Các ứng dụng này cùng phải chịu sự biến đổi về độ sẵn sàng của tài nguyên và mong muốn bộ xử lý của chúng tương thích với sự thay đổi tài nguyên trong hệ thống để có thể duy trì chất lượ
Trang 1Abstract: In a distributed environment where multiple
applications complete and share a limited amount of
system resources, applications tend to suffer from
variations in resource availability, and are desired to adapt
their behavior to the resource variations of the system In
[1], we proposed a generic application-aware adaptive
middleware architecture as a viable approach to control
the adaptive behavior of applications so that the best
possible application-level QoS is achieved under any
resource conditions during the lifetime of the applications
In this paper, we present a control-theoretic algorithm for
QoS adaptation in the application-aware middleware
architecture to enhance the effectiveness of QoS adaptation
decisions by dynamic control and reconfiguration of
internal parameters and functionalities of a distributed
multimedia application
I GIỚI THIỆU
Trong môi trường phân bố có thể có nhiều ứng
dụng đa phương tiện như: video theo yêu cầu (VoD),
hội nghị truyền hình, giám sát bằng hình ảnh … cùng
chia sẻ một nguồn tài nguyên hệ thống hữu hạn Các
ứng dụng này cùng phải chịu sự biến đổi về độ sẵn
sàng của tài nguyên và mong muốn bộ xử lý của
chúng tương thích với sự thay đổi tài nguyên trong hệ
thống để có thể duy trì chất lượng dịch vụ ở một mức
chấp nhận được Đối với các ứng dụng này, việc đảm
bảo chất lượng dịch vụ (QoS) tới người sử dụng có
thể thực hiện bằng cách duy trì một số tham số chất
lượng như: tốc độ khung video mong muốn, tổn thất
thông tin tối thiểu hay độ chính xác giám sát Điều
này đang đặc biệt thách thức trong môi trường mạng
có chia sẻ tài nguyên mà không có sự hỗ trợ QoS
trong hệ thống mạng và hệ điều hành ở lớp dưới Khó
khăn là ở chỗ sự biến đổi về độ sẵn sàng của tài nguyên là không dự báo trước được khi nhiều ứng dụng cùng chia sẻ một nguồn tài nguyên như: bộ xử
lý, băng thông mạng và bộ nhớ Bên cạnh đó, để giảm chi phí cơ sở hạ tầng mạng cho các ứng dụng đa phương tiện phân bố bắt buộc các ứng dụng này phải chia sẻ cơ sở hạ tầng Để giải quyết những khó khăn trên các hệ thống middleware phân bố được sử dụng
để hỗ trợ các ứng dụng chịu được sự thay đổi độ sẵn sàng của tài nguyên lớp dưới Các hệ thống middleware được đặt ở giữa lớp hệ điều hành và lớp ứng dụng Một vai trò chính của hệ thống middleware
là hỗ trợ việc phân phối QoS theo yêu cầu của ứng dụng Trong [1], chúng tôi đã đề xuất một kiến trúc middleware tổng quát cho phép thực hiện tương thích QoS theo các ứng dụng trong các hệ thống đa phương tiện phân bố Trong bài viết này, chúng tôi trình bày thuật toán tương thích động dựa trên lý thuyết điều khiển để tương thích chất lượng dịch vụ sử dụng trong kiến trúc middleware nói trên và kết quả mô phỏng đối với dịch vụ videostream
Đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tương thích QoS như: [2] đưa ra mô hình chung cho tương thích QoS, [3, 9] trình bày phương pháp tương thích buffering, [4] trình bày thuật toán tương thích smoothing, [5] các thuật toán tương thích ưu tiên … Các thuật toán này giải quyết các vấn đề về cơ chế hệ thống, giao thức truyền dẫn, chính sách tương thích Chúng là các giải pháp từng phần liên quan đến vấn
