QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY; PHONG CÁCH ĐÀM PHÁN CỦA THƯƠNG NHÂN NHẬT BẢN; Tôn trọng lễ nghi và trật tự thứ bậc; Coi đàm phán như một cuộc đấu tranh thắng bại; Tránh xung đột bằng cách thỏa hiệp ; Tìm hiểu rõ đối tác trước đàm phán; Chiều theo và tôn trọng quyết định của nhóm; Cách nói giảm nói tránh
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I TỔNG QUAN VỀ NHẬT BẢN 1
1 Vị trí địa lý 1
2 Điều kiện tự nhiên 2
2.1 Địa hình 2
2.2 Khí hậu 2
3 Nhân khẩu học 3
3.1 Dân số 3
3.2 Dân tộc 3
3.3 Tôn giáo 3
3.4 Ngôn ngữ, chữ viết 4
4 Điều kiện văn hóa- xã hội 5
4.1 Văn hóa 5
4.2 Xã hội 6
4.3 Cấu trúc xã hội 6
5 Điều kiện chính trị 7
6 Điều kiện kinh tế 8
7 Giáo dục 10
II QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY 12
1 Thực trạng mối quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó 12
2 Cơ hội - Thách thức trong đàm phán kinh doanh trước thực trạng trên 14
2.1 Cơ hội 14
2.2 Thách thức 14
III PHONG CÁCH ĐÀM PHÁN CỦA THƯƠNG NHÂN NHẬT BẢN 16
1 Tôn trọng lễ nghi và trật tự thứ bậc 16
2 Coi đàm phán như một cuộc đấu tranh thắng bại 17
3 Tránh xung đột bằng cách thỏa hiệp 18
4 Tìm hiểu rõ đối tác trước đàm phán 19
5 Chiều theo và tôn trọng quyết định của nhóm 19
6 Cách nói giảm nói tránh 20
7 Trao đổi thông tin, đàm phán rất lâu và kỹ, làm việc rất máy móc 20
Trang 2KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay, việc tạo dựng mối quan hệ kinh doanh tốt với những đối tác từ các quốc gia khác nhau là điều mà các doanh nghiệp ngày một chú trọng Để làm được điều đó, kỹ năng đàm phán trong kinh doanh cũng như những hiểu biết về văn hóa các nước đối tác là điều cần phải chú trọng Hiểu được văn hóa là bước đầu để ta thấu hiểu đối tác hơn, từ đó biết được ta cần phải làm gì trong đàm phán để xây dựng mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp
Nhật Bản – một quốc gia châu Á có nền văn hóa với nhiều nét đặc trưng thú vị Bên cạnh đó, hiện nay, những thương nhân Nhật Bản hoạt động tại thị trường Việt Nam rất nhiều Chính vì thế, nhóm đã nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của văn hóa Nhật Bản đến đàm phán” với mong muốn cung cấp những thông tin giá trị về văn hóa Nhật bản, ảnh hưởng của nó đến đám phán trong kinh doanh cũng như những lưu ý khi đàm phán với thương nhân đến từ quốc gia này
Kết cấu của đề tài gồm:
Trang 4I TỔNG QUAN VỀ NHẬT BẢN
1 Vị trí địa lý
Nhật Bản là một đảo quốc có chủ quyền nằm ở khu vực Đông Á Quốc gia này nằm bên rìa phía đông của biển Nhật Bản và biển Hoa Đông Đây là một đảo quốc hoàn toàn không tiếp giáp với quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền, mà giáp qua các vùng biển Phía tây giáp với bán đảo Triều Tiên qua biển Nhật Bản, phía bắc giáp với Liên bang Nga theo biển Okhotsk và phía nam giáp với đảo Đài Loan qua biển Hoa Đông Nhật Bản là một phần của vành đai lửa và trải dài trên một quần đảo bao gồm 6852 đảo nhỏ có tổng diện tích 377.975 km vuông; trong đó 5 hòn đảo chính bao gồm Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu, và Okinawa Tokyo là đô thị lớn nhất nước này; các thành phố lớn bao gồm Yokohama, Osaka, Nagoya, Sapporo, Fukuoka, Kobe và Kyoto
