Trong bài "Sự khác nhau giữa ca dao ng-ời Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc" của nhà nghiên cứu Nguyễn Ph-ơng Châm Tạp chí văn hoá dân gian số 3, 1997, tác giả không những tìm hiểu những nét kh
Trang 11 Lí do chọn đề tài
Địa danh có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của con ng-ời Nhờ địa danh mà con ng-ời xác nhận đ-ợc nơi sinh sống, c- trú, địa điểm sinh hoạt văn hóa, xã hội Buồn vui của mỗi con ng-ời cũng th-ờng gắn với một
địa danh cụ thể Chính vì vậy, địa danh xuất hiện trong văn học nh- một điều tất yếu Các nhà thơ, nhà văn từ dân gian, trung đại cho đến hiện đại đều sử dụng địa danh trong sáng tác của mình Ca dao xứ Nghệ - một bộ phận của văn học dân gian cũng không nằm ngoài quy luật này
Việc tìm hiểu địa danh trong ca dao xứ Nghệ là xuất phát từ thực tế ấy: hầu nh- mọi nội dung của ca dao vùng viễn trấn, từ tiếng hát yêu th-ơng, tình nghĩa, nỗi tủi cực, đắng cay, nỗi nhớ mong khắc khoải, niềm vui, niềm hạnh phúc, nỗi buồn hay tình yêu nam nữ, tình yêu gia đình, lòng tự hào về quê h-ơng đất n-ớc đều gắn với những địa danh cụ thể Các dịa danh đó đã đi vào ca dao xứ Nghệ tạo thành "kho vàng" cho vùng đất "địa linh nhân kiệt"
Không chỉ căn cứ từ sự gắn kết chặt chẽ của địa danh với các nội dung phản ánh, việc tìm hiểu địa danh trong ca dao xứ Nghệ còn gắn liền với lòng yêu mến ca dao vùng "đất cổ n-ớc non nhà" Ngoài ra, việc nghiên cứu một yếu tố thuộc thi pháp văn học dân gian địa ph-ơng sẽ trực tiếp góp phần vào việc giảng dạy ca dao xứ Nghệ nói riêng, ca dao ng-ời Việt nói chung
Mặc dù có những hạn chế và thiếu sót vì những nguyên nhân khách quan và chủ quan nh-ng đề tài này là dịp may để chúng tôi quan tâm vấn đề mình yêu thích, đồng thời cũng góp phần thiết thực vào việc tìm hiểu những nét độc đáo của văn học dân gian địa ph-ơng ‟ một xu h-ớng đang đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác Bởi những lí do đó, chúng tôi quyết
định chọn đề tài "Địa danh trong ca dao xứ Nghệ" cho khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 2đề nhận đ-ợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đứng từ các góc độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp, cụ thể hay khái quát, các nhà khoa học đã nhiều lần đề cập đến vấn đề này
Trên bình diện xã hội học, có thể kể đến các công trình tập hợp khảo sát
nghiên cứu địa danh nh- "Địa danh học" của Nguyễn Văn Âu, "Địa danh ở
thành phố Hồ Chí Minh" của Lê Trung Hoa,“Thử bàn về địa danh Việt Nam”
của Trần Thanh Tâm, "Đặc điểm địa danh thành phố Hải Phòng" của Nguyễn
Kiên Tr-ờng Trong những công trình này, các tác giả đã trình bày khá đầy đủ
và hệ thống những vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu địa danh (đối t-ợng, nội dung, nguyên tắc, ph-ơng pháp nghiên cứu ), tóm lại là những vấn đề lý
thuyết, cơ sở lí luận về địa danh Ngoài ra, công trình “Lịch sử địa danh Việt
Nam” (Nxb Thanh niên ‟ TP Hồ Chí Minh, 2008) của GS Vũ Ngọc Khánh đã
đề cập đến mục đích - ý nghĩa, biện pháp cấu trúc địa danh, việc sử dụng các
địa danh và sự biến hoá các địa danh Việt Nam Tuy không trực tiếp đề cập
đến yếu tố địa danh trong ca dao nh-ng đây thực sự là những công trình nghiên cứu gợi mở giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong luận văn này
Trên bình diện ngôn ngữ học, có thể nhắc đến "Mối liên hệ về ngôn ngữ
cổ đại ở Đông Nam á qua một vài tên sông” của Hoàng Thị Châu, "Địa danh H-ơng Sơn d-ới góc độ ngôn ngữ" của Bùi Đức Nam hay luận văn của
Nguyễn Hữu Duy: "B-ớc đầu khảo sát đặc điểm địa danh huyện Yên Thành"
Những công trình này tuy chỉ đề cập đến địa danh của một khu vực, một vùng
đất cụ thể nh-ng đó là những gợi ý quý báu cho chúng tôi
Trên bình diện văn học, địa danh cũng dành đ-ợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tr-ớc tiên, có thể kể đến GS.TS Nguyễn Xuân Kính với
"Thi pháp ca dao" (NXB KH- Hà Nội, 1992) Trong công trình này, tác giả đã
đề cập đến vấn đề địa danh trong ca dao trên các ph-ơng diện: phân loại địa
Trang 3hoá địa danh, sự chuyển đổi địa danh Có thể nói, những vấn đề trọng yếu của
việc nghiên cứu địa danh trong văn học đã đ-ợc tác giả Thi pháp ca dao đề
cập tới Chính vì vậy, phần nghiên cứu này trở thành một tài liệu tham khảo hết sức quan trọng với chúng tôi
Ngoài ra, bài viết "B-ớc đầu tìm hiểu tên làng với tục ngữ, ca dao, dân
ca" của tác giả Nguyễn Thanh đã đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa tên
làng với tục ngữ, ca dao và dân ca Bài "ý nghĩa biểu tr-ng của từ chỉ địa danh
trong ca dao Nam Bộ" của tác giả Trần Văn Nam cũng đề cập những địa danh
với những ý nghĩa khác nhau trong ca dao Tuy không đi vào tìm hiểu địa danh trong ca dao xứ Nghệ nh-ng những bài viết này đã là những gợi ý quý báu về mặt ph-ơng pháp luận cho chúng tôi
Bên cạnh những công trình nêu trên, còn có thể nhắc tới những bài viết
ít nhiều đã đề cập đến yếu tố địa danh trong ca dao xứ Nghệ Trong bài "Sự
khác nhau giữa ca dao ng-ời Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc" của nhà nghiên cứu