đề tương thích QoS như thế nào Tuy nhiên các giải pháp này không đưa ra một mô hình hay khung mẫu cho quá trình điều khiển tương thích QoS của ứng dụng để có thể diễn giải các đặc tính tương thích QoS
Phương pháp điều khiển tương thích chất lượng dịch vụ
cho kiến trúc middleware nhận biết ứng dụng
A Control Theoretic Approach to QoS Adaptation for Application Aware
Middleware Architecture
Vũ Hoàng Hiếu, Hoàng Đăng Hải
Trang 2như độ ổn định, mức độ phản ứng nhanh với biến đổi
môi trường và độ cân bằng trong việc cung cấp QoS
giữa các ứng dụng với nhau Ngoài ra các giải pháp
này cũng không cho phép phát triển các thuật toán
tương thích mới trong điều kiện mạng có kích thước
lớn hơn và độ tích hợp cao hơn
Bài viết này tập trung xem xét mô hình và thuật
toán điều khiển tương thích QoS cho kiến trúc
middleware mà chúng tôi đã đề xuất trong [1] xuất
phát từ những nghiên cứu trước đây như mô hình
luồng tác vụ [6], mô hình điều khiển cổ điển [7], mô
hình chung cho tương thích QoS [2] và thực hiện việc
chuyển đổi mô hình điều khiển cổ điển thành mô hình
điều khiển tác vụ, đồng thời xem xét thuật toán tương
thích trong mô hình điều khiển tác vụ Thuật toán điều
khiển tương thích QoS dựa trên mô hình lý thuyết
điều khiển cho phép khắc phục các nhược điểm của
các phương pháp tương thích QoS trước đây
II KIẾN TRÚC MIDDLEWARE TƯƠNG
THÍCH NHẬN BIẾT ỨNG DỤNG
Kiến trúc middleware tổng quát cho phép thực hiện
tương thích QoS theo các ứng dụng trong các hệ
thống đa phương tiện phân bố được đề xuất trong [1]
gồm hai lớp, được mô tả trong hình 1
Trong lớp thứ nhất, còn gọi là lớp ứng dụng chung,
bộ điều khiển tương thích ứng dụng chung và bộ đánh
giá tài nguyên hỗ trợ tương thích tài nguyên lớp thấp
bằng cách phản ứng với những thay đổi về độ sẵn sàng của tài nguyên Trong lớp thứ hai, bộ thao tác ứng dụng cụ thể, các profiler của ứng dụng và bộ đàm phán chịu trách nhiệm thực hiện tương thích chức năng ở mức cao đối với mỗi ứng dụng cụ thể, bao gồm ra quyết định khi nào và chức năng ứng dụng nào được phép tham gia vào cung cấp dịch vụ dựa trên các yêu cầu của ứng dụng cụ thể đang chạy được lưu giữ trong profiler của ứng dụng đó Tương tác giữa các thành phần khác nhau của middleware và ứng dụng được thực hiện thông qua một platform cho phép thực hiện các dịch vụ truyền thông, ví dụ như CORBA
Với kiến trúc hai lớp như trên bao gồm bộ điều khiển tương thích chung và bộ thao tác ứng dụng cụ thể, các hoạt động điều khiển do các thành phần này tạo ra sẽ thực hiện điều khiển việc tương thích chất lượng dịch vụ đối với tất cả các ứng dụng chia sẻ cùng một nguồn tài nguyên ở hệ thống đầu cuối, đồng thời điều khiển tương thích chất lượng dịch vụ đối với từng dịch vụ cụ thể dựa trên những tham số cấu hình được thiết lập trong profiler Các thành phần của kiến trúc middleware như trên phù hợp với các thành phần trong mô hình chung cho tương thích QoS đã được đề xuất trong [2]
Với kiến trúc middleware điều khiển như trên, cơ chế nào điều khiển bộ tương thích và bộ thao tác thực hiện tương thích cấu hình của ứng dụng đáp ứng được yêu cầu đảm bảo chất lượng dịch vụ khi có những thay đổi độ sẵn sàng của tài nguyên?