Nhật Bản là quốc gia đông thứ 11 thế giới, đồng thời là một trong những quốc gia
có mật độ dân số và đô thị hóa cao nhất Khoảng 3/4 địa hình của Nhật Bản là đồi núi, tập trung dân số 125,44 triệu người trên các đồng bằng nhỏ hẹp ven biển Quốc gia này được chia thành 47 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý
Hình ảnh 1 Nhật Bản
Trang 52 Điều kiện tự nhiên
2.1 Địa hình
Nhật Bản bao gồm 6852 hòn đảo trải dài dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của Châu Á, trải dài hơn 3000 km về phía đông bắc - tây nam từ Biển Okhotsk đến Biển Hoa Đông Tính đến năm 2019, tổng diện tích lãnh thổ của Nhật Bản là 377.975,24 km2, trong đó, Nhật Bản có đường bờ biển dài thứ sáu trên thế giới với tổng diện tích
Vị trí của Nhật Bản thường rất dễ xảy ra động đất, sóng thần và núi lửa phun trào
vì vị trí địa lý của Nhật Bản dọc theo vành đai lửa Thái Bình Dương Hiện tại Nhật Bản có khoảng 111 núi lửa đang hoạt động Thông thường vài lần trong mỗi thế kỷ, những trận động đất có sức công phá khủng khiếp sẽ xảy ra và những cơn sóng thần sẽ
Trang 6Bờ biển Thái Bình Dương có khí hậu cận nhiệt đới ẩm và mỗi khi mùa đông đến, thời tiết ở đây ôn hòa hơn và vào mùa hè thời tiết thường nóng ẩm do ảnh hưởng của gió đông nam theo mùa Quần đảo Ryukyu và Nanpō có khí hậu cận nhiệt đới với mùa đông ấm áp và mùa hè nóng Lượng mưa thường rất cao, đặc biệt là khi vào mùa mưa Thông thường, mùa mưa chính bắt đầu vào đầu tháng 5 ở Okinawa, và dần di chuyển lên phía bắc Vào cuối mùa hè và đầu mùa thu, các trận bão thường mang theo những cơn mưa lớn.
3 Nhân khẩu học
3.1 Dân số
Dân số hiện tại của Nhật Bản là 125.565.028 người vào ngày 15/07/2022 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc Mật độ dân số của Nhật Bản là 344 người trên mỗi kilômét vuông Nhật Bản đang đứng thứ 11 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ 91,87% dân số sống ở thành thị (115.992.999 người vào năm 2019) Độ tuổi trung bình ở Nhật Bản là 49,2 tuổi
3.2 Dân tộc
Trên toàn lãnh thổ Nhật Bản kéo dài từ Bắc đến Nam chỉ có 3 dân tộc: dân tộc Yamato, dân tộc Ainu ở Hokkaido và ở Okinawa có dân tộc Ryukyu Trong đó, tương
tự như các dân tộc ít người ở Việt Nam, người Ainu và người Ryukyu cũng có thể coi
là dân tộc thiểu số do họ chỉ sống tập trung ở những vùng đất nhất định và dân số ít Đại đa số người Nhật Bản là dân tộc Yamato
3.3 Tôn giáo
Nhật Bản là nước có nhiều tôn giáo Thần đạo, tôn giáo lâu đời nhất ở Nhật Bản,
là sự phức hợp của những tín ngưỡng sơ khai ở Đông Á Thần đạo có các vị thần được gọi là "kami" có thể ban phúc lành, chẳng hạn như một cuộc hôn nhân Vào thế kỉ thứ
