1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý niệm của người nghệ về tình yêu trong ca dao nghệ tĩnh

105 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý niệm của người nghệ về tình yêu trong ca dao nghệ tĩnh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học và Văn hóa Nghệ thuật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 750,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử vấn đề (4)
  • 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (6)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (6)
  • 5. Phương pháp và thủ nghiên cứu chính (7)
  • 6. Cấu trúc Luận văn (7)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (8)
    • 1.1. Khái niệm “ý niệm” trong ngôn ngữ học tri nhận (8)
      • 1.1.1. Khái lƣợc về ngôn ngữ học tri nhận (0)
      • 1.1.2. Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận (9)
      • 1.1.3. Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận (12)
    • 1.2. Từ, ngh a của từ và ý niệm từ vựng (0)
      • 1.2.1. Từ trong tiếng Việt (14)
      • 1.2.2. Ngh a của từ (0)
      • 1.2.3. Ý niệm từ vựng (16)
    • 1.3. Câu - đơn vị nghiên cứu ngh a trong ca dao (0)
      • 1.3.1. Câu và ngh a biểu hiện của câu (0)
      • 1.3.2. Các bình diện ngh a trong câu (0)
      • 1.3.3. Các loại câu xếp theo cấu trúc ngh a (21)
    • 1.4. Ca dao và ca dao tình yêu (23)
      • 1.4.1. Khái niệm ca dao (23)
      • 1.4.2. Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam (23)
      • 1.4.3. Mảng ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ (25)
      • 1.4.4. Tình yêu trong ca dao Nghệ T nh (27)
  • CHƯƠNG 2: Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI NGHỆ BIỂU ĐẠT (31)
    • 2.1.2. Tình yêu cần sự tương xứng và hài hòa về phẩm chất (34)
    • 2.1.3. Tình yêu là sự hòa quyện và chia sẻ với nhau (35)
    • 2.3. Ý niệm về tình yêu được phản ánh qua phương thức ẩn dụ (0)
      • 2.3.1. Khái niệm về ẩn dụ và phân loại (44)
      • 2.3.2. Ẩn dụ ý niệm (46)
      • 2.3.3. Ẩn dụ về tình yêu trong ca dao xứ Nghệ (49)
        • 2.3.3.1. Tình yêu là sự hấp dẫn của hai thực thể với nhau (49)
        • 2.3.3.2. Tình yêu đòi hỏi sự trọn vẹn (54)
        • 2.3.3.3. Tình yêu thể hiện sự hóm hỉnh (55)
  • CHƯƠNG 3: Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI NGHỆ BIỂU ĐẠT (60)
    • 3.1. Quan hệ giữa một thực thể với một thực thể (0)
      • 3.1.1 Quan hệ so sánh (60)
      • 3.1.2 Quan hệ đồng nhất (62)
    • 3.2. Quan hệ so sánh “A nhƣ B” (0)
      • 3.2.1. Quan hệ trong tình yêu xét từ bình diện cái so sánh (66)
      • 3.2.2. Quan hệ trong tình yêu xét từ bình diện cái đƣợc so sánh (69)
        • 3.2.2.1. Cái đƣợc so sánh là những thực thể vô tri vô giác (0)
        • 3.2.2.2. Cái đƣợc so sánh là những thực thể gợi sự yếu ớt không bền (0)
        • 3.2.2.3 Cái đƣợc so sánh là những thực thể có quan hệ khăng khít, có khả năng tương tác với nhau để tạo giá trị cho nhau (0)
        • 3.2.2.4. Cái đƣợc so sánh là những thực thể có ý thức, có linh hồn (0)
  • KẾT LUẬN (80)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (83)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu ca dao người Nghệ từ lâu đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước, mang lại nhiều phát hiện hấp dẫn về văn hóa dân gian cổ truyền của dân tộc Các công trình nghiên cứu về ca dao người Nghệ mang đến những hiểu biết thú vị cho những ai yêu thích vốn văn hóa dân gian Việt Nam Hiện nay, có ba xu hướng nghiên cứu chính về ca dao người Nghệ, trong đó nổi bật là nghiên cứu dưới góc độ văn học để làm rõ giá trị nghệ thuật và nội dung sâu sắc của ca dao.

+ Nghiên cứu ca dao dưới góc độ thi pháp học

+ Nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học

Nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học là lĩnh vực đã có nhiều thành tựu quan trọng, không phải là vấn đề mới Các tác giả như Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hoành, Đinh Trọng Lạc, Đỗ Thị Kim Liên và Nguyễn Thiện Giáp đã để lại nhiều công trình nghiên cứu giá trị, góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng của ca dao Việt Nam Những nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về vai trò của ca dao trong đời sống văn hóa dân gian và phát triển ngôn ngữ Việt Nam.

Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh (Nguyễn Nhã Bản, Nxb Nghệ An, 2001), Đất nước con người xứ Nghệ qua kho tàng ca dao xứ Nghệ (Trương Xuân

Tiếu, 1997, Tạp chí Văn hoá Dân gian số 3)…và nhiều chuyên luận, luận án:

Sự khác nhau giữa ca dao người Việt xứ Nghệ và xứ Bắc (Nguyễn Phương

Châm, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 3, 1997), Thi pháp ca dao tình yêu người Việt xứ Nghệ (Tăng Thu Hiền, Luận văn thạc s Ngữ văn, ĐH Vinh,

2001), Một số phương diện và biện pháp tu từ trong ca dao tình yêu đôi lứa

Các nghiên cứu chuyên sâu về đề tài tình yêu trong ca dao Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận Việc phân tích ca dao qua phương diện ngôn ngữ học tri nhận giúp khám phá những chiều sâu ý nghĩa mà chưa được khai thác đầy đủ Trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận đã được đề cập trong nhiều công trình như "Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt," góp phần mở ra nhiều hướng đi mới trong phân tích ca dao Do đó, nghiên cứu ca dao theo hướng ngôn ngữ học tri nhận đang trở thành vấn đề nóng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu do tiềm năng khám phá còn nhiều điều thú vị chưa được khai thác.

