống
I Các tiêu chí để trích dẫn tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
Các tiêu chí để trích dẫn tác phẩm không phải xin phép, không phải
trả tiền
4
Trang 10Điều 10 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
đã quy định các điều kiện để được trích dẫn “tự do” tác phẩm, bao gồm: (i) tácphẩm được dẫn “tự do” tác trích dẫn phải là tác phẩm công chúng tiếp cận mộtcách hợp pháp “đã được phổ cập tới công chúng”; (ii) việc trích dẫn trong phạmthích hợp phù hợp với mục đích trích dẫn; (ii) phù hợp với thông lệ chính đáng;(iv) ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả
Trên cơ sở quy định của Công ước Berne, pháp luật Việt Nam đã cónhững quy định về giới hạn quyền tác giả, cho phép các chủ thể khác được tự
do trích dẫn các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học trong những trườnghợp nhất định Theo đó, ngoại lệ chỉ dành cho một số trường hợp trích dẫn tácphẩm khi đáp ứng được các tiêu chí sau:
Thứ nhất, tác phẩm được sử dụng phải là tác phẩm đã được công bố hợp
pháp
Theo quy định tại điều 25 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm
2009, 2019, 2022), các trường hợp “sử dụng tác phẩm” như “sao chép”, “tríchdẫn”, “nhập khẩu” tác phẩm mà không phải xin phép, trả tiền chỉ áp dụng đốivới tác phẩm đã được công bố Đối với tác phẩm chưa công bố thì chỉ có tácgiả, chủ sở quyền tác giả và những cá nhân/tổ chức khác được tác giả, chủ sởhữu quyền tác giả cho phép mới có quyền được sử dụng tác phẩm
Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP hướng dẫn: “Công bố tácphẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý
để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giảhoặc chủ sở hữu QTG thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sựđồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu QTG ” Mặc dù việc một tác phẩm đã đượccông bố hay chưa được công bố không làm ảnh hưởng đến việc tác phẩm đượcbảo hộ QTG, tuy nhiên khi tác phẩm được công bố, nó chính thức trở thànhmột sản phẩm “hàng hoá” được đưa vào lưu thông
Thứ hai, việc trích dẫn tác phẩm hoàn toàn với mục đích phi thương mại
Trang 11Các trường hợp trích dẫn tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép,không phải trả tiền theo điểm đ khoản 1 điều 25 LSHTT năm 2005 (sđbs năm
2009, 2019, 2022) đều là những trường hợp sử dụng tác phẩm với mục đích phithương mại, như để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm củamình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phátsóng, phim tài liệu; qua đó tạo điều kiện cho việc trao đổi, chia sẻ, phổ biếnthông tin, kiến thức Trong các lĩnh vực như khoa học - kĩ thuật, văn học - nghệthuật, việc trích dẫn tác phẩm để đánh giá, bình luận, so sánh, cung cấp, traođổi thông tin là hết sức cần thiết
Thứ ba, việc trích dẫn tác phẩm chỉ giới hạn trong các trường hợp được
quy định tại điểm đ khoản 1 điều 25 LSHTT năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm
2009, 2019, 2022)
Các trường hợp luật định này bao gồm: Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà
không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát
sóng, phim tài liệu Các trường hợp trích dẫn trên đều là những trường hợp sử
dụng tác phẩm với mục đích phi thương mại, tạo điều kiện cho việc trao đổi,chia sẻ, phổ biến thông tin, kiến thức Đặc biệt, việc trích dẫn phải đáp ứng yêucầu “không làm sai ý tác giả” Người trích dẫn tác phẩm có thể đồng tình, phảnbiện, bình luận, minh họa nội dung trích dẫn, tuy nhiên không được làm sai ýtác giả đối với phần trích dẫn Mỗi câu trong tác phẩm thể hiện một ý nào đócủa tác giả; nhiều câu tạo thành một đoạn và nhiều đoạn tạo thành tác phẩmtrong một chỉnh thể logic về nội dung, ý tưởng Tuy nhiên, trên thực tế, nhiềungười trích dẫn cố tình ngắt một phần câu/đoạn nên không truyền tải hết logicnội dung, ngữ cảnh phần trích dẫn, cũng như ý tưởng của tác giả có tác phẩmđược trích Trong trường hợp trích dẫn ý tưởng, có thể viết lại nội dung trích
6
Trang 12dẫn theo ngôn ngữ của mình, nhưng vẫn phải bảo đảm không làm sai lệch ýtưởng của tác giả 3.
