1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao nghệ tĩnh

88 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao nghệ Tĩnh
Tác giả Nguyễn Thị Thủy
Người hướng dẫn Phan Mậu Cảnh, PGS.TS.
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 682,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử vấn đề (5)
  • 3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 5. Đóng góp của luận văn (8)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (9)
  • Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (10)
    • 1.1. Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng (10)
      • 1.1.1. Khái niệm ca dao (10)
      • 1.1.2. Khái niệm trào phúng và ca dao trào phúng (14)
    • 1.2. Vài nét về Nghệ Tĩnh và ca dao Nghệ Tĩnh (20)
      • 1.2.1. Vài nét về Nghệ Tĩnh (20)
      • 1.2.2. Ca dao Nghệ Tĩnh (23)
    • 1.3. Tiểu kết chương 1 (28)
  • Chương 2: CÁC LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN Ý NGHĨA TRÀO PHÚNG (30)
    • 2.1. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười hài hước, mua vui (30)
      • 2.1.1. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về tình yêu nam nữ (30)
      • 2.1.2. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về hôn nhân gia đình (33)
      • 2.1.3. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười về thói hư tật xấu của con người (40)
      • 2.1.4. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười về những vấn đề xã hội (42)
    • 2.2. Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán (44)
      • 2.2.1. Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu của con người (44)
    • 3.1. Hình thức chơi chữ (60)
      • 3.1.1. Dùng từ đồng âm (61)
      • 3.1.2. Nói lái (62)
      • 3.1.3. Một số thủ pháp chơi chữ khác (65)
    • 3.2. Các hình thức so sánh, đối lập (66)
      • 3.2.1. Hình thức so sánh (66)
      • 3.2.2. Kết cấu tương phản, đối lập (69)
    • 3.3. Các hình thức nói ngược, cường điệu, phóng đại (70)
      • 3.3.1. Sử dụng lối nói ngược (70)
      • 3.3.2. Thủ pháp cường điệu, phóng đại (73)
    • 3.4. Thủ pháp ẩn dụ (77)
    • 3.5. Sử dụng yếu tố tục (79)
    • 3.6. Tiểu kết chương 3 (81)
  • KẾT LUẬN (82)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (84)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Ca dao trào phúng Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ở một số góc độ nhất định

Tác giả Bùi Quang Huy trong Thơ ca trào phúng Việt Nam khẳng định:

Trong văn hóa Việt Nam, thơ ca trào phúng đặc trưng bởi ca dao, dân ca với tiếng cười đa dạng và phong phú Tiếng cười trong các sáng tác dân gian không chỉ mang tính giải trí mà còn phản ánh những mâu thuẫn hài hòa trong xã hội, giúp phê phán các bất công một cách sâu sắc Bùi Quang Huy nhận định rằng ca dao trào phúng thể hiện khả năng sử dụng ngôn từ linh hoạt và hiệu quả, góp phần tăng cường sức mạnh truyền tải thông điệp xã hội.

Trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh tính chất trào lộng của một số bài ca dao, phản ánh nét chế giễu, cường điệu hóa cuộc sống tạo nên tiếng cười nhẹ nhàng, vui vẻ Ông cho rằng ca dao có những bài phản ánh các vấn đề xã hội như cảnh lẽ mọn, chuyện chồng chung vợ chạ và nỗi bất công của người phụ nữ bị làm lẽ, thể hiện rõ nét tính cách và tình cảm của phụ nữ trong xã hội cũ Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan dành nhiều thời gian phân tích các hình ảnh cuộc sống đời thường và những nỗi đau của phụ nữ qua các bài ca dao trào phúng, góp phần làm rõ chân dung xã hội và văn hóa Việt Nam xưa.

Trong cuốn "Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam", Cao Huy Đỉnh nhận định rằng tiếng cười của nhân dân phản ánh sự phê phán những cảnh lố lăng, trái ngược, hư hỏng trong đời sống hàng ngày Tiếng cười này thể hiện vai trò của nhân dân trong việc lên án, chế giễu những thói hư tật xấu và nhấn mạnh sự cần thiết phải uốn nắn, loại bỏ những điều tiêu cực trong xã hội.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy ca dao vừa thể hiện nét kín đáo, tế nhị, vừa chứa đựng những tiếng cười rộn rã, sống động Nghệ thuật ngữ ngôn trong ca dao thể hiện qua lối chơi chữ, đối lập hình tượng tự nhiên và không tự nhiên, tạo nên sự phong phú về mặt biểu đạt Tuy nhiên, các tác giả phần lớn chưa xem tiếng cười trong ca dao trào phúng như một vấn đề riêng để nghiên cứu sâu hơn.

Trong Bình giảng ca dao, tác giả Hoàng Tiến Tựu nhấn mạnh rằng ca dao trào phúng thường chứa những chuyện hư cấu, bịa đặt nhằm mục đích mua vui giải trí, nhưng đó là dạng bịa đặt mang tính thiên tài, thể hiện sự sáng tạo trong cấu tứ và dựng truyện mà không phải ai cũng làm được Trong cuốn Văn học Việt Nam, Hoàng Tiến Tựu phân loại ca dao truyền thống của người Việt thành sáu loại, gồm đồng giao, nghi lễ - phong tục, lao động, trào phúng - bông đùa, ru con và trữ tình Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung phân tích sâu bốn loại là đồng giao, lao động, ru con và trữ tình, còn các loại ca dao nghi lễ - phong tục và ca dao trào phúng chưa được khai thác kỹ lưỡng. -Khám phá giải pháp học ngôn ngữ và giao tiếp AI độc đáo giúp nâng cao kỹ năng làm nội dung ca dao trào phúng với [Talkpal](https://pollinations.ai/redirect/2699274).

Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam dành cho hệ Cao đẳng sư phạm, ông nhấn mạnh vai trò của ca dao trào phúng qua các hình thức nói ngược, trái tự nhiên nhằm phản ánh những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân Ông xác định rằng ca dao trào phúng thường nhắm vào đối tượng như mê tín dị đoan, sư sãi và giai cấp thống trị, thể hiện sự châm biếm và chế giễu xã hội Ca dao trào phúng không chỉ mang tính giải trí, mà còn có chức năng phê bình, giáo dục, đấu tranh và đả kích các hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội.

Ca dao trào phúng đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về văn học dân gian, chủ yếu tập trung vào nội dung và ý nghĩa, trong khi hình thức thể hiện chưa được chú ý nhiều Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thúy Vân năm 2007 là công trình đầu tiên nghiên cứu về ngôn ngữ trong ca dao trào phúng Việt Nam, tập trung phân tích các lớp từ ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng và các phương thức biểu thị ý nghĩa này.

Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh là bộ phận của ca dao Nghệ Tĩnh, đồng thời cũng thuộc phạm trù ca dao trào phúng Việt Nam, mang đặc trưng của văn hóa miền này Nó phản ánh rõ nét bản sắc con người xứ Nghệ qua nội dung và hình thức nghệ thuật độc đáo Do đó, ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh vừa thể hiện sự đặc trưng của ca dao trào phúng Việt Nam chung, vừa giữ gìn yếu tố riêng biệt của vùng đất này.

Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh còn chưa được các nhà nghiên cứu chú ý đúng mức đến hình thức thể hiện, chủ yếu tập trung vào nội dung Vấn đề về hình thức và phương thức biểu hiện trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, bao gồm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng, vẫn còn bỏ ngỏ và cần có sự quan tâm nghiên cứu sâu hơn.

Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung phân tích đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh, làm rõ các phương diện nội dung và nghệ thuật tạo dựng tiếng cười đặc trưng của ca dao trào phúng nơi đây.

Bộ sưu tập ca dao trào phúng trong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" (tập 1, tập 2) do Ninh Viết Giao chủ biên, Nguyễn Đổng Chi và Võ Văn Trực biên soạn là tài liệu ngôn ngữ khảo sát quý giá Những câu ca dao này phản ánh tinh thần hài hước, mỉa mai của người dân xứ Nghệ, góp phần làm rõ nét đặc trưng văn hóa địa phương Nghiên cứu này giúp hiểu thêm về các hình thức thể hiện dân gian, phản ánh đời sống và tư duy của cộng đồng qua các thế hệ Cuốn sách do nhà xuất bản Nghệ An xuất bản, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Nghiên cứu ngôn ngữ ca dao mở ra cơ hội khám phá một lĩnh vực mới mẻ và hấp dẫn trong lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội và văn hóa Đây là phương pháp giúp hiểu sâu hơn về các đặc điểm ngôn ngữ, cách thức thể hiện văn hóa và tư duy của các cộng đồng dân cư qua các tác phẩm ca dao truyền thống Việc phân tích ngôn ngữ ca dao không chỉ góp phần làm phong phú kiến thức về ngôn ngữ dân gian mà còn thúc đẩy việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản sắc Việt Nam.

Trong phạm vi dữ liệu mà tác giả luận văn có thể tiếp cận, việc phân tích các yếu tố ngôn ngữ tạo dựng tiếng cười giúp làm rõ tài năng nghệ thuật và phản ánh những biểu hiện phong phú về tâm hồn, tình cảm, tư tưởng, quan niệm của người dân nơi đây.

Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những vấn đề sau đây:

Trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, các biểu hiện mang ý nghĩa trào phúng được thể hiện rõ qua hệ thống từ ngữ và nội dung phản ánh đời sống xã hội với mục đích châm biếm, chế giễu những tập tục, thói quen hay những vấn đề nổi bật của địa phương Thống kê và phân tích các biểu hiện này cho thấy sự đa dạng trong cách thể hiện hài hước, dí dỏm, góp phần làm nổi bật đặc trưng văn hóa đặc trưng của Nghệ Tĩnh Nội dung ca dao trào phúng không chỉ phản ánh chân thực đời sống mà còn là phương tiện thể hiện quan điểm, thái độ của người dân qua các hình thức trào phúng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tâm tư, nguyện vọng và những khía cạnh xã hội đặc thù của vùng đất này.

- Chỉ ra các cách thức biểu thị ý nghĩa trào phúng được sử dụng trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Dùng phương pháp thống kê để tiến hành xác lập và phân loại tư liệu những bài ca dao Nghệ Tĩnh thể hiện ý nghĩa trào phúng

- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả để định lượng và định tính các đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh

- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu để chỉ ra những nét đặc hữu địa phương Nghệ Tĩnh trong việc tổ chức ngôn từ thể hiện ý nghĩa trào phúng.

Đóng góp của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ mang ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh, dựa trên phương pháp tiếp cận ngôn ngữ – văn hóa học để phân tích rõ nét các lớp từ ngữ và cách biểu đạt ý nghĩa trào phúng của địa phương này Các cách thức thể hiện trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh được trình bày một cách hệ thống và có hệ thống, góp phần mở rộng lý thuyết về ngôn ngữ trong ca dao Việt Nam nói chung Những đóng góp này giúp làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ mang tính trào phúng đặc trưng của ca dao Nghệ Tĩnh, từ đó nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc.

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn có giá trị thực tiễn cao trong việc tiếp cận, nghiên cứu, học tập và giảng dạy ca dao trào phúng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông và đại học.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn triển khai trong ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài Chương 2: Các lớp từ ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh

Chương 3: Một số phương thức cơ bản biểu thị ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng

Trong lời nói đầu của quyển “Sáng tác thơ ca dân gian Nga”, Bôgatưriep đã nhận định rằng ca dao và các tác phẩm văn học dân gian thường tồn tại lâu dài, được truyền miệng qua nhiều thế hệ và liên tục được xây dựng, bồi đắp để giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống.