VI, Phật giáo hệ phái Bắc Tông du nhập vào Nhật Bản qua Triều Tiên Nghệ thuật và kiến trúc tinh tế của đạo Phật khiến cho tôn giáo này thu hút được sự quan tâm của triều đình lúc đó và Phật giáo trở thành quốc giáo của Nhật Bản Đạo Phật nhanh chóng được truyền bá khắp Nhật Bản và nhiều tông phái Phật giáo đã ra đời và phát triển, trong đó nổi tiếng nhất ở phương Tây là Thiền tông (Zen) Thiên chúa giáo do người Bồ Đào Nha du nhập vào Nhật Bản năm 1549 và được khá nhiều người Nhật
Trang 7tin theo Ngày nay ở Nhật không có một tôn giáo nào nổi trội và trên thực tế, có nhiều người Nhật cùng lúc tin theo nhiều tôn giáo khác nhau Nhưng Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo của Nhật Bản, ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn, sâu sắc vào mọi mặt trong văn hóa, xã hội và lối sống của người Nhật
Khoảng 84% đến 96% dân số Nhật theo cả đạo Thần đạo và Phật giáo Đại thừa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo từ Trung Quốc cũng có ảnh hưởng đến niềm tin và tín ngưỡng của người Nhật Có 1 triệu người Nhật theo Đạo Cơ Đốc Thêm vào đó, từ giữa thế kỷ XIX, rất nhiều đạo giáo đã xuất hiện ở Nhật Bản như Shinshūkyō và Tenrikyo; các tôn giáo này chiếm khoảng 3% dân số Nhật Bản
3.4 Ngôn ngữ, chữ viết
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Nhật 99% dân số nói tiếng Nhật.Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: chữ Kanji và hai kiểu chữ đơn âm mềm Hiragana (Bình Giá Danh) và đơn âm cứng Katakana (Phiến Giá Danh) Kanji dùng để viết các
từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ,…Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài, trừ tiếng Trung và từ vựng của một số nước dùng chữ Hán khác Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại, đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các công ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hóa, khi nhập tiếng Nhật vào máy tính Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số, nhưng cách viết số theo ngữ hệ Hán-Nhật cũng rất phổ biến
Trang 8Sự kết hợp của nghệ thuật in khắc gỗ truyền thống với văn hóa phương Tây đã dẫn đến sự ra đời của Manga, một thể loại truyện tranh nổi tiếng cả trong và ngoài nước Nhật Sự ảnh hưởng của Manga đến thể loại hoạt hình đã dẫn đến sự phát triển thể loại hoạt hình đặc trưng của Nhật có tên gọi là Anime, nhờ sự phát triển vũ bão
Trang 9của Manga và Anime mà các trò chơi game video của Nhật cũng phát triển mạnh mẽ
từ thập niên 1980
Âm nhạc của Nhật Bản đã mượn nhiều nhạc cụ và phong cách từ các quốc gia láng giềng và phát triển thêm các nét đặc trưng của Nhật, điển hình như đàn Koto được giới thiệu vào Nhật từ thế kỷ thứ IX và X, hay như thể loại kịch Nō từ thế kỷ XIV và âm nhạc dân gian đại chúng, với những cây đàn như shamisen, được truyền bá tới Nhật từ thế kỷ XVI Âm nhạc phương Tây, được giới thiệu vào Nhật cuối thế kỷ XIX, giờ đã trở thành một phần nội tại quan trọng trong văn hóa Nhật Bản Nước Nhật thời hậu chiến tranh thế giới thứ hai bị ảnh hưởng nặng nề bởi âm nhạc Mỹ và âm nhạc hiện đại châu Âu, điều này đã dẫn đến sự phát triển của dòng âm nhạc gọi là J-pop
4.2 Xã hội