Nguyễn Ph-ơng Châm (Tạp chí văn hoá dân gian số 3, 1997), tác giả không những tìm hiểu những nét khác biệt cơ bản giữa ca dao xứ Bắc và ca dao xứ Nghệ mà còn đi sâu giải thích nguyên nhân của sự khác biệt giữa địa danh trong ca dao xứ Nghệ với các vùng miền khác để làm rõ nét độc đáo của ca dao vùng viễn trấn Về cách sử dụng địa danh, tác giả nhận xét: "Nhắc đến tên sông nh- bao nơi khác nh-ng ca dao xứ Nghệ dùng một cặp núi sông nh- thế
đã trở thành một mô típ quen thuộc th-ờng gặp trong ca dao xứ Nghệ (2) (trang 15)
Luận văn thạc sĩ của Phan Thị Mai về "Nét riêng trong ca dao xứ Nghệ"
cũng ít nhiều đề cập đến yếu tố địa danh
Ngoài ra, bài viết “Đất nước, con người xứ Nghệ qua kho tàng ca dao
xứ Nghệ" của TS Tr-ơng Xuân Tiếu (Tạp chí văn hoá dân gian số 3, 1997) đã
Trang 4quả cảm những tên núi, tên sông, tên dòng họ, những con ng-ời cụ thể ở xứ Nghệ đã b-ớc vào trong những câu hò, điệu hát, bài ca, góp phần tô thắm những nét son truyền thống trong bản sắc văn học dân gian xứ Nghệ”
Những kết luận này sẽ giúp ta tìm hiểu những địa danh làm nên bản sắc riêng của con ng-ời trong ca dao xứ Nghệ
Nh- vậy có thể nói, tất cả những công trình nghiên cứu và các bài viết, các luận văn thạc sĩ nêu trên dù đề cập trực tiếp hay gián tiếp, cụ thể hay khái quát những khía cạnh khác nhau của địa danh nh-ng đều gợi cho tôi những suy nghĩ quý báu, là chìa khoá để chúng tôi thực hiện khoá luận của mình
đ-ợc tốt hơn
3 Đối t-ợng nghiên cứu
Bộ sách "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" do Ninh Viết Giao chủ biên bao gồm 3 phần s-u tập:
A Ca dao của ng-ời Việt
B Ca dao của ng-ời Thái
C Đồng dao nh-ng trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu địa danh xứ Nghệ ở phần A (Ca dao của ng-ời Việt) đ-ợc in trọn vẹn trong cuốn
Kho tàng ca dao xứ Nghệ - tập 1 và 275 trang sách của Kho tàng ca dao xứ Nghệ - tập 2, NXB Nghệ An, 1996
Về khái niệm ca dao xứ Nghệ, chúng tôi dựa vào quan điểm của các nhà s-u tầm và biên soạn cuốn sách này: ca dao xứ Nghệ là những lời ca dao đ-ợc s-u tầm qua những ng-ời đang sống trên đất Nghệ Tĩnh vào thời điểm ghi chép
Trang 54 Mục đích nghiên cứu
Từ việc thống kê, phân loại các địa danh trong ca dao xứ Nghệ chúng tôi tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Chỉ ra cách sử dụng địa danh trong ca dao xứ Nghệ
- Nêu ý nghĩa của việc sử dụng địa danh trong ca dao xứ Nghệ
5.Ph-ơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi kết hợp nhiều ph-ơng pháp nghiên cứu khác nhau nh-: ph-ơng pháp khảo sát, thống kê t- liệu, ph-ơng pháp phân loại, so sánh đối chiếu và phân tích lí giải để tìm ra những đặc tr-ng riêng của địa
danh trong ca dao xứ Nghệ
6.Bố cục luận văn
Đề tài của chúng tôi bao gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung, và kết luận Phần nội dung đ-ợc trình bày bởi 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Những vấn đề chung
Ch-ơng 2: Cách sử dụng địa danh trong ca dao xứ Nghệ
Ch-ơng 3: ý nghĩa của việc sử dụng địa danh trong ca dao xứ Nghệ Ngoài ra, luận văn còn có phần tài liệu tham khảo
Trang 6Ch-ơng 1: Những vấn đề chung 1.1 Một vài nét về địa danh
1.1.1 Khái niệm địa danh
Khi bàn về địa danh, từ tr-ớc đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đ-a
ra những định nghĩa khác nhau
+Theo GS Đào Duy Anh: "Địa danh là tên gọi các miền đất" [1, 268] +Theo Nguyễn Văn Âu: “Địa danh là tên đất gồm: sông, núi, làng mạc hay là tên đất các địa ph-ơng, các dân tộc" [2, 18]
+ Theo Lê Trung Hoa: "Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định đ-ợc dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các
Định nghĩa của Lê Trung Hoa thì nhấn mạnh “địa danh là những từ ngữ cố
định ” song trong thực tế, sự cố định của địa danh chỉ mang tính chất t-ơng
đối Có rất nhiều địa danh bị biến đổi do nguyên nhân bên trong và bên ngoài ngôn ngữ, ngoài cả ý muốn của chủ thể đặt tên Định nghĩa của Nguyễn Kiên Tr-ờng đòi hỏi các đối t-ợng địa lí của địa danh phải "có vị trí xác định trên
bề mặt trái đất" Theo chúng tôi, cách xác định nh- vậy là gò bó theo nghĩa
đen Địa danh tuy là tên đất nh-ng còn hàm nghĩa là nơi chốn Nơi chốn ấy không chỉ đ-ợc xác định trên bề mặt trái đất mà trong t-ơng lai còn có thể
Trang 7đ-ợc xác định trên cả Mặt Trăng và Sao Hoả với đà phát triển nh- vũ bão của khoa học kĩ thuật hiện nay
Hơn nữa, khi tìm hiểu địa danh trong ca dao xứ Nghệ, chúng tôi còn có một vấn đề cần phải l-u tâm: địa danh trong văn học không hoàn toàn trùng khít với địa danh trong đời sống Có nhiều địa danh chỉ tồn tại trong văn học chứ không hề có thực trong đời sống con ng-ời, không xuất hiện nh- một thực thể hữu hình tr-ớc mắt chúng ta (chẳng hạn: sông Ngân, cầu Ô Th-ớc, chốn Bồng Lai, cung Quảng ) Ca dao xứ Nghệ có 13 địa danh loại này Tuy nhiên, do loại địa danh này chỉ chiếm 1 bộ phận nhỏ (13/839 địa danh theo
khảo sát của chúng tôi ở Kho tàng ca dao xứ Nghệ) nên chúng tôi nhất trí xem
địa danh là những từ hoặc ngữ đ-ợc chọn dùng làm tên riêng để gọi những đối t-ợng địa lí tự nhiên hoặc nhân văn (do con ng-ời kiến tạo)