Ca dao là sáng tác văn chương của nhân dân lao động, phổ biến rộng rãi trong nhiều vùng hoặc toàn quốc và truyền qua nhiều thế hệ Nó có đặc điểm ổn định về phong cách và nghệ thuật cấu trúc ngôn từ, chủ yếu mang nội dung trữ tình Ca dao phản ánh chân thực đời sống tâm tư tình cảm của nhân dân, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.

Bàn về thuật ngữ ca dao, Minh Hiệu cho rằng: Ở nước ta, thuật ngữ

"Ca dao vốn là từ Hán Việt được sử dụng rất muộn, có thể còn lâu hơn hàng nghìn năm so với những câu ví, câu hát dân gian đã hình thành từ lâu đời Theo nhận định của Minh, ca dao đóng vai trò quan trọng trong văn hóa dân gian Việt Nam, phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân qua các thế hệ."

Hiệu là có cơ sở bởi Cao Huy Đỉnh cho rằng dân ca và văn truyền miệng của dân tộc Việt Nam đã hình thành từ rất sớm, đặc biệt trong thời đại đồ đồng khi nghệ thuật ca hát và biểu diễn phát triển mạnh mẽ Ông nhấn mạnh rằng trình độ sáng tác và biểu diễn của các nghệ sĩ trong giai đoạn này khá cao, với sự xuất hiện của ca công và các nhạc cụ tinh xảo Những lập luận của Cao Huy Đỉnh và Minh Hiệu đều được xác thực qua các chứng tích lịch sử rõ ràng Theo lịch sử Việt Nam, trong thời kỳ nhà Tần ở Trung Quốc, tác phẩm Giao Châu ký của Lưu Hán Kỳ đã đề cập đến đời sống văn hoá, âm nhạc của người nông thôn Giao Châu thời kỳ đó, cho thấy sự phong phú của văn hoá dân gian Việt Nam từ rất sớm.

Châu thời ấy, trẻ mục đồng cưỡi trâu thổi sáo và hát các bài đồng dao của người Việt (ở Châu Giao)

Thuật ngữ ca dao không xuất phát từ truyền thống văn học dân gian mà được các nhà sưu tầm và biên soạn thơ ca dân gian mượn từ sách Hán Thi, đồng thời lấy luôn các định nghĩa từ các nguồn này.

- Về thời kỳ xuất hiện của ca dao

Ca dao có hình thức văn nghệ trẻ hơn so với thần thoại và truyền thuyết, nhưng các nghiên cứu cho thấy tục ngữ và ca dao xuất hiện cùng thời với các hình thức văn học cổ xưa này Hành vi ca hát đã tồn tại từ rất sớm trong hoạt động lao động của loài người, bắt đầu từ thời cổ sơ với những câu hò dân gian như "dô ta," được truyền lại và chỉnh sửa qua nhiều thế hệ Nội dung của ca dao phản ánh đời sống hàng ngày của nhân dân, ví dụ như câu: "Năm cha ba mẹ," thể hiện mối quan hệ gia đình và văn hóa truyền thống.

Sinh con rồi mới sinh cha và sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông thể hiện quy luật tự nhiên về sự kế thừa và phát triển trong gia đình Những câu nói này phản ánh quá trình tạp giao và các trạng thái chồng chung, vợ chạ, dễ dàng nhận biết thời điểm xuất hiện của chúng Thời kỳ tạp giao bắt nguồn từ chế độ mẫu hệ rồi chuyển sang phụ hệ, ghi nhận rõ sự thay đổi trong cấu trúc xã hội và hệ thống gia đình qua các thời kỳ.

- Về nội dung của ca dao

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh rằng để hiểu rõ và sâu sắc về tình cảm của người Việt Nam, không thể bỏ qua việc nghiên cứu ca dao Ca dao Việt Nam chứa đựng những bài hát tình cảm chân thành, thể hiện sâu sắc cảm xúc của người dân và đóng vai trò là khuôn mẫu cho nền thơ trữ tình của đất nước.

Khi phân tích nội dung của ca dao, tác giả đi đến kết luận rằng phần lớn ca dao mang tính trữ tình, thể hiện rõ nét nội tâm của tác giả trước các yếu tố ngoại cảnh.

Ca dao là sự thể hiện tình yêu, từ tình yêu đôi lứa đến tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên…

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Ca dao thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên và xã hội, phản ánh ý chí kiên cường và khát vọng vượt khó Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của ca dao là trữ tình, gửi gắm những cảm xúc sâu sắc về tình yêu thương, cuộc sống và con người Khi tìm hiểu sâu về cái tình trong ca dao, chúng ta sẽ nhận thấy sự hiện diện của tính chiến đấu, tinh thần phản phong và nhân đạo chủ nghĩa, góp phần phản ánh đời sống tâm hồn và ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam.

- Về hình thức nghệ thuật của ca dao

Ca dao thường là những bài ngắn, gồm từ hai đến tám câu, có âm điệu lưu loát và phong phú, dễ nghe, dễ nhớ và phản ánh nét đặc trưng của đời sống người Việt Về mặt hình thức, ca dao có vần vừa sát vừa thanh thoát, giản dị, tươi tắn, không gò ép, mang đậm nét chân thực của ngôn ngữ hàng ngày Ca dao còn là những tác phẩm miêu tả cảnh vật, tình cảm một cách sâu sắc và sinh động, thể hiện khả năng diễn đạt tự nhiên, tinh tế mà không thể sánh bằng các hình thức văn chương khác.

Ca dao sử dụng hình ảnh để diễn đạt những vẻ đẹp và phẩm chất tốt đẹp, đồng thời cũng phản ánh những điều xấu, tiêu cực một cách gián tiếp thông qua thủ pháp tượng hình Nhờ nghệ thuật hình tượng hóa, lời ca dao trở nên giản dị nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu sắc, dễ đi vào lòng người Hai thể thức phổ biến trong ca dao là thể tỉ và thể hứng, góp phần tạo nên sự đa dạng và đặc trưng cho loại hình văn học dân gian này.

Trong ca dao, việc sử dụng phép so sánh là thủ pháp nghệ thuật chủ yếu giúp biểu đạt tâm tư, tình cảm một cách tinh tế và sâu sắc Người ta thường mượn hình ảnh khác để ngụ ý, so sánh hoặc gửi gắm ý nghĩa nhằm làm rõ ý tưởng trừu tượng, đồng thời làm lời ca thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết Phép so sánh giúp cụ thể hóa những ý tưởng trừu tượng, làm cho lời nói trở nên sinh động, chân thực và gợi cảm hơn.

Hứng là cảm xúc nảy nở tình cảm, có thể mang lại niềm vui hoặc nỗi buồn; đó là khởi nguồn của sự thể hiện cảm xúc trước ngoại cảnh Ca dao thường sử dụng thủ pháp này để truyền tải tâm trạng, giúp mở đầu cho quá trình biểu lộ cảm xúc một cách chân thực và sâu sắc.

- Về quan hệ giữa ca dao và một số thể loại khác

+ Quan hệ giữa ca dao và dân ca

Trong công trình nghiên cứu của mình, Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh rằng ca dao và dân ca dù khác tên gọi nhưng thực chất là một thể loại văn học có mối liên hệ chặt chẽ Ông cho rằng khi loại bỏ những câu đệm, tiếng láy, câu láy trong bài dân ca, nó sẽ giống hệt như ca dao, cho thấy ranh giới giữa hai thể loại này rất mơ hồ Ca dao có thể được thể hiện bằng nguyên câu, trong khi nếu dùng để hát thì ca dao trở thành dân ca, phản ánh nội dung chủ yếu là trữ tình, thể hiện nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh Điểm khác biệt chính giữa ca dao và dân ca là ở cách sử dụng và mục đích biểu đạt, nhưng về bản chất, chúng đều mang nét đặc trưng của văn học dân gian Việt Nam.

Vài nét về Nghệ Tĩnh và ca dao Nghệ Tĩnh

1.2.1 Vài nét về Nghệ Tĩnh

Nghệ Tĩnh là vùng đất thuộc khu vực phía Nam của nhà nước Văn Lang, nơi cư trú của người Việt cổ Trong quá trình lịch sử dài, địa danh này đã trải qua nhiều biến cố và thay đổi tên gọi, từ thời kỳ xưa gọi là Hoan Diễn đến ngày nay được biết đến với tên gọi Nghệ Tĩnh, gắn bó như một mối liên kết không thể tách rời.

Trong lời nói đầu cuốn "Về văn học dân gian xứ Nghệ" (2004), Ninh Viết Giao nhấn mạnh rằng dù địa lý và hành chính có những thay đổi qua thời gian, vùng đất xứ Nghệ vẫn dài từ khe Nước Lạnh đến Đèo Ngang, với gần 300km bờ biển, đồng bằng trung du rộng lớn và miền núi phong phú Vùng đất này gắn bó chặt chẽ về mặt địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, phong tục và ngôn ngữ, tạo nên một bản sắc văn hóa đặc trưng Sông Lam, núi Hồng trở thành biểu tượng cho tinh thần kiên cường, hiên ngang, niềm tự hào về truyền thống học tập, đạo lý của người dân yêu nước và quê hương Chính họ đã sáng tạo nên kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng, thể hiện rõ nét nét đặc trưng của văn hóa xứ Nghệ trong bản sắc văn hóa chung của các dân tộc Việt Nam.

Nghệ Tĩnh là vùng đất cổ kính, gắn liền với sự phát triển và thăng trầm của dân tộc Việt Nam từ thời kỳ Văn Lang đến nay Lịch sử Nghệ Tĩnh trải qua các giai đoạn từ thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá giữa, đồ đá mới, đến thời kỳ đồ đồng, đồ sắt, rồi các triều đại như Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Gia Long, và hiện nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghệ Tĩnh là vùng đất cuối cùng của lãnh thổ Việt Nam từ thế kỷ XI trở về trước, lưu giữ nhiều dấu vết văn hóa bản địa đặc sắc Nơi đây còn là điểm giao thoa của hai dòng văn hóa lớn, gồm văn hóa Ấn Độ từ Nam tràn lên và văn hóa Trung Quốc từ Bắc xuống Đèo Ngang nổi bật như một điểm tiếp xúc của các dân tộc thuộc hệ ngữ Môn – Khơmer và các dân tộc thuộc hệ ngữ Hán – Tạng hoặc Tạng – Miến, thể hiện rõ sự đa dạng và pha trộn văn hóa đặc sắc của khu vực.

Nghệ Tĩnh là vùng đất có lịch sử lâu đời, từng là nơi cư trú của người Việt cổ thuộc khu vực phía Nam của nước Văn Lang – Âu Lạc xưa, và còn được biết đến là Việt Thường trong cổ đại Trải qua 18 đời vua Hùng, mảnh đất này đã ghi dấu những dấu tích lịch sử quan trọng của thời kỳ dựng nước Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nghệ Tĩnh vừa là tiền tuyến ác liệt vừa là hậu phương vững chắc, nơi các cuộc hành quân qua lại nhiều lần, góp phần vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc Chính vì thế, vùng đất này ghi đậm những chiến công chống ngoại xâm và các thế lực đen tối khác, trở thành biểu tượng của ý chíkiên cường và truyền thống yêu nước của người dân Nghệ Tĩnh.