III ĐIỀU KHIỂN TƯƠNG THÍCH QOS TRONG KIẾN TRÚC MIDDLEWRE
Mục đích chính của kiến trúc middleware tương thích trên là quan sát các điều kiện hiện tại của môi trường phân bố và báo hiệu các hành động điều khiển tới các ứng dụng phân bố phức tạp để các hành động hiệu chỉnh tham số hoặc tái cấu hình dịch vụ được thực hiện trong ứng dụng đó Để thực hiện các hành động điều khiển trên, kiến trúc này có hai phần quan
Hình 1 Kiến trúc middleware tương thích nhận biết ứng dụng
Trang 3trọng là bộ điều khiển tương thích và bộ thao tác Ở
mỗi hệ thống đầu cuối cụ thể, mỗi bộ điều khiển
tương thích tương ứng với một loại tài nguyên cụ thể
như bộ xử lý CPU hoặc băng thông mạng
Để thiết kế bộ điều khiển tương thích, trong phần
này xem xét áp dụng mô hình luồng tác vụ được đề
xuất trong [6] cho một hệ thống phân bố, xem xét
chuyển đổi mô hình điều khiển cổ điển trong [7] và áp
dụng vào mô hình luồng tác vụ của một hệ thống phân
bố để đưa ra thuật toán điều khiển tương thích và áp
dụng chúng trong middleware tương thích theo ứng
dụng
1 Mô hình luồng tác vụ
Để thiết kế các thuật toán điều khiển sử dụng lý
thuyết điều khiển, các thành phần của mô hình lý
thuyết điều khiển phải được chuyển đổi thành các
thành phần của kiến trúc middleware điều khiển tương
thích Để thực hiện điều này, mỗi ứng dụng được xem
như là một tập hợp của các thành phần chức năng và
mỗi thành phần chức năng này được coi như một tác
vụ mà chúng thực hiện Các tác vụ là một khối chức
năng sử dụng tài nguyên của hệ thống và thực hiện
một nhiệm vụ cụ thể để tạo ra một kết quả cho một tác
vụ tiếp theo hoặc cho đầu cuối người sử dụng
Mô hình thành phần chức năng như trên đã được đề
xuất trong [6] Trong hình 2a mô tả các thành phần
chức năng của ứng dụng videostream Trong hệ thống
phân bố, ứng dụng videostream trên được coi là một
tập hợp của các thành phần chức năng như mã hóa
khung, truyền dẫn tín hiệu hay giải mã … các thành
phần chức năng này yêu cầu tài nguyên mạng và hệ
thống để thực hiện chức năng xử lý của chúng và tạo
ra một giá trị điều khiển chức năng tiếp theo
Hình 2 Mô hình luồng tác vụ
Với định nghĩa ứng dụng theo các thành phần chức năng như trên, trong hình 2b biểu diễn mô hình luồng tác vụ cho hệ thống videostream, mỗi tác vụ là một thành phần chức năng của ứng dụng và mỗi ứng dụng được chuyển đổi thành một biểu đồ luồng tác vụ có hướng không khép kín của nhiều tác vụ Liên kết có hướng từ tác vụ Ti sang tác vụ Tj chỉ ra rằng tác vụ Tj
sử dụng kết quả của tác vụ Ti Để thực hiện một tác vụ
Ti thì hệ thống phải cung cấp một lượng tài nguyên nào đó
2 Chuyển đổi mô hình điều khiển cổ điển thành
mô hình điều khiển tác vụ
Mô hình điều khiển cổ điển [7] được mô tả như hình 3a Trong đó một “Thiết bị” được điều khiển bởi một “Bộ điều khiển”, trạng thái bên trong của thiết bị này được xác định bởi bộ điều khiển theo một thuật toán điều khiển xác định Thuật toán điều khiển tạo ra tín hiệu điều khiển bằng cách so sánh trạng thái bên trong của thiết bị mà nó quan sát được với giá trị “Đầu vào tham chiếu” Mục đích của hệ thống điều khiển cổ điển là hướng cho “Thiết bị” không bị ảnh hưởng bởi
“Nhiễu”