Khái niệm địa danh nêu trên là cơ sở đầu tiên để chúng tôi thực hiện đề tài Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu địa danh xuất hiện trong ca dao
xứ Nghệ, do vậy, việc khảo sát thống kê t- liệu dựa trên cơ sở những t- liệu cụ thể có sẵn Đồng thời, khi đi vào tìm hiểu ý nghĩa của việc sử dụng địa danh trong ca dao và cách sử dụng địa danh của nó cũng cần làm rõ đặc tr-ng văn hóa trong cách đặt tên - định danh - của vùng đất giàu bản sắc văn hoá này
1.1.2 Phân loại địa danh
Việc phân loại địa danh cũng là một vấn đề phức tạp, khó khăn Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau mà từ tr-ớc đến nay các nhà nghiên cứu đã đ-a
ra những cách phân loại khác nhau
Tác giả Trần Thanh Tâm trong "Thử bàn về địa danh Việt Nam" đã chia
địa danh thành 6 loại:
* Loại đặt theo địa hình và đặc điểm
* Loại đặt theo tên ng-ời, tôn giáo, lịch sử
* Loại đặt theo không gian và thời gian
* Loại đặt theo hình thái, chất đất, khí hậu
Trang 8* Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
* Loại đặt theo sinh hoạt xã hội [ 17, 66 -71]
Tác giả Lê Trung Hoa trong “Những đặc điểm chính của địa danh thành
phố Hồ Chí Minh” đã phân loại địa danh theo 2 tiêu chí khác nhau:
* Dựa vào thuộc tính của đối t-ợng, ông chia địa danh thành 2 nhóm: + Địa danh chỉ các đối t-ợng tự nhiên ( ví dụ: núi, đồi, sông, rạch ) + Địa danh chỉ các đối t-ợng nhân tạo (gồm 3 nhóm nhỏ: địa danh chỉ công trình xây dựng, địa danh hành chính, địa danh vùng ) [9, 25]
* Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên, ông chia địa danh thành 2 nhóm: + Địa danh thuần Việt
+ Địa danh không thuần Việt (trong đó có 3 nhóm nhỏ: địa danh Hán Việt, địa danh gốc Khơ Me, địa danh gốc Pháp) [9, 18]
Tác giả Nguyễn Kiên Trường trong “Đặc điểm địa danh thành phố Hải Phòng” lại đưa ra 3 tiêu chí để phân loại địa danh
*Dựa vào thuộc tính đối t-ợng, ông chia ra:
+ Địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên (gồm 2 nhóm):
- Địa danh đ-ờng phố và địa danh chỉ công trình xây dựng:
„ Địa danh đường phố: đường, ngã, ngõ
„ Địa danh chỉ công trình xây dựng: bể bơi, bến, cảng, chợ, chùa, nhà thờ [20, 15]
* Theo nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh Hải Phòng ra các loại:
Trang 9+ Địa danh có nguồn gốc Hán ‟ Việt + Địa danh có nguồn gốc Thuần Việt + Địa danh có nguồn gốc từ tiếng Pháp + Địa danh có nguồn gốc khác nh-: Tày-Thái, Việt-M-ờng, Chàm, Môn-Khơme, Mã lai
+ Địa danh ch-a xác định nguồn gốc [20, 18-19]
*Dựa vào chức năng giao tiếp, ông chia ra:
+Tên gọi chính thức: do nhà n-ớc đặt và có trong các văn bản hành chính
+Tên gọi dân gian: tên quen thuộc trong dân gian +Tên cổ, tên cũ
+Tên khác [20, 21]
Theo chúng tôi, cả 3 cách phân loại nêu trên là bao quát, đầy đủ, mỗi cách đều có tính -u việt của nó Tất nhiên là dựa trên cơ sở kết quả thực tiễn thu đ-ợc qua sự phản ánh của đối t-ợng, tuỳ thuộc vào phạm vi đề tài nghiên cứu và tiêu chí phân loại mà mỗi tác giả đ-a ra cách phân chia tiểu loại khác nhau Cách phân loại của Lê Trung Hoa là hợp lí nh-ng ch-a bao quát đầy đủ
đối t-ợng Trên cơ sở kế thừa những tiêu chí của tác giả Lê Trung Hoa nêu ra, Nguyễn Kiên Trường đã phát triển thêm một tiêu chí nữa là “chức năng giao tiếp của địa danh” biểu hiện trong các lớp tên gọi và cách gọi tên - chức năng này dựa trên hệ quy chiếu không gian và thời gian Chúng tôi cho rằng cách phân loại mà Nguyễn Kiên Tr-ờng nêu trong luận án là khoa học, đầy đủ hơn cả và đó cũng là cách phân loại trong luận văn của chúng tôi
Trang 10trong kho tàng ca dao xứ Nghệ có rất nhiều bài ca dao cổ, nhiều nguồn, có thể
là do những lính thú l-u đồn, những dân tứ chiếng, những đợt sóng chuyển c-
và những ông đồ Nghệ đầu năm đeo tay nải đỏ trong đó có tráp đen đi khắp bốn ph-ơng tìm nghề dạy học ra đi, họ mang theo ca dao Nghệ Tĩnh, lúc về
họ cũng mang theo những bài ca dao của địa ph-ơng khác về Dần dần những bài ca dao nh- thế đã đ-ợc thời gian sàng lọc, gọt giũa, dùi mài cho phù hợp với cái “gu” của người Nghệ - Tĩnh, tất nhiên nó sẽ mang theo ít nhiều “chất” Nghệ Tĩnh
Ngọn nguồn của từng bài ca dao có thể khác nhau song tất cả những bài
ca dao l-u truyền trên đất Nghệ Tĩnh đều mang hơi thở và phong cách của con ng-ời xứ Nghệ Rất nhiều mảng đề tài đ-ợc đề cập đến trong ca dao nh-: đề tài tình yêu nam nữ, đề tài tình yêu quê h-ơng đất n-ớc, ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa ph-ơng, đề tài đấu tranh giai cấp, chống giặc ngoại xâm Mỗi loại đề tài ấy đều mang những đặc tr-ng riêng song lại góp phần làm nên cái
độc đáo, riêng biệt của một vùng ph-ơng ngữ - văn hoá
Có thể nói ca dao xứ Nghệ nói riêng, ca dao cả n-ớc nói chung là hơi thở, là máu thịt của quần chúng Bao vận mạng, bao kiếp sống của quần chúng
từ thế hệ này sang thế hệ khác đã đ-ợc gửi gắm vào kho tàng văn học đồ sộ này Ca dao đã len lỏi vào các ngóc ngách của tâm hồn, làm thao thức trăn trở bao con tim, khơi dậy những đắm say gây bừng khí thế, làm rực sáng bao trí tuệ, làm sống lại bao kỉ niệm xa x-a về tình bạn, về gia đình, về quê h-ơng