Xã hội Nhật Bản hiện nay phải đối mặt với nhiều vấn đề do áp lực cuộc sống quá lớn Khi những người trẻ tuổi hoặc trung niên gặp thất bại, đôi khi họ tìm cách trốn tránh xã hội Nếu không vượt qua được áp lực tâm lý, điều này sẽ dẫn đến những lối sống bệnh lý như hikikomori Đó là những người tự giam mình trong nhà và không giao tiếp với bất kỳ ai ngoài gia đình liên tục trong vòng sáu tháng Hikikomori thường là thanh niên, những người cảm thấy không chịu đựng nổi áp lực trong học tập hay công việc khi tham gia xã hội, họ cắt đứt liên hệ với xã hội để có được cảm giác yên ổn Theo ước tính của các chuyên gia, số lượng hikikomori hiện tại có thể lên tới hơn một triệu người, trong đó có đến 20% hoàn toàn ngắt kết nối với cộng đồng từ 3 tới 5 năm Hikikomori tạo thêm gánh nặng cho nền kinh tế bởi không chỉ làm giảm lực lượng lao động trẻ đang rất thiếu ở Nhật Bản, các thanh niên này cũng không thể
tự nuôi sống bản thân
4.3 Cấu trúc xã hội
Lão hóa dân số đang diễn ra nghiêm trọng tại Nhật Bản trong những năm qua Dân số Nhật giảm liên tiếp kể từ năm 2008, trong khi số người cao tuổi lần đầu tiên chiếm 1/4 tổng dân số Tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm 27,2%, mức cao nhất được ghi nhận từ trước tới nay, trong khi tỷ lệ trẻ dưới 14 tuổi giảm xuống mức thấp kỷ lục là 12,7% Năm 2017, tại Nhật chỉ có 941.000 trẻ em ra đời, mức thấp nhất kể từ năm
Trang 101899 và là năm thứ hai liên tiếp số trẻ em ra đời dưới 1 triệu Tỷ lệ tử vong trong năm
2017 lại tăng 3% lên mức 1,34 triệu, mức cao nhất thời kỳ sau 1945
Tính từ năm 2010, Nhật Bản đã giảm 1,3 triệu dân do quá trình lão hóa dân số Năm 2016, số học sinh Nhật giảm đi 18% và số nhà trẻ giảm 2.300 so với năm 2009 Đến năm 2065, Liên Hiệp Quốc dự báo dân số Nhật Bản sẽ giảm 28 triệu người, tương đương 22% dân số hiện nay Tính đến năm 2040, hơn 1/3 số người Nhật sẽ trên
65 tuổi, mức cao nhất trên thế giới Trước thực trạng lão hóa dân số đáng báo động, Chính phủ Nhật Bản đưa ra cảnh báo, vào năm 2060 gần 40% dân số nước này là người cao tuổi
Tỷ lệ tự tử ở Nhật Bản thuộc mức rất cao trên thế giới Theo số liệu của cảnh sát quốc gia, 33093 người tự tử trong năm 2006, trong đó ba phần tư là nam giới, 60% là thất nghiệp, và tỷ lệ tự tử ở người cao tuổi, trên 60 tuổi, tăng Năm 2012 đã có 29.442 người Nhật tự sát (tỷ lệ 18,5 vụ/100.000 dân) Tỷ lệ này cao hơn 60% so với trung bình thế giới
Trong những năm gần đây, chính phủ Nhật Bản đã triển khai nhiều biện pháp nhằm hạn chế nạn tự sát và làm giảm tỷ lệ tự sát trong nước Năm 2009, chính phủ Nhật Bản đã cam kết 15,8 tỷ yên cho chiến lược ngăn ngừa nạn tự sát Những biện pháp này đang đem lại hiệu quả tích cực Tuy nhiên, tự sát gia tăng trở lại trong giai đoạn 2019-2021 Năm 2021, Nhật có 20.830 vụ tự sát (gồm 13.815 nam giới và 7.015
nữ giới), một phần là do đại dịch Covid-19 khiến nhiều người mất việc hoặc bị giảm thu nhập
Nhập cư và gia tăng khuyến khích sinh đẻ đang được xem là giải pháp để cung cấp lực lượng lao động cho sự lão hóa của dân số nhằm duy trì sự phát triển của nền kinh tế khổng lồ lớn thứ hai trên thế giới
