1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ai trong ca dao xứ nghệ

56 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ 'Ai' Trong Ca Dao Xứ Nghệ
Tác giả Phan Thị Chi Hoài
Người hướng dẫn Thầy Giáo Hoàng Minh Đạo
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Văn Học
Thể loại Khoá Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 694,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát từ "ai" trong những bài ca dao thuộc phần A cuốn sách gồm toàn bộ tập 1 và 275 trang tập 2 mà trọng tâm là ở hai mảng đề tài: " Đặc điểm địa phương

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nổ lực của bản thân ,

tôi còn được sự hướng dẫn , giúp đỡ tận tình của thầy giáo Hoàng Minh Đạo, các thầy cô trong khoa và các bạn đồng nghiệp Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo Hoàng Minh Đạo, các thầy

cô giáo và các bạn đồng nghiệp Chúc thầy cô và các bạn mạnh khoẻ, thành công

Trang 2

B PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁI NIỆM, TẦN SỐ XUẤT HIỆN VÀ

CÁCH SỬ DỤNG TỪ " AI" TRONG CA DAO XỨ NGHỆ NÓI CHUNG Ở HAI ĐỀ TÀI : " ĐẶC ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG …" VÀ "

TÌNH YÊU NAM NỮ" NÓI RIÊNG

8

2 Tần số xuất hiện từ " ai" ở ca dao xứ Nghệ (trong tương

quan so sánh với ca dao các vùng khác)

9

2.1.2 Đề tài " Đặc điểm địa phương…." (Quê hương đất nước) 10

3 Cách sử dụng từ "ai" ở hai mảng đề tài: "Đặc điểm địa

phương xứ Nghệ", " Tình yêu nam nữ"

3.2.1 "Ai" xuất hiện đầu bài ca dao 18 3.2.2 " Ai " xuất hiện ở giữa bài ca dao 19 3.2.3 "Ai" xuất hiện cuối bài ca dao 21

CHƯƠNG 2 SẮC THÁI BIỂU CẢM CỦA TỪ " AI" Ở HAI MẢNG ĐỀ TÀI " ĐẶC

ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG XỨ NGHỆ" VÀ " TÌNH YÊU NAM NỮ"

25

1.1 Từ " ai" kết hợp với từ chỉ hướng 25

Trang 3

1.1.1 "Ai về " …xứ Nghệ 25

1.2 Từ " ai" kết hợp với động từ năng nguyện 30 1.3 Từ " ai" kết hợp trong những câu có tính công thức chung 32

2.2 Từ " ai" với thái độ trách móc khi yêu 36 2.3 Từ " ai" với mong ước thuỷ chung trong tình yêu 39 2.4 Một số sắc thái đặc biệt của từ " ai" trong "Nỗi niềm thương

nhớ

41

3 So sánh từ " ai " trong ca dao xứ Nghệ với từ "ai" trong "

truyện Kiều" của Nguyễn Du

ca dao nói chung, ca dao xứ Nghệ nói riêng, một thực tế về ngôn ngữ của nó

đã được nhiều người thừa nhận, đó là sự xuất hiện với số lượng đáng kể những bài ca dao có chứa từ " ai" Tuy nhiên, cho đến nay, đây vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, bởi chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu về nó một cách có

Trang 4

dao nói chung, ca dao xứ Nghệ nói riêng, không phải là sự ngẫu nhiên mà có nguyên nhân từ chính đặc điểm sáng tác của thể loại này, chúng tôi đã lưu ý tìm hiểu về nó với mong muốn góp phần làm rõ hơn một phương diện thuộc

về nghệ thuật ngôn từ ca dao

Mặt khác, trong vốn văn học dân gian vô cùng phong phú và đậm đà bản sắc của đất Lam Hồng , những câu ca dao đầy chất Nghệ luôn có một sức hút kỳ lạ đối với người nghe Được sống, học tập và tắm mình trong môi trường ca dao này, bản thân những đứa con đất Nghệ như chúng tôi luôn cảm thấy tràn ngập trong trái tim và tâm hồn mình một tình yêu đối với những sáng tác của cha ông Từ đáy lòng, chúng tôi mong muốn được giữ gìn và truyền lại cho thế hệ tương lai " hồn thơ đất nước quê hương" ấy Và việc tìm hiểu một khía cạnh nhỏ của ca dao xứ Nghệ ( cách dùng từ "ai" ) mà chúng tôi thực hiện trong đề tài này cũng không ngoài mục đích đó

2.MỤC ĐÍCH, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm hướng tới mục đích sau:

- Làm rõ thêm một phương diện thuộc về đặc điểm ngôn ngữ của ca dao , đặc biệt là ca dao xứ Nghệ, đó là cách sử dụng từ "ai"

- Câu hỏi đạt ra ở đây là: " Số lượng xuất hiện của từ " ai" là bao nhiêu? " ; "ở đề tài nào là nhiều nhất? " ; " " các kiểu kết hợp và vị trí xuất hiện của từ " ai" như thế nào?" ; " sự kết hợp và vị trí xuất hiện ấy tạo ra sắc thái biểu cảm gì? "… Trả lời những câu hỏi trên đồng nghĩa với việc lý giải

"nguyên nhân vì sao trong ca dao nói chung, ca dao xứ Nghệ nói riêng, từ

"ai" lại xuất hiện nhiều như vậy? "

- Hiện nay, trong các bài ca dao đưa vào chương trình phổ thông đã

có những bài chứa từ "ai" , và xu hướng chung khi giảng dạy ca dao ở đây là

sử dụng lối giảng " tích hợp" - qua tác phẩm để giảng ngôn ngữ Trong đề tài này, chúng tôi cũng thông qua việc khảo sát, nghiên cứu các bài ca dao xứ Nghệ để tìm hiểu về một yếu tố ngôn ngữ đó là từ "ai" Vì thế, với đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần vào việc giảng dạy ca dao ở trường Trung học (cơ sở và phổ thông) đúng theo tinh thần đổi mới

Trang 5

2 2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Cuốn " Kho tàng ca dao xứ Nghệ " của Ninh Viết Giao (chủ biên) , Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực , Nhà xuất bản Nghệ An ,1996 gồm

có 3 phần:

A.Về ca dao của người Việt ở xứ Nghệ

B Về ca dao của Người Thái ở xứ Nghệ

C Về đồng dao ở xứ Nghệ

Với đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát từ "ai" trong những bài ca dao thuộc phần A cuốn sách (gồm toàn bộ tập 1 và 275 trang tập 2) mà trọng tâm là ở hai mảng đề tài: " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ "và " Tình yêu nam nữ"

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số tài liệu có liên quan để so sánh

2.3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Căn cứ vào mục đích và đối tượng nghiên cứu như đã được xác định ở trên, để giải quyết vấn đề chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau

sự xuất hiện của từ "ai" trong ca dao là đáng chú ý , và ở một số bài viết, các tác giả ít nhiều đã nói đến hiện tượng này Nhưng tất cả mới chỉ mang tính chất minh hoạ nhằm làm nổi bật cho một vấn đề nào đó mà họ đưa ra

Ông Hoàng Tiến Tựu , trong công trình " Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy nghiên cứu văn học dân gian" , NXBGD, 1997, để làm sáng tỏ nhận định: " đối tượng và chủ thể trữ tình thường có sự ẩn hiện và chuyển hoá rất linh hoạt, đa dạng , và bất ngờ", đã đưa ra ví dụ bài ca dao trong đó

Trang 6

…"Ai làm cho mẹ tôi già

Lưng eo vú dếch cho cha tôi buồn?"

và nhận xét :…"Đại từ nghi vấn phiếm chỉ "ai" ở đây thật là hàm súc và độc đáo "Ai" vừa có tính chất trừu tượng khái quát, vừa có tính chất xác định cụ thể, vừa là nghi vấn, vừa là khẳng định "Ai" có thể là hoàn cảnh, thời gian, năm tháng, tuổi tác , nhưng "ai" cũng có thể là một người, là "cha tôi"…" [ 12, 132]