Nghệ Tĩnh là vùng đất có chiều dài lịch sử phong phú, qua nhiều biến cố và thay đổi tên gọi, từ Hoan Diễn xưa đến xứ Nghệ ngày nay, vẫn giữ vững mối liên kết về mặt địa lý, hành chính, lịch sử, kinh tế, văn hóa và phong tục tập quán Sự gắn kết này phản ánh một bản sắc thống nhất, thể hiện rõ trong văn hóa, ngôn ngữ, và tính cách con người, tạo nên “tính chất Nghệ”, “khí phách Nghệ” và “tâm hồn Nghệ” Theo nhà nghiên cứu Phan Huy Chú, Nghệ Tĩnh nổi bật với núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu và cảnh tượng tươi sáng, danh tiếng hơn cả Nam Châu, với những cảnh đẹp mang đậm vẻ hùng tráng và hữu tình, như tranh họa đồ của Đường vô xứ Nghệ quanh co non xanh nước biếc Những cảnh đẹp này chính là nguồn cội của kho tàng thơ ca dân gian xứ Nghệ Bên cạnh đó, tiếng nói Nghệ Tĩnh đặc trưng với nhiều nét riêng biệt, giọng điệu riêng, phản ánh quá trình hình thành của phương ngữ qua các cộng đồng dân cư trong lịch sử, khiến tiếng Nghệ dễ nhận biết và đặc biệt khác biệt so với các vùng khác Nhà văn Nguyễn Xuân Đức nhận xét rằng người Nghệ nói như rìu chặt đá, như dao rựa chém đất, tiếng trọ trẹ đặc trưng khiến người Bắc khó phân biệt, đến mức giáo viên Nghệ khi chuyển ra Hà Nội phải học nói tiếng Bắc như học ngoại ngữ.

Tiếng Nghệ trong nhiều trường hợp có khả năng biểu đạt cao hơn cả việc dùng từ toàn dân, chẳng hạn so sánh hai bài ca dao:

Vợ chồng nhƣ đôi chim câu Chồng thì đi trước, vợ gật đầu theo sau (Ca dao người Việt)

Vợ chồng nhƣ đôi cu cu Chồng thì đi trước, vợ gật gù theo sau (Ca dao Nghệ Tĩnh)

Việc sử dụng từ địa phương "cu cu" để gieo vần với "gật gù" trong bài ca dao Nghệ Tĩnh giúp nâng cao giá trị biểu đạt của tác phẩm Ngoài ra, phương ngữ Nghệ Tĩnh còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra tiếng cười trong ca dao trào phúng, làm nổi bật đặc trưng văn hóa vùng miền.

Gió mát trăng lu (mờ)

Có anh hai vợ lưa (còn) khu (đít) với sườn

Làm thì van ốm van đau Thấy o (cô) nào đẹp - "gấy tau (vợ tao) bay (chúng mày) tề (kìa)!"

Phương ngữ Nghệ Tĩnh đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và văn hóa dân gian địa phương, phản ánh đặc trưng vùng miền Kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh, đặc biệt ca dao trào phúng, được hình thành chủ yếu dựa trên phương ngữ vùng đất này, góp phần thể hiện nét đặc trưng văn hóa của khu vực Xứ Nghệ nổi bật với hệ thống văn hóa, văn nghệ dân gian phong phú và hoàn chỉnh, chứa đựng những giá trị truyền thống đặc sắc Phương ngữ Nghệ Tĩnh góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt của dân tộc Việt Nam, làm giàu thêm di sản văn hóa đất nước.

1.2.2 Ca dao Nghệ Tĩnh 1.2.2.1 Các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh

Xứ Nghệ là vùng đất địa linh nhân kiệt với một gia tài văn hóa và văn nghệ dân gian phong phú, đặc sắc Theo tác giả Ninh Viết Giao trong cuốn "Về văn hóa xứ Nghệ", nền văn hóa và văn nghệ dân gian nơi đây phản ánh đa dạng các loại hình, đề tài và nội dung với mức độ sâu rộng, thể hiện một sắc thái riêng biệt — sắc thái xứ Nghệ — góp phần làm nên bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam Chính sự đa dạng và tính hoàn chỉnh này đã tạo nên đặc trưng riêng của văn nghệ dân gian xứ Nghệ, nổi bật so với các thể loại trữ tình trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Tĩnh sở hữu đa dạng các thể loại thơ ca dân gian như hò, ví, giặm, hát ru, hát sắc bùa, hát thờ cúng dân gian, hát ca trù, hát xẩm, hát đồng dao và ca dao Trong số đó, các thể loại như hò, ví, giặm là những dạng gốc phát sinh và phát triển tại Nghệ Tĩnh, còn những thể loại khác chủ yếu là các phần lai, phổ biến không chỉ ở Nghệ Tĩnh mà còn rộng khắp các vùng miền trong cả nước Trong bài viết này, chúng tôi tập trung giới thiệu ba thể loại tiêu biểu của Nghệ Tĩnh gồm hát giặm, hát ví và ca dao Hát giặm là một loại dân ca lao động đã phát triển thành hình thức dân ca sinh hoạt mang tính trữ tình, phổ biến tại các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu (Nghệ An) và Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kì Anh (Hà Tĩnh) Khác với hát giặm Hà Nam chủ yếu là các bài ca tụng thần trong các dịp lễ đầu xuân, hát giặm Nghệ Tĩnh tập trung phản ánh sinh hoạt vật chất, tinh thần của người lao động cuối thời phong kiến trung cổ và đầu thời cận đại, diễn ra quanh năm không cố định thời gian, gồm các thể hát dặm vè và hát giặm nam nữ.

Hát ví phường vải là loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh, được xem là hình thức văn nghệ tự túc của người dân nơi đây Trước khi trở thành lời hát giao duyên, hát ví gắn liền với nghề nghiệp và các hội, phường lao động của người Nghệ Tĩnh, với nội dung chủ yếu mang đậm nét trữ tình Điểm đặc biệt của hát ví Nghệ Tĩnh là sự tham gia của các nhà nho, thầy đồ, tạo nên quy cách, hình thức hát và quá trình biểu diễn khá phức tạp Tại Nam Đàn, tục hát phường vải phổ biến nhất, có nề nếp và quy cách rõ ràng do đặc điểm dân số đông đúc nhưng đồng ruộng ít, buộc họ phải sáng tạo những hình thức văn nghệ đáp ứng nhu cầu tình cảm của mình Hát ví phường vải không chỉ là hoạt động văn hóa mà còn thể hiện đời sống, tâm tư của người dân nơi đây qua các lời ca chân thực và sâu lắng.

Vì ai cho mõ xa đình

Hạc xa hương án cho mình xa ta

Vì ai cho bướm nguôi hoa Cho tằm nguôi kén, cho ta nguôi mình

Khi không thể đến được với nhau vì những lý do nào đó, họ cảm thấy đau khổ và oán trách tất cả Tuy nhiên, đôi khi những cảm xúc chân thành và sâu sắc được thể hiện rõ nét qua từng lời hát, từng chữ trong các bài ca chung, mang đậm tình cảm thực, giản dị và chân thành Những câu hát này thể hiện sự say đắm, mộc mạc và lành mạnh của tình cảm đôi lứa, giúp người nghe cảm nhận trọn vẹn nỗi niềm của những trái tim yêu thương.

Một niềm kết tóc xe tơ Một niềm chỉ đợi chỉ chờ mà thôi

Hát phường vải là loại hình nghệ thuật đặc sắc của vùng Nghệ Tĩnh, thể hiện qua nhiều giai đoạn khác nhau trong một cuộc hát Ban đầu, chặng hát dạo, chào mừng và hỏi chưa thực sự quan trọng về nội dung, chủ yếu mang tính giới thiệu Đến chặng thứ hai, gồm hát đố và hát đối, trở thành phần trung tâm vì giúp trai gái thử thách trí tuệ và thể hiện vốn hiểu biết, phản ánh đặc điểm là nơi gặp gỡ của những người trẻ có tình cảm Chặng thứ ba gồm hát mời, hát xe kết, và hát tiễn, là nơi thể hiện rõ nét cảm xúc và tình cảm giữa nam nữ, với các câu hát có giá trị nghệ thuật cao và ý nghĩa nội dung sâu sắc Các giai đoạn này tạo thành một thủ tục hát phường vải đầy ý nghĩa văn hóa và nghệ thuật đặc trưng của Nghệ Tĩnh.

Ca dao là sáng tác văn chương của nhân dân lao động, phổ biến rộng rãi trong nhiều vùng và trên toàn quốc Ca dao Nghệ Tĩnh là bản sắc dân gian đặc trưng của người Nghệ Tĩnh, phản ánh đời sống và tâm tư của người dân địa phương Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát thể loại ca dao, vì đây là thể loại có tính ổn định cao, với số lượng lời thơ lớn và ít vay mượn từ các thể loại khác Ca dao sử dụng nhiều phương thức ngôn ngữ đa dạng để thể hiện ý nghĩa, đặc biệt là nét trào phúng đặc trưng, góp phần phản ánh chân thực cuộc sống và tâm lý của nhân dân.

Ca dao Nghệ Tĩnh như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn, phản ánh tiếng lòng chân thành của cha ông, là chiếc nôi ấm áp và chiếc võng đu đưa chứa đựng những tâm tư, nỗi niềm buồn vui, những số phận éo le của người dân vùng đất nghèo khó này Tinh thần chung của ca dao Nghệ Tĩnh thể hiện rõ qua sự ham sống, vui vẻ đấu tranh, lạc quan và niềm tin vào nghị lực, trí tuệ của con người nơi đây Nhờ ca dao, chúng ta cảm nhận rõ nét tình cảm sâu đậm, nghĩa tình thiết tha, cùng những tâm sự chân thực về cuộc sống, số phận của bao mảnh đời cay đắng Những câu hát dân gian phản ánh tinh thần thẳng thắn, quả quyết, nghị lực bền bỉ, lòng tự tin vô hạn và rộng mở của người Nghệ Tĩnh, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng đất này.

- Trèo truông những ƣớc truông cao Đã đi đò dọc lại ƣớc ao sông dài

- Cả gan vác cuốc lên rừng Đào cho trúc núi xin đừng hại (hãy) ai

- Sông sâu sào ngắn chơi vơi

Cả gan anh chống những nơi thác ghềnh

- Chim hồng muôn vạn dặm bay Sao tao không cánh nhƣ mày chim ơi…

Tiểu kết chương 1

Ca dao không chỉ là những bài hát tâm tình mà còn chứa đựng tiếng cười vui vẻ của người lao động, thể hiện nhiều sắc thái khác nhau như cười ngang tàng, nghịch ngợm hay cười gay gắt, trong trẻo Những câu ca dao trào phúng phản ánh cuộc sống, mang đến tiếng cười bẽ bàng, chua chát hoặc sảng khoái, giòn giã, giúp làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn Những câu ca dao này còn thể hiện nét đặc trưng của nét văn hóa Việt Nam, phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân qua các hình thái cười khác nhau, từ phũ phàng, khinh bỉ đến thâm thúy, sâu sắc Dù mang nét vui cười nào đi nữa, ca dao vẫn là phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt, góp phần giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa dân gian.

Nghệ Tĩnh nổi bật với kho tàng ca dao đặc sắc và phong phú, trong đó có bộ phận ca dao trào phúng độc đáo thể hiện tài nghệ chế diễu và sự dí dỏm của người dân nơi đây Nghệ thuật phát hiện và thể hiện các yếu tố hài hước trong ca dao Nghệ Tĩnh phản ánh phương pháp tư duy sáng tạo của người lao động vùng núi Hồng Sông Lam Tính hài hước trong ca dao đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc, thể hiện tâm hồn, trí tuệ và nét đặc trưng văn hóa đặc sắc của vùng đất Nghệ Tĩnh Trong các chương tiếp theo, chúng tôi sẽ làm rõ các đặc điểm ngôn ngữ và cách thể hiện ý nghĩa trào phúng trong kho tàng ca dao địa phương này, giúp người đọc hiểu thêm về giá trị văn hóa độc đáo của ca dao Nghệ Tĩnh.