Dựa trên mô hình luồng tác vụ, mô hình điều khiển tác vụ tập trung vào một tác vụ cụ thể (Ti) coi là một tác vụ ứng dụng Khi tác vụ ứng dụng này được thực hiện, nó yêu cầu hệ thống phải cung cấp một lượng tài nguyên nào đó Với một nguồn tài nguyên hữu hạn, hệ thống có thể đáp ứng hoặc không đáp ứng được các yêu cầu tài nguyên này Vì vậy số yêu cầu tài nguyên của một tác vụ cần phải được điều khiển tương thích với độ sẵn sàng của tài nguyên hệ thống Áp dụng mô
Trang 4hình điều khiển cổ điển cho một tác vụ ứng dụng cụ
thể để nhận được mô hình điều khiển tác vụ bao gồm
các thành phần như sau:
(1) Tác vụ ứng dụng: là tác vụ thực hiện một chức
năng cụ thể của ứng dụng và được điểu khiển tương
thích
(2) Tác vụ tương thích: nó có chức năng giống bộ
điều khiển trong mô hình điều khiển cổ điển và thực
hiện thuật toán điều khiển Đầu ra của tác vụ điều
khiển là các báo hiệu điều khiển ứng dụng mà có thể
điều khiển từng ứng dụng cụ thể và thực hiện tương
thích chất lượng
(3) Tác vụ quan sát: tác vụ này thực hiện quan sát
và đánh giá trạng thái của tác vụ ứng dụng và báo
hiệu cho tác vụ tương thích
Hình 3 Mô hình điều khiển tác vụ
Trạng thái tác vụ của một tác vụ ứng dụng được xác
định bởi các tham số đặc trưng cho tính động bên
trong của tác vụ ứng dụng đó Trạng thái tác vụ quan
trọng nhất trong bất kỳ tác vụ ứng dụng nào là tham
số liên quan đến yêu cầu tài nguyên của nó Ví dụ
trong ứng dụng videostream “tốc độ truyền dẫn
khung” là tham số đặc trưng cho trạng thái tác vụ của
tác vụ truyền dẫn liên quan đến tài nguyên băng thông
của mạng
Hình 3b mô tả mô hình điều khiển tác vụ theo lý
thuyết điều khiển
Biến đổi động về yêu cầu tài nguyên trong mô hình điều khiển tác vụ được mô tả bằng phương trình có dạng sau:
[x t u t w t t]
f t x dt
t
dx( )≅ •()= (), (), (), (1)
[x t v t t]
h t
Với mô hình trên, các yêu cầu tài nguyên khi thực hiện một ứng dụng được coi là cân bằng khi:
[x t u t w t t]
f t
x•()=0= ( ), ( ), (), (3)
Ở đây x ký hiệu cho vector trạng thái của tác vụ, u
là vector các tham số đầu vào có thể điều khiển được,
z là vector các tham số đầu ra quan sát được của tác
vụ, w là các biến không điều khiển được của tác vụ và
v là vector lỗi quan sát
Mô hình tổng quát trên (có thể phi tuyến và biến đổi theo thời gian) là quá phức tạp để xem xét một thuật toán điều khiển phù hợp Vì vậy để đơn giản, hàm biến đổi động về yêu cầu tài nguyên của tác vụ ứng dụng được đơn giản hóa bằng các hàm tuyến tính rời rạc và yêu cầu tài nguyên của ứng dụng có thể được
mô tả như sau:
) 1 ( ) 1 ( ) 1 ( ) (k =Φx k− +Γu k− +w k−
) ( )
) ( ) ( )
Với k = 1, … , kmax là các khoảng thời gian; Φ, Г, H
là các hệ số rời rạc của hệ thống; y là vector các tham
số đầu ra quan sát không có lỗi của tác vụ
Với mô hình yêu cầu tài nguyên của ứng dụng như trên, mô hình điều khiển tác vụ rời rạc được mô tả như hình 4 Ký hiệu: ri(k) được sử dụng trong hình 4 để
mô tả số lượng tài nguyên gốc do tác vụ Ti yêu cầu trong khoảng thời gian [k, k+1] để thực hiện chức năng của nó và ui(k) mô tả số lượng tài nguyên cho phép trong khoảng [k, k+1] bởi tác vụ tương thích Ti Như đã xem xét ở trên, một ứng dụng phân bố được coi là một luồng tác vụ gồm nhiều tác vụ ứng dụng
Các tác vụ ứng dụng này cùng chia sẽ một nguồn tài nguyên và mỗi tác vụ ứng dụng yêu cầu tài nguyên hệ thống để thực hiện tác vụ của chúng Các yêu cầu tài nguyên này hoặc được cấp phép hoặc phải xếp vào hàng đợi Giả thiết hệ thống có thể cấp phép cho c yêu