5 Điều kiện chính trị
Nhật Bản là một nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, quyền lực của Thiên hoàng vì vậy rất hạn chế Theo hiến pháp, Thiên hoàng được quy định là một "biểu tượng của Quốc gia và của sự hòa hợp dân tộc" mang tính hình thức lễ nghi Quyền điều hành đất nước chủ yếu được trao cho Thủ tướng và những nghị sĩ do dân bầu ra
Cơ quan lập pháp dân cử của Nhật Bản là Quốc hội đặt trụ sở tại Chiyoda, Tokyo Quốc hội hoạt động theo cơ chế lưỡng viện, trong đó Hạ viện có 465 ghế, được cử tri
Trang 11bầu chọn sau mỗi bốn năm hoặc sau khi giải tán, và Thượng viện có 245 ghế, được cử tri bầu chọn cho nhiệm kỳ sáu năm và cứ mỗi ba năm được bầu lại một nửa số thành viên Quyền bầu cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu thuộc về mọi công dân Nhật Bản trên 18 tuổi không phân biệt nam-nữ, trong đó áp dụng phương thức bỏ phiếu kín tại tất cả đơn vị bầu cử
Thủ tướng Nhật Bản là người đứng đầu chính phủ do Quốc hội chọn ra từ các nghị sĩ thành viên và được Thiên hoàng sắc phong Thông thường người đứng đầu một đảng chính trị chiếm đa số ghế trong Quốc hội sẽ được giới thiệu giữ chức Thủ tướng Thủ tướng lãnh đạo nội các và có thể chỉ định hay bãi nhiệm Bộ trưởng Quốc
vụ Mặc dù việc bổ nhiệm Thủ tướng được tiến hành một cách chính thức bởi Thiên hoàng, Hiến pháp Nhật Bản quy định những người được Thiên hoàng bổ nhiệm vào vị trí này đều phải theo sự chỉ định của Quốc hội Thủ tướng Nhật Bản đương nhiệm từ năm 2021 là cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Kishida Fumio
Mặc dù trong lịch sử đã từng chịu ảnh hưởng bởi luật pháp Trung Quốc, luật pháp Nhật Bản đã phát triển một cách độc lập Hiến pháp quy định Thiên hoàng ban hành những điều luật đã được Quốc hội thông qua, mà không trao cho vị vua quyền hạn cụ thể nào để bác bỏ dự luật Hệ thống cơ quan tư pháp Nhật Bản chia thành bốn cấp bậc: Tòa án Tối cao và ba cấp tòa án thấp hơn Chánh Thẩm phán Tòa án Tối cao do Thiên hoàng sắc phong theo chỉ định của Quốc hội, trong khi các Thẩm phán Tòa án Tối cao
do nội các bổ nhiệm Trụ cột của pháp luật Nhật Bản gọi là Lục pháp
6 Điều kiện kinh tế
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, nên phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu Tuy nhiên, nhờ công cuộc Minh Trị duy tân, sự công nghiệp hóa cũng như việc chiếm được một số thuộc địa, vào trước Thế Chiến thứ Hai, quy mô kinh tế Nhật Bản đã đạt mức tương đương với các cường quốc châu Âu
Về tổng quan, sau Thế Chiến 2, kinh tế Nhật bản bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945–1954) và phát triển cao độ (1955–1973) làm cho thế giới phải kinh ngạc Người
ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản" Tuy nhiên, từ năm 1974 tới 1989, kinh tế tăng trưởng chậm lại, và đến năm 1990 thì lâm vào khủng hoảng trong suốt 10 năm Người Nhật
Trang 12gọi đây là Thập niên mất mát Đến năm 2000, kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, nhưng vẫn ở trong tình trạng trì trệ suốt từ đó tới nay.
Sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào bên ngoài cả về thị trường tiêu thụ hàng hóa và nguồn cung cấp nguyên liệu Khi giá nguyên liệu tăng, kinh tế bị tác động mạnh
Không giống như tình hình ở các nước phương Tây, khu vực tài chính Nhật không chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc Khủng hoảng cho vay thế chấp nhưng do đối mặt với sự sụt giảm mạnh về khối lượng đầu tư cũng như nhu cầu trước các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Nhật ở nước ngoài vào cuối năm 2008, đã đẩy nước này vào vòng suy thoái nhanh hơn Tình trạng nợ công quá lớn (chiếm 229% GDP theo số liệu của năm 2015) và tỉ lệ dân số có tuổi quá cao là hai vấn đề đầy thách thức với Nhật Bản về dài hạn Hiện tại những tranh cãi xung quanh vai trò và hiệu quả của các chính sách vực dậy nền kinh tế là mối quan tâm lớn của người dân lẫn chính phủ nước này.[83] Nhìn chung, trong giai đoạn 2005–2020, kinh tế Nhật chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng rất chậm, trung bình 1% mỗi năm Kinh tế Nhật đã bị Trung Quốc vượt qua trong giai đoạn này, và nếu tiếp tục tăng trưởng chậm như vậy thì tới năm 2025, Indonesia và Nga sẽ vượt qua Nhật về tổng GDP theo sức mua tương đương, còn các nền kinh tế mới nổi trên thế giới khác như Hàn Quốc, Malaysia cũng sẽ sớm vượt qua Nhật về thu nhập bình quân đầu người
Cán cân thương mại thặng dư và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư của Nhật bản ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật
Nhật Bản là trụ sở của một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới, tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch
vụ tài chính, những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới Ví dụ như những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony, Sumitomo, Mitsubishi và Toyota sở hữu hàng tỉ và hàng nghìn tỷ đô la đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm các nhà đầu tư hoặc dịch vụ tài chính như ngân hàng Sumitomo, ngân hàng Fuji, ngân hàng Mitsubishi, các định chế tài chính của Toyota và Sony Các thương hiệu hàng đầu thế giới của Nhật Bản bao gồm Toyota, Honda, Canon, Nissan,
Trang 13Sony, Mitsubishi UFJ (MUFG), Panasonic, Uniqlo, Lexus, Subaru, Nintendo, Bridgestone, Mazda và Suzuki.
Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến Đây cũng là nơi đặt trụ
sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản
Những đối tác xuất khẩu chính của Nhật là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là thiết bị giao thông vận tải, xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất Do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên để duy trì sự phát triển của nền kinh tế, Nhật Bản phải phụ thuộc vào các quốc gia khác về phần nguyên liệu vì vậy đất nước này nhập khẩu rất nhiều loại hàng hóa đa dạng Đối tác nhập khẩu chính của Nhật là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ả Rập Xê Út, UAE, Australia, Hàn Quốc và Indonesia Những mặt hàng nhập khẩu chính của Nhật Bản là máy móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm, hóa chất, nguyên liệu dệt may và những nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của đất nước
7 Giáo dục
Hệ thống tiểu học, trung và đại học được áp dụng ở Nhật như một trong các cải cách thời Minh Trị Từ năm 1947, Nhật Bản áp dụng hệ thống giáo dục bắt buộc gồm tiểu học và trung học trong chín năm cho học sinh từ sáu đến mười lăm tuổi Hầu hết sau đó đều tiếp tục chương trình trung học và theo MEXT, khoảng 75,9% học sinh tốt nghiệp phổ thông tiếp tục học lên bậc đại học, cao đẳng hay các chương trình trao đổi giáo dục khác
Giáo dục ở Nhật có tính cạnh tranh rất cao Học sinh phải cố gắng thi đỗ vào các trường danh tiếng để đảm bảo có được việc làm tốt sau khi ra trường Đặc biệt ở các
kì thi tuyển sinh đại học có sự cạnh tranh rất quyết liệt giữa các thí sinh, điển hình là các kì thi tuyển của hai trường đại học cao cấp Tokyo và Kyoto Chương trình đánh