ở đây có xao xuyến băn khoăn, yêu đ-ơng da diết, nhớ nhung mong -ớc, bâng khuâng bịn rịn lẫn với căm uất giận hờn, chê trách, mỉa mai, th-ơng thân tủi phận, than thở, buồn rầu ở đây còn có phần tin t-ởng, gắn bó da diết, quyết tâm sắt đá, nghị lực bền bỉ đấu tranh vững mạnh với cái bản sắc riêng của ng-ời xứ Nghệ
Tóm lại ở đây có tiếng c-ời mà cũng có tiếng khóc, có đau khổ, s-ớng vui, có chia li, gặp gỡ, có đắn đo suy nghĩ, có cá nhân, có gia đình, xã hội, lịch
Trang 11sử, có thiên nhiên cảnh vật, có vấn đề đặt ra trong khoảnh khắc mà cũng có vấn đề đặt ra cho cả thời đại, có mọi bộ mặt của các hạng ng-ời trong cái
đất Hồng Lam dạt dào sức sống và rạo rực tấm lòng bao ng-ời -u ái đối với thời cuộc, đối với giang sơn tất cả đều gợi lên những gì gần gũi thân quen
mà ta yêu ta mến
1.3 Sự xuất hiện của địa danh trong ca dao xứ Nghệ
Trong ca dao xứ Nghệ, địa danh xuất hiện dày đặc Mỗi tên gọi, mỗi địa danh đều mang những nét đặc tr-ng riêng của từng miền quê cụ thể Qua
thống kê của chúng tôi trong 2 tập “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (Ninh Viết Giao chủ biên, NXb Nghệ An ấn hành năm 1996 trong phần A, Về ca dao
ng-ời Việt ở xứ Nghệ ), trong tổng số 4157 lời ca dao, có 507 lời sử dụng tên
riêng chỉ địa điểm, chiếm 12,2% Trong số 507 lời, số lần địa danh xuất hiện
là 839 Trong đó, có 26 loại địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên với 213 địa danh, chiếm 25,4 %; 26 loại địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn, chiếm 74,6 % Đây quả là con số chiếm tỉ lệ lớn Theo thống kê của GS Nguyễn Xuân Kính trong
Thi pháp ca dao, trong tổng số 12487 lời ca dao ng-ời Việt, số lời sử dụng tên
riêng chỉ địa điểm chỉ chiếm 8,4% Tỉ lệ này đã cho thấy, địa danh trong ca dao xứ Nghệ là một hiện t-ợng độc đáo, tr-ớc hết và ít nhất là về tần số xuất hiện
Để có thể khái quát các mặt của địa danh xứ Nghệ trong ca dao, chúng tôi thống nhất phân loại theo quan niệm của Nguyễn Kiên T-ờng Cụ thể, chúng tôi sẽ phân loại địa danh trong ca dao xứ Nghệ theo cách:
+ Thứ nhất, phân loại theo thuộc tính đối t-ợng
Theo thuộc tính đối t-ợng, chúng tôi sẽ chia thành hai tiểu loại: địa danh chỉ đối t-ợng địa lí tự nhiên và địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn Hai thuật ngữ này dùng để phân loại hai mảng hiện thực riêng biệt mà địa danh phản ánh Trong đó, địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ những địa danh thiên tạo (do sự tác động biến cải của các yếu tố tự nhiên tạo nên rồi con
Trang 12ng-ời đặt tên cho nó nh-: sông, núi, đồng, bãi, rừng, khe, cồn, suối, bãi, bàu ) Địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn là khái niệm dùng để chỉ những địa danh do con ng-ời kiến tạo bao gồm các công trình văn hoá thuộc tổ chức xã hội do con ng-ời tạo ra trên một vùng lãnh thổ cụ thể nh-: đình, chùa, đền, cầu, chợ, làng, xã (trong đó lại phân thành các nhóm nhỏ: địa danh chỉ công trình xây dựng: chợ, bến, đò, cầu, giếng công trình văn hoá: chùa, đền, đình,
và nơi c- trú hành chính của con ng-ời nh-: kẻ, làng, vạn, phủ, nậu )
Tuy nhiên, việc phân chia hai loại này cũng chỉ mang tính đối Bởi trong thực tế, có những địa danh vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội (nhân văn) Do đó khi phân loại chúng tôi thấy tính chất nào nổi trội hơn thì xếp nó vào nhóm điạ danh có đặc điểm thuộc tính nổi trội đó
+ Thứ hai, phân loại theo nguồn gốc ngữ nguyên
Căn cứ vào kết quả thống kê cụ thể về địa danh trong ca dao xứ Nghệ, chúng tôi không phân thành năm tiểu loại nh- Nguyễn Kiên T-ờng đã làm với
địa danh Hải Phòng mà chỉ phân thành hai nhóm:
+ Địa danh có nguồn gốc Hán ‟ Việt + Địa danh có nguồn gốc Thuần Việt Trong nhóm địa danh thuần Việt, do trực tiếp tìm hiểu địa danh của một vùng văn hoá cụ thể nên chúng tôi chú ý đến tần số xuất hiện của địa danh thuộc xứ Nghệ và địa danh thuộc vùng miền khác
Ngoài ra, trong việc tìm hiểu địa danh trong ca dao xứ Nghệ, chúng tôi cũng đặc biệt l-u tâm đến việc dựa vào chức năng giao tiếp để phân loại Cụ thể, chúng tôi quan tâm đến sự xuất hiện của loại địa danh có tên gọi chính thức (do nhà n-ớc đặt và có trong các văn bản hành chính) và tên gọi dân gian (tên quen thuộc trong dân gian)
Để tiện cho việc tìm hiểu, nghiên cứu ở các ch-ơng sau, chúng tôi lập bảng thống kê, phân loại địa danh trong ca dao xứ Nghệ ở bảng thống kê, phân loại, chúng tôi quy -ớc nh- sau:
Trang 13+ Số thứ tự: chỉ số l-ợng loại địa danh thu thập đ-ợc
+ Nhóm: chỉ khái quát đối t-ợng, nguồn gốc mà địa danh thuộc về (cụ
thể ở bảng phân loại này là nhóm địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên, đối t-ợng nhân văn; nhóm có nguồn gốc thuần Việt và nguồn gốc Hán Việt)
+ Loại: danh từ chung chỉ loại + Tần số: chỉ số lần xuất hiện của loại địa danh cụ thể trong hệ thống địa danh ca dao xứ Nghệ
+ Ví dụ: dẫn chứng cụ thể về địa danh + Cách sắp xếp: để dễ nhận biết đặc điểm loại hình của địa danh xuất hiện trong ca dao xứ Nghệ (thiên về loại hình nào) chúng tôi sắp xếp theo thứ