Trang 5cầu tài nguyên trong một khoảng thời gian nhất định
cho nhiều tác vụ ứng dụng đang chạy Phương trình
mô tả biến đổi tài nguyên được cấp phép có dạng như
(7)
Hình 4 Mô hình rời rạc cho tác vụ ứng dụng
( )
M k i i
−
=
− −
0
1
1 1
1 (7)
Với x(k) là tổng số các yêu cầu tài nguyên có trong
hàng đợi được thực hiện bởi tất cả các tác vụ ứng
dụng ở thời điểm k, u(k) là tốc độ yêu cầu được điều
khiển bởi bộ điều khiển (công việc điều khiển tương
thích) và M(k) là tổng số các tác vụ của ứng dụng hiện
hành, c là tốc độ cấp phép yêu cầu
3 Thuật toán điều khiển tương thích trong mô
hình điều khiển tác vụ
Mô hình rời rạc của tác vụ ứng dụng trong mô hình
điều khiển tác vụ được mô tả trong phương trình (7)
Tương tự với mô hình lý thuyết điều khiển cổ điển,
mục đích của điều khiển các tác vụ là duy trì tổng các
yêu cầu tài nguyên trong hàng đợi x(k) của ứng dụng
nằm xung quanh giá trị tham chiếu xc(k) Để thực hiện
được điều này, tác vụ tương thích thực hiện một thuật
toán điều khiển nào đó dựa trên những yêu cầu tài
nguyên trong hàng đợi x(k) và giá trị tham chiếu xc(k)
để hiệu chỉnh yêu cầu tài nguyên ui(k) Theo phương
pháp tính toán trong [7] yêu cầu hiệu chỉnh tài nguyên
ui(k) của tác vụ tương thích Ti thỏa mãn x(k) được mô
tả bởi phương trình sau:
+
−
)
i
+β { [x c(k)−x(k)] [− x c(k−1)−x(k−1)] } (8) Với α và β là các hệ số cấu hình của tác vụ tương thích
Với mô hình tác vụ ứng dụng rời rạc được mô tả bằng phương trình (7), thuật toán điều khiển trong tác
vụ tương thích mô tả bởi phương trình (8) sẽ thỏa mãn yêu cầu trên Tương tự mô hình điều khiển cổ điển,
mô hình điều khiển tác vụ có một số đặc tính sau:
− Trạng thái cân bằng: là trạng thái số yêu cầu tài nguyên trong hàng đợi x(k) trong hệ thống được xác định bởi phương trình (4) hội tụ về một trạng thái ổn định, tương ứng với giá trị tham chiếu
xc(k)
− Độ ổn định: với các giá trị tương ứng của α và β để
hệ thống ổn định về trạng thái cân bằng
Bài viết này không tập trung vào việc tính toán các
hệ số α và β để hệ thống ổn định Tuy nhiên đã chứng minh được rằng với điều kiện α > 0, β > 0 và α + β < 4γ (γ là trọng số động của hệ thống) thì hệ thống sẽ hội tụ về trạng thái cân bằng động
Đây là một thuật toán điều khiển rất hiệu quả minh họa cho khả năng của mô hình điều khiển tác vụ cho phép diễn giải tính động của hệ thống tương thích và tham chiếu đến mô hình điều khiển cổ điển Tính đúng đắn và hợp lý của mô hình điều khiển tác vụ được chứng minh bằng thực nghiệm trong phần sau
4 Ứng dụng mô hình điều khiển tác vụ trong kiến trúc middleware
Sử dụng mô hình điều khiển tác vụ để tương thích QoS trong kiến trúc middleware của chúng tôi cho thấy middleware có khả năng tương thích QoS khi có những thay đổi nhỏ về độ sẵn sàng của tài nguyên, cũng như khi có những thay đổi lớn về độ sẵn sàng của tài nguyên Tác vụ tương thích của mô hình điều khiển tác vụ trong kiến trúc middleware được thiết kế theo phân cấp
Đối với những thay đổi nhỏ về độ sẵn sàng của tài nguyên, điều khiển tương thích được thực hiện bởi một bộ điều khiển tuyến tính (ví dụ bộ điều khiển PID) để điều chỉnh tốc độ yêu cầu dẫn đến những thay đổi nhỏ của QoS Đối với những thay đổi lớn về độ
Trang 6sẵn sàng của tài nguyên, cần phải có yêu cầu thay đổi
chức năng xử lý thường xuyên trong tác vụ ứng dụng,
nghĩa là thay đổi cấu hình xử lý của ứng dụng Vì vậy
với kiểu thay đổi như vậy có thể được điều khiển bằng
bộ điều khiển fuzzy mà chúng tôi coi như là bộ cấu
hình Cùng với các tác vụ quan sát, các bộ điều khiển
tuyến tính và điều khiển fuzzy được tích hợp để hình
thành cơ chế điều khiển lai
Hình 5 Mô hình điều khiển tác vụ trong kiến trúc
middleware
Hình 5 mô tả ứng dụng của mô hình điều khiển tác
vụ trong kiến trúc middleware Trong mô hình này
trình bày hai kiểu của bộ tương thích tương ứng với
hai kiểu nguồn tài nguyên trong mạng là băng thông
của mạng và tải xử lý của CPU Tác vụ tương thích
trong hai bộ tương thích sẽ tạo ra tín hiệu điều khiển
để điều khiển bộ thao tác lựa chọn cấu hình ứng dụng
phù hợp với biến đổi của tài nguyên mạng
IV KẾT QUẢ MÔ PHỎNG
Để kiểm tra khả năng ứng dụng mô hình điều khiển
tác vụ trong kiến trúc middleware nhận biết ứng dụng,
mô phỏng thực nghiệm cho ứng dụng videostream
được thực hiện Trong thực nghiệm này, cả kiến trúc
middleware tương thích nhận biết ứng dụng và ứng
dụng videostream được thực hiện trên nền Windows
NT 4.0 sử dụng Visual C++ 6.0 Ngoài trừ việc truyền
thông giữa các bộ đàm phán của kiến trúc middleware
tương tác với nhau thông qua socket mạng chuẩn, tất
cả các thành phần khác tương tác với nhau thông qua
platform CORBA (như đã mô tả trong [1]) Hình 6 mô
tả các thành phần của middleware trong thực nghiệm
Hình 6 Middleware điều khiển với ứng dụng videostream
trong môi trường phân bố
1 Cấu hình hệ thống middleware với ứng dụng videostream:
Bộ tương thích: Bộ tương thích trong ứng dụng
videostream sử dụng thuật toán điều khiển tương thích
mô tả trong mục III.4 Bộ tương thích thực hiện tương thích yêu cầu tài nguyên với hai loại tài nguyên là CPU và băng thông mạng Bộ tương thích CPU được thực hiện dựa trên giá trị kích thước khung video quan sát được từ ứng dụng chỉ ra tải CPU Bộ tương thích băng thông được thực hiện dựa trên các giá trị tốc độ khung quan sát được chỉ ra băng thông truyền dẫn Đầu ra của các bộ tương thích được đưa đến bộ thao tác để xác định lựa chọn tương thích
Bộ đánh giá tài nguyên: Bộ đánh giá nguyên thực
hiện tác vụ quan sát để đưa ra giá trị của tham số QoS của ứng dụng cụ thể Trong trường hợp thực nghiệm này tác vụ quan sát sẽ thực hiện đánh giá các tham số kích thước khung và tốc độ khung video của ứng dụng videostream Kết quả quan sát của tác vụ này sẽ được đưa đến tác vụ tương thích trong bộ điều khiển để thực hiện thuật toán tương thích
Bộ thao tác: Bộ thao tác nhận các giá trị ui(k) từ bộ tương thích trong cả bộ tương thích CPU và bộ tương
thích băng thông Hai biến hình thức tải và băngthông
được sử dụng để mô tả độ sẵn sàng của tài nguyên CPU và băng thông mạng Các biến hình thức này có
thể nhận các giá trị cao, trung_bình hoặc thấp Hai biến hình thức cpu_chon và bt_chon dùng để chỉ các
Trang 7lựa chọn tương thích tải CPU hoặc tương thích băng
thông Các biến hình thức này có thể nhận các giá trị
là nén hoặc giảinén Ví dụ bộ thao tác sẽ thực hiện
thay đổi cấu hình của dịch vụ như sau:
/*linguistic rules corresponding to bandwidth*/
if băngthông is cao then cpu_chon isn’t nén
if băngthông is thấp then cpu_chon is nén
2 Xử lý tương thích
Ứng dụng videostream được điều khiển bởi kiến
trúc middleware dựa trên sự thay đổi động nguồn tài
nguyên CPU và băng thông của mạng Xử lý tương
thích được thực hiện như sau:
Tương thích CPU: Tác vụ quan sát trong bộ tương
thích CPU quan sát mức độ sử dụng CPU hay tải CPU
của ứng dụng Tác vụ tương thích thực hiện thuật toán
tương thích và tạo ra giá trị yêu cầu tài nguyên mới
uCPU(k)
Tương thích băng thông: Vì băng thông là một phần
tài nguyên có thể điều khiển được, bộ tương thích
băng thông được sử dụng trong kiến trúc middleware
Để quan sát các trạng thái trong tác vụ truyền dẫn, tác
vụ quan sát trong bộ tương thích băng thông ở phía
server giám sát mức độ sử dụng băng thông hiện hành
của ứng dụng bằng cách quan sát thông lượng truyền
dẫn giữa server và client Client nhận biết tất cả các
dữ liệu thu để tác vụ quan sát phía server có thể tính
toán lượng băng thông sử dụng và đưa ra yêu cầu tài
nguyên trong hàng đợi Tác vụ tương thích phía server
sau đó hoàn thành quá trình tương thích, bộ thao tác
sẽ thay đổi cấu hình của ứng dụng cho phù hợp
3 Ảnh hưởng của các tham số cấu hình đến số
lượng yêu cầu tài nguyên của hệ thống
Với mô hình thực nghiệm kiến trúc middleware có
sử dụng bộ điều khiển tác vụ trên nền Window NT và
chạy ứng dụng videostream như trên, khi thay đổi các
tham số cấu hình α và β của bộ tương thích mức độ ổn
định của hệ thống cũng thay đổi theo
Hình 7 chỉ ra ảnh hưởng của các hệ số α và β đến
độ ổn định của hệ thống middleware Trong hình 7a, α
là thấp và β là cao Điều này thể hiện hệ thống yêu
cầu độ ổn định cao và không cần phải phản ứng
nhanh Ngược lại, hình 7b chỉ ra kết quả thực nghiệm với yêu cầu hệ thống phản ứng nhanh khi α là cao và
β là thấp
Hình 7 Ảnh hưởng của tham số cấu hình
4 Ứng dụng VideoStream trong điều kiện tài nguyên thay đổi
Trong thực nghiệm trên, chúng tôi đã tiến hành đo tốc độ khung của ứng dụng videostream trong các điều kiện tài nguyên khác nhau Hình 8 trình bày kết quả thực nghiệm
Hình 8a mô tả sự thay đổi băng thông của mạng, hình 8b mô tả kích thước khung khi không có sự điều khiển tương thích của bộ tương thích trong middleware, hình 8c mô tả kích thước khung khi có sự điều khiển của bộ tương thích trong middleware Kết quả cho thấy, trong trường hợp có sự điều khiển của
bộ tương thích, tham số kích thước khung của luồng videostream ít thay đổi hơn khi có sự biến đổi của tài nguyên mạng (băng thông mạng)
Trang 8Dựa trên kết quả thực nghiệm và phân tích các đặc
tính, chúng tôi kết luận khung mẫu điều khiển lai,
gồm bộ điều khiển PID tuyến tính và bộ điều khiển
fuzzy là hiệu quả cho việc duy trì độ ổn định của các
tham số QoS nhạy cảm và thể hiện một giải pháp linh
hoạt cho tương thích QoS trong các hệ thống
middleware phân bố
V ĐÁNH GIÁ VÀ KẾT LUẬN
Bài viết này đã trình bày hai vấn đề chính của mô
hình điều khiển tác vụ là: (1) đưa ra mô hình toán học
của tác vụ ứng dụng; (2) thuật toán điều khiển tương
thích QoS cho tác vụ ứng dụng Trên cơ sở mô hình
toán học và thuật toán điều khiển này, bộ tương thích
trong kiến trúc middleware điều khiển tương thích
ứng dụng được thiết kế để có thể tương thích với hai
kiểu tài nguyên mạng là băng thông mạng và tải CPU
Kết quả thực nghiệm kiến trúc middleware điều
khiển tương thích QoS sử dụng mô hình điều khiển
tác vụ cho ứng dụng videostream đã chứng minh tính
hợp lý và tính thực tiễn của kiến trúc này
Kiến trúc middleware điều khiển tương thích QoS
nhận biết ứng dụng trên có thể mở rộng cho nhiều ứng
dụng cùng chạy trong một hệ thống đầu cuối Để thực hiện điều này cần tiếp tục xem xét cấu trúc của profiler trong kiến trúc tổng quát
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] V.H.HIEU and H.D.HAI, “An Application-aware Adaptive Middleware Architecture for Distributed Multimedia Systems”, Proc the First International
Conference on Communications and Electronics (ICCE2006), HaNoi- VietNam, Oct-2006
[2] D.WADDINGTON and D.HUTCHISON, “A General Model for QoS Adaptation”, 6th IWQoS
Proceedings Napa Valley California May 18-20, pp 275-278, 1998
[3] M.SHOR, K.LI and J.WALPOLE, “Application of Control Theory to Modeling and Analysis of Computer Systems”, in Proceedings of
Japan-USA-Vietnam Workshop on Research and Education in Systems, 2000
[4] G.CAO, W.FENG and M.SINGHAL, “Online VBR Video Traffic Smoothing”, in Proceedings of 8th IEEE International Conference on Computer Communications and Networks, 1999, pp.502-507
[5] H.CHU and K.NAHRSTEDT, “CPU Service Classes for Multimedia Applications”, in
Hình 8 Kết quả thực nghiệm
Trang 9Proceedings of IEEE International Conference on
Multimedia Computing and Systems, 1999
[6] D.HULL, A.SHANKAR, K.NAHSTEDT and J.LIU,
“An End-to-End QoS Model and Management
Architecture”, in Proceedings of IEEE Workshop on
Middleware for Distributed Real-Time Systems and
Services, Dec.1997, pp.82-89
[7] G.FRANKLIN and J.POWELL, “Digital Control of
Dynamic Systems, Addison-Wesley, 1981
[8] W.KALTER, B.LI, W.JEON, K.NAHRSTEDT and
J.SEO, “A Gateway-Assited Approach Toward QoS
Adaptations”, in Proceedings of IEEE International
Conference on Multimedia and Expo, Aug 2000,
pp.855-858
[9] C.H.YOUN, H.SONG and J.E.KEUM, “A Shared Buffer-Constrained Topology Reconfiguration Scheme in Wavelength Routed Networks”, ETRI
Journal, Vol.27, No.5, Dec.2005
Ngày nhận bài: 03/04/2007
SƠ LƯỢC TÁC GIẢ
VŨ HOÀNG HIẾU
Sinh năm 1971
Tốt nghiệp Đại học năm
1993, nhận bằng Thạc sỹ kỹ thuật năm 2001 tại Đại học Bách khoa Hà Nội ngành Điện
tử - Viễn thông, là NCS khóa
2003 tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Công tác tại: Cục Quản lý Chất lượng Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ
thông tin - Bộ Thông tin và Truyền thông
Lĩnh vực nghiên cứu: Chất lượng dịch vụ, Tương
thích chất lượng dịch vụ, Truyền thông đa phương
tiện
E-mail: vhhieu@mpt.gov.vn
HOÀNG ĐĂNG HẢI
Sinh năm 1960
Tốt nghiệp Đại học kỹ thuật năm 1984, Tiến sỹ kỹ thuật năm 1999, Tiến sỹ khoa học năm 2002 tại Cộng hòa Liên bang Đức chuyên ngành Viễn thông Tin học
Công tác tại: Trung tâm VNCERT, Bộ Thông tin và Truyền thông
Lĩnh vực nghiên cứu: Các hệ thống truyền thông, công nghệ mạng mới, phần mềm điều khiển mạng, quản lý lưu lượng, quản lý mạng, chất lượng dịch vụ, giao thức truyền thông, đa phương tiện, an ninh mạng
Email: hoangdanghai@hn.vnn.vn