Ở đây, tuy tác giả đã đề cập đến cách sử dụng đại từ "ai" song chỉ trong một bài ca dao cụ thể và có tính chất minh hoạ cho ý kiến mà ông đưa

ra trước đó về nhân vật và đối tượng trữ tình

Cũng với tính chất chứng minh như vậy, các tác giả Đinh Gia Khánh ( chủ biên ), Chu Xuân Diên , Võ Quang Nhơn, trong cuốn "Văn học dân gian Việt Nam", Nxb Giáo Dục, 1998, đã nói đến cách sử dụng đại từ phiếm chỉ "ai" như sau: " Trong ca dao, dân ca Việt Nam, Những cách xưng hô của nhân vật thường không nói lên điều gì về tên tuổi, tiểu sử, hoàn cảnh riêng… của nhân vật Đặc biệt, đáng chú ý là cách dùng đại từ phiếm chỉ "ai" Rất nhiều bài hát trong đó nhân vật dùng cách gọi này để nói về mình và người khác… " [ 6, 493 ]

Ý kiến này tuy đã trực tiếp đề cập đến cách sử dụng từ "ai" ở ca dao ( chứ không phải đề cập đến khi phân tích ví dụ như Hoàng Tiến Tựu ở trên ) nhưng tác giả vật chỉ nói tới một cách sơ lược nhằm mục đích làm sáng rõ cho nhận định về " xu hướng xây dựng nhân vật không có tính xác định về đặc điểm diện mạo, tính cách " của ca dao

Ngoài việc xem xét cách sử dụng từ "ai " với mục đích làm cơ sở chứng minh các nhận định như trên, các tác giả còn đề cập đến từ "ai" khi đi vào phân tích, bình giảng các bài ca dao cụ thể Tiêu biểu nhất là Hoàng Tiến Tựu với cuốn " Bình giảng ca dao", Nxb Giáo Dục, 1996 Trong cuốn sách này, khi đưa ra những bài ca dao có chứa từ "ai" để bình giảng tác giã đã nhiều lần nói về sắc thái biểu cảm của từ "ai" trong các bài ca dao ấy Song tất cả chỉ dừng lại ở đó

Trang 7

Rõ ràng, dù ít nhiều đã nói tới đại từ phiếm chỉ "ai" trong ca dao nói chung nhưng các tác giả đi trước vẫn chưa có công trình cụ thể nào đề cập đến nó một cách hệ thống

Đối với ca dao nói chung, tình hình là như vậy Đối với ca dao xứ Nghệ nói riêng, từ trước tới nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu như:

" Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ " ( Nguyễn Phương Châm); " Tiếng Nghệ trong ngôn ngữ văn học dân gian" (Nguyễn Xuân Đức); " Đất nước, con người xứ Nghệ qua kho tàng ca dao xứ Nghệ " ( Trương Xuân Tiếu) * ; " Chơi chữ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh" ( Nguyễn Nhã Bản, Phan Thị An)** ; " Khảo sát vốn từ địa phương trong thơ

ca dân gian Nghệ Tĩnh" (Hồ Thị An , Luận văn tốt nghiệp Đại học Sư phạm Vinh, 1995)…Trong những tài liệu này, các tác giả chủ yếu chỉ đi sâu vào mặt nội dung của ca dao xứ Nghệ chứ chưa quan tâm đến mặt hình thức thể hiện, về cách dùng từ "ai" thì càng không được nói tới Cũng nói về ca dao Nghệ Tĩnh ông Ninh Viết Giao trong phần nghiên cứu giới thiệu cuốn " Kho tàng ca giao xứ Nghệ "đã đưa ra nhiều nhận xét rất xác đáng về mặt nội dung Và đây đó trong bài viết ấy, tác giả đã đề cập đến sắc thái biểu cảm của từ " ai" nhưng chưa chú ý đến hình thức biểu hiện của nó Tuy nhiên, những công trình trên thực sự là tư liệu bổ ích cho chúng tôi khi đi vào tìm hiểu vấn đề:

" Từ "ai" trong ca dao xứ Nghệ "

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁI NIỆM, TẦN SỐ XUẤT HIỆN VÀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ "AI" TRONG CA DAO XỨ NGHỆ NÓI CHUNG,

Ở HAI ĐỀ TÀI : " ĐẶC ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG … "

VÀ " TÌNH YÊU NAM NỮ " NÓI RIÊNG

1 VỀ KHÁI NIỆM

1.1.KHÁI NIỆM TỪ "AI"

* Ba bài nghiên cứu này in trong "Tạp chí văn học dân gian" - số 3 ,1997

Trang 8

"Ai vốn là đại từ nghi vấn chỉ người Trong tiếng Việt, đại từ nghi vấn

"ai" còn được dùng như đại từ mang ý nghĩa phiếm định

Theo "Từ điển tiếng Việt " thì từ "ai" có ba nghĩa như sau:

1.1.1 " Từ dùng chỉ người nào đó , không rõ ( thường dùng để hỏi)" 1.1.2 "Từ dùng chỉ người nào đó, bất kỳ"

1.1.3 "Từ dùng chỉ người nào đó , có khi là chính mình mà không muốn nêu rõ ra" [17,3]

Từ các nghĩa nêu trên, ta thấy có một đặc điểm nổi bật của từ "ai" đó

là tính chất chỉ chung, không cụ thể, rõ ràng Trong tiếng Việt, những từ có đặc điểm chỉ chung như vậy gọi là những từ phiếm chỉ

1.2: KHÁI NIỆM " CA DAO XỨ NGHỆ "

"Ca dao" nói chung mà chúng tôi dùng ở đây được hiểu là những câu, những phần lời cốt lõi trong các làn điều dân ca, sau khi đã lược bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi

" Ca dao xứ Nghệ " là cách dùng để chỉ những bài ca dao sưu tầm ở xứ Nghệ ( bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh ), có thể do người Nghệ hay người địa phương khác sáng tác ra song từ lâu đã được người Nghệ lưu truyền , thưởng thức và đã qua thời gian sàng lọc bởi cái " gu" thẩm mỹ của họ, vì thế nên có nhiều " chất Nghệ "

Xứ Nghệ có một kho tàng rất phong phú, đa dạng bao gồm của cả người Việt lẫn của cả các dân tộc ít người sáng tác Tuy nhiên, trong giới hạn đề tài này, chúng tôi chỉ xin khảo sát phần ca dao xứ Nghệ do người Việt sáng tác, theo sự sưu tầm và tuyển chọn của các tác giả: Ninh Viết Giao ( chủ biên ), Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực trong cuốn " Kho tàng ca dao

Trang 9

Việt gồm 4157 bài, chia làm 7 đề tài khác nhau Theo khảo sát của chúng tôi, trong số 4157 bài thuộc phần này có 647 chứa từ "ai" ( chiếm khoảng 15,56% ) Tỷ lệ này không giống nhau ở các đề tài cụ thể ở các đề tài như sau:

- " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ ": 419 bài trong đó có 101 bài có từ

"ai" ( chiếm khoảng 24,10% )

- " Tình yêu nam nữ " : 1894 bài trong đó 294 bài có từ "ai" ( chiếm khoảng 15,33% )

- " Quan hệ gia và hôn nhân ": 457 bài trong đó 54 bài có từ "ai"

( chiếm 11,81%)

- " Cuộc sống trong xã hội nông nghiệp : 416 bài trong đó 52 bài có từ

"ai" ( chiếm 12,50% )

- " Quan điểm lao động và cuộc sống": 271 bài trong đó 50 bài có từ

"ai" ( chiếm khoảng 18,45% )

- " Phê phán thói hư tật xấu và phong tục lạc hậu": 291 bài trong đó 28 bài có từ "ai" ( chiếm khoảng 9,62% )

- " Tinh thần dân tộc và quan hệ giai cấp": 409 bài trong đó 72 bài có

từ "ai" ( chiến khoảng 15,54 %)