tự -u tiên cho những loại hình có tần số xuất hiện cao Riêng đối với những loại hình có tần số xuất hiện nh- nhau, chúng tôi sắp xếp theo thứ tự chữ cái
Bảng thống kê phân loại địa danh theo thuộc tính đối t-ợng
Núi Sông
Rú
Đồng Hòn
Động Cồn Khe Truông Cửa Rộc Bãi
Đèo Hang
Hồ
Hố Lạch
Rú X-ớc
Đồng Nứa Hòn The
Động Gám Cồn Chỉnh Khe H-ơng Truông Si Cửa Tiền Rộc Đình Bãi Sậy
Đèo Mụ Giạ Hang Trả
Hồ Sen
Hố Mây Lạch Thâm
Trang 14§ån
Eo Hãi Hèc Vòng Vùc
V¨n ho¸
Chî CÇu
§ß BÕn GiÕng
BÓ Cèng
§ß C¸i BÕn H¹c GiÕng Giang §×nh
BÓ Kú La Cèng Say
X·
Lµng HuyÖn
KÎ Xãm TØnh
Kþ Phñ
Xø Bµu Tæng NËu Phè Ph-êng V¹n
§øc Thä
KÎ Tr»m Xãm §×nh NghÖ An
Kþ Sß Phñ Quú
Xø §oµi Bµu Sim Tæng Thanh NËu Mü Phè Vinh Ph-êng BÕn Thuû V¹n §ç Gia
Trang 15Bảng thống kê phân loại địa danh theo nguồn gốc ngữ nguyên
Rú Xã
Huyện Tỉnh Phủ
Kỵ Bến Giếng
Đền Chợ Chùa
Hòn Ng- Lèn Trung Ph-ờng
Rú Xuân D-ơng Nghi Lộc
Đức Thọ
Hà Nội Phủ Quỳ
Kỵ Vạn Bến Giang Đình Giếng Đông H-ơng
Đền Long Tán Chợ Hiếu, Chùa Nam Chinh
Đình Thuỷ Kiều
Nhìn vào bảng thống kê này, có thể thấy rõ tần số, tỉ lệ xuất hiện của
địa danh Thuần Việt nhiều hơn địa danh Hán Việt: có 52 loại địa danh Thuần Việt trong khi chỉ có 19 loại địa danh Hán Việt, địa danh Thuần Việt xuất hiện 565 lần, chiếm 67,3% trong khi địa danh Hán Việt chỉ xuất hiện 274 lần, chiếm 32,7% Trong đó, địa danh thuộc xứ Nghệ là 783, chiếm 93,3% Điều này đã cho thấy nét t-ơng đồng của ca dao xứ Nghệ với ca dao toàn quốc trong việc sử dụng địa danh nh- một yếu tố không thể thiếu trong việc thể hiện nội dung, trong tỉ lệ xuất hiện của địa danh tự nhiên và địa danh xã hội,
Trang 16trong xu h-ớng sử dụng địa danh Thuần Việt…Bên cạnh đó, sự xuất hiện với
tỉ lệ lớn địa danh sẽ là yếu tố khác biệt mở đầu cho nét độc đáo của ca dao địa danh xứ Nghệ
Trang 17Ch-ơng 2: Cách sử dụng địa danh trong ca dao xứ nghệ
2.1 Cách sử dụng địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên
ở bảng thống kê trên, nhóm địa danh chỉ đối t-ợng địa lí tự nhiên với
26 loại, 213 địa danh, chiếm 25,4% địa danh trong ca dao xứ Nghệ, bao gồm: sông, núi, rú, đồng, hòn, cồn, khe, bãi, đèo, động, dốc, hang, hố, eo, hói, vũng, vực
Có thể nói, hầu nh- mọi địa danh thiên tạo đều có mặt trong ca dao xứ Nghệ Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động mà sự xuất hiện của các loại địa danh này không đồng đều Trong các địa danh chỉ đối tự nhiên, địa danh có tần số xuất hiện nhiều nhất là núi với 52 lần, tiếp đến là sông với 50 lần, rú với
24 lần và đồng với 15 lần
Nhiều tên núi xuất hiện trong ca dao xứ Nghệ:
- Mẹ ơi con muốn ăn sim, Con lên Đại Huệ con tìm con ăn
- Chín m-ơi chín ngọn núi Hồng, Chín m-ơi chín con chim đậu, còn một con vùng ra khơi
- Tháng năm cho nhẫn tháng m-ời,
Đại Can đội mũ thì trời động m-a
- Trèo lên hòn núi Ba Giang, Nghe bao hồi trống trạm, thiếp th-ơng chàng bấy nhiêu
Đến tên sông:
- Xin chàng đừng có nhị tâm, Dồi sơn còn vững, sông Lam còn dài
- B-ớc chân tới mạn sông Bùng, Muốn sang gặp bạn, hãi hùng sông sâu
- Thôi thôi từ tạ biển vàng,
Trang 18Cá lui sông Vịnh, chim ng-ợc ngàn kiếm đôi
Tên rú :
-Bao giờ rú Bể mang tơi,
Rú Bờng đội mũ thì trời mới m-a
-Đời ông cho chí đời cha, Mây kéo rú X-ớc m-a ba, bốn ngày
-Nghe tin rú Mọ lắm chè, Sơn Lâm nhiều gỗ, ta kết bè buôn chung
Tên đồng:
- Chừ về đồng Nứa, cồn Trăm, Cả đời vất vả, quanh năm đói nghèo
-N-ớc thuỷ triều mau xuống mau lên,
Đất Đồng L-u bạc địa, thiếp mau quên nghĩa chàng
Trong khi đó, có những địa danh xuất hiện rất ít: bãi, hang, hố, lèn chỉ
có mặt 2 lần; vũng, dốc, vực, eo, hói…chỉ xuất hiện 1 lần:
- Rú Vạc ai đắp mà cao, Bộng hang Nhà Mụ ai đào mà sâu
- Bao giờ rung kêu vũng Xanh, Têm trầu đổi gạo cho anh xuống thuyền
Điều này có thể giải thích đ-ợc: sông, núi, rú, đồng là những địa điểm gắn liền với lao động, sản xuất của ng-ời bình dân, của ng-ời dân nông nghiệp Hàng ngày, ng-ời dân xứ Nghệ vẫn rủ nhau lên núi hái củi, đốt than,
rủ nhau xuống sông kiếm tôm, bắt cá, rủ nhau ra đồng làm ruộng… Không những thế, sông, núi, rú, đồng gắn với một không gian khoáng đạt, rộng rãi, gắn với những sự kiện lịch sử, văn hoá địa ph-ơng đã trở thành những biểu t-ợng của ng-ời dân vùng viễn trấn Chính vì thế, sự xuất hiện với mật độ lớn loại địa danh này là một tất yếu Trong khí đó, bãi, hang, hố, lèn, vũng, dốc, vực, eo, hói…là những địa điểm ít gắn bó thường xuyên với người dân, hoặc
Trang 19chỉ gắn bó với một bộ phận dân c- nhất định, lại không đ-ợc xem nh- những biểu t-ợng nên ít đ-ợc nhắc đến hơn
Trong việc sử dụng địa danh tự nhiên, ng-ời Nghệ có khi dùng đơn lẻ, nghĩa là trong một lời ca dao chỉ xuất hiện một địa danh, hoặc sông, hoặc núi, hoặc bãi, hoặc lèn… Chẳng hạn:
-N-ớc sông Bùng vừa trong vừa mát Các o thuyền chài tiếng hát đong đ-a
Trông cho đò cập tới bờ Anh qua làm ruộng, đừng ngờ lòng anh
- Đ-ờng lên rú Gám quanh co, Anh ch-a có vợ, có o ch-a chồng
Ch-a chồng ch-a vợ ngồi trông,
Ra giêng đi củi, vợ chồng kết đôi
Nh-ng cũng không hiếm tr-ờng hợp, địa danh đ-ợc dùng kết hợp Đó