Đối với trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác
giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình, theo Điều 23 Nghị
định 22/2018 phải đáp ứng đủ các điều kiện: (1) Phần trích dẫn chỉ nhằm mụcđích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩmcủa mình; (2) Phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gâyphương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phùhợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn.Pháp luật SHTT Việt Nam không quy định cụ thể tỉ lệ trích dẫn bao nhiêu phầntrăm là “phù hợp”, mà tính “phù hợp” phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm củaloại hình tác phẩm được trích dẫn và mục đích trích dẫn.4
bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi íchhợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
Theo Khoản 2 Điều 25 LSHTT năm 2005 (sđbs năm 2009, 2019, 2022), việctrích dẫn tác phẩm trong trường hợp này phải đảm bảo không làm ảnh hưởngtới hoạt động khai thác bình thường tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyềntác giả; đồng thời cũng không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợppháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Trên thực tế có một số trường hợp,việc trích dẫn tác phẩm khiến cho hoạt động khai thác bình thường tác phẩmđược trích dẫn của tác giả bị ảnh hưởng, ví dụ như làm giảm sút doanh thu bántác phẩm Ngoài ra cũng có trường hợp, các cá nhân, tổ chức trích dẫn tácphẩm của người khác để bình luận trong tác phẩm của mình hoặc để viết báo,
sử dụng trong ấn phẩm định kỳ nhưng lại tự ý sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc
3 day-va-hoc-tap-o-bac-dai-hoc.html
http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210627/Trich-dan-hop-ly-tac-pham thuc-tien-trong-nghien-cuu giang-4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, NXB Công An nhân dân, Hà Nội.
Trang 13tác phẩm, làm sai ý tác giả dẫn đến phương hại danh dự và uy tín tác giả, gâyphương hại đến quyền tác giả.
Thứ năm, khi trích dẫn phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ
của tác phẩm
Điều 25 LSHTT quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố
không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên
tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm Các tổ chức, cá nhân trích dẫn tác
phẩm phải tôn trọng các quyền của tác giả Việc thông tin về tên tác giả vànguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm phảm đảm bảo chính xác, đầy đủ, tránhtrường hợp thông tin sai lệch hoặc thiếu sót dẫn đến làm sai lệch thông tintruyền tải và làm xâm hại đến tác phẩm, gây phương hại đến quyền tác giả
II Hành vi của ông A là xâm phạm quyền tác giả của ông B
Cơ sở pháp lý
- Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019,năm 2022 (gọi tắt là Luật SHTT năm 2005)
- Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vàquản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
- Nghị định 22/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 vàLuật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan
- Nghị định số 119/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung nghị định 105/2006
1 Ông B có quyền tác giả đối với tác phẩm
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 sửa đổi bổsung 2022 quy định về Tác giả, Chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo
hộ quyền tác giả, thì “Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.” và Điều 37 của Bộ Luật trên
8
Trang 14quy định về Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả, “Tác giả sử dụng thời gian, tài
chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.” Theo đó do ông Lê Văn B là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và
đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, vì vậy ba tác phẩm mà ông B đã đăngtrong các tạp chí “Xưa và Nay” và tạp chí “Văn Nghệ” là những tác phẩm đượcbảo hộ quyền tác giả theo luật định
Bên cạnh đó, theo Khoản 1 Điều 6 của Bộ Luật trên quy định về căn cứ
phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, thì “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi
tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ,
đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.” Vì vậy, tại thời
điểm ngay sau khi ông Lê Văn B hoàn thành tác phẩm và mặc dù chưa tiến hànhthủ tục đăng ký bản quyền, quyền tác giả vẫn sẽ phát sinh từ thời điểm đó
2 Hành vi của ông A là hành vi xâm phạm
Căn cứ vào Điều 5 Nghị định số 119/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung nghị định105/2006
a. Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ
Trước hết, 3 tác phẩm của ông B thuộc loại hình tác phẩm được bảo hộ
quyền tác giả Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật SHTT năm 2005 “Quyền
tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.” và Điểm c Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT năm 2005 quy định về tác
phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