Qua khảo sát ban đầu, chúng tôi thấy từ "ai" xuất hiện trong ca dao xứ Nghệ một cách khá phổ biến ở các đề tài Trong đó, đề tài chiếm tỷ lệ cao nhất " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ ", tiếp đến là đề tài " Quan điểm lao động và kinh nghiệm cuộc sống " rồi đề tài " Tinh thần dân tộc và quan hệ giai cấp " Đề tài " Tỉnh yêu nam nữ " tuy tỷ lệ không cao bằng 3 đề tài trên song với khoảng 15,31% thì từ "ai" ở đây cũng là một hiện tượng đáng chú

ý Việc từ "ai" xuất hiện phổ biến không chỉ tồn tại riêng ở ca dao xứ Nghệ

mà còn hiện tượng chung của ca dao các vùng khác Hơn nữa, trong ca dao nói chung, ca dao các vùng nói riêng, chúng tôi cũng nhận thấy từ "ai" luôn xuất hiện nhiều nhất ở ca dao về quê hương đất nước và luôn có tỷ lệ đáng

kể ở ca dao tình yêu nam nữ Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra một số kết quả khảo sát về sự hiện hữu của từ "ai" trong ca dao một số vùng khác để so sánh

với hiện tượng này ở ca dao xứ Nghệ

Trang 10

2.1 BẢNG SO SÁNH :

Để đưa ra được những con số cụ thể trong các bảng so sánh dưới đây chúng tôi đã khảo sát trên các tài liệu sau:

- " Ca dao ngạn ngữ Hà Nội" , tập 2, nhóm biên soạn : Chu Hà, Trần

Lê Văn, Nguyễn Vinh phúc, cộng tác Nguyễn Hữu Thu, Hội văn nghệ Hà

Nội, 1981

- " Ca dao sưu tầm ở Thanh Hoá " của nhóm Lam Sơn

- " Kho tàng ca dao xứ Nghệ ", Ninh Viết Giao ( chủ biên ), Nguyễn Đổng Chí, Võ Văn Trực , Nxb Nghệ An, 1996

- " Ca dao Bình Trị Thiên " , Trần Hoàng( chủ biên ) Lê Tiến Dũng,

Lê Văn Hảo, Trần Thuỳ Mai, Phạm Bá Thịnh , Nxb Thuận Hoá, Huế, 1985

- " Văn học dân gian Đồng bằng Sông Cửu Long", Khoa Ngữ Văn, Đại học Cần Thơ, Nxb Giáo Dục, 1999 ( Phần 4: Ca dao - dân ca )

2.1.1 BẢNG SO SÁNH CHUNG : Vùng Hà Nội Thanh Hoá Nghệ

Tĩnh Bình Trị Thiên ĐB Sông Cửu Long

2.1.3 ĐỀ TÀI " TÌNH YÊU NAM NỮ"

Vùng Hà Nội Thanh Hoá Nghệ Tĩnh Bình Trị Thiên ĐB Sông Cửu Long

Trang 11

2.2 NHẬN XÉT

Từ số liệu ở bảng 2 1.1, chúng ta có thể thấy rằng không chỉ riêng ca dao xứ Nghệ là từ "ai" mới xuất hiện nhiều lần mà đây là một hiện tượng phổ biến trong ca dao nói chung và ca dao các vùng, miền nói riêng Tần số xuất hiện từ "ai" đều rất đáng kể ( trên 14% ) trong ca dao các vùng Nguyên nhân của hiện tượng này là gì? Ở mục sau, chúng tôi sẽ lý giải để chứng tỏ việc khảo sát từ "ai" trong ca dao xứ Nghệ là một việc làm có cơ sở

So sánh ca dao với các vùng khác thì tỷ lệ từ "ai" xuất hiện trong ca dao xứ Nghệ chỉ ở mức trung bình Tuy nhiên, điều đặc biệt là hai vùng ca dao có tỷ lệ từ "ai" lớn nhất ( Bình Trị Thiên , Thanh Hoá ) lại là hai vùng tiếp giáp với xứ Nghệ và cùng nằm trong khúc ruột miền Trung nắng gió, bão táp

Mặt khác, nếu đi vào đề tài" Đặc điểm địa phương … " ( Quê hương đất nước ) thì ca dao ba vùng : Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên cũng

là ba vùng có tỷ lệ từ "ai" xuất hiện lớn nhất ( xem số liệu bảng 2.1.2) Trong đó, đáng chú ý nhất là ca dao xứ Nghệ Tỷ lệ từ "ai" vùng này ở đề tài

" Đặc điểm địa phương… " chiếm khoảng 24,10% chỉ thấp hơn ca dao Bình Trị Thiên ( chiếm khoảng 34,04% ) Tuy nhiên nay cả điều đó cũng chỉ là tương đối bởi mức độ và quy mô khảo sát giữa hai vùng trong đề tài này là quá chênh lệch ( ca dao xứ Nghệ khảo sát trên 419 câu, còn con số tương tự

ở ca dao Bình Trị Thiên là 47 câu ) Tại sao đề tài " Đặc điểm địa phương…

" ( Quê hương đất nước ), ở ca dao nói chung, ở ca dao miền Trung và đặc biệt là ca dao xứ Nghệ nói riêng, từ "ai" lại xuất hiện nhiều như vậy? Chúng tôi dành sự lý giải ở mục 2.3

2.3 NGUYÊN NHÂN

Trước hết, chúng tôi cho rằng không phải ngẫu nhiên mà từ "ai" xuất hiện nhiều trong ca dao như vậy Nó có nguyên nhân từ một tính chất của ca dao đó là tính phiếm chỉ, cụ thể là phiếm chỉ về nhân vật

Trang 12

Trong cuốn " Văn học dân gian Việt Nam "của Đinh Gia Khánh ( chủ biên ), Chu Xuân Diên , Võ Quang Nhơn, các tác giả có đề cập đến cách xây dựng nhân vật ở ca dao như sau:" Phương pháp xây dựng nhân vật trong ca dao, dân ca trữ tình Việt Nam có xu hướng xây dựng nhân vật không có tính xác định về đặc điểm diện mạo và tính cách "… " Tính không xác định về đặc điểm diện mạo, tính cách , số phận riêng của nhân vật trong ca dao, dân

ca trữ tình cũng bộc lộ ngay một cách rõ ràng khi ta tìm hiểu chỉ một khía cạnh thôi, là các xưng hô của các nhân vật trong ca dao, dân ca" " Trong ca dao, dân ca Việt Nam những cách xưng hô của nhân vật thường không nói lên điều gì về tên tuổi, tiểu sử, hoàn cảnh riêng… của nhân vật Đặc biệt đáng chú ý là cách dùng đại từ phiếm chỉ "ai" Rất nhiều bài hát trong đó nhân vật dùng cách gọi này để nói về mình và về người khác: " Trăm năm ai chớ bỏ ai ", " Ai đi muôn dặm non sông, Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy"… " Và hàng loạt những câu mở đầu vào loại những câu như sau: " Ai

đi đường ấy hỡi ai ", " Ai đi đợi với để tôi đi cùng "," Ai về đợi với em cùng…"" [6,493 - 494 ]

Từ những trích dẫn trên, chúng ta có thể thấy "ai" là một phương thức biểu hiện cụ thể của tính chất phiếm chỉ về nhân vật trong ca dao

Cũng về vấn đề này trong cuốn " Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy nghiên cứu văn học dân gian " của Hoàng Tiến Tựu, ở chương 4: " Mấy vấn

đề cụ thể về nghiên cứu và giảng dạy ca dao ", khi nói về nhân vật trữ tình, tác giả khẳng định : " Nhìn chung các loại nhân vật trữ tình trong ca dao cổ cũng thường mang tính chất phiếm chỉ như các loại nhân vật trong truyện cổ tích [ 13,122] ; ông còn khẳng định tính chất phiếm chỉ cũng là một đặc điểm của đối tượng trữ tình Và mặc dù tác giả không đề cập đến một cách cụ thể,

rõ ràng về cách sử dụng đại từ phiếm chỉ "ai" trong việc thể hiện tính chất phiếm chỉ đó, song chúng tôi cũng đã nhận ra sự trùng hợp về quan điểm của Hoàng Tiến Tựu với các tác giả trên khi ông đưa ra ví dụ về bài ca dao:

" Con cóc lăn lốc bờ tường Thầy tôi muốn lấy một nường người Nga

Ai làm cho mẹ tôi già

Trang 13

Lưng eo, vú dếch cho cha tôi buồn!"

và bình : … " Đại từ nghi vấn phiếm chỉ "ai" ở đây thật là hàm súc và độc đáo "Ai" vừa có tính chất trừu tượng, khái quát, vừa có tính chất xác định

cụ thể, vừa nghi vấn, vừa khẳng định ''Ai " có thể là hoàn cảnh là thời gian, năm tháng, tuổi tác, nhưng "ai" cũng có thể chính là một người, là " cha tôi " tức là người chồng của người vợ đã già, xấu, " lưng eo, vú dếch đang ngồi ru con đó ? " [ 6,133 ]

Qua thực tiễn tìm hiểu ca dao cũng như tham khảo những ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi nhận thấy việc từ "ai" xuất hiện nhiều trong ca dao là một hiện tượng hợp với quy luật và đặc điểm của sáng tác dân gian này Đó là một căn cứ để người ta khẳng định được tính chất phiếm chỉ về mặt xây dựng nhân vật và đối tượng trữ tình của ca dao Và việc tìm hiểu từ "ai" mà trong ca dao xứ Nghệ mà chúng tôi thực hiện là một việc làm góp phần chứng minh điều đó

Ở mục trên, chúng tôi đã đề cập đến hiện tượng từ "ai" xuất hiện nhiều nhất trong đề tài " Đặc điểm địa phương …" ( Quê hương đất nước )

và chiếm tỷ lệ đáng kể ở đề tài " Tình yêu nam nữ " Có thể lý giải điều này như thế nào ?

Như chúng ta biết, đề tài " Đặc điểm địa phương"… ( Quê hương đất nước ) và "Tình yêu nam nữ " là hai đề tài có số lượng câu ca dao lớn nhất trong các đề t ài của ca dao Việt Nam Xét từ góc độ văn hoá, " có thể nói rằng trong giao tiếp người Việt có thiên hướng nói đến những nội dung tĩnh ( Tâm lý, tình cảm) " [ 11,165 ], chính điều này cộng với truyền thống yêu nước và chủ nghĩa nhân văn của người Việt ( mà một trong những biểu hiện của nó là ca ngợi tình yêu đôi lứa) đã là một trong những nguyên nhân tạo nên số lượng phong phú các bài ca dao thuộc hai đề tài trên

Do hai đề tài trên đều thuộc ca dao trữ tình, loại ca dao " nhằm phô diễn tâm tư tình cảm, thế giới nội tâm của con người phản ánh thái độ và cảm xúc thẩm mỹ của con người đối với nhau cũng như đối với các hiện tượng trong thiên nhiên và xã hội " [ 14,157 ], nên ở đây nhân vật và đối tượng trữ tình bộc lộ một cách rõ nét nhất Mà như trên đã nói, trong ca dao,

Trang 14

nhân vật trữ tình, đối tượng trữ tình đều có tính chất phiếm chỉ và một trong những biểu hiện của nó là cách dùng phiếm chỉ "ai" Vì thế, việc từ "ai" xuất hiện nhiều trong ca dao về quê hương đất nước và tình yêu đôi lứa cũng

dễ hiểu

Trong những bài ca về quê hương đất nước, người dân đất Việt không chỉ gửi gắm tình yêu mà còn cả niềm tự hào đối với nơi chôn rau cắt rốn ( đặc biệt là một miền quê giàu truyền thống hiếu học, bất khuất như xứ Nghệ thì càng đáng tự hào ) Vốn mang trong mình nét văn hoá " thích giao tiếp "

" tính hiếu khách " [ 11,155 ] , những đứa con Lạc Hồng khi cất lên những bài ca ấy , bên cạnh việc bày tỏ tình cảm với quê hương còn gửi gắm những lời giới thiệu đầy tự hào về " mảnh đất tình yêu " của mình nhằm mời gọi du khách ghé thăm Theo Trần Ngọc Thêm, " về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ… " [ 11,158], có lẽ vì thế mà những lời mời chào cũng thật tế nhị, ý tứ, mời chung tất cả mọi người, không trừ ai, miễn là có lòng muốn đến quê hương ; nhắn nhủ chung tất cả những đưa con xa quê , không trừ ai, miễn là còn nhớ đến quê… Và trong những lời mời chào, nhắn gửi tình tứ, tế nhị ( mà sau đó còn chứa đựng bao điều ) ấy, việc sử dụng đại

từ phiếm chỉ "ai" dường như là một phương thức hữu hiệu nhất Có lẽ vì thế

mà trong ca dao xứ Nghệ nói riêng, ca dao các vùng nói chung, những bài ca dao mời chào, nhắn gửi : " Ai đi …", " Ai về …", " Ai qua ", "Ai lên …", "

Ai xuôi…" rất nhiều Đó cũng là một nguyên nhân khiến cho từ "ai" xuất hiện nhiều nhất ở đề tài " Đặc điểm địa phương… " ( Quê hương đất nước )

Vậy, có phải là ngẫu nhiên khi tỷ lệ này lại cao nhất ở ca dao miền Trung ( cụ thể là ở Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên) Theo chúng tôi , có lẽ không phải như vậy

Như chúng ta đã biết, một tác dụng của văn học đó là thanh lọc hoá tâm hồn Con người tìm đến với văn học bởi nhiều lý do và trong số đó có lý

do tìm sự bù đắp về mặt tinh thần, đặc biệt là những lúc mà đời sống của họ chịu nhiều đau khổ nhất

Trang 15

Miền Trung gió Lào cát trắng, nắng cháy da, mưa thối đất, thiên nhiên khắc nghiệt đến tàn nhẫn, cuộc sống người dân biết bao cực khổ Do đó , thật

dễ hiểu vì sao người miền Trung nói chung và người dân Lam Hồng nói riêng lại thường tìm đến văn học (trong đó có ca dao) như để tìm một sự bù đắp về mặt tinh thần như vậy Hình ảnh những con người ấy hiện lên qua các bài ca dao bày tỏ nỗi niềm về quê hương , đất nước, về cuộc sống, tình yêu ,

và qua những lời nhắn gửi tha thiết đến tâm hồn mọi người, thật rõ nét Chính điều này khiến cái tôi trữ tình của họ bộc lộ một cách trực tiếp và nổi bật trong ca dao Đặc điểm riêng của xứ Nghệ và miền Trung này kết hợp với đặc điểm chung của ca dao ( tính phiếm chỉ trong cách xây dựng nhân vật , đối tượng trữ tình), và những đặc điểm về văn hoá ứng xử, giao tiếp của người Việt đã nói ở trên , có lẽ là nguyên nhân góp phần làm cho tần số xuất hiện của từ "ai" ở ca dao miền Trung ( trong đó có Nghệ Tĩnh) nhiều hơn các vùng miền khác, đặc biệt là trong ca dao quê hương , đất nước Về khía cạnh này chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở chương 2

Như vậy, có thể thấy , cũng giống ca dao các vùng khác, ở ca dao xứ Nghệ , từ ai xuất hiện với số lượng đáng chú ý và đều có nguyên nhân bắt nguồn từ chính đặc điểm của ca dao Đặc biệt, ở những bài ca về quê hương , đất nước và tình yêu đôi lứa, từ "ai" xuất hiện rất phong phú, đa dạng Và trong đề tài này, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát về một số cách dùng từ "ai" trong hai mảng đề tài : "Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " , " Tình yêu nam nữ"

3 CÁCH SỬ DỤNG TỪ "AI" Ở HAI MẢNG ĐỀ TÀI : "ĐẶC ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG XỨ NGHỆ " , " TÌNH YÊU NAM NỮ"

3.1 CÁC KIỂU KẾT HỢP

Nhìn chung trong hai mảng đề tài trên của ca dao xứ Nghệ , từ "ai" không chỉ xuất hiện với số lượng phong phú mà còn có sự kết hợp đa dạng: đại từ "ai" đi với danh từ , động từ , tính từ , tình thái từ… đặc biệt là động

từ Qua thống kê, chúng tôi thấy so với các từ loại khác, số lượng động từ đi liền với "ai" ( trước hoặc sau) ở hai đề tài trên nổi trội hơn hẳn Trong số 101 bài có từ "ai" xuất hiện ở mảng đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " thì

Trang 16

có tới 82 bài từ "ai" kết hợp với động từ ( chiếm khoảng 81,18%) Tương tự,

ở đề tài " Tình yêu nam nữ" có 177 bài có từ "ai" kết hợp với động từ trên tổng số 290 bài chứa từ "ai" ( chiếm khoảng 61%) Ngoài động từ, từ "ai" còn đi với danh từ: "bóng ai" " tiếng ai", "duyên ai"… ; tính từ : "ai khéo", "

ai bâng khuâng" …; tình thái từ: " ai ơi" , " hỡi ai"… ; phụ từ : " cho ai" , " cùng ai", " dù ai" …Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số kiểu kết hợp của từ

"ai" trong hai mảng đề tài: "Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " , " Tình yêu nam nữ"

3.1.1 MỘT SỐ KIỂU KẾT HỢP CỦA TỪ "AI" TRONG ĐỀ TÀI

" ĐẶC ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG XỨ NGHỆ"

Dù chỉ hướng nào thì cái đích mà các bài ca dao ấy hướng tới cũng là mảnh đất xứ Nghệ với tất cả cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống con người ở đây

Đặng Văn Lung trong bài viết " Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình " đã khẳng định: " Lắp đi, lắp lại một yếu tố nào đấy là hiện tượng phổ biến trong văn học nghệ thuật nói chung " [9,56] Thuật ngữ " trùng lặp"

mà tác giả dùng không phải để chỉ những sự " lặp lại một cách máy móc "

"mà trái lại để chỉ những nét đã định hình, đã là truyền thống của ca dao " tạo ra " sắc thái thẩm mỹ riêng của nó" [9.56]

Có thể xem đại từ "ai" kết hợp với những từ chỉ hướng là một yếu tố

"lặp lại " như vậy Trong ca dao nói chung, những kết hợp như: "ai lên", "ai về" "ai xuôi", " ai qua" … xuất hiện rất nhiều, đặc biệt là ở ca dao về quê hương đất nước Bởi đằng sau những bài ca ngợi về quê hương đất nước ấy

là một tình yêu tha thiết , gắn bó , là niềm tự hào của người bình dân giành cho nơi " chôn rau cắt rốn của mình" Và như trên đã nói, đó còn là những lời mời chào nhắn gửi tới du khách bốn phương , những lời nhắc nhở với mọi đứa con xa quê về mảnh đất và cuộc sống cố hương

Trang 17

Ở ca dao xứ Nghệ , hiện tượng từ "ai" kết hợp với động từ chỉ hướng xuất hiện nhiều (như đã thống kê trên), trong đề tài "Đặc điểm địa phương

xứ Nghệ " , ngoài sắc thái thẩm mỹ chung như vậy, còn có những nét riêng mang tính địa phương rõ rệt Bởi những cảnh sắc, phong tục, con người được

đề cập trong những bài ca dao đó là của xứ Nghệ , gắn bó với những địa danh cụ thể, với những tâm tư tình cảm và nhịp đập trái tim người dân đất Lam Hồng

3.1.1.2 Kết hợp với động từ năng nguyện và tình thái từ hô gọi

Ngoài sự kết hợp phổ biến với động từ chỉ hướng, từ "ai" ở đề tài "Đặc điểm địa phương xứ Nghệ" còn có sự kết hợp đáng chú ý với động từ năng nguyện: " ai muốn", "ai ham", "ai mê" … và tình thái từ hô gọi: " ai ơi", " hỡi ai" Với khoảng 9,75% là kết hợp giữa "ai" với động từ năng nguyện và khoảng 7,31% "ai" đi với từ tình thái hô gọi, người Nghệ đã kheó léo có thêm một cách nữa để bày tỏ tình yêu đối với quê hương đất nước, lòng tự hào đối với mảnh đất cha ông

Đặc biệt , đáng chú ý là tổ hợp "ai" đi với động từ năng nguyện hầu như chỉ xuất hiện trong nội dung giới thiêụ sản vật riêng của từng vùng quê sông Lam, núi Hồng Nhờ vậy mà ta biết ở Thổ Hậu ( Diễn Châu ) nổi tiếng

về món bún lòng ; Đồng Chùa (Yên Thành ) có nhiều cua, ốc, cá mu mú, cá hẻm, cá trê; Kỵ Vích giỏi nghề làm ruốc, chợ Dàn bán lắm bánh đa; Kỵ Mưng (Diễn Châu ) có nghề chăn tằm… Còn những từ "ai" xuất hiện bên cạnh từ hô gọi chính là những lời nhắn gửi cho nhau, cho kẻ lại người qua của người dân Hoan Diễn ( tên gọi ngày xưa của người Nghệ) về các cảnh đẹp hay sự kiện đang diễn ra nơi quê hương yêu dấu của họ

Những sự kết hợp như trên của từ "ai" trong đề tài "Đặc điểm địa phương xứ Nghệ" đều mang nhiều sắc thái biểu cảm, ở chương sau chúng tôi

sẽ đi vào cụ thể hơn

3.1.2 MỘT SỐ KIỂU KẾT HỢP CỦA TỪ "AI" Ở ĐỀ TÀI

"TÌNH YÊU NAM NỮ "TRONG CA DAO XỨ NGHỆ

Đáng chú ý trong số những kết hợp của từ "ai" ở đề tài này là sự kết hợp giữa "ai" với động từ chỉ trạng thái Khi bước vào địa hạt tình yêu, cũng

Trang 18

là lúc con người bước vào thế giới của những tâm trạng khác nhau: yêu thương , nhung nhớ , mong chờ và cả trách móc Chính vì thế, việc những động từ thuộc loại trên xuất hiện phổ biến trong các bài ca dao tình yêu nam

nữ cũng là điều dễ hiểu Chúng tôi đã thống kê được trong số 161 bài có từ

"ai" kết hợp với động từ chỉ thì chiếm khoảng 19,87 % là sự kết hợp giữa

"ai" và động từ chỉ trạng thái ( 32 bài ) Và thật đáng quan tâm khi hầu hết các động từ chỉ trạng thái này đều có vị trí đứng trước "ai" : " nhớ ai ", " thương ai ", " trách ai ", " đợi ai "… Nghĩa là "ai" ở đây không phải là chủ thể của những trạng thái tình cảm đó mà chỉ là đối tượng Do vậy, tiếng nói tình yêu ấy chính là những tiếng lòng của một người nào đó kín đáo gửi đến

"ai" ( "ai" ở đây có thể là người yêu, là chàng trai cô gái, song "ai" cũng có thể là những thế lực đã ngăn trở tình yêu - trong những lời trách…) Tuy nhiên qua các thông điệp mà đối tượng trữ tình "ai" nhận được, ta cũng có thể hiểu tâm trạng của nhân vật trữ tình như thế nào

Ngoài sự kết hợp giữa từ "ai" với những động từ trạng thái thì trong ca dao tình yêu nam nữ chúng tôi còn bắt gặp nhiều kết hợp khác như: "ai xui "

" ai làm", " vì ai ", "mặc ai "," dù ai "… đến chương thứ hai chúng tôi sẽ nói

rõ hơn về sắc thái biểu cảm của những kết hợp này

3.2 VỊ TRÍ XUẤT HIỆN CỦA TỪ "AI"

Không chỉ đa dạng trong kết hợp mà từ "ai" ở hai mảng đề tài : " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ" và "Tình yêu nam nữ " thuộc ca dao xứ Nghệ đa dạng về vị trí xuất hiện "Ai" có thể đứng đầu, cuối, hoặc ở các vị trí khác trong bài ca dao Tuy vị trí của từ "ai" đa dạng như vậy song khi khảo sát chúng tôi cũng đã nhận thấy một số điểm đáng chú ý và đã phân các vị trí xuất hiện từ "ai" ra làm ba nhóm để tìm hiểu

3.2.1 "Ai " xuất hiện đầu bài ca dao

Tiến hành khảo sát, chúng tôi thấy rằng từ "ai" xuất hiện đầu bài ca dao rất đáng kể có 71 trên tổng số 391 bài ca dao chứa từ "ai" mở đầu theo cách này ( chiếm khoảng 18,16% ) Trong khi số bài ca dao có kết thúc bằng

từ "ai" ở hai mảng đề tài này chỉ có 33 bài ( chiếm khoảng 8,44% ); 73,40% còn lại dành cho tất các vị trí khác ( trong số này hầu như không có vị trí nào

Trang 19

có số lượng từ "ai" đáng kể như ở vị trí bắt đầu ) Đặc biệt khi đi vào khảo sát từng đề tài riêng lẻ, chúng tôi nhận ra tỷ lệ các bài ca dao mở đầu bằng

từ "ai" ở đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ nhiều hơn so với đề tài " Tình yêu nam nữ " Cụ thể như sau :

Đề tài

Số lượng Đặc điểm địa phươngxứ Nghệ Tỉnh yêu nam nữ

Số bài bắt đầu bằng từ "ai" 40 31

Ở cả hai đề tài, số lượng bài ca dao bằng từ "ai" đều đáng kể, song rõ ràng so với ca dao về quê hương đất nước thì ca dao tình yêu đôi lứa có tỷ lệ xuất hiện các bài ca dao như trên ít hơn nhiều ( chưa tới 1/3) Nguyên nhân nào dẫn tới hiện tượng các bài ca dao bắt đầu bằng từ "ai" ở hai mảng đề tài này đặc biệt là đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " chiếm ưu thế như vậy? Ở mục 3 3, chúng tôi sẽ lý giải

3.2.2 "AI " XUẤT HIỆN Ở GIỮA BÀI CA DAO

Ở vị trí này, ca dao xứ Nghệ về "Đặc điểm địa phương …" và "Tình yêu nam nữ" chiếm tới 73,4% trên tổng số 391 bài ca dao chứa từ "ai" Cụ thể là :

Đề tài

Số lượng Đặc điểm địa phươngxứ Nghệ Tỉnh yêu nam nữ

Có thể thấy , ở riêng từng đề tài của ca dao xứ Nghệ thì tỷ lệ các bài ca dao có vị trí từ "ai" ở giữa đều rất cao ( trên 58%), nhất là đề tài "Tình yêu nam nữ" Tuy nhiên, khi đi vào tìm hiểu sắc thái biểu cảm, chúng tôi không lưu ý nhiều đến tỷ lệ này, Bởi mặc dù tỷ lệ phần trăm rất cao song từ "ai"

Trang 20

xuất hiện giữa bài ca dao có vị trí không ổn định: lúc thì ở vị trí thứ 2 của câu thứ nhất: "Tiếng ai vòi vọi ngoài sân, Nghe ra náo nức ái ân trong lòng"; lúc thì ở cuối câu thứ nhất: "Nỗi niềm biết ngỏ cùng ai, Tay trong con cúi tay ngoài mã sa" ; lúc thì ở đầu câu thứ hai: " Quen nhau chưa nỡ rời tay, Ai xui lòng đen dạ bạc để anh rày xa em"; lúc lại ở giữa câu thứ hai: " Tay cầm đèn hạnh bóng cù, Đến đây tìm bạn ai oán thù chi không" …Như vậy , khi nói từ

"ai" xuất hiện giữa bài ca dao là có ý chỉ tất cả các vị trí khác nhau mà từ "ai" tồn tại (trừ vị trí mở đầu và kết thúc) Đó cũng là nguyên nhân khiến cho tỷ

lệ phần trăm từ "ai" xuất hiện ở vị trí này cao như thế

Dù không xem tỷ lệ phần trăm rất cao từ "ai" xuất hiện ở vị trí trên là yếu tố đáng chú ý, nhưng chúng tôi lại quan tâm đến những bài ca dao xứ Nghệ ở hai đề tài này có từ "ai" xuất hiện không phải chỉ một lần mà còn hai, thậm chí ba lần ở những chỗ khác nhau:

Đề tài : " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ "

- " Gạo Đô Lương không ai vo mà trắng Nước sông Lường không ai lóng mà trong

Đôi ta làm bạn thong dong Duyên em ai tạc mà lòng anh say

- " Tam Thái rú bạc ai xây Kim Nghê ai đắp, hố Mây ai đào?

Tam Thái rú bạc trời xây Kim Nghê thiên tạo , hố Mây mưa đào"

- " Nước sông Giăng vừa trong vừa mát Đường chợ Rạng lắm cát dễ đi Hỡi ai là bạn tương tri Nhớ ai nhớ cả đường đi lối về"

Đề tài : "Tình yêu nam nữ"

-" Đôi ta bắt bén nhau rồi

Ai vo chẳng sạch, ai nhồi chẳng đi"

Trang 21

-"Đôi ta như gậy chống rèm Vừa đôi thì lấy, ai dèm mặc ai"

-" Mặc ai chê, mặc ai dèm Quạy trù đến nhởi, mà đem em về Mặc ai dèm, mặc ai chê

Quảy trù đến nhởi em về cùng anh

Hai ta chung giọt mái tranh Đói rách cùng chịu, no lành có nhau"

Những bài có "ai" xuất hiện nhiều lần như trên đều gợi ra sắc thái biểu cảm mà ở phần " Sắc thái biểu cảm của từ "ai" "chúng tôi sẽ có dịp bàn đến sau

3.2.3." AI" XUẤT HIỆN CUỐI BÀI CA DAO

Nếu đem so sánh với những bài ca dao bắt đầu bằng từ "ai" thì tỷ lệ các bài kết thúc bằng từ này là ít hơn Cả hai đề tài " Đặc điểm địa phương

xứ Nghệ " và "Tình yêu nam nữ" chỉ có 33 bài thuộc loại này trên tổng số

391 bài chứa từ "ai" (chiếm khoảng 8,44%) Con số cụ thể của mỗi đề tài là :

Đề tài

Số lượng Đặc điểm địa phươngxứ Nghệ Tỉnh yêu nam nữ

Số bài kết thúc bằng từ "ai" 2 31

Số lượng các bài bắt đầu và kết thúc bằng từ "ai" ở đề tài "Tình yêu nam nữ" là ngang nhau (so sánh với số liệu ở mục 3.2.1 ) nhưng số lượng các bài tương tự ở đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " lại rất chênh lệch Điều này cho thấy ưu thế vượt trội của các bài ca dao bắt đầu bằng từ "ai" so với các bài kết thúc bằng từ này ở đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " đồng thời cũng đặt ra câu hỏi: tại sao ở ca dao tình yêu tỷ lệ các bài mở đầu

Trang 22

và kết thúc bằng từ "ai" lại cân bằng như vậy? Mục tới đây chúng tôi sẽ đưa

ra một số lý giải

3.3.NGUYÊN NHÂN

Không phải ngẫu nhiên mà trong ca dao xứ Nghệ vị trí xuất hiện của

từ "ai" ở hai mảng đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " và "Tình yêu nam nữ" lại có những hiện tượng đáng chú ý như đã nói ở trên Nguyên nhân của chúng bắt nguồn từ chính nội dung các bài ca dao

Trước hết , chúng tôi xin lý giải về việc nhiều bài ca dao ở đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " được bắt đầu bằng từ "ai"

Nội dung những bài ca dao về quê hương đất nước ở xứ Nghệ chủ yếu

là giới thiệu về con người, cảnh vật , phong tục, tập quán, văn hoá các địa phương Nghệ Tĩnh Đó cũng là lời mời chào du khách ghé thăm mảnh đất này Chính vì thế, các bài ca dao thường bắt đầu bằng những tiếng gọi, lời chào, lời nhắn gửi : " ai ơi ", " ai về", " ai qua ", " ai muốn ", " ai lên " … để thu hút sự chú ý của người nghe

- " Ai về Hà Tĩnh thì về Mặc áo chợ Hạ uống nước chè Hương Sơn "

- " Ai xuôi về đất Phú Văn Tằm nhiều bạc tốt quanh năm chuyên cần"

- " Ai sang Quan Nội thì sang Hàng cam, hàng tắt chín vàng khắp nương"

… Bất cứ người nào khi nghe những bài ca dao mở đầu bằng từ "ai" như vậy cũng sẽ nghĩ rằng bản thân họ đang được người Nghệ giới thiệu và mời gọi đến quê hương Bởi "ai" là từ chỉ chung cho nhiều người, nhưng cũng có thể chỉ riêng cho bất cứ ai Cho nên, những bài ca ấy chắc chắn ca dao sẽ thu hút mọi người chú ý lắng nghe xem người Nghệ giãi bày điều gì sau những tiếng " ai lên ", " ai qua", " ai ơi", " ai muốn" … ấy

Trang 23

Hiện tượng từ "ai" xuất hiện đầu bài ở đề tài " Đặc điểm địa phương

xứ Nghệ" cũng nằm trong tình hình chung của ca dao, đặc biệt là ca dao miền Trung (mà tiêu biểu là vùng Trị Thiên ) Hiện thực cuộc sống khó khăn đã khiến con người tìm đến ca dao như tìm một sự bù đắp về mặt tinh thần Nhất là ở mảnh đất khắc nghiệt Trung Bộ , nơi con người phải vật lộn hàng ngày với thiên nhiên để sống Sự cơ cực của cuộc đời đã khiến người miền Trung nói chung, người Nghệ nói riêng tìm đến ca dao để tìm một sự

bù đắp về mặt tinh thần Và khi họ cất lên những tiếng " ai ơi , " ai về ", " ai lên", " ai muốn " … là lúc họ đang kín đáo gửi gắm bao tâm sự: Tình yêu, niềm tự hào về quê hương và những nổi cực nhọc họ vẫn nếm trải nơi đó… Được mọi người chú ý lắng nghe và sẻ chia họ thấy nỗi vất vả dịu đi, tình yêu và niềm tự hào nhân lên gấp bội Mặt khác, cuộc sống khắc nhiệt cũng khiến người Nghệ ( cũng như người miền Trung) hơn ai hết hiểu được giá trị của từng thành quả lao động mà họ có được, và cũng hơn ai hết niềm tự hào của họ về quê hương thật lớn lao Vì thế, những bài ca dao, những lời mời gọi lại nô nức cất lên " Ai về ", " ai qua " , " ai sang ", " ai lên " , " ai muốn "

… nơi này, nơi nọ, chỗ kia… dường như trên quê hương xứ Nghệ đâu đâu người dân Hoan Diễn cũng tự hào về vẻ đẹp, sự giàu có của sản vật vùng mình Chính điều đó đã thôi thúc họ cất lên những bài ca với giọng điệu thiết tha gọi mời, níu chân người qua

Có lẽ cũng vì mục đích thu hút sự chú ý của người nghe mà những bài

ca dao về quê hương đất nước xứ Nghệ phần lớn mở đầu bằng từ "ai"

Vậy, tại sao ở vị trí kết thúc của đề tài " Đặc điểm địa phương xứ Nghệ " từ "ai" lại xuất hiện ít như vậy?

Như trên đã nói, ca dao ca ngợi cảnh sắc con người đất Lam Hồng là những lời giới thiệu đầy tự hào về quê hương nhằm gọi mời du khách tới thăm vì thế, từ ai đưa lên đầu bài để thu hút sự chú ý của người nghe " Ai " như tiếng gọi, có sức tác động ngay từ đầu , tạo cho người nghe một tâm thế chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những tâm sự về quê hương đất nước mà người Nghệ muốn giãi bày Nếu từ "ai" xuất hiện ở cuối bài ca dao có thể dễ xảy ra trường hợp người nghe sẽ " giật mình " khi nghe tiếng "ai" Bởi có thể

Trang 24

trước đó họ đã không để ý đến những điều mà bài ca dao người Nghệ vừa thốt lên gửi gắm Vì không để ý nên họ sẽ không nhớ, không hiểu, không bị tác động và lời mời chào nhắn gửi về quê hương sẽ không có sức cuốn hút lòng người

Song nếu là những bài ca dao về tình yêu đôi lứa thì không hoàn toàn như thế Ở đề tài này, người ta thấy trong ca dao xứ Nghệ những bài kết thúc bằng từ "ai" tương đương với những bài mở đầu bằng từ này Vì sao vậy ?

Điều này có liên quan đến quy luật tình cảm trong lĩnh vực tình yêu đôi lứa Ông Hoàng Tiến Tựu căn cứ vào chủ đề đã chia ca dao tình yêu thành bốn bộ phận : tỏ tình, hận tình, tương tư và thề thốt dặn dò Trong cả bốn bộ phận đó thì các chàng trai, cô gái ( nhân vật trữ tình ) thường nói với nhau bằng những lời xa xôi, bóng gió Họ hay dùng từ "ai" trong xưng hô để bày tỏ cảm xúc, tâm trạng Dù là lời nói ướm hỏi lúc tỏ tình hay lời thề nguyền lúc chia tay, các chàng trai cô gái đều nói với nhau rất kín đáo, tế nhị Vì thế, đại từ "ai" có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trong bài ca mà phổ biến nhất là ở chặng đầu và chặng cuối trong các cuộc trao duyên Ca dao xứ Nghệ cũng nằm trong quy luật chung đó

Tuy nhiên, đây có thể là sự trùng hợp tỷ lệ một cách ngẫu nhiên Nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên đó lại tạo ra cái tất nhiên bởi vì: Dù mở đầu hay kết thúc bài ca dao, các nhân vật trữ tình trong ca dao tình yêu nam nữ đều hay dùng từ "ai" để bộc lộ tình cảm Đại từ "ai" nằm ở hai vị trí đó dễ gây ra ấn tượng mạnh buộc người nghe phải chú ý và rất khó quên

Như vậy, ở chương này, chúng tôi đã khảo sát một số kiểu kết hợp và

vị trí xuất hiện của từ "ai" trong hai mảng đề tài " Đặc điểm địa phương…"

và " Tình yêu nam nữ" Từ việc làm này, chúng tôi nhận thấy trong ca dao

xứ Nghệ nói chung , ca dao ở hai đề tài trên nói riêng, từ "ai" một mặt xuất hiện phong phú đa dạng, mặt khác , sự xuất hiện của nó cũng tuân theo một

số quyluật nhất định ( mà nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này bắt nguồn

từ chính nội dung của các bài ca dao ) Qua việc đưa ra một số kết hợp và vị trí xuất hiện của từ "ai" trong hai mảng đề tài trên, cùng với việc lý giải một

Trang 25

số vấn đề đặt ra trong quá trình khảo sát đó, chúng tôi nhận thấy ca dao xứ Nghệ ở hai mảng đề tài này từ "ai" mang nhiều sắc thái biểu cảm độc đáo

CHƯƠNG 2 SẮC THÁI BIỂU CẢM CỦA TỪ "AI" TRONG CA DAO

XỨ NGHỆ Ở HAI MẢNG ĐỀ TÀI: " ĐẶC ĐIỂM ĐỊA PHƯƠNG XỨ NGHỆ " VÀ " TÌNH YÊU NAM NỮ "

1 TỪ "AI" VỚI LỜI MỜI CHÀO, NHẮN GỬI

Nghệ Tĩnh, ngoài những đặc điểm chung của đất nước còn có những nét địa phương do điều kiện lịch sử, địa lý, tự nhiên, kinh tế riêng biệt ở đây tạo nên Những nét riêng này phản ánh vào trong ca dao rõ nhất là ở những bài ca về quê hương đất Nghệ Ở đây, chúng ta có thể cảm nhận được bao thông điệp trái tim của người dân Lam Hồng: Tình yêu, niềm tự hào đối với quê hương và còn cả những lời mời chào, nhắn gửi duyên dáng, tế nhị tới du khách mong họ ghé thăm mảnh đất " như tranh hoạ đồ này " Để góp phần chuyển tải thông điệp ấy, trong ca dao, người dân Hoan Diễn đã vận dụng nhiều yếu tố ngôn ngữ , trong đó có từ "ai" Do vậy, từ "ai" trong ca dao xứ Nghệ không chỉ phong phú về số lượng, đa dạng về kết hợp mà còn mang nhiều sắc thái biểu cảm riêng Dưới đây, chúng tôi sẽ đi giải mã một số sắc

Trang 26

về " với đại từ phiếm chỉ "ai" trong những bài ca ngợi quê hương đất nước người Nghệ đã tạo thêm cho mình bao lời mời chào, nhắn gửi đầy thiết tha, chan chưa ân tình Lời giới thiệu đi liền với "ai về " cũng khiến cho người nghe cảm thấy dường như họ đang đến một nơi gần gũi, gắn bó tựa quê hương mình, nơi họ được đối xử thân ái giống bao đứa con sinh ra từ đất ấy Trong ca dao xứ Nghệ , sau hai tiếng "ai về " có biết bao điều đã được nói ra:

Đó có thể là niềm tự hào về quê hương giàu có:

- " Ai về Mỹ Dụ mà coi Mái đình lợp ngói gương soi tứ bề "

- " Sông Đồng Kiều tha hồ tắm mát Đường Nhân Mỹ lắm cát dễ đi Xuống đây vui thú đề huề

Ai về Nhân Mỹ thì về theo ta "

- " Ai về Cửa Hội quê tôi

Cá thu, cá nục , cá mòi thiếu chi"

- " Ai về Hoàng Lĩnh mà coi Thừa tiền tậu ruộng, thừa soi đúc bù "

Hoặc có thể là sự giới thiệu về các sản vật của từng địa phương xứ Nghệ:

- " Ai về Hà Tĩnh thì về

Trang 27

Mặc áo chợ Hạ, uống nước chè Hương Sơn "

- " Ai về Hồng Yến thì về

Có cá bàu Nậy, có chè khe Yên "

- " Cây đa Kẻ Bấn chín chồi

Ai về Kẻ Bấn ăn xôi thì về "

" Ai " trên đều có tính chỉ chung cao " Ai " ở đây bất kỳ người nào là người khắp bốn phương có thể còn là những người chưa biết đến xứ Nghệ nếu có điều kiện hãy ghé qua để thưởng thức sản vật đất Lam Hồng , để ngắm nơi " non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ " này

Sau " ai về" cũng có thể là lời bộc lộ rất chân thành về những khó khăn vất vả trong cuộc sống mà người Nghệ đang phải ngày đêm trải qua Thiên nhiên đã ban tặng cho xứ Nghệ những " bức tranh hoạ đồ" tuyệt đẹp, song chính thiên nhiên cũng khiến người dân Hoan Diễn phải hứng chịu bao khắc nghiệt: nắng đốt lửa đi với gió Lào xát mặt , hết hạn hán trắng đồng rồi đến bão giông, lụt lội… khiến đồng ruộng cũng xơ xác, cằn cỗi, cuộc sống con người trở nên cực nhọc vô cùng Không dấu diếm điều này, người dân nơi đây bộc bạch một cách chân tình tất cả hiện thực vất vả ấy:

-" Ai về Dị Nậu làm chi Đồng Nậy nước mặn, đồng Si khó cày"

-" Ai về Tú Mỹ thì về Vai gánh củ ấu, nặng nề lắm thay"

- " Ai về Đạo Hạnh thì về Tháng tư giáp hạt , bê khê cháo hồ"

Khí hậu khắc nghiệt khiến cho con người không chỉ gặp khó khăn trong lao động sản xuất mà còn chịu dày vò bởi cảnh sống thiếu thốn Chính

vì thế, muốn đủ sống, người Nghệ phải tiết kiệm, phải luôn có ý thức " tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn"

Trang 28

- "Ai về Ước Lệ mà coi Thịt thì bốn miếng , cá mòi cắt tư"

- " Đại Định là đất văn nho

Ai về Đại Định đi bò nhặt phân"

Người dân đất Lam Hồng không hề dấu diếm việc họ phải tiết kiệm đến mức " cá mòi " còn " cắt tư" Thậm chí , một đất nổi tiếng là đất học như Đại Định ( Thanh Chương ) mà người dân vẫn không quên truyền thống làm

ăn cần kiệm của mình ( " đi bò nhặt phân") Khi bộc lộ tất cả những vất vả , khổ cực hay những công việc mà mình phải làm để sống, người dân Hoan Diễn không hề e ngại mọi người sẽ chê đất Nghệ nghèo, dân xứ Nghệ bủn xỉn Bởi với họ,cái quan trọng nhất là tấm lòng Du khách khi biết tất cả những khó khăn cực nhọc ấy mà vẫn đến mới thật đáng quý, đáng trân trọng

Vì vậy, sau những tiếng " ai về " , bên cạnh việc đưa ra giới thiệu một cách đầy tự hào về sản vật quê hương, người Nghệ còn giãi bày cả nỗi vất vả mà mình phải chịu đựng để nhằm làm cho mọi người hiểu , thông cảm và gần gủi hơn với mảnh đất ấy Những lời bộc bạch về cuộc sống chân tình như thế chỉ giành cho những ai biết thông cảm, biết sẻ chia, trân trọng Do đó, từ

"ai" ở đây tuy vẫn chỉ chung cho nhiều người song thực chất đối tượng mà những bài ca dao này hướng tới là những người có tấm lòng đầy cảm thông

và cũng chân thành như người nghệ

Một điểm cũng đáng lưu ý nữa trong kết hợp " ai về " là ngay cả những bài ca dao có tính chung cho tất cả các vùng, miền thì nét đặc trưng của địa phương xứ Nghệ cũng được thể hiện

Ví dụ: "Đức Thọ gạo trắng nước trong

Ai về Đức Thọ thong dong con người"

Ở bài ca dao này, người dân vùng khác chỉ cần thay tên địa danh khác của quê hương mình là nó sẽ trở thành bài ca dao của địa phương đó Song nếu đọc bài ca dao trên lên, ngươì ta vẫn nhận ra đây là một lời chào mời của dân Nghệ, bởi sau tiếng mời gọi " ai về " là một địa danh chỉ có ở vùng sông Lam núi Hồng

Ngày đăng: 15/07/2021, 07:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Trần Đình Sử ," Những thế giới nghệ thuật thơ", NXBGD HN, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật thơ
Nhà XB: NXBGD HN
11. Trần Ngọc Thêm ," Cơ sở văn hoá Việt Nam", NXBGD , 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Nhà XB: NXBGD
12. Hoàng Tiến Tựu, " Bình giảng ca dao ", NXBGD, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng ca dao
Nhà XB: NXBGD
13. Hoàng Tiến Tựu, " Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân gian", NXBGD, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân gian
Nhà XB: NXBGD
14. Hoàng Tiến Tựu, " Văn học dân gian Việt Nam", NXBGD , 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXBGD
15. Khoa ngữ văn Đại học Cần Thơ, " Văn học Đồng bằng Sông Cửu Long", NXBGD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Đồng bằng Sông Cửu Long
Nhà XB: NXBGD
16. Nhóm Lam Sơn , " Ca dao sưu tầm ở Thanh Hoá", NXB Văn Học, Hà Nội , 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao sưu tầm ở Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Văn Học
17. Trung tâm từ điển học , " Từ điển tiếng Việt ", NXBGD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXBGD
w