có thể là sự kết hợp địa danh chỉ nhằm mục đích miêu tả, kiểu:
Nhác trông lên cái hòn Thè, Tiều phu hái củi, chiều về thảnh thơi
Trông về núi Mục mà coi, Coi ng-ời đập đá, coi ng-ời tạc bia
Nh-ng phổ biến hơn vẫn là hiện t-ợng sử dụng kết hợp các địa danh tự nhiên với một dụng ý nghệ thuật rõ rệt Đấy là khi địa danh đ-ợc xem nh- là biểu t-ợng Chẳng hạn, biểu tr-ng cho tình yêu nam nữ:
- Xin chàng đừng có nhị tâm, Núi Dồi còn vững, sông Lam còn dài
- Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Lam hết n-ớc, đó với đây hết tình
Hay là t-ợng tr-ng cho tinh thần, khí tiết và cả thắng cảnh của xứ Nghệ:
Trang 20Đắn đo cân sắc cân tài Chàng nh- Hồng Lĩnh, thiếp tày Lam Giang
Trong kiểu kết hợp này, cặp núi ‟ sông nổi lên nh- một biểu t-ợng điển hình nhất của ca dao xứ Nghệ Chính vì thế, khi tìm hiểu về những nét độc đáo của ca dao xứ Nghệ, Nguyễn Phương Châm đã có nhận xét: “cặp núi sông …
đã trở thành một mô típ quen thuộc thường gặp trong ca dao xứ Nghệ” [3, 15] Cũng chính vì sử dụng địa danh theo lối kết hợp này mà số địa danh chiếm tỉ
lệ nhiều hơn số lời ở ca dao xứ Nghệ (839 địa danh/507 lời) Đây cũng là hiện t-ợng phổ biến của ca dao ng-ời Việt: theo thống kê của GS Nguyễn Xuân Kính, trong 377 lời ca dao sử dụng tên riêng chỉ địa điểm, số lần địa danh xuất hiện là 615 [11, 133]
Bên cạnh việc dùng cặp đôi địa danh, có nhiều khi, tên riêng chỉ địa
điểm xuất hiện dày đặc trong ca dao xứ Nghệ:
- Nhất cao là động Mồng Gà Thứ nhì động Gám, thứ ba động Thờ
- Tam Thai, rú Bạc ai xây,
Kim Nghê ai đắp, hố Mây ai đào
Có thể nói trong những nội dung có sử dụng địa danh, “ca ngợi cảnh vật
và truyền thống địa phương” chiếm tỉ lệ lớn (126/213địa danh, chiếm gần 60% Điều đó hoàn toàn dễ hiểu Để cụ thể hoá sự ngợi ca những nét đặc sắc của quê h-ơng, những danh lam thắng cảnh, những yếu tố văn hoá trội, tác giả dân gian không thể không dùng địa danh Địa danh trở thành một bộ phận cấu thành không thể tách rời trong chủ đề này
Tình cảm của ng-ời xứ Nghệ phơi phới lâng lâng đối với cảnh vật núi sông hùng tráng, th-ờng sáng thấy chiều trông nơi quê h-ơng xứ sở gần gũi, thân yêu:
- Kim Liên phong cảnh hữu đài Gió trong Tràng Cát, chớp ngoài Chung Sơn
Trang 21Trèo lên trên đỉnh Kim Nhan, Quân reo Bờ ải, sóng tràn Khả L-u
Bên cạnh gắn với sự ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa ph-ơng, địa danh tự nhiên còn có mặt trong bộ phận tình yêu nam nữ và hôn nhân gia
đình Qua thống kê 839 lời ca dao có sử dụng địa danh trong kho tàng ca dao
xứ Nghệ, có 96 lời đ-ợc sáng tác và l-u truyền ở chủ đề này, chiếm tỉ lệ 11,4% Trong đó, mọi mức độ, mọi biểu hiện của tình yêu đều đ-ợc bộc lộ:
- Th-ơng chàng lắm lắm chàng ơi Nh- n-ớc sông Vịnh chảy xuôi Cửa Tiền
- Bao giờ Rú Gám hết cây Sông Dinh hết n-ớc ta đây hết tình Củi này anh bó cho xinh Chiều về em gánh qua đình mẹ khen Ngày mai lại rủ anh lên Lạt tre em sắm bó nên vợ chồng
Tuy nhiên, nếu đem so sánh tỉ lệ này với thống kê của GS Nguyễn Xuân Kính, ta sẽ thấy ngay sự khác biệt: nếu trong ca dao ng-ời Việt nói chung, địa danh chủ yếu xuất hiện ở chủ đề tình yêu nam nữ, quan hệ vợ chồng (với 32%), sau đó mới đến chủ đề ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa ph-ơng (16,4%) thì ở ca dao xứ Nghệ, ta lại thấy hiện t-ợng trái ng-ợc: chủ đề xuất
Trang 22hiện nhiều địa danh hơn cả là ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa ph-ơng (77,4%), sau đó mới đến chủ đề tình yêu nam nữ, quan hệ vợ chồng (11,4%)
Sự khác biệt này đã tạo nên một nét độc đáo của ca dao vùng viễn trấn: có thể nói, không ở đâu mà lòng tự hào, sự yêu mến quê h-ơng, xứ sở lại đ-ợc bộc lộ
rõ nét, mạnh mẽ nh- xứ Nghệ, nh- ng-ời Nghệ
Trong bộ phận địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên, ta thấy địa danh thuần Việt đ-ợc dùng rất phổ biến: có đến 152 địa danh thuần Việt đ-ợc sử dụng, chiếm gần 70% Gần nh- mọi tên núi, tên sông, tên đồng, tên bãi đều đ-ợc gọi tên bằng chính thứ tiếng thân quen của ng-ời Việt:
- Rú Đọi ai đắp mà cao, Cái sông Đò Đệm ai đào mà sâu
- Anh không nhớ khi lên dốc Cơn Bạng, Anh không nhớ khi xuống hốc Động Chùa, Say vì duyên vì ngãi, chứ thuốc bùa không say
- Đời ông cho chí đời cha Mây kéo rú X-ớc m-a ba bốn ngày
Trong khi đó, địa danh có nguồn gốc Hán Việt lại ít phổ biến trong bộ phận này: chỉ có 68 địa danh có nguồn gốc Hán Việt / 213 địa danh, chiếm hơn 30%
- Bữa ni chàng mới tới nhà Hỏi chàng coi thử ở xa hay gần Tr-ớc Lam Thuỷ, sau Hồng Sơn Nhà nào đọc sách gảy đờn nhà anh
- Sông Bồ Đề n-ớc đỏ nh- son
Em có chồng rồi dối bạn, tội bằng hòn Thái Sơn
- Hùng Sơn, Hồng Lĩnh tốt t-ơi Thành Thiên vui vẻ sinh ng-ời tài hoa
Trang 23Có thể nói, việc ít sử dụng địa danh gốc Hán Việt, thiên về sử dụng địa danh thuần Việt luôn gắn liền với xu h-ớng dân gian hoá các tên riêng chỉ địa điểm
Điều này hoàn toàn dễ hiểu: th-ờng thì tên gọi chính thức của các địa danh tự nhiên, tên gọi xuất hiện trong các văn bản hành chính nhà n-ớc th-ờng sử dụng từ Hán Việt Trong khi đó, tác giả của những lời ca dao ‟ ng-ời bình dân