(Lý Toàn Thắng, 2005, Nxb KHXH, HN), Từ mô hình tri nhận đến mô hình văn hóa (Phan Thế Hƣng, Ngữ học trẻ, 2005), Ngôn ngữ học tri nhận là gì?

(Trần Văn Cơ, tạp chí ngôn ngữ số 7, 2006), Hệ hình nhận thức trong ngôn ngữ (Nguyễn Hòa, Ngôn ngữ, 2007, số 1)…

Các bài báo nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận đã làm rõ các vấn đề như cách sử dụng các giới từ tiếng Anh "at," "on," "in" dựa trên cơ chế tri nhận không gian và so sánh với tiếng Việt (Lê Văn Thanh và Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ, 2002) Ngoài ra, nghiên cứu cũng khám phá ý niệm "buồn" trong tiếng Nga và tiếng Anh để hiểu rõ hơn về cách diễn đạt cảm xúc trong các ngôn ngữ này (Trần Trương Mỹ Dung, Ngôn ngữ, 2005) Đồng thời, việc khảo sát ban đầu về ẩn dụ tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt giúp làm sáng tỏ những đặc điểm biểu đạt cảm xúc qua các hình tượng ngôn ngữ đặc trưng của từng ngôn ngữ, góp phần nâng cao nhận thức về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và hoạt động tri nhận trong lĩnh vực ngôn ngữ học.

Trong bài viết "Về một cách giải thích nghĩa của thành ngữ từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận," đăng trên Ngữ học trẻ năm 2006, tác giả phân tích cách thành ngữ được hiểu qua lăng kính ngôn ngữ học tri nhận Tác giả nhấn mạnh rằng nghĩa của thành ngữ không chỉ dựa trên cấu trúc từ vựng mà còn phụ thuộc vào quá trình nhận thức và tiếp xúc của người sử dụng trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau Phương pháp này giúp làm sáng tỏ cách thành ngữ chứa đựng ý nghĩa sâu xa, góp phần mở rộng hiểu biết về chức năng và vai trò của thành ngữ trong ngôn ngữ Đồng thời, bài viết cung cấp cái nhìn tổng thể về việc giải thích nghĩa của thành ngữ từ góc độ tri nhận, làm rõ mối liên hệ giữa ngôn ngữ và nhận thức của người dùng.

Nguyễn Ngọc Vũ góp phần đáng kể trong l nh vực nghiên cứu biểu tƣợng ca dao trên cả hai bình diện: lý thuyết và ứng dụng thực hành…

Ngôn ngữ học tri nhận đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích các vấn đề thể hiện trong ca dao Việt Nam, như đã được trình bày trong các bài viết của Lê Đình Tường về ngôn ngữ hài hước trong ca dao (2008), Lê Thị Thắm về ý niệm đôi-cặp trong ca dao về hôn nhân và gia đình (2010), và Nguyễn Thị Hà về quan niệm tình yêu trong ca dao từ góc độ tri nhận (2009) Những nghiên cứu này cung cấp những nền tảng cơ bản và quan trọng để nghiên cứu sâu hơn về ý niệm của người Nghệ về tình yêu trong ca dao Nghệ, giúp hiểu rõ hơn các biểu đạt văn hóa và tâm thức cộng đồng qua các câu hát dân gian.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhằm:

- Tìm hiểu các phương thức ngôn ngữ phổ biến nhất để biểu đạt ý niệm về tình yêu hướng tới hôn nhân của người Nghệ trong ca dao

- Xác lập những nét cơ bản trong ý niệm của người Nghệ về tính yêu hướng tới hôn nhân đƣợc thể hiện trong ca dao

- Góp phần xác định những đặc trƣng về văn hoá ứng xử truyền thống trong quan hệ nam nữ của người Nghệ

Bài viết phân tích quan niệm của người Nghệ trong ca dao từ góc độ tri nhận, nhằm thể hiện các nội dung cơ bản của lý thuyết tri nhận trong nghiên cứu văn hóa dân gian Đồng thời, nội dung này góp phần làm rõ vẻ đẹp trong tình yêu qua ca dao xứ Nghệ, qua đó mở ra góc nhìn mới trong việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy ca dao trong các trường phổ thông Các phân tích này giúp nâng cao nhận thức về giá trị nghệ thuật và tình cảm trong ca dao Nghệ, góp phần thúc đẩy việc truyền đạt và bảo tồn nét đẹp văn hóa dân gian địa phương.

Phương pháp và thủ nghiên cứu chính

Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ đề ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp điều tra dựa trên thực địa, tập trung vào mối quan hệ tình cảm giữa một người nam/nữ yêu một người nữ/nam nhằm mục đích hướng tới hôn nhân Phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác và phong phú từ "kho tàng ca dao xử Nghệ", góp phần làm rõ các nét văn hóa về tình yêu và hôn nhân trong cộng đồng.

- Phân tích và xử lý số liệu

Dữ liệu thu thấp được phân loại dựa trên các tiêu chí như phương thức biểu đạt các tham tố của câu "A yêu B," bao gồm cách biểu đạt A và B, cũng như các vị từ có nghĩa tương ứng với động từ yêu Ngoài ra, còn xem xét loại cấu trúc sự tình thể hiện mức độ yêu thương, như tường minh và ẩn dụ Luận văn tập trung phân tích các hiện tượng ngôn ngữ phổ biến nhất liên quan đến lời nói, làm cơ sở để tổng hợp và tổng quát hóa các đặc điểm ngôn ngữ trong đề tài này.

- Phương pháp tổng hợp, khái quát.

Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Tài liệu tham khảo”, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:

Chương I giới thiệu các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu về tình yêu trong văn hóa Nghệ, nhằm làm rõ các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận Trong Chương II, tác giả phân tích ý niệm về tình yêu của người Nghệ qua các trường từ vựng đặc trưng, thể hiện sâu sắc nét độc đáo của ngôn ngữ địa phương Chương III tập trung khảo sát cách người Nghệ biểu đạt ý niệm về tình yêu thông qua các cấu trúc ngữ pháp so sánh, giúp làm nổi bật các đặc điểm cảm xúc và tư duy đặc trưng của cộng đồng này trong diễn đạt tình cảm.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Khái niệm “ý niệm” trong ngôn ngữ học tri nhận

1.1.1 Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận

Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) ra đời vào nửa sau thế kỷ XX và gắn liền với những tên tuổi nổi bật như G Lakoff, M Johnson, R Langacker, L Talmy, W Chafe, R Jackendoff, G Fauconnier, Ch Fillmore, U Neisser, E Rosch, A Wierzbicka, Yu Stepanov, N Aruchiunova, V Demianov, E Kubriakova, V Maslova và A Parchin, trong đó có mối liên hệ với các ngành khoa học tri nhận khác Khoa học tri nhận bắt đầu phát triển tại Mỹ từ những năm 1960, song song với sự ra đời của ngữ pháp biến đổi – tạo sinh của Chomsky, hai xu hướng này có ảnh hưởng lẫn nhau và góp phần hình thành nền tảng cho khoa học tri nhận Chomsky là người sáng lập quan trọng của lĩnh vực này và đã thừa nhận rằng lý thuyết ngữ pháp tạo sinh của ông nằm trong khuôn khổ của cuộc cách mạng tri nhận, nhằm hiểu rõ các trạng thái của trí não và cách chúng biểu hiện trong hành vi con người, như tri thức, sự hiểu biết, giải thích, niềm tin Cách tiếp cận này đã biến tâm lý học và ngôn ngữ học thành những lĩnh vực của khoa học tự nhiên nghiên cứu về bản chất của con người và hoạt động của bộ não.

1.1.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận a, Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị

Nguyên lý này của ngôn ngữ học tri nhận phản đối giả thuyết ngữ pháp tạo sinh cho rằng ngôn ngữ là một khả năng tri nhận tự trị hoặc một "module" riêng biệt với các khả năng tri nhận phi ngôn ngữ Thay vào đó, nó cho rằng biểu hiện của tri thức ngôn ngữ về cơ bản giống như sự biểu hiện của các cấu trúc ý niệm khác, và quá trình sử dụng tri thức này không khác đáng kể so với các khả năng tri nhận ngoài lĩnh vực ngôn ngữ Nói cách khác, khả năng ngôn ngữ không nên coi là bộ phận độc lập hoàn toàn mà là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát Nguyên lý này bao gồm hai hệ luận quan trọng, nhấn mạnh rằng khả năng ngôn ngữ và cơ chế tri nhận phi ngôn ngữ đều chia sẻ nguồn gốc và kết cấu chung trong hệ thống tri nhận của con người.

Tri thức ngôn ngữ bao gồm kiến thức về ý nghĩa và hình thức, phản ánh cấu trúc ý niệm và cách biểu hiện chúng Các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và âm vị học đều mang tính ý niệm, vì âm thanh và phát ngôn đều phải được tạo sinh và hiểu từ quá trình trí nhận Những quá trình này chi phối hoạt động nói, viết, nghe và đọc trong giao tiếp ngôn ngữ, đều liên quan mật thiết đến não bộ.

Các quá trình tri nhận vốn chi phối sự sử dụng ngôn ngữ, và về nguyên lý, chúng giống như các khả năng tri nhận khác, bao gồm việc tổ chức và trừu xuất kiến thức ngôn ngữ cũng như các tri thức khác trong trí não Ngôn ngữ không khác gì những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng cho các nhiệm vụ khác như tri giác bằng mắt, suy luận hoặc vận động Theo quan điểm tri nhận, ngôn ngữ là khả năng tri giác thời gian thực và tạo sinh các chuỗi đơn vị biểu trưng phân lập được cấu trúc hoá, trong đó ngữ nghĩa và ngữ pháp thể hiện sự ý niệm hoá nội dung.

Ngôn ngữ học tri nhận phản bác quan điểm của ngôn ngữ học đương thời dựa trên điều kiện chân nguỵ, cho rằng không thể quy cấu trúc ý niệm vào mối liên hệ đơn giản với thế giới bên ngoài Thay vào đó, nó nhấn mạnh sự ý niệm hoá kinh nghiệm để giao tiếp và hình thành kiến thức ngôn ngữ là quá trình trung tâm của khả năng tri nhận của con người Nghiên cứu cấu trúc ý niệm bao gồm các phạm trù, tổ chức tri thức, cũng như vai trò của các biến tố và kết cấu ngữ pháp trong việc cấu trúc kinh nghiệm theo cách riêng biệt Đồng thời, quá trình ý niệm hoá được thể hiện rõ qua các hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng, như đa nghĩa và các quan hệ từ vựng khác, góp phần hình thành tri thức ngôn ngữ xuất phát từ việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày.

Nguyên lý này đối lập với các ngữ pháp tạo sinh và ngữ pháp logic, khi cho rằng sơ đồ và phạm trù chung, trừu tượng chi phối tổ chức tri thức ngôn ngữ, trong đó nhiều hiện tượng ngữ pháp và ngữ nghĩa chỉ là yếu tố ngoại vi Ngôn ngữ học tri nhận xây dựng mô hình tập trung vào việc sử dụng và người dùng ngôn ngữ, bao quát các khía cạnh chức năng, dụng học, tương tác và xã hội – văn hóa của ngôn ngữ trong thực tế sử dụng Các nhà ngôn ngữ học cho rằng phạm trù và cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp, âm vị học được hình thành dựa trên nhận thức của con người về các phát ngôn riêng biệt trong quá trình sử dụng chúng hàng ngày.

Ba nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách con người xử lý và tiếp nhận ngôn ngữ Để nắm bắt rõ hơn về khuynh hướng này, cần xem xét các quan điểm liên quan như cách ngôn ngữ phản ánh tâm lý người nói và cách quá trình nhận thức ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày Ngôn ngữ học tri nhận còn nhấn mạnh vai trò của nhận thức và ý nghĩa trong việc hình thành và truyền đạt thông điệp, góp phần mở rộng kiến thức về cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ trong đời sống xã hội.

Ngôn ngữ học tri nhận nhằm nghiên cứu toàn diện chức năng tri nhận của ngôn ngữ, xem ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người Trong quan niệm mới, ngôn ngữ không chỉ mở ra cánh cửa vào thế giới khách quan mà còn là cửa sổ để khám phá thế giới tinh thần, trí tuệ con người và các quá trình tư duy bí ẩn Các hình thức ngôn ngữ cần được nghiên cứu trong mối liên hệ với cấu trúc tri nhận và ý nghĩa tri nhận, chuyển trọng tâm từ tư duy sang ý thức – nơi tập hợp tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần tích lũy của con người Ý thức ngôn ngữ được hiểu là tổng thể các ý gắn kết với hình thức ngôn ngữ, chỉ là một phần của ý thức chung, phản ánh các cảm xúc, biểu tượng và hình ảnh dưới dạng hệ thống ý niệm Khi nghiên cứu ý thức, các nhà ngôn ngữ học phải khảo sát mối liên hệ của ý thức với hiện thực qua các ý niệm, đặc trưng của ý thức này, đồng thời phân tích các quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa thế giới khách quan – những lĩnh vực thành công và quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ngữ nghĩa học tri nhận nói riêng.

Ngữ nghĩa không được xây dựng dựa trên các điều kiện khách quan có giá trị chân thực, mà phản ánh thế giới phi khách quan được phóng chiếu trong ý thức Nó liên quan chặt chẽ đến cấu trúc ý niệm do con người ước định, hình thành dựa trên kinh nghiệm và chiến lược tri nhận của con người.

Ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ xuất phát từ kinh nghiệm hình thành qua quá trình con người tương tác với thế giới, dựa trên tri thức và hệ thống niềm tin của con người Vì vậy, nghiên cứu ngữ nghĩa không thể tách rời tri thức ngữ nghĩa "đời thường" với tri thức bách khoa, bởi ngữ nghĩa là một phần của hệ thống ý niệm tổng thể chứ không phải là một "module" độc lập.

Ngôn ngữ có chức năng chính là truyền tải ý nghĩa, vì vậy các sự khác biệt về hình thức phản ánh rõ nét các sự khác biệt về ý nghĩa Cấu trúc cú pháp không tồn tại độc lập mà chịu tác động từ các yếu tố ngữ nghĩa, ngữ dụng và tri nhận, với cấu trúc bề mặt có mối liên hệ trực tiếp với cấu trúc ngữ nghĩa sâu bên trong Kết cấu ngữ pháp là sự kết hợp giữa ý nghĩa và hình thức, có vị trí tri nhận chính xác, không đơn thuần là kết quả của các quy tắc tạo sinh hay quy tắc phổ quát Do đó, ngữ pháp không nên xem như một hệ thống quy tắc cứng nhắc mà là một danh mục các biểu hiện có cấu trúc nội tại, được hình thành từ sự kết hợp giữa ý nghĩa và hình thức.

1.1.3 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận

Ý niệm là một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người, phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc và luôn mang tính dân tộc sâu sắc Nó là đơn vị của tư duy, bao gồm cả đặc trưng miêu tả, tình cảm, ý chí và hình ảnh, thể hiện qua lời nói, gắn liền với người nói và người nghe, đồng thời phản ánh các yếu tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo và cảm xúc Ý niệm không chỉ là sự suy nghĩ mà còn chứa đựng cảm xúc và hình tượng, góp phần tạo ra lớp văn hóa trung gian giữa con người và thế giới, gồm ba thành tố chính: khái niệm, cảm xúc-hình tượng và văn hóa, trong đó hai thành tố cảm xúc và hình tượng thể hiện đặc trưng dân tộc sâu sắc.

Ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức, phản ánh toàn diện thế giới trong tâm trí con người Chúng hình thành khi cấu trúc hoá thông tin về các sự kiện khách quan trong thế giới, cùng với những thế giới tưởng tượng và khả thể, giúp quy tụ đa dạng hiện tượng thành một hệ thống thống nhất Ý niệm lưu giữ kiến thức về thế giới, góp phần xây dựng bộ nhớ động, từ vựng tinh thần và ngôn ngữ bộ não, qua đó phản ánh toàn cảnh của thực tại trong tâm trí con người.

Từ, ngh a của từ và ý niệm từ vựng

1.2 Từ, ngh củ từ và ý niệm từ vựng

Hiện tượng từ tiếng Việt là một hiện tượng đa diện và phức tạp, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các nhà nghiên cứu đã đánh giá và phân tích từ tiếng Việt dưới nhiều góc độ khác nhau, góp phần làm rõ vai trò và đặc điểm của nó trong ngôn ngữ học Từ đó, giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng và ý nghĩa của từ trong tiếng Việt.

Lưu Văn Lăng cho rằng đặc điểm cơ bản của từ là khả năng tách biệt giữa hình (trong từ vựng) và tiếng (trong ngữ pháp), giúp phân biệt từ với các đơn vị cấu tạo từ Trong khi đó, Nguyễn Tài Cần nhấn mạnh rằng tất cả các đặc điểm ngữ pháp và cú pháp bắt nguồn từ thực tế rằng tiếng Việt không có biến hòa hình thái, tập trung vào mặt hình thái của từ Do đó, Lưu Văn Lăng quan tâm đến khả năng tách biệt của từ, còn Nguyễn Tài Cần chú trọng vào đặc điểm hình thái của từ trong ngữ nghĩa và cấu trúc.

Các nhà nghiên cứu trước đây thường chỉ tập trung vào một số phương diện của từ ngữ, chưa đề cập đầy đủ đến đặc điểm hình thái và ý nghĩa toàn vẹn của từ Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh rằng, trong tiếng Việt, từ là những hình thức ngữ âm ngắn gọn, cố định, sẵn có và bắt buộc trong giao tiếp xã hội để biểu thị nội dung tinh thần, là đơn vị nhận thức và giao tiếp có tính sẵn có, cố định trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm tạo ra câu và các phát ngôn mang ý nghĩa cụ thể Trong khi đó, Nguyễn Kim Thản định nghĩa từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có khả năng tách rời các đơn vị khác của lời nói để vận dụng độc lập, và là một khối hoàn chỉnh về mặt ngữ âm và ý nghĩa, bao gồm cả từ vựng và chức năng ngữ pháp.

Các định nghĩa về từ thường xem xét từ các phương diện như khả năng tách biệt, tính hoàn chỉnh, chức năng và hình thức của từ Tuy nhiên, vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về khái niệm này Theo chúng tôi, trong tiếng Việt hiện nay, định nghĩa về từ được nhiều người chấp nhận chính là của Đỗ Thị Kim Liên, mô tả rằng "Từ là một đơn vị của nghĩa, gồm 1 hoặc nhiều âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu" [Dẫn theo: 48,18].

Nhƣ vậy, trong tiếng Việt từ là đơn vị ngh a mang những đặc điểm sau: + Đơn vị cơ bản nhỏ nhất của ngh a

+ Độc lập, hoàn chỉnh về ngữ âm và ý ngh a

+ Đƣợc vận dụng linh hoạt, tự do trong lời nói

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về ý nghĩa của từ, trong đó theo lý thuyết phản ánh của V.I Lênin, ý nghĩa của từ chính là kết quả phản ánh hiện thực qua ý thức của con người Tuy nhiên, sự phản ánh này mang tính đặc biệt vì nó diễn ra qua ý thức của con người, với tư cách là đại diện của một cộng đồng văn hóa nhất định, góp phần hình thành và duy trì nhận thức chung của xã hội.

Ngữ nghĩa liên hệ mật thiết với nhận thức, giúp con người hiểu và nhận diện thế giới xung quanh Thông qua nhận thức, ngữ nghĩa phản ánh hiện thực, góp phần xây dựng hiểu biết về thực tại Nhờ vậy, ngữ nghĩa không chỉ là công cụ của tư duy, mà còn là phương tiện giao tiếp hiệu quả, giúp truyền đạt ý nghĩa và thông tin một cách rõ ràng Đây là chức năng quan trọng của ngữ nghĩa trong quá trình giao tiếp và nhận thức thực tại.

Ngh a đƣợc GS Lê Quang Thiêm xác định toàn diện và chi tiết hơn:

Nghĩa của ngữ nghĩa thể hiện trong mọi lĩnh vực hình thức tồn tại của tín hiệu và cần xem xét ở đơn vị có thuộc tính tín hiệu, đặc biệt là trong dạng trừu tượng của các hình thức thực hiện tín hiệu Ngữ nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện và cấp độ của ngôn ngữ, phục vụ chức năng giá trị, tư duy, cũng như các chức năng cụ thể khác như trong lời nói, văn bản và điển ngôn Nghĩa của một thực thể tinh thần, là hình thức do con người tạo ra và sử dụng ngữ nghĩa như một phương tiện, công cụ; do đó, quan điểm chức năng là trung tâm trong việc giải thích về nghĩa của ngữ nghĩa [Dẫn theo: 62, 19].

Ý nghĩa của ngữ nghĩa đã hình thành nên nội dung của ý thức xã hội, thể hiện sự thống nhất giữa khái quát hóa và giao tiếp trong quá trình truyền đạt ý nghĩa.

Tính hệ thống trong ngôn ngữ phản ánh cấu trúc của hệ thống khái niệm mà con người sử dụng để hiểu thế giới Cơ chế trí não hoạt động như một hệ thống phản ánh, phần nào mô phỏng các quy luật và cấu trúc của thế giới bên ngoài Đồng thời, trải nghiệm văn hóa và xã hội của con người góp phần hình thành các hệ thống khái niệm trong ngôn ngữ, giúp chúng ta phản ánh và tương tác với thế giới một cách có hệ thống và logic.

Xét ví dụ sau: Lễ giáng sinh đang đến gần

Dưới đây là đoạn văn chỉnh sửa dựa trên nội dung của bạn, đảm bảo có tính mạch lạc, phù hợp với chuẩn SEO:Ví dụ này liên quan đến miền khái niệm về thời gian trong hệ thống tri thức của con người Miền khái niệm là nơi chứa đựng và tổ chức các ý nghĩa và trải nghiệm liên quan với nhau, giúp con người hiểu và phân loại thế giới xung quanh Chẳng hạn, miền khái niệm thời gian không chỉ liên quan đến các sự kiện như lễ Giáng sinh mà còn thể hiện qua các trải nghiệm vật chất cụ thể Trong đó, các khái niệm trừu tượng như lễ Giáng sinh được hiểu qua các hoạt động và biểu hiện vật chất, ví dụ như sự chuyển động của các hoạt động khi sử dụng từ ngữ để mô tả.

Trong một cộng đồng ngôn ngữ, người nói và người nghe hiểu nhau qua việc trao đổi và xây dựng các liên hệ trong hiểu biết của mình, gợi lên trong tâm trí người nghe các ý nghĩa và tư tưởng mà người nói muốn truyền đạt Những hiện tượng hàng ngày trở thành trải nghiệm, chứa đựng trong tâm trí chúng ta các ngữ cảnh liên kết với nhau, phản ánh cấu trúc của thực tại Ngôn ngữ là phản ánh của những hiểu biết cá nhân và cộng đồng, là sản phẩm của trí tuệ con người thể hiện qua các ý niệm, hình dung tưởng tượng khi sử dụng tín hiệu ngôn ngữ trong giao tiếp, tư duy và suy nghĩ.

Trong tâm lý học ngôn ngữ, các phương diện như trí nhớ, nhận thức, sự chú ý và quá trình suy nghĩ được nghiên cứu để hiểu rõ cách con người sử dụng ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ học tri nhận tập trung vào ngữ nghĩa nhận thức và ngữ pháp nhận thức, đặt câu hỏi về ý nghĩa là gì Theo Ray Jackendoff (1989), ý niệm là sự thể hiện tinh thần, có thể là nghĩa của biểu thức ngôn ngữ, và là một thực thể tinh thần liên kết với hình thức ngôn ngữ Trong ngữ cảnh này, các đơn vị từ vựng không có nghĩa cố định mà chỉ mang ý niệm; nghĩa của từ là cấu trúc ý niệm được hình thành khi sử dụng các đơn vị ngôn ngữ Croft (1993) cho rằng nghĩa của một từ chỉ được “kiến tạo” sau khi toàn bộ ý nghĩa của phát ngôn được xác định, khác với quan điểm truyền thống cho rằng nghĩa của phát ngôn là sự kết hợp ý nghĩa các từ thành phần và cách sắp xếp chúng trong câu.

Kí hiệu ngôn ngữ đóng vai trò kích hoạt cơ chế kiến tạo nghĩa trong đầu người giao tiếp, giúp hình thành ý nghĩa dựa trên không gian tinh thần hoặc khung ý niệm của mỗi cá nhân Việc hiểu và diễn giải các kí hiệu như “ngon” phụ thuộc vào phần cấu trúc tri thức và trải nghiệm của người nghe, khi chúng kích hoạt các ý nghĩa phù hợp trong tâm trí họ Như vậy, kí hiệu không chỉ đơn thuần là một phương tiện truyền đạt thông tin mà còn là công cụ kích hoạt quá trình hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa trong hệ thống tri thức của mỗi người.

(b) Bức tranh này trông ngon đấy

Từ "ngon" có nhiều nghĩa khác nhau, bao gồm nghĩa là "quả chín, ngọt", cũng như nghĩa là "đẹp, hay" và "gợi cảm, xinh" Để hiểu rõ ý nghĩa của từ "ngon" trong các ví dụ, người nói hoặc người nghe cần vận dụng kiến thức bách khoa liên quan đến các lĩnh vực như "quả", "tranh" hoặc "con gái" Quá trình tạo ra nội dung nghĩa của các phát ngôn dựa trên việc kích hoạt không gian tinh thần, giúp kết nối các ý nghĩa khác nhau của từ "ngon" trong các bối cảnh đa dạng.

Ca dao là loại văn chương truyền khẩu được sáng tác và diễn xướng trong môi trường lao động và sinh hoạt tập thể, phản ánh tâm tư tình cảm và nét đặc trưng của cộng đồng người Tìm hiểu ca dao giúp khám phá những tín hiệu văn hóa đặc sắc do người dân xứ Nghệ sáng tạo, thể hiện sâu sắc nét đẹp cốt cách và tâm hồn của xứ sở này Đặc biệt, ca dao tình yêu là nơi gửi gắm những cảm xúc chân thành, là nơi lưu giữ tinh thần và truyền thống của người dân Nghệ An Qua đó, ca dao trở thành phương tiện quan trọng giúp hiểu rõ hơn về đời sống, tâm tư và bản sắc của cộng đồng dân tộc.

1.3 Câu - đơn vị nghiên cứu ngh trong c d o

Ca dao và ca dao tình yêu

Ca dao là thể loại thơ dân gian truyền thống nổi bật của Việt Nam, phản ánh phong tục tập quán của từng địa phương và thời đại qua những bài hát dân gian truyền miệng Trước đây, ca dao còn được gọi là phong dao, thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa đời sống thực tế và nghệ thuật dân gian Đây là những thuật ngữ Hán – Việt do các nhà nho Việt Nam sáng tạo, dùng để gọi phần lời thơ trong các hoạt động ca hát và lời kể chuyện dân gian, góp phần giữ gìn và truyền đạt nét đặc sắc của văn hóa truyền thống Việt Nam.

Ca dao không có ranh giới rõ rệt với dân ca, đều là những sáng tác dân gian phản ánh đời sống nội tâm, tư tưởng và tình cảm của người bình dân Nó gồm các lời thơ trong các bài dân ca, kết hợp giữa thơ và nhạc, tạo nên những tác phẩm trữ tình đặc trưng của văn hóa dân gian Ngoài ra, cũng có những câu, bài thơ dân gian được sáng tác riêng để đọc mà không phải hát, nhưng nếu phổ biến rộng rãi, vẫn được gọi là ca dao, thể hiện đặc trưng của nghệ thuật truyền miệng dân gian Việt Nam.

1.4.2 Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam

Người bình dân Việt Nam xưa thường sử dụng ca dao dân ca để thể hiện tâm tư tình cảm và suy nghĩ về cuộc sống, giúp lời nói trở nên chân thực và thuyết phục hơn khi kết hợp với tục ngữ, thành ngữ Chỉ khi hát hò, họ mới có thể thể hiện đầy đủ nội tâm và cảm xúc của mình một cách chân thực Các hình thức ca hát từ lâu đã trở thành nét văn hóa gắn liền với đời sống lao động, gia đình và cộng đồng của người bình dân Nhiều bài ca dao ra đời trong các hoạt động này, phản ánh sâu sắc tâm trạng, tình cảm và cảm xúc của người dân về lao động, gia đình và xã hội.

Ca dao thường phản ánh niềm vui lao động, tư tưởng đề cao giá trị của lao động, nhưng cũng nói đến những khó khăn, vất vả và nỗi đau buồn trong cuộc sống nghèo khổ Những câu ca dao thể hiện sự bất công xã hội, nỗi nhục nhã của người nghèo bị áp bức bởi kẻ có quyền có của, đồng thời thể hiện lòng phản kháng, đòi hỏi dân chủ và nhân đạo của người dân bình thường thời xưa Những nội dung này phản ánh đời sống vật chất thấp kém và những bất công xã hội, góp phần thể hiện tâm trạng của người lao động và mong muốn cải cách xã hội.

Mảng nội dung lớn trong ca dao Việt Nam phản ánh sâu sắc niềm khao khát sống đậm đà tình cảm gia đình và cộng đồng, thể hiện tinh thần nhân đạo, đạo lý và lòng hiếu trung cao cả Những chủ đề này được cập nhật rõ nét qua các câu ca dao thể hiện lòng kính trọng tổ tiên, truyền thống yêu thương và đạo đức ứng xử trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Ca dao Việt Nam không chỉ là nghệ thuật dân gian mà còn là kim chỉ nam truyền cảm hứng sống có đạo lý, tình cảm chân thành, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua nhiều thế hệ.

- Tình yêu quê hương làng xóm

- Tình thầy trò, tình bạn bè

- Tình cảm của những thành viên sống trong cùng một cộng đồng (làng-nước)…

- Về hình thức nghệ thuật:

Ca dao thường được sáng tác theo hai thể thơ truyền thống là thể lục bát và thể song thất lục bát, giúp tạo nên những bản tình ca dân gian đậm đà bản sắc Việt Nam Ngoài ra, ca dao còn có thể sử dụng lối nói bằng văn vần, trong đó mỗi câu có thể gồm hai đến bốn từ hoặc nhiều hơn, góp phần làm phong phú và đa dạng cách thể hiện cảm xúc, suy nghĩ trong văn học dân gian Việt Nam.

Các thể thơ kể trên đều có quy định rõ về số tiếng trong câu, cách gieo vần và thanh điệu theo luật bằng – trắc Nếu bài ca dao sáng tác đúng theo các quy định này, đó gọi là dạng nguyên thể Tuy nhiên, ca dao thường xuyên sử dụng các dạng biến thể, chủ yếu là dạng của thể thơ trong đó vẫn giữ các quy tắc tối thiểu về số lượng và trật tự của vần và thanh điệu, nhưng số lượng tiếng trong câu thường thay đổi linh hoạt, tạo nên sự đa dạng cho các bài ca dao.

Ca dao thể hiện ý nghĩa qua các hình ảnh so sánh và ẩn dụ sinh động, giúp truyền tải thông điệp một cách sâu sắc và giàu hình tượng Để xây dựng ý, ca dao thường sử dụng hình thức đối đáp, mở đầu bằng miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoặc sinh hoạt đời thường, tạo nên không khí chân thực và gần gũi Ngoài ra, điệp ngữ cũng là một thủ pháp quen thuộc giúp nhấn mạnh ý nghĩa và tạo nhịp điệu cho bài ca dao, góp phần làm rõ nội dung và cảm xúc của tác phẩm.

Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ thơ song vẫn gần gũi với ngôn ngữ hàng ngày, thể hiện qua cách dùng từ và cấu trúc câu Theo Mai Ngọc Chừ, ngôn ngữ ca dao Việt Nam kết tinh những đặc điểm nghệ thuật tinh túy nhất của tiếng Việt, vừa phản ánh các yếu tố văn học, vừa linh hoạt, tài tình trong việc vận dụng ngôn ngữ chung và ngôn ngữ hội thoại trong dạng ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ Ngôn ngữ ca dao chứa đựng nhiều từ sinh động, thành ngữ, tục ngữ, lối chơi chữ dí dỏm và táo bạo, phản ánh rõ nét tính chất phương ngữ và phong cách đặc trưng của từng cộng đồng miền đất nước.

1.4.3 Mảng ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ

Tình yêu là một khái niệm vô cùng trừu tượng, dù ai cũng quen thuộc với nó, nhưng để trả lời “tình yêu là gì?” lại rất khó khăn Người đã yêu vẫn bàn luận về tình yêu, trong khi những người đang trong độ tuổi yêu thì mong muốn hiểu rõ hơn về khái niệm này Chủ đề về tình yêu đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống Mặc dù khó đưa ra định nghĩa khoa học chính xác, nhưng có thể nói chung, tình yêu là cảm xúc cao nhất trong mối quan hệ giữa nam và nữ Nó thể hiện mối liên hệ giữa hai người khác giới có nhu cầu gắn bó để cùng sống, tự nguyện hiến dâng cuộc đời cho nhau.

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, bộ phận ca dao tình yêu đôi lứa được đánh giá là phong phú nhất, phản ánh số lượng lớn các bài hát thể hiện tình cảm chân thành giữa các chàng trai và cô gái Ca dao trở thành phương tiện hữu hiệu để các người trẻ trò chuyện, diễn đạt cảm xúc, tâm trạng trong các mối quan hệ tình bạn, tình yêu, đặc biệt trong các dịp gặp gỡ, lao động hay lễ hội Một hình thức đặc trưng của sự giao duyên là các cuộc hát đối đáp nam nữ, thể hiện mối quan hệ tình cảm qua những câu ca dao đối đáp bổ sung nhau, tạo nên nội dung hoàn chỉnh về tình yêu Tất cả các giai đoạn, cung bậc cảm xúc của tình yêu, từ trong sáng, chân thực đến nồng nàn, thủy chung, đều được ca dao thể hiện một cách tinh tế, gợi cảm Nhờ đó, hình ảnh về tình yêu đôi lứa trong ca dao Việt Nam được khắc họa sinh động, rõ nét, sâu sắc và đầy lãng mạn, bay bổng.

Ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa là phần đặc sắc và viên mãn nhất của văn học dân gian Việt Nam, thể hiện vẻ đẹp độc đáo trong tâm hồn, tài trí và khát vọng của người Việt qua bao đời Chính nó là biểu tượng cho vẻ đẹp, sức sống và sức hấp dẫn của ca dao nói riêng cũng như văn học dân gian Việt Nam nói chung, phản ánh sâu sắc những cảm xúc chân thành và tinh thần lãng mạn của người xưa.

Văn học dân gian là mảng đề tài lớn, mang nhiều ý nghĩa và là mảnh đất màu mỡ cho những ai đam mê nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa truyền thống.

Ca dao tình yêu Nghệ Tĩnh là phần quan trọng giúp thể hiện nét đặc trưng của văn hóa và con người xứ Nghệ, đồng thời phản ánh những đặc điểm chung trong tình yêu của người Việt Nó không chỉ là một phần của bộ sưu tập ca dao tình yêu Việt Nam mà còn góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú của thể loại này với những nét riêng biệt độc đáo Bộ phận ca dao này mang đậm tính địa phương, thể hiện tâm tư, tình cảm chân thực và sâu sắc của người dân Nghệ Tĩnh trong chuyện tình cảm.

1.4.4 Tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh

Trong kho tàng ca dao xứ Nghệ, ca dao tình yêu đôi lứa chiếm vị trí phong phú nhất cả về số lượng, phản ánh vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Ca dao thể hiện sâu sắc các giai đoạn, cung bậc cảm xúc của tình yêu, từ trong sáng, chân thật đến nồng nàn, thủy chung, qua những lời đối đáp giữa chàng trai và cô gái trong các cuộc hát giao duyên Các bài ca dao cổ truyền về tình yêu nam nữ thường được chia thành hai phần riêng biệt, phản ánh nội tâm và ý nghĩ của từng bên, tạo nên nội dung hoàn chỉnh về tình yêu đôi lứa Hình thức hát đối đáp không những là phương tiện giao lưu, thể hiện cảm xúc mà còn đem lại sự chân thực, sinh động trong mô tả vẻ đẹp và khát vọng về tình yêu của người xứ Nghệ Ca dao tình yêu còn thể hiện rõ nét các sắc thái yêu thương, mong muốn có một tình yêu trong sáng, nồng cháy, thủy chung, góp phần tạo nên diện mạo tình yêu lãng mạn, tinh tế của văn hóa dân gian nơi đây.

Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI NGHỆ BIỂU ĐẠT

Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI NGHỆ BIỂU ĐẠT

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An, Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu, Tạp chí Văn học số 6, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1990
2. Diệp Quang Ban(2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
3. Nguyễn Nhã Bản (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
4. Nguyễn Nhã Bản (2001), Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
5. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
6. Chữ Thị Bích (2007)Hành động ngôn ngữ gián tiếp cho tặng trong giao tiêp của người Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10, tr, 40-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành động ngôn ngữ gián tiếp cho tặng trong giao tiêp của người Việt
Tác giả: Chữ Thị Bích
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2007
7. Nguyễn Phan Cảnh (1997), Ngôn ngữ thơ, Nxb ĐH và THCH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb ĐH và THCH
Năm: 1997
8. Nguyễn Tài Cẩn (1996) Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
9. Nguyễn Phương Châm (1997), Sự khác nhau của ca dao người Việt Xứ Nghệ và Xứ Bắc, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khác nhau của ca dao người Việt Xứ Nghệ và Xứ Bắc
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Nhà XB: Tạp chí Văn hoá Dân gian
Năm: 1997
10. Đỗ Hữu Châu (1992), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
11. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng nghữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, Tr 171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng nghữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1999
12. Đôc Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Nxb Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ, tập 2
Tác giả: Đôc Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
Năm: 1962
13. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (Chủ biên), Võ Văn Trực (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ (tập 1, 2), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ (tập 1, 2)
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1996
14. Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến (1991), Cơ sở Ngôn ngữ và tiếng Việt, Nxb ĐH và THCH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngôn ngữ và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb ĐH và THCH
Năm: 1991
15. Trần Văn Cơ (2006), Ngôn ngữ học tri nhận là gì?, Tạp chí Ngôn ngữ, số7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận là gì
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2006
16. Trần Văn Cơ (2007), Nhận thức, tri nhận- hai hay một (tìm hiểu thêm về ngôn ngữ học tri nhận), Tạp chí Ngôn ngữ, số 7, tr: 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức, tri nhận- hai hay một (tìm hiểu thêm về ngôn ngữ học tri nhận)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2007
17. Trần Trương M Dung (2005), Tìm hiểu ý niệm buồn trong tiếng Anh và tiếng Nga, Tạp chí Ngôn ngữ, số 8, tr 61-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ý niệm buồn trong tiếng Anh và tiếng Nga
Tác giả: Trần Trương M Dung
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2005
18. Vũ Dung (1994), Ca dao trữ tình Việt Nam, Nxb Giao dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao trữ tình Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung
Nhà XB: Nxb Giao dục
Năm: 1994
19. Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2004), Ca dao- dân ca Đẹp và hay, Nxb Trẻ hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao- dân ca Đẹp và hay
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
20. Đại học Vinh, Khoa ngữ văn (2004), Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học
Tác giả: Đại học Vinh, Khoa ngữ văn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w