CÁC LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN Ý NGHĨA TRÀO PHÚNG

Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười hài hước, mua vui

2.1.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về tình yêu nam nữ

Người Nghệ Tĩnh có một thứ của để dành đó là phương ngữ Nghệ

Phương ngữ Nghệ Tĩnh bảo lưu nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt hơn 500 năm trước, với cách phát âm và từ ngữ đặc trưng Người Nghệ Tĩnh thể hiện trí tuệ, tinh thần lạc quan qua nghệ thuật hài hước để vượt qua khó khăn, lo toan cuộc sống Ngôn ngữ địa phương được sử dụng để tạo tiếng cười, thể hiện ý chí và bản lĩnh vượt qua thử thách Các bài ca dao Nghệ Tĩnh đặc biệt nổi bật trong việc phản ánh tính cách và cảm xúc của người xứ Nghệ, trong đó các câu ca dao về tình yêu trai gái thể hiện rõ nét, đầy đủ mọi khía cạnh qua tiếng cười trào phúng, phản ánh tâm trạng và quyết tâm của đôi lứa khi chạm đến tình yêu.

(1) Cha mẹ dù có chặt chân chặt tay

Khoét mắt khoét mày cũng trốn theo anh

Trong bài ca dao này, người Nghệ Tĩnh thể hiện cách nói thẳng thắn, tự nhiên mà không dùng biện pháp tu từ trang trí, qua các động từ như chặt, khoét, trốn, đặc biệt chặt và khoét lặp lại để miêu tả sự tàn phá cơ thể người như chặt chân, chặt tay, khoét mắt, khoét mày, biểu hiện cho tình yêu mãnh liệt đến mức cực đoan và liều lĩnh Dù thân thể bị tàn tạ, người con gái vẫn kiên quyết trốn theo tiếng gọi tình yêu, thể hiện tính cách nghệ đặc trưng như cực đoan, bảo thủ, gàn bướng Bài ca dao mang đến nụ cười ngọt ngào nhưng cũng đậm đà sự chia sẻ, cảm thông, thể hiện tình cảm chân thành và những tình huống tình yêu éo le trong cuộc sống của người Nghệ Tĩnh Tuy nhiên, không phải trai gái trong vùng luôn có quyết tâm cao như vậy, mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh, gia đình, đôi khi họ phải chấp nhận tình thế oái oăm để giữ gìn tình yêu của mình.

Chú bác trục trặc Cha mẹ không "ì"

Giống nhƣ tru không chạc mụi biết "tắc rì" đàng mô

Trong bài ca dao này, từ ngữ địa phương của Nghệ Tĩnh thể hiện rõ nét chân thực, mộc mạc, không cầu kỳ hay vay mượn Người Nghệ dùng các từ như “thương chắc” thay cho “thương”, “ì” thay cho “ừ”, “tru” thay cho “trâu”, “chạc mụi” thay cho “dây thừng”, và “đàng mô” thay cho “đường nào”, thể hiện sự giản dị, chân thành trong diễn đạt Những từ như “trục trặc”, “tắc rì” không chỉ mang nghĩa kỹ thuật mà còn biểu đạt tình trạng mất phương hướng, lưỡng lự trong tình yêu khi bị gia đình cấm cản Đặc biệt, “tắc rì” trong bài ca dao mang ý nghĩa mất phương hướng, phản ánh nỗi niềm của chàng trai yêu đương bị gia đình, người thân ngăn cản Cách so sánh “tru không chạc mụi biết tắc rì đàng mô” vừa tạo tiếng cười, vừa thể hiện sự cảm thông, chia sẻ trước hoàn cảnh bị động của người con trai trong tình yêu, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chân thật của văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh.

Trong quá khứ, tình yêu và hôn nhân ở Nghệ Tĩnh đối mặt với nhiều thực trạng như nạn tảo hôn và chế độ đa thê, dẫn đến những cảnh ngộ éo le và những tình huống khó xử Ca dao Nghệ Tĩnh thường xuyên trào phúng về vai trò của các người vợ cả, vợ lẽ, phản ánh những tình huống hài hước, đôi khi gây cười về cảnh chị cả, chị hai trong các gia đình đa thê Nhiều cô gái không chấp nhận làm lẽ, nhưng vẫn phải chấp nhận cảnh chồng chung do hoàn cảnh xã hội thời đó gây ra Những bài ca dao này thể hiện rõ nét cuộc sống thực tế và tâm lý của người phụ nữ trong xã hội xưa, góp phần làm rõ bức tranh cuộc sống tình yêu và hôn nhân đầy tình huống hài hước và đáng suy ngẫm.

(3) - Thương anh em cũng muốn thương

Sợ rằng chị cả đón đường đập em

- Quý hồ em có lòng thương Chị cả rọc rạch anh đập tan xương nấu dầu

Bài ca dao là một cuộc đối thoại giữa người con trai và người con gái, trong đó một tình huống đặc trưng là cảnh đánh ghen của người phụ nữ đã có chồng, thể hiện qua câu "chị cả đón đường đập em" Tác giả dân gian đã sử dụng đúng các từ địa phương như "đập" (đánh) và "rọc rạch" một cách tinh tế, trong đó "rọc rạch" là từ láy phương ngữ Nghệ Tĩnh, có sắc thái nhấn mạnh hơn so với từ "ho he" trong tiếng toàn dân, thể hiện ý định chống lại bằng mức độ cao hơn Tiếng cười trong bài ca dao nổi bật qua cách sử dụng từ địa phương và sự phóng đại trong lời nói của người con trai, như mô tả "đập tan xương nấu dầu", nhằm thể hiện bản lĩnh của chàng trai và làm cho người con gái yên lòng Tiếng cười trào phúng ở đây không mang tính chỉ trích, mà là để tạo ra niềm vui, góp phần làm dịu bớt không khí căng thẳng trong các mối quan hệ gia đình và hôn nhân.

Tương tự, cô gái trong bài ca dao sau đây lại không yên lòng vì lo cha mẹ chàng trai không chấp nhận mình

(4) Thương anh sao chẳng muốn thương

Sợ lòng thầy mẹ như rương khóa rồi

- Khóa rồi thì mặc khóa rồi

Ta rèn khóa khác kết đôi vợ chồng

Bài ca dao sử dụng từ ngữ quen thuộc của toàn dân nhưng thể hiện rõ nét phong cách Nghệ Tĩnh, đặc trưng bởi cách diễn đạt có hình ảnh và cụ thể Người Nghệ thích dùng hình ảnh để truyền đạt ý tưởng, như so sánh lòng thầy mẹ như chiếc rương đã khóa chặt để tượng trưng cho sự lo lắng của cô gái về việc cha mẹ chàng trai có thể không chấp nhận tình yêu của họ Đặc biệt, câu chuyện vui nhộn còn thể hiện qua cách chàng trai rèn khóa để mở rương, mang lại tiếng cười sảng khoái cho người đọc.

2.1.2 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về hôn nhân gia đình

Trong văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, một trong những chủ đề khiến người dân tạo ra tiếng cười vô tư và thoải mái là khai thác các khuyết điểm, điểm chưa hoàn thiện trên cơ thể người chồng hoặc người vợ Tiếng cười ở đây không mang tính châm chọc hay nhiếc móc mà chủ yếu nhằm tạo dựng niềm vui và sự đồng cảm giữa mọi người Thậm chí, chính người bị cười cũng thường hưởng ứng, góp phần làm cho tiếng cười thêm sôi nổi, vui vẻ Vì tiếng cười trong các câu ca dao Nghệ Tĩnh hoàn toàn vô hại, nó giúp cuộc sống thêm phần vui vẻ và gắn kết hơn Dưới đây là một số tình huống gây cười phổ biến trong ca dao Nghệ Tĩnh về mối quan hệ vợ chồng.

(5) Cơm chiên ăn với cá mè

Vợ chồng ôm ấp ngáy khè cả đêm

Cá mè ăn với cơm chiên

Vợ chồng ôm ấp cả đêm ngáy khè

Cá mè cơm chiên là món ngon quen thuộc của người lao động, mang đậm hương vị truyền thống Tuy nhiên, câu chuyện về vợ chồng như cá ngáy khè cả đêm tạo thành hình ảnh hài hước, mang ý châm biếm nhẹ nhàng về thói quen ngủ không ngon của cặp đôi trẻ Ngáy khò là thói xấu cần sửa, đặc biệt khi phản ánh lối sống sinh hoạt không hợp lý của vợ chồng mới cưới Thói quen này gây ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ và sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân, khiến nhiều người cảm thấy dễ chê trách nhưng cũng cần thông cảm.

Chế độ phong kiến lạc hậu đã hạn chế quyền tự do kết hôn và lựa chọn hạnh phúc của nam nữ, khiến họ phần lớn bị sắp đặt theo ý người khác Trong xã hội cũ, tình trạng vợ chồng chênh lệch về nhận thức, hình thức, tuổi tác rất phổ biến, gây ra nhiều tình huống bi hài, tréo ngoe Các bài ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh thường phản ánh hiện thực này qua những câu chuyện về chồng trẻ vợ già hoặc chồng già vợ trẻ, mô tả sự chênh lệch về diện mạo và nhận thức cùng những tình huống dở khóc, dở cười của các gia đình đó.

(6) Anh đi làm rể ba mùa

Khi trở về lấy vợ, nhiều người gặp phải tình cảnh vợ già hơn mẹ, khiến cho việc sinh con trở nên khó khăn Trong xã hội truyền thống, việc chăm sóc con cái thường do người mẹ đảm nhiệm, còn những công việc làng việc không thể nhường cho vợ Mặc dù vợ trẻ hơn mẹ nhưng do tuổi tác và trách nhiệm, người chồng vẫn cần gắn bó, yêu thương và ủng hộ vợ trong mọi công việc gia đình.

Ra đường ra chợ bạn hỏi đó là ai?

Người nớ là bà con tôi đó!

Bài ca dao kể về một câu chuyện hài hước, có cốt truyện rõ ràng với xung đột và cách giải quyết mang lại tiếng cười Tình huống chàng trai phải dùng lời lấp lửng và nói dối vì vợ hơn tuổi mẹ, tạo nên tình huống bi hài khi giới thiệu vợ với người khác Nỗi khổ của chàng trai thể hiện rõ qua việc anh phải chịu đựng cảnh lấy phải người vợ lớn hơn mẹ, và phải đối mặt với những câu hỏi khó xử ngoài đường Câu chuyện phản ánh một tình huống trào phúng nhưng cũng đầy cảm thương, làm nổi bật số phận đáng thương của anh chàng khi phải che giấu sự thật để giữ thể diện.

Tình trạng chồng già vợ trẻ là hiện tượng phổ biến nhất trong xã hội phong kiến, nơi đàn ông có quyền có nhiều thiếp và cưới thêm vợ bằng tiền và quyền lực Trong xã hội cũ, người con gái thường chỉ biết theo ý cha mẹ vì sự phân chia địa vị và quyền lực, dẫn đến nhiều cô gái phải làm vợ hoặc lẽ của những người đàn ông lớn tuổi hơn, thậm chí là cha hoặc ông của mình Sự chênh lệch tuổi tác quá lớn này đã trở thành đề tài cho nhiều bài ca dao trào phúng phản ánh thực trạng này trong xã hội xưa.

(7) Bàn tay năm ngón rõ ràng

Trong bài thơ này, tác giả thể hiện nỗi lòng về cuộc đời đầy thử thách khi lấy chồng lớn tuổi, gây ra sự chê cười từ bạn bè Người vợ trẻ trung với mái tóc suôn mượt, khuôn mặt tươi tắn, yet đã kết hôn với người chồng hơn mình tới ba mươi tuổi, làm dâu trong một gia đình nhiều khó khăn Tác giả bày tỏ lòng thành kính và cầu nguyện trước những thử thách cuộc đời, mong muốn đem thân làm mọn để lo toan cho gia đình và những người thân yêu Bài thơ mang thông điệp về tình yêu chân thành, vượt mọi trở ngại xã hội, và sự hy sinh lớn lao trong cuộc sống hôn nhân.

(8) Con gái mà lấy ông già

Ra đường bạn hỏi "là cha hay chồng?"

Về nhà ôm lấy bì bông Sướng hơn ôm chồng da thịt nhăn nheo

Con gái mà lấy ông già

Kêu "chồng" cũng dở, kêu "cha" chúng bạn cười

(9) Vô duyên lấy phải chồng già

Kêu chồng cũng lỡ, kêu cha bạn cười Một niềm kêu cố mà thôi

Em trao cho cố miếng trầu

Em vừa ngoảnh lại thấy hàm râu cố chìa

Em lui ra cố lại chìa vào Cực lòng em lắm biết sao cho đành

Nhiều cô gái ước ao thoát khỏi cuộc sống bế tắc, vô nghĩa để sống một cuộc đời ý nghĩa hơn và hướng tới hạnh phúc đích thực Những suy nghĩ chân thành và mơ ước của cô gái lấy chồng già, như trong bài ca dao sau đây, khiến người nghe không khỏi bật cười.

(10) Phận hẩm hiu lấy phải chồng già

Khấn trời cho cụ chóng qua cõi đời Để tang qua quýt mà thôi Giai tơ em lấy một người phải duyên Lời cầu thấu tới hoàng thiên

Giảm thọ cho cụ cụ lên chầu trời Gái kia khóc đứng khóc ngồi Cóc bấm bụng cười răng nghiến két ke

Cảnh chồng chung nhiều lúc cũng gặp phải những tình huống cực kì oái oăm và rất buồn cười:

(11) Canh năm chợp mắt lơ mơ

Chồng vừa vào rờ gà gáy rạng đông Năm canh nỏ bén hơi chồng

Vì con mụ cả khổ không hỡi trời Cái cảnh chồng cực lắm chị em ơi!

Không chỉ người phụ nữ chịu thiệt thòi mà đến ngay những ông chồng lắm vợ cũng rơi vào cảnh ngộ rất buồn cười:

Có anh hai vợ lưa khu với sườn

Trong văn hóa Việt Nam, hình ảnh “lưa khuới với sườn” tượng trưng cho trạng thái tiều tụy, chỉ còn lại bộ xương, thể hiện sự suy sụp và nghèo khó Các từ “lưa” và “khu” đều mô tả nét tiều tụy của anh hai vợ, đồng thời phản ánh nỗi buồn cười ngậm ngùi Có nhiều trường hợp những người con trai lấy nhiều vợ tự làm khó chính mình, điều này trở thành điểm chê trách trong xã hội Việc đa thê gây ra những hậu quả không tốt cho bản thân và gia đình, cần nhìn nhận một cách thấu đáo để tránh rơi vào cảnh ngộ đáng tiếc.

(13) Giường lèo mà trải chiếu mây

Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán

2.2.1 Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu của con người

Để hiểu rõ về những thói hư tật xấu của con người và mức độ của chúng, ca dao trào phúng chính là nguồn tư liệu quý giá, nơi tất cả những điều này đều được phơi bày một cách chân thực và trở thành đối tượng chế giễu.

Thói tham ăn tục uống là một trong những thói xấu thường gặp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và đạo đức con người Người Việt Nam luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của ý thức tiết chế trong ăn uống qua các câu tục ngữ như "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng" hay "Học ăn, học nói, học gói, học mở," nhằm khuyên răn mọi người sống biết điều tiết, tránh lãng phí và tham lam Tuy nhiên, thói tham ăn tục uống vẫn tồn tại như một thói xấu phổ biến, đòi hỏi mỗi người cần nhận thức rõ tác hại của nó và rèn luyện ý thức tự chủ để xây dựng lối sống lành mạnh.

(40) Năm tiền em bán nói ba

Trở vào hàng bún trở ra hàng lòng

Trong ca dao trữ tình, hình ảnh người phụ nữ chịu thương, chịu khó, yêu chồng thương con, nhịn ăn nhịn mặc để lo cho gia đình thể hiện lòng nhân hậu, sự hy sinh đáng khâm phục Ngược lại, trong ca dao trào phúng, hình ảnh này thường bị chế giễu, phê phán, thể hiện thái độ châm biếm, phản ánh những sự thật trái chiều về người phụ nữ trong xã hội.

(41) Bông bông vải vải chi em

Chƣa đi đến chợ đã thèm mít dai Vừa đi vừa nhai Ăn hết mười hai trự kẹo

Ra về nói khéo Vải bán không lời Con khóc hết hơi Chồng ru mỏi mệt Xán bị cái đệt Xán mủng cái đùng Chồng hỏi "Làm răng?"

Nam giới thường quen thói rượu chè, cờ bạc, và khi đã say thì không còn ra con người Các thói quen xấu này ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống và gia đình, gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc Việc lăn lóc cả nhà, anh đập em ra, và anh ăn cũng thẹn là những hình ảnh phản ánh cuộc sống gia đình phức tạp Trong khi đó, các câu hát dân gian như "Bánh đúc bánh đỗ" hay "Hỏi mụ láng giềng" thể hiện nét đẹp văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng Việc giữ gìn phẩm chất và hạn chế các thói quen xấu là cần thiết để xây dựng cuộc sống hạnh phúc và bền vững.

(42) Chồng tôi cũng đáng con ngài

Một cơn say rƣợu đi đời nhà ma Chân đi bái gật bái gà

Việc làng đâu phải đám ma mà nằm đường Chồng người thì bái thì hương Áo đen mũ đội ra phường quan viên Chồng tôi say rƣợu đảo điên

Kéo trà kéo trệt ở bên góc đình Làng nước về hết còn mình Thượng rường, hạ kẻ, xung quanh đại bờ Một thân nằm đó trơ trơ

Ai mà hỏi đến lại vơ thằng nào

- Rƣợu à, say đâu đến tao

Tổ cha tổ mẹ đứa nào bảo say

(43) Ơi ông say rƣợu lè nhè

Ngồi đâu nhổ vặt, thở hăng xè ông ơi Chân đi xêu rếu chơi vơi

Nói vớ nói vẩn, mắt thời đỏ hoe

Trong ca dao có câu "Có làm thì mới có ăn, không đừng ai dễ dàng đem phần đến cho", nhấn mạnh tầm quan trọng của cần cù và chịu thương chịu khó Người Nghệ Tĩnh coi đức tính cần cù, nhẫn nại là những phẩm chất quý báu giúp xây dựng cuộc sống ổn định và phát triển Tuy nhiên, họ rất ghét những người lười biếng, siêng ăn nhác làm, và dùng tiếng cười để vạch trần và xua đi thói xấu này Tinh thần làm việc chăm chỉ và chịu khó đã trở thành nét đặc trưng nổi bật của người Nghệ Tĩnh, góp phần nâng cao phẩm chất văn hóa và sức mạnh cộng đồng.

(44) Cơm thì trên khét dưới khê

Một ngày ba bận ngồi lê láng giềng

Làm đàn ông là trách nhiệm phải giữ gìn gia đình, tập trung vào công việc và nghĩa vụ, nhưng có những người đàn ông chỉ thích tụ tập bạn bè, lười biếng bỏ bê gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống chung.

(45) Vui bạn anh bỏ việc nhà

Không ai vui bạn sa đà nhƣ anh

Vì bị ép gả, nhiều người phụ nữ phải cưới những người chồng lười biếng, suốt ngày chỉ ngủ nghỉ Tuy nhiên, hậu quả còn nặng nề hơn khi chồng sa đà vào các tệ nạn xã hội, khiến cuộc đời người vợ trở nên đầy khó khăn và mất đi vẻ đẹp rạng rỡ ban đầu.

(46) Nhƣ tôi nhan sắc nên trò

Chẳng vào bậc nhất cũng cho bậc nhì

Mẹ cha ép gả một khi

Lấy phải chồng nhác ngủ khì ngày đêm Học thì một chữ chẳng nên

Làm thì kêu ốm nằm rên khừ khừ Chẳng may lấy phải chồng hƣ

Trong cuộc sống, người ta thường dễ dàng bị lôi cuốn vào những trò chơi vui nhộn như tổ tôm sóc đĩa, nhưng điều quan trọng là không nên để những thú vui này làm lu mờ lý trí Ngày ngày, chúng ta dành thời gian để thưởng thức rượu và vui chơi bên bạn bè, nhưng đừng quên rằng một cơn say chỉ là tạm thời và không thể nào thay thế cho trách nhiệm Tham ăn, lười biếng và khoe mẽ là những thói xấu cần tránh, vì chúng dễ dẫn đến tự tô vẽ hình ảnh của chính mình để lừa dối thiên hạ Nhiều câu ca dao, bài hát chế nhạo những kẻ cố tình thổi phồng cái bóng của mình để lòe bịp người khác, gây ra những hậu quả tiêu cực trong xã hội.

(47) Có thương em hãy cùng về

Nhà anh lợp ngói bốn bề gương soi

- Em vừa ở đó bữa tê Nhà anh lợp lá tứ bề che mo

- Anh đang bận khách qua đò Ngói mua chƣa đƣợc lấy mo che quàng

(48) Làm thì van ốm van đau

Đàn ông được xem là trụ cột gia đình và người bảo vệ cho vợ con, nhưng đôi khi họ lại đi ngược lại quy luật này Nhiều bài ca dao, tục ngữ phản ánh tính cách bạc nhược, hèn nhát, thiếu bản lĩnh của người đàn ông qua những hình ảnh hài hước và ngộ nghĩnh Những câu nói như "Thấy o nào đẹp - 'gấy tau bay tề!'" thể hiện sự châm biếm về những người đàn ông thiếu tự lập và thiếu trách nhiệm trong xã hội Việt Nam.

(49) Chồng người vác súng săn hươu

Chồng em vác đũa đuổi mèo qua mươn

(50) Làm trai cho đáng nên trai

Khom lƣng chống gối gánh hai hạt vừng

Người phụ nữ truyền thống thường được khuyên nên thể hiện sự yếu đuối, nhẹ nhàng và khéo léo trong ứng xử để duy trì hòa khí trong gia đình, như ví von "Chồng giận thì vợ bớt lời" hoặc "Cơm sôi bớt lửa đời nào khét khê." Tuy nhiên, đôi khi phụ nữ cũng bị coi là chanh chua, đanh đá, và trở thành đối tượng trêu chọc trong các câu ca dao trào phúng, phản ánh những kỳ vọng, áp lực về vai trò và tính cách của người phụ nữ trong xã hội truyền thống.

(51) Cơm sôi thì tốc lửa vào

Chồng giận thì nhảy giường cao mà ngồi

Tham lam là một thói xấu phổ biến trong con người, thể hiện qua việc luôn mong muốn có nhiều hơn nữa, đứng núi này trông núi nọ Dù biết rằng nhu cầu của con người là vô hạn và chính điều đó thúc đẩy sự phấn đấu không ngừng, nhưng tham lam đến mức so sánh, ao ước những thứ người khác có được như trong hai bài ca dao, thật sự đáng lên án.

(52) Ôm lấy cam tiếc quýt Ôm lấy bưởi tiếc bòng Ôm lấy thị tiếc hồng Ôm lấy nồi đất tiếc nồi đồng

Lạ chi cái thói đàn ông Muốn ôm lắc đi cả Muốn vơ quàng đi cả

(53) Một bầy cá lội sông sâu

Anh cười híp mắt buông câu ngồi chờ Anh câu con giếc, anh tiếc con rô Anh câu con cá gáy anh dò con trê Quá trƣa mặt ủ mày ê

Vì chƣng tham quá nên về giỏ không

Dù đàn ông thường thích vẻ đẹp và muốn chiếm hữu cái đẹp, điều này phù hợp với quy luật tự nhiên và xã hội phong kiến không cấm đoán việc đàn ông có nhiều vợ, nhiều thiếp Tuy nhiên, có những người đã có gia đình vẫn không chấp nhận dừng lại mà còn tham lam muốn thêm hoa hồi, gây ra nỗi đau đớn và xung đột cho phụ nữ Bên cạnh đó, không ít phụ nữ lại lẳng lơ, thiếu đức tính đứng đắn, bỏ chồng theo trai hoặc mang thai ngoài ý muốn trước hôn nhân, khiến họ trở thành đối tượng bị chế giễu trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh.

(54) Chuột kêu rúc rích trong rương

Anh đi cho khéo kẻo đụng giường mẹ la Thương anh đưa anh về nhà

Biết là sau có giao hòa kết đôi

- Con gái đã thế thì thôi Chưa cheo chưa cưới đã lôi trai về nhà

(55) Ghét em vì tính lông bông Đêm khuya lách cửa bỏ chồng theo trai

(56) Đầu làng có một cái đền

Lại gặp cái giếng kề liền điếm canh

Có cô con gái vô tình Bỗng dƣng mà lại chửa phình bụng ra Thương tình anh mới dò la

Sao em ở kín trong nhà mãi ri Xóm Đình lắm cát dễ đi Giếng trong nước ngọt sao cô mi lại ở trong nhà

Mướp đắng thường được so sánh với mạt cưa, thể hiện sự châm biếm về những điều vụn vặt hoặc khó chịu trong cuộc sống Trong khi đó, câu chuyện về anh ni khéo lừa gặp ả tê mang đậm tính chất châm biếm, phản ánh những tình huống éo le và trớ trêu Tiếng cười trào phúng luôn tồn tại trong đời sống, không phân biệt đối tượng hay hiện tượng, nhằm phê phán những thói quen, hành động không đúng đắn hoặc vô lý trong xã hội.

Trong văn hóa Nghệ Tĩnh, thói quen chơi trống bỏi khi già đã trở thành một nét đặc trưng phản ánh cuộc sống và tâm lý của người cao tuổi Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh thường đề cập đến thói xấu này với sự hài hước và châm biếm, góp phần nhắc nhở về việc giữ gìn đạo đức và lối sống phù hợp trong độ tuổi xế chiều.

(57) Cây đa ba nhánh chín chồi

Cố Thông Lơn chín vợ còn đòi dạm thêm

Chung một cỗ tơ hồng

Bài hát thể hiện cảm xúc vui buồn đan xen trong cuộc sống, như câu "Có vui vẻ chi không hay là không vui vẻ" Những hình ảnh truyền thống như "Ăn miếng trầu cho đỏ" tượng trưng cho niềm vui, niềm hạnh phúc Tuy nhiên, cuộc sống cũng có lúc giận dữ, như "Giận cái cối ngắn chìa" và những đêm lạnh, đêm khuya khiến lòng người thêm trống trải Câu hát còn thể hiện sự bực bội với những phiền toái trong cuộc sống như "Giận cái đờm cố quấy" và cảm giác lặng lẽ, đơn độc như "Nửa đêm thức dậy" Đây là những hình ảnh phản ánh sâu sắc về cảm xúc của con người qua cuộc sống hàng ngày.

Bỏ rụng rồi chƣa vọc?

Tay đâm trầu lọc cọc Tay khuơ gậy loàng quàng Thấy con gái thì liếc ngang Thấy nạ dòng thì liếc trộm

Cố Thông Lơn ở Trung Cần, Nam Đàn răng rụng, đi đâu thì quơ gầy loàng quàng mà thấy gái, thậm chí nạ dòng cũng đang tỏ ra ham muốn

(59) Cố già cố đội nón cời

Cố ve con gái trơi đời cố ra

(60) Ông già đã tám mươi ba

Còn mong trẻ lại để cà gái tơ Râu ông đã bạc phơ phơ Tay còn rờ rẫm rẫm rờ hồng nhan

(61) Ông già ông có biết chăng

Cạo râu bôi mặt mần răng ông cũng già Ngồi trong cửa sổ trông ra

Trông thấy gái đẹp ông gọi: à à vào đây Răng rụng, tóc bạc, cẳng gầy

Con cháu mà biết trơi đời nhà ông

Không chỉ ông già mà bà già cũng thích chơi trống bỏi Năm mươi tuổi rồi mà mắc bệnh ngứa nghề

(62) Năm mươi mắc bệnh "ngứa nghề"

Lần vô chỗ tối ngồi kề con trai

Có anh tưởng bở quàng vai

Rờ phải vụ tẹt mới biết bà cai ngứa nghề

(63) Bà già đã tám mươi tư

Ngồi trên miệng lỗ gửi thƣ lấy chồng

Hình thức chơi chữ

Chơi chữ là thủ pháp tạo giá trị biểu cảm cho lời nói dựa trên sự sử dụng các từ hai âm tiết, trong đó người ta tận dụng các hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, trái nghĩa, cải biên, nói lái để gây ấn tượng, mang lại liên tưởng bất ngờ và hấp dẫn cho người nghe, người đọc Nó thể hiện trí tuệ và tài hoa trong văn chương, đòi hỏi người chơi chữ phải thông minh, nhạy bén trong liên tưởng để sáng tạo ra những tác phẩm chơi chữ độc đáo Ngôn ngữ vốn là vốn có của mỗi người, nhưng để sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả và nghệ thuật, cần rèn luyện, sáng tạo và mài dũa kỹ năng, từ đó hình thành một lối chơi nghệ thuật gọi là chơi chữ, mang lại giá trị biểu cảm cao và âm vang sâu sắc trong giao tiếp.

Chơi chữ có nhiều cách: dùng từ đồng âm, dùng từ đa nghĩa, dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa, nói lái, tách ghép từ

Từ đồng âm là những từ phát âm giống nhau hoặc có cấu tạo âm thanh giống nhau nhưng mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Trong tiếng Việt, từ đồng âm mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đôi khi gây ra những hiểu lầm hoặc tạo ra các nghĩa bất ngờ trong giao tiếp hàng ngày Việc hiểu rõ về từ đồng âm giúp người học tiếng Việt nắm bắt chính xác nghĩa của từ trong từng ngữ cảnh, nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu đúng ý nhiên của câu nói.

(91) Thằng bù nhìn thằng bù nhìn thằng bù nhìn không nhìn thằng bù

Nếu đọc liên tiếp, câu văn sẽ rất khó hiểu Ví dụ:

Hôm qua, tôi gọi "qua qua" nhưng không thấy "qua qua" xuất hiện Hôm nay, "qua" không báo "qua qua" thì lại thấy "qua qua" xuất hiện Trong đó, "qua 1" là cách gọi "anh" của người miền Trung, còn "qua 2" mang nghĩa là động từ "đi qua" hoặc "đi sang".

Lối chơi chữ đồng âm xuất hiện nhiều trong ca dao trào phúng của người Việt Chẳng hạn:

(93) Bà già đi chợ cầu Đông

Xem một quẻ bói lấy chồng lợi(1) chăng?

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

Lợi(2) thì có lợi (3) nhưng răng chẳng còn

Chỉ khi nhận ra ý nghĩa của các từ đồng âm nhưng khác nghĩa, người nghe mới bật cười, vui tếu nên không nỡ giận Lợi có nhiều nghĩa khác nhau: lợi(1) và lợi(2) đều chỉ về lợi ích, phần thu được, trong khi lợi(3) ám chỉ phần thịt quanh chân răng Người già răng rụng sạch, chỉ còn trơ lợi, móm mém, nhưng vẫn còn đòi lấy chồng, làm bật lên sự hài hước về sự khác biệt trong nghĩa của từ "lợi".

Trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, tác giả dân gian cũng đã sử dụng từ đồng âm để tạo ra tiếng cười hài hước mua vui Chẳng hạn:

(94) Đầu hôm đánh cá ve bôi

Rạng ngày trích cá lầm ơi là lầm

Lầm là tên gọi của một loại cá, nhưng trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, từ "lầm" còn mang nghĩa là "nhầm" hoặc "nhầm lẫn" Cá ve, cá ve bôi, cá trích và cá lầm trông rất giống nhau, trong đó cá ve bôi có thân mỏng, còn cá trích to hơn và ngon hơn Câu chơi chữ này sử dụng sự liên kết giữa ba loại cá nhằm thể hiện rõ nét tâm trạng của người dân miền biển, qua cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, mang lại sự thông thoáng và rõ ràng trong nội dung.

(95) Đó rách mà đó nỏ trôi Đó còn ngáng trộ cho tôi cực lòng

Trong bài ca dao, tiếng cười vang lên khi người nghe nhận ra ý nghĩa đa nghĩa của từ đó, vừa là tên gọi của một dụng cụ dùng để bắt cá của người nông dân, vừa là đại từ phiếm chỉ (ai đó) Bài ca dao có vẻ như đang trách móc về một dụng cụ đã hết khả năng sử dụng, nhưng thực chất là lời trách móc đối phương trong chuyện tình cảm, như người con trai hoặc người con gái không mang lại hạnh phúc mà còn trở thành rào cản khiến người kia tìm kiếm những cơ hội mới.

Nói lái là một biện pháp tu từ phổ biến trong tiếng Việt, trong đó người nói tráo đổi vị trí các thành phần của từ như âm đầu, âm cuối, thanh điệu để tạo ra từ mới Những từ nói lái thường mang ý nghĩa bất ngờ, dí dỏm và gây cười khi người nghe hiểu ra Phổ biến trong văn nói, khẩu ngữ và văn học dân gian, nói lái thường được sử dụng để trêu đùa, đả kích hoặc truyền đạt thông điệp bí mật Ngoài ra, nói lái còn giúp tránh phát âm những từ thô tục một cách khéo léo và tinh tế.

Tiếng Việt có hai điều kiện thuận lợi cho việc nói lái là sự rõ ràng của ranh giới giữa các âm tiết và khả năng kết hợp linh hoạt của hầu hết các phụ âm đầu với các vần mang thanh điệu Nói lái được xem là một hình thức chơi chữ đặc sắc của người Việt, thể hiện khả năng nhạy bén về tính trào phúng và châm chọc Người Việt thường sử dụng nói lái để châm biếm, gài câu đố, câu đối, và tránh làm thô tục bằng cách ghép chữ một cách khéo léo, nhằm hạ thấp người khác một cách tinh tế và hài hước.

Nói lái là một hình thức chơi chữ phổ biến trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, nhằm tạo ra tiếng cười vui vẻ, hài hước Các bài ca dao sử dụng kỹ thuật nói lái làm tăng tính dí dỏm và làm nổi bật nét đặc trưng văn hóa dân gian miền Trung Đây là phương pháp thể hiện sự khéo léo trong ngôn ngữ, góp phần làm phong phú thêm kho tàng ca dao Việt Nam.

(96) Đêm năm canh nằm sầu cô đạnh

Bài ca dao "Ngày sáu khắc nhớ má với cằm" ban đầu có thể khiến người nghe nhầm tưởng là một bài ca dao trữ tình thể hiện nỗi nhớ thương đối tượng nào đó, nhưng thực tế nội dung của nó phản ánh những điều rất bình thường trong đời sống người miền nông thôn Nghệ Tĩnh Những câu hát đơn giản, dễ thương này nói về những món ăn quen thuộc như canh độ, mắm, cà – những thứ gắn bó với cuộc sống hàng ngày của người dân vùng đất đầy nắng gió này Bài ca dao không chỉ mang lại tiếng cười vui vẻ mà còn chứa đựng nỗi niềm thương cảm về cuộc sống gian khó, vất vả quanh năm của người nông dân Nghệ Tĩnh, với hình ảnh "Gió Lào thổi rạc bờ tre" và giọng nói nhọc nhằn như Nguyễn Bùi Vợi mô tả Trong khi người Bắc tự hào "Chả lo gì, chỉ lo già", thì người Nghệ Tĩnh lại chỉ mong no đủ, thể hiện qua các món ăn đơn sơ như canh độ, mắm, cà – những biểu tượng của cuộc sống giản dị mà thiết thân.

Dẫu cuộc sống nghèo khổ và vất vả, nhưng họ vẫn tìm thấy vẻ đẹp thi vị trong những khoảnh khắc nông nhàn, khi trai gái gặp gỡ, đối đáp và giao duyên, làm nổi bật nét đẹp đời thường và tình cảm chân thành trong cuộc sống rural.

(97) Anh về câu rạo anh đi

Mai sau trải lẹ anh thì đến chơi

- Tiếc cái phận giận cái duyên

Ba cái râu mọc ngược để gái thuyền quyên dày vò

Câu nói lái "cạo râu" mang ý nghĩa hài hước, ám chỉ việc "trẻ lại" khi cạo râu, thể hiện sự thông minh và sắc sảo trong ngôn ngữ Cô gái tinh tế đã dùng trò chơi chữ này để mỉa mai những người đàn ông thiếu chăm sóc bản thân Đây là ví dụ điển hình về cách sử dụng ngôn ngữ sáng tạo để thể hiện quan điểm một cách khéo léo.

(98) Sự đời nghĩ cũng nực cười

Vợ thời hăm mốt chồng thời mười ba

Trong xã hội cũ, hình ảnh “Vợ thời lo lắng cửa nhà” và “Chồng thời van khóc: ơi cha dấm đài” phản ánh rõ nét nạn tảo hôn đầy bi thương và thảm kịch Câu chuyện này thể hiện sự bất lực của người vợ và nỗi đau của người chồng khi đối mặt với những ép buộc của truyền thống, qua đó phản ánh tình trạng hôn nhân sớm và các vấn đề xã hội liên quan Hình ảnh này tượng trưng cho sự bất công và yếu thế của phụ nữ trong xã hội cũ, đồng thời là minh chứng cho thực trạng tảo hôn gây ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của nhiều gia đình.

Nói lái không chỉ là cách biểu đạt ẩn ý mà còn được người Nghệ Tĩnh sử dụng để đả kích, châm biếm hoặc chửi thẳng vào mặt một số hạng người trong xã hội Những người mang danh là sư hổ mang, miệng nam mô, tay lần tràng hạt nhưng vẫn tham lam, lợi dụng hình tượng Phật để làm điều xấu xa Chính vì vậy, trong văn hóa Nghệ Tĩnh có bài ca dao phản ánh rõ nét sự mâu thuẫn này.

(99) Ông sư là ông sƣ hinh

Thấy o má đỏ mắt tình liếc đưa

O cười răng bóng hạt dưa

Sư lần tràng hạt đứng ngơ ngẩn người

Hình nói lại là sinh hư, thể hiện ý rằng sư đi tu nhưng không giữ được cốt cách của người tu hành Những người làm sư nhưng lại lừa dối chính đạo, chỉ ham mê dục vọng như những kẻ tầm thường, mất đi phẩm chất cao quý của người tu hành.

Hoặc để đả kích những kẻ làm tay sai cho giặc:

(100) Nhà máy diêm có thằng cai Lạp

Các hình thức so sánh, đối lập

So sánh là phương thức tu từ dùng để đối chiếu hai sự vật có điểm tương đồng, nhằm gợi ra hình ảnh cụ thể và cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc hoặc người nghe This rhetorical device emphasizes the similarity between two objects to create vivid imagery and evoke aesthetic feelings, enhancing overall communication.

Phép so sánh đầy đủ nhất bao gồm bốn yếu tố quan trọng: đó là cái so sánh (vế A), cơ sở để so sánh, từ so sánh và cái được so sánh (vế B) Để hiểu rõ hơn về cấu trúc của phép so sánh, ta cần xác định rõ từng yếu tố này nhằm tạo nên câu so sánh chính xác và rõ ràng Việc sử dụng đúng từ so sánh phù hợp sẽ giúp truyền đạt ý nghĩa một cách chính xác và sinh động hơn trong câu văn.

Ví dụ: Lá liễu dài nhƣ một nét mi

Trong đó: - cái so sánh: lá liễu

- cơ sở so sánh: dài

- cái được so sánh: một nét mi Tùy từng trường hợp có thể đảo, thêm, bớt một số yếu tố trong mô hình trên

Phép so sánh được sử dụng trong đời sống hàng ngày để tạo hình ảnh ví von, giúp người nghe hiểu nhanh nội dung truyền đạt Trong phong cách chính luận, phép so sánh tăng sức mạnh bình luận, làm rõ ý kiến và tăng tính thuyết phục Trong thơ ca, phép so sánh nâng cao khả năng tạo hình, biểu cảm, và mang đến những cảm nhận mới mẻ, hoàn thiện về đối tượng được miêu tả.

So sánh là thủ pháp nghệ thuật hiệu quả góp phần tạo nên tiếng cười trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh Phân tích 34 bài ca dao sử dụng thủ pháp so sánh cho thấy những điểm nổi bật, như sự sáng tạo trong cách so sánh và khả năng gây hài hước cao, giúp thể hiện đặc trưng của phong cách trào phúng Nghệ Tĩnh một cách sinh động và chân thực.

Trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, đối tượng so sánh chủ yếu là những sự vật cụ thể, có thể sờ, nắm, nhìn thấy được, phản ánh cuộc sống đời thường của người dân nơi đây Những hình ảnh so sánh này thường gắn liền với các vật dụng quen thuộc trong sinh hoạt hàng ngày, thể hiện nét đặc trưng trong nếp nghĩ và văn hóa của người Nghệ Tĩnh Ví dụ tiêu biểu là những hình tượng gần gũi, phản ánh đời sống thực tế của cộng đồng địa phương, giúp tăng tính chân thật và sinh động cho tác phẩm.

(104) Mình em nhƣ bị lác đứt quai

Nhan sắc chi nữa mà hai người dành

Chú bác trục trặc Cha mẹ không "ì"

Giống như trâu không chạc mũi biết "tắc rì" đường mô

(106) Giường lèo mà trải chiếu mây

Những người hai vợ nhƣ gây (gai) quào mình

(107) Quần dài ta tưởng cậu nho

Ai ngờ học dốt như bò ủi nương

Trong cuộc sống hàng ngày của người Nghệ Tĩnh, những hình ảnh như bị lác đứt quai, trâu không chạc mũi, gây gai quào mình, bò ủi nương đều rất cụ thể và quen thuộc Đây phản ánh nét đặc trưng so sánh trong ca dao trữ tình, khác với ca dao trào phúng Trong khi ca dao trào phúng tập trung kể chuyện, tả đối tượng theo cách trực diện và so sánh rõ ràng, thì ca dao trữ tình lại hướng đến những hình ảnh ước lệ, chung chung như rồng, mây, trăng, sao, mang tính tượng trưng và giàu cảm xúc hơn.

(108) Mình em nhƣ chim phƣợng hoàng

Trong ca dao trữ tình, các biểu tượng như con cò, cái bống hay mai, đào, trúc, liễu thường tượng trưng cho người nông dân chân lấm tay bùn hoặc người con gái xinh đẹp, qua đó tạo nên hình ảnh sống động và đầy cảm xúc Các lối so sánh trực diện với hình ảnh cụ thể góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chân thực và sự gần gũi trong ca dao, đồng thời mang lại tiếng cười sảng khoái qua ca dao trào phúng Chính vì vậy, so sánh trong ca dao trào phúng thường mang tính sắc sảo, thực tế và dí dỏm hơn, không ước lệ như trong ca dao trữ tình Đặc biệt, nội dung tình yêu nam nữ trong ca dao trào phúng được thể hiện qua các so sánh hóm hỉnh, tự nhiên, góp phần làm cho các bài ca thêm phần sinh động và chân thực.

(109) Đôi ta nhƣ gậy chống rèm

Vừa đôi thì lấy ai dèm mặc ai

(110) Đôi ta nhƣ rắn liu điu

Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau

(111) Đôi ta nhƣ ruộng năm sào

Cách bờ ở giữa làm sao cho liền

Trong các ngày thứ hai, tác giả dân gian thường sử dụng hình ảnh so sánh mang tính ngoa dụ và phóng đại để tạo ra tiếng cười sảng khoái, đồng thời đảm bảo tính cụ thể trong từng câu chuyện Những câu so sánh này không chỉ làm nổi bật đặc điểm của đối tượng mà còn mang lại cảm giác vui vẻ, dễ hiểu cho người nghe, góp phần làm cho các tác phẩm dân gian thêm phần sinh động và hấp dẫn.

(112) Con rận bằng con ba ba Đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh

(113) Mẹ em nhƣ thể con trâu

Trong bài viết, tác giả dân gian đã cố ý tạo ra sự chênh lệch rõ rệt giữa vật được so sánh và đối tượng so sánh, đi ngược lại nguyên tắc của phép so sánh thông thường Điều này gây ra những liên tưởng bất ngờ và mang lại một cách nhận thức mới mẻ về đối tượng, từ đó tạo ra tiếng cười trào phúng và sự hình dung sâu sắc hơn.

(114) Con gái mà lấy ông già

Ra đường bạn hỏi "là cha hay chồng?"

Về nhà ôm lấy bì bông

Sướng hơn ôm chồng da thịt nhăn nheo

(115) Thân em như cánh hoa hồng

Lấy phải thằng chồng nhƣ cứt bò khô

(116) Tướng thầy là tướng khoai lang Ăn hết nửa sàng thầy ẻ không ra

So sánh là phương pháp nghệ thuật độc đáo trong ca dao trào phúng, đặc biệt nổi bật trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh Các câu ca dao này thường sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ so sánh mang đậm dấu ấn riêng biệt, thể hiện rõ nét nét đặc sắc và phong cách riêng của vùng đất Nghệ Tĩnh.

3.2.2 Kết cấu tương phản, đối lập

Trong nghệ thuật ngôn từ của ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, thủ pháp đối (từ ngữ, câu) là yếu tố uyển chuyển và đặc trưng nhất, khi hầu như bài ca dao nào cũng sử dụng các hình thức đối lập để tạo gây cười Các hình ảnh, sự việc, hiện tượng khi được đặt cạnh nhau và mang tính trái ngược càng làm tăng tính hài hước, giúp tăng hiệu quả gây cười của tác phẩm Thủ pháp này thể hiện rõ nét qua các câu ca dao, góp phần làm nổi bật tính đặc trưng của văn học trào phúng vùng Nghệ Tĩnh.

(117) Vợ thì quần lĩnh áo the

Chồng thì múc nước rửa xe cả ngày

Hình ảnh đối lập giữa người vợ quần áo sạch sẽ, nhàn nhã và người chồng suốt ngày múc nước rửa xe tạo nên tiếng cười hài hước và châm biếm về sự lười biếng của các cô vợ và tính nhu nhược của người chồng Tương tự, tác giả dân gian dùng hình ảnh này để phê phán thói quen ăn chơi, làm biếng và thiếu chăm chỉ trong sinh hoạt hàng ngày Những câu chuyện này phản ánh rõ nét nét đẹp hài hước, sâu sắc về nếp sống gia đình và những thói quen đời thường của người Việt xưa.

(118) Đồn rằng bác xã nhà ta

Cuốc đất thì chậm, mổ gà thì lanh

Hình thức đối trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh là sự cộng hưởng đắc lực để tạo nên những dáng vẻ độc đáo cho nghệ thuật gây cười:

(119) Ngu si súc tích thì giàu

Thông minh sáng láng nhƣ tau thì nghèo

(120) Gái một con trông mòn con mắt

Gái hai con vú quặt đàng sau Gái ba con ruồi bâu rình rình Gái bốn con thì rinh xuống bộng

(121) Con không cha nhƣ nhà không nóc

Gái không chồng nhƣ cóc có đuôi Cóc có đuôi vẫn còn nhảy đƣợc Gái không chồng chạy ngƣợc chạy xuôi

(122) Có chồng nhƣ gông mang cổ

Không chồng cởi lổ mà đi

Các hình thức nói ngược, cường điệu, phóng đại

3.3.1 Sử dụng lối nói ngược

Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh đạt hiệu quả cao nhờ việc sử dụng lối nói ngược, tạo sự đối lập giữa mục đích phát ngôn và lời nói Các bài ca dao trào phúng thường vận dụng lối nói ngược để thể hiện nội dung một cách sinh động và hài hước Tác giả dân gian đã sáng tạo ra những kiểu nói ngược có khả năng bộc lộ ý nghĩa sâu sắc đồng thời tăng cường yếu tố gây cười trong tác phẩm.

Tiếng cười trong các bài ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh thể hiện qua thủ pháp nói ngược một cách tinh tế và kín đáo, mang lại sự thâm trầm và sâu sắc Những câu chuyện dân gian này sử dụng cách nói ngược để truyền tải thông điệp hài hước, đồng thời phản ánh rõ nét nét chế nhạo xã hội và đời sống thường nhật Sự sử dụng thủ pháp nói ngược trong ca dao không chỉ giúp làm nổi bật tính trào phúng mà còn giữ gìn nét đẹp văn hóa dân gian chân thật, sâu sắc.

(123) Chồng em siêng nhất ở làng

Cày năm sào ruộng chưa mở hàng đường mô

Câu đầu tiên có vẻ như là một lời khen ngợi, giới thiệu tự hào về người chồng siêng năng nhất trong làng, nhưng thực tế lại mang ý nghĩa ngược lại Thực chất, câu nói là lời châm biếm nhắm vào gã chồng lười biếng, người chưa từng làm việc gì đáng kể, chẳng mở nổi một đường cày nào trên cánh đồng năm sào.

Trong quan niệm của người xưa, người đàn ông chân chính phải thể hiện bản lĩnh, tài năng và dám xông pha vượt mọi thử thách để làm nên sự nghiệp đáng tự hào Người làm trai phải biết vượt khó, khẳng định lòng dũng cảm và sức mạnh của bản thân để được mọi người kính trọng và yêu mến.

(124) Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng

Nhưng cũng có lúc, tác giả dân gian cố tình nói ngược để châm biếm những kẻ vô dụng:

(125) Làm trai cho đáng nên trai

Khom lƣng chống gối gánh hai hạt vừng

Với người phụ nữ cũng vậy, trong đối nhân xử thế, với chồng cũng như với người khác phải luôn nhẹ nhàng, mềm mỏng, lấy nhu thắng cương, kiểu:

(126) Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa đời nào khét khê Đằng này vẫn có những cô dám làm chuyện ngược đời:

(127) Cơm sôi thì tốc lửa vào

Chồng giận thì nhảy giường cao mà ngồi

Có rất nhiều hiện tượng được miêu tả ngược đời, trái với tự nhiên trong

(128) Khi nào trâu đực sinh con

Gà trống đẻ trứng, trăng tròn ba mươi

Khi nào tháng chạp ăn rươi

Tháng giêng gặt lúa em thời lấy anh

(129) Khi nào chiếu trải lác tròn

Thì anh chung lưng lại, kiếm chút con mà bồng

(130) Khi nào đá nổi bông chìm

Muối chua chanh mặn, anh mới tìm được em

Sâu hơn nữa là nhằm phê phán những sự trái khoáy, ngược đời thường diễn ra trong xã hội cũ:

(131) Khi đầu em nói rằng thương

Bây giờ gánh nặng giữa đường đứt dây Tưởng là rồng ấp lấy mây

Ai ngờ rồng ấp lấy cây bạch đàn

(132) Bảy mươi muốn chút phấn hồng

Hai tay hai gậy muốn bồng con thơ

Thủ pháp “nói ngược” trong ca dao trào phúng là phương pháp giúp tạo ra tiếng cười bằng cách miêu tả các nhân vật hoặc tình huống theo cách trái ngược với thực tế Nó thường dùng để mô tả một người nhỏ nhắn như người to béo, khen con gái làng đẹp nhưng qua cách thể hiện lại mang nét xấu xí, hoặc nói thương chồng nhưng hành động lại như kẻ ghét chồng, hoặc ngược lại Chính sự mâu thuẫn này khiến người nghe vừa cảm nhận đúng, vừa cảm nhận sai, tạo ra sự bất ngờ và hài hước trong ca dao Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam đã phân tích rõ về vai trò của thủ pháp nói ngược trong làm nổi bật tính trào phúng của ca dao Việt Nam.

Nói ngược không chỉ mang lại tiếng cười để giải trí mà còn có tác dụng giáo dục trí tuệ, giúp người nghe, đặc biệt là trẻ nhỏ, hiểu rõ những chân lý một cách sinh động và gián tiếp Trong đó, thủ pháp cường điệu và phóng đại đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho nội dung trở nên hấp dẫn, dễ ghi nhớ hơn.

Các nhà nghiên cứu trong lịch sử văn học Việt Nam nhận xét rằng hình thức lộng chữ, chơi chữ trong ca dao có thể tạo ra tiếng cười giòn giã và làm tăng tính biểu cảm của lời ca Việc sử dụng lối nói ngoa dụ đẩy sự vật tới mâu thuẫn trái tự nhiên, góp phần làm nổi bật sự đa dạng trong nghệ thuật ca dao Trong khi ca dao của ta chứa đựng hình tượng tế nhị, kín đáo, thì cũng có nhiều câu ca với tiếng cười rộn rã, phản ánh nghệ thuật ngữ ngôn độc đáo qua lộng chữ, chơi chữ và đối lập hình tượng tự nhiên với không tự nhiên.

Trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, yếu tố cường điệu và phóng đại thường xuất hiện nhiều, đặc biệt trong các bài ca dao về tình yêu nam nữ nhằm tạo ra tiếng cười hài hước và mua vui nhẹ nhàng Người Nghệ Tĩnh thể hiện tình cảm của mình rất táo bạo, mạnh mẽ, phản ánh nét đặc trưng văn hóa vừa chân thật, vừa dí dỏm.

(133) Mẹ cha có cản đường Bắc

Thì ta rẽ ngoặt đường Nam

Mẹ cha có cản đường Nam Thì ta rẽ sang đường Bắc

Ví dù có trục trặc cả đường Bắc đường Nam Thì xúm tay ta nhen lửa đốt cả xóm làng ta đi

Chỉ cần phản ánh và miêu tả một cách cường điệu, những câu ca dao trào phúng đã chạm đúng tâm lý và cảm xúc của các chàng trai, cô gái đang yêu, giúp phản ánh chân thực nỗi lòng và những cảm xúc thăng trầm trong tình yêu một cách sinh động và gần gũi.

(134) Em mà không lấy được anh

Thì em tự vẫn gốc chanh nhà chàng

- Anh mà không lấy được nàng

Thì anh tự vẫn giữa gia đường nhà em

(135) Gái tơ mà gặp anh hào

Núi cao rừng rậm lật nhào mà đi

Thần núi ngồi khóc hi hi Đôi ta trọn ngãi, thần hi hi mặc thần

Trong văn hóa xứ Nghệ, việc thể hiện tình cảm qua cường điệu hay phóng đại không đồng nghĩa với sự khoác loát hay khoa trương Ngược lại, sau những tiếng cười, người nghe dễ dàng nhận thấy sự quyết tâm và chân thành tuyệt đối của người dân nơi đây trong tình yêu Người xứ Nghệ vốn sống trọng tình nghĩa, coi trọng sự chân thật và cảm xúc chân thành trong mọi mối quan hệ.

Ca dao trữ tình thường phản ánh chân thực cuộc sống hàng ngày một cách rõ nét và trung thành, theo phong cách có sao nói vậy Trong khi đó, ca dao trào phúng lại gia giảm, thêm bớt, thậm chí bóp méo sự việc để tạo ra sự cười nhằm phản ánh hiện thực qua góc nhìn hài hước Đặc điểm nổi bật của ca dao trào phúng là việc làm cho đối tượng xuất hiện với diện mạo hoàn toàn khác, càng khác biệt thì càng gây cười và dễ ghi nhớ trong lòng người nghe.

(136) Chồng em rỗ sứt rỗ sì

Chân đi chữ bát mặt thì ngƣỡng thiên

(137) Chồng tôi xấu lắm ai ơi

Xấu cơ xấu cực, xấu khốn xấu nạn Con mắt bạc nhãn, lỗ khu tùm tít Cái đít chìa vôi

Trăm công nghìn việc chồng tôi sõi sàng

Ca dao đã sáng tạo ra những câu chuyện hài hước, đa dạng, sắc bén và tinh vi hơn, thể hiện rõ trí tuệ và sức mạnh của dân gian trong việc biến hóa thực tế Thay vì sử dụng hình ảnh chân thực, các tác phẩm dân gian thường mô họa bằng tranh vẽ, nét phác họa, tô điểm hoặc thêu dệt theo cách nhìn chủ quan của người sáng tác Nội dung các câu chuyện mang tính chất hư cấu, phản ánh những điều khó gặp trong đời sống thực, góp phần tạo nên tiếng cười sảng khoái và sự đa dạng trong nghệ thuật ca dao.

(139) Một trăm mụ o thì xâu một nách

Một trăm ông chú thì xách một tay

(140 ) Chuột chù ăn trù đỏ môi

Ai muốn làm mọn thầy tôi thì về

Mẹ tôi ghê gớm gớm ghê

Mài dao cho sắc mổ mề dì hai

Ca dao trào phúng sử dụng thủ pháp cường điệu và phóng đại để tạo ra tiếng cười, nhấn mạnh đặc trưng và ý nghĩa riêng của nó Những câu ca dao này thường nói những điều tưởng như thật nhưng lại không hoàn toàn đúng hoặc không có thật, chính sự mơ hồ, nửa nạc nửa mỡ đó là yếu tố làm nên nét đặc biệt Sử dụng thủ pháp này giúp tạo ra sự hài hước thông qua sự đối lập giữa thực tế và ẩn dụ, góp phần làm cho ca dao trào phúng trở thành hình thức nghệ thuật mang tính châm biếm sâu sắc.

(141) Tốt số lấy đƣợc chồng già

Ra đường bạn hỏi: Ông gia hay chồng Không nói ra