- dĩ nhiên sẽ thấy gần gũi hơn với những tên gọi nôm na dân dã quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày Chính vì thế mà thay vì dùng “Hồng Lĩnh”, tác giả dân gian dùng “Ngàn Hống”, thay vì dùng “Lam Giang”, tác giả dân gian dùng “sông Rum”:
Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Rum hết n-ớc em đây hết tình
Thay vì tên chữ “Mạo Sơn”, tác giả dân gian dùng “rú Mụa”:
Cầu Mỏ ác lên gác mà ngồi Cầu bắc rú Mụa thì ngồi thong dong
Ai ơi, công việc nhà nông M-a m-a nắng nắng ta mong từng ngày
Thay vì tên chữ “Di Lặc Sơn” hay “Di Lĩnh”, tác giả dân gian dùng “Hai Vai”:
Bao giờ rặc n-ớc sông Bùng Hai Vai trúc đá, bể Đông cát bồi Thì anh th-a mẹ xuống chơi Hai ta kết nghĩa làm đôi vợ chồng
Ta còn thấy hiện t-ợng này trong rất nhiều lời ca khác:
Mang tơi đội nón mà đi
Rú Lần đội mũ, trời thì sắp m-a
Rú Lần là tên gọi dân gian của Lận Sơn, một ngọn núi của Hồng Lĩnh
Rú Bờng, rú Bể, rú Bin
Ba rú hợp lại, rú mô ghin (gần) em về
Trang 24Rú Bờng, tức Bằng Sơn ở xã Thạch Bằng huyện Thạch Hà; rú Bể, tức Nam Giới Sơn ở xã Thạch Đỉnh, Thạch T-ợng, Thạch Hà; rú Bin, tức Đoạn Đầu Sơn, một hòn núi bé ở xã Hồng Lộc, Can Lộc
Xu h-ớng thuần Việt và xu h-ớng dân gian hóa các tên riêng chỉ địa
điểm không chỉ phổ biến trong ca dao xứ Nghệ mà đây là hiện t-ợng th-ờng
gặp ở ca dao ng-ời Việt nói chung Trong Thi pháp ca dao, GS Nguyễn Xuân
Kính cũng đã đề cập đến vấn đề này qua những dẫn chứng cụ thể về việc sử dụng tên Nôm trong việc gọi tên núi, sông, cầu, làng…Điều đó cho thấy nét t-ơng đồng của ca dao xứ Nghệ với ca dao cả n-ớc trong cách sử dụng địa danh
Trong các địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên ở ca dao xứ Nghệ, đôi khi ta cũng bắt gặp tên núi, tên sông…của các địa phương khác nhưng với tỉ lệ hết sức ít ỏi: 7 địa danh (địa ph-ơng khác)/ tổng 213 địa danh đ-ợc đề cập (4 lời
ca dao) Khi nhìn nhận nội dung của những lời ca dao này, chúng tôi cho rằng
đó là sản phẩm của vùng văn hoá khác, do đặc tính truyền miệng của văn học dân gian, đã đ-ợc truyền vào xứ Nghệ:
- Hồng Hà n-ớc chảy nh- son Chết đi thì chớ, sống còn lấy anh
- Yêu lắm làm chi Nhớ lắm làm chi Khi x-a anh nói đổi núi Ba Vì
Bể Đông cạn n-ớc anh cũng nằm kề bên em
Anh xui anh cắt đ-ờng duyên
Để em chịu nỗi đắm thuyền giữa sông
- Th-ơng ai đứng ngóng Hòn Mê Nhớ ai nên nỗi trở về Hòn Bung Th-ơng ai ra đứng đầu Rồng Trông chừng vòi vọi nhớ trông đôi dì
Trang 25Th-ơng hằn rứa (nh- thê) nhớ hằn ri
Có thuyền ta đã chống đi ta tìm
Những địa danh của Hà Nội (Hồng Hà) và vùng phụ cận (Ba Vì) hay của Thanh Hoá (Hòn Mê) là những địa điểm hiếm hoi đã đ-ợc đề cập trong ca dao vùng viễn trấn Điều đó khẳng định rằng: trong ca dao xứ Nghệ, địa danh
đ-ợc -u ái nhất vẫn là những địa danh thuộc về vùng Nghệ ‟ Tĩnh Nói cách khác, điều đó đã góp phần thể hiện tính địa ph-ơng của ca dao xứ Nghệ
Qua cách sử dụng địa danh chỉ đối t-ợng tự nhiên, ta thấy ca dao xứ Nghệ vừa tạo đ-ợc sự gặp gỡ với ca dao cả n-ớc trong việc đề cập đến hầu nh- mọi địa danh thiên tạo, trong tần số xuất hiện của các địa danh, trong việc sử dụng kết hợp và riêng lẻ địa danh, trong xu h-ớng thuần Việt và dân gian hoá cách gọi tên riêng chỉ địa điểm; vừa tạo đ-ợc nét riêng biệt qua việc thiên về gắn địa dạnh tự nhiên với chủ đề ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa ph-ơng Những điều đó đã góp phần thể hiện bản sắc thể loại trữ tình dân gian vùng
đất cổ n-ớc non nhà
2.2 Cách sử dụng địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn
Qua bảng thống kê trên, ta thấy địa danh chỉ đối t-ợng địa lí xã hội với
26 loại 626 địa danh chiếm 74,6 % địa danh trong ca dao xứ Nghệ đ-ợc chia thành ba nhóm nhỏ:
Địa danh chỉ đơn vị c- trú hành chính gồm 15 loại, xuất hiện 452 lần, chiếm 72,2% địa danh chỉ đối t-ợng địa lí xã hội gồm các loại: kẻ, làng, kỵ Tỉ lệ này cũng t-ơng đ-ơng với thống kê của GS Nguyễn Xuân Kính:
“…loại tên các đơn vị hành chính xuất hiện nhiều hơn cả: 325 lần trong tổng
Trang 26Trong đó, địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn có tần số xuất hiện nhiều nhất là xã với 204 lần, tiếp đến là làng với 118 lần, chợ với 106 lần, kẻ với 28
và cầu 18 lần Những con số này cũng gần với sự có mặt của những địa danh
cùng loại theo thống kê của tác giả Thi pháp ca dao: “ca dao nhắc nhiều đến
tên làng…tên các làng xuất hiện: 66 lần, chợ: 50 lần” [11,133-134]
Tên xã xuất hiện nhiều hơn cả:
- Tôi ng-ời họ Hồ Quỳnh Đôi Thuộc chi đệ nhất, con nòi nhà nho
- Con trai Xuân Liệu, con gái Xuân Hồ Khéo ăn bánh đúc khéo hồ vải th-a
- Nho Lâm than quánh nặng nề Tiếng nói đi trước “mà lề” theo sau
Làng quê, nơi gắn bó mật thiết với ng-ời bình dân cũng th-ờng xuyên đ-ợc nhắc đến:
- Thú chi bằng bằng thú chiều chiều,
Ra đứng đầu ngõ, ngắm diều làng Nghi
- Làng Dù với lại làng Gành Nhờ trò bắt vịt mà thành nhiều đôi
Với tính chất là địa điểm giao lưu kinh tế, văn hoá, “chợ” xuất hiện dày
đặc trong ca dao vùng viễn trấn:
- Hỡi cô đi cấy thụt lùi,
Trang 27“Kẻ” cũng xuất hiện khá nhiều:
-Muốn ăn cơm hẩm mắm trôi, Thì về Kẻ Sáo, Kẻ Ngòi mà ăn
- Cây đa Kẻ Bấn chín chồi,
Ai về kẻ Bấn ăn xôi thì về
“Cầu” cũng thường được nhắc đến:
- Nhà em ở bên tê cầu Trù,
Có bụi Tre rậm rậm, có bụi trù (trầu) mới lông
- Quay về mới đến cầu Giằng, Th-ơng cha thì ít, nhớ ngãi nàng nhiều hơn
Trong khi đó, những địa danh như nậu, vạn… có tần số xuất hiện rất ít Theo thống kê của chúng tôi, “nậu” chỉ xuất hiện 1 lần:
Ai về nậu Mỹ mà coi, Tìm lên khe áp mà soi ná (nứa) về
Tương tự, chỉ một lời ca dao có địa danh “vạn”:
Nhất giàu là vạn Đỗ Gia, Thứ nhì vạn Phố, thứ ba vạn Nầm
Cũng giống nh- địa danh tự nhiên, địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn cũng đ-ợc dùng với lối kết hợp và đơn lẻ
Có nhiều lời ca dao sử dụng kết hợp khá nhiều địa danh
- Giỗ này mai mới mua men, Nếp ở chợ Lèn, cá ở chợ Si
- Đi ngang nghe tiếng chùa Oi, Nghe chuông chùa Dạ, nhớ lời chị em
- Đò Vích, đò Vạn, đò Si
Đò mô lắm cá em đi một đò
Trang 28Tuy nhiên, nếu ở địa danh tự nhiên, ta th-ờng thấy sự kết hợp cùng lúc nhiều loại địa danh (núi với sông, cồn với bãi…) thì ở nhóm địa danh xã hội lại th-ờng kết hợp nhiều địa danh thuộc cùng một loại với nhau nhằm mục đích liệt kê, so sánh
Ta cũng bắt gặp trong ca dao xứ Nghệ những lời ca mà địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn đ-ợc dùng với số ít:
- Đàn bà con gái khôn ngoan, Làm dâu chợ Dàn chỉ ngửi cũng no
- Bây giờ én đã về rồi,
Ai lên chợ Sở hốt ruồi thì lên
ở đây, mỗi lời ca dao chỉ xuất hiện một địa danh với mục đích cơ bản là nhấn mạnh đặc điểm nào đó của một địa điểm cụ thể Hiện t-ợng này ít phổ biến hơn việc sử dụng kết hợp nhiều địa danh
Cũng giống nh- bộ phận ca dao sử dụng địa danh tự nhiên, trong ca dao
có địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn, ta cũng thấy hiện t-ợng dùng địa danh với tên gọi chính thức:
- Ai về Hà Tĩnh thì về, Mặc lụa chợ Hạ, uống n-ớc chè H-ơng Sơn
- Ước gì anh hoá ra diều, Buổi mai Nghi Lộc, buổi chiều H-ng Nguyên
-Hoàng Mai đi có về không,
Ai mà đến đó đừng mong đ-ờng về
Hiện t-ợng này không phổ biến bằng việc dùng địa danh với tên gọi dân gian:
Em về Rồng, Rộ mà coi Tr-ớc đồng sau bãi hẳn hoi vô cùng
Rồng là tên Nôm của xã Thanh Hà, Rộ là tên Nôm của xã Võ Liệt, đều thuộc huyện Thanh Ch-ơng
Trang 29Kẻ Đạu, Nhà Cại bỏ tru không cày
Kẻ Đạu, Nhà Cại là cách gọi tên thôn Hàm Anh, thôn Yên Tập ở huyện Can Lộc của ng-ời bình dân
Có thể nói song song với tên chữ của mỗi làng, mỗi thôn, xã là những tên Nôm ‟ tên gọi dân gian của giới bình dân Và chính vì gắn với giới bình dân nên không có gì lạ khi cách gọi tên địa điểm một cách nôm na lại phổ biến hơn việc dùng tên gọi chính thức Đó có thể xem là một “đặc sản” của ng-ời bình dân trong nguồn tài sản tinh thần vô giá của họ: văn học dân gian
So với địa danh tự nhiên, địa danh chỉ đối t-ợng nhân văn sử dụng nhiều yếu tố Hán - Việt hơn Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt th-ờng xuất hiện ở tên làng, tên đất tổng hợp, hay một số địa danh về đình, đền, chùa Chẳng hạn:
- Lộc Tự là chốn vui thay, Nhìn xem phong cảnh đông tây rõ ràng
Minh Đ-ờng một giải nghêng ngang, D-ới đò trên chợ, đủ hàng bán buôn
- Mừng đây phong cảnh Tự Trì,
Ao chùa Cực Lạc, vui thì thậm vui
Qua những địa danh có nguồn gốc Hán Việt nêu trên, ta có thể nhận ra một đặc điểm mang tính quy luật: Khi đặt tên cho làng, xóm, xã, ng-ời ta th-ờng dùng những mỹ tự chỉ sự tốt đẹp như “can”, “phúc”, “lộc”,
“mỹ”…(Lộc Tự, Phúc Mỹ, Phúc Trạch, Can Lộc, Tú Mỹ…) Tên gọi một
Trang 30vùng đất, một địa điểm…đã được xem xét, lựa chọn một cách kĩ càng không chỉ bởi lòng yêu mến, niềm hi vọng của con ng-ời mà còn bởi nó sẽ xuất hiện trong các văn bản chính thức của nhà n-ớc, đ-ợc l-u danh bằng giấy trắng mực đen Việc dùng địa danh có nguồn gốc Hán - Việt vì vậy sẽ góp phần tăng thêm phần trang trọng, tốt đẹp cho vùng đất đó
Trong ca dao xứ Nghệ, địa danh chỉ đối t-ợng xã hội ở vùng khác xuất hiện ít: chỉ 42 địa danh (thuộc các tỉnh thành ở Việt Nam), chiếm 5% Phổ biến hơn cả vẫn là Hà Nội:
- Một sông đôi chiếc thuyền kề, Chiếc ra Hà Nội chiếc về Nghệ An
- Khi nào Hà Nội hết tiền, Nam Định hết núi, lời nguyền mới sai
- Việt Nam lắm kẻ anh hùng, Trung Kỳ nổi tiếng Đội Cung hiền tài
Trong khi đó, địa danh thuộc xứ Nghệ là 783, chiếm 93,3% Phần còn lại là địa danh thuộc Trung Quốc (15 địa danh, chiếm 1,7%) và các n-ớc khác Điều này là quy luật tất yếu của văn học dân gian địa ph-ơng: là sản phẩm của vùng văn hoá xứ Nghệ, địa danh đ-ợc nêu tên trong ca dao xứ Nghệ chắc chắn phải thuộc về vùng Nghệ Tĩnh
Cũng giống nh- bộ phận ca dao sử dụng địa danh tự nhiên gắn liền với việc ngợi ca cảnh vật và truyền thống địa ph-ơng, xu h-ớng ngợi ca cũng là
xu h-ớng chủ đạo của bộ phận ca dao sử dụng địa danh xã hội Có 155 lời ca dao tràn đầy niềm tự hào về phong cảnh, con ng-ời xứ Nghệ:
- Yên Phú lắm thóc nhiều khoai Lắm hàng buôn bán ai ai cũng giàu
- Đức Thọ gạo trắng n-ớc trong
Ai về Đức Thọ thong dong con ng-ời
- Xuân Hồ có núi Huệ Sơn
Có đến Long Tán, đâu hơn Xuân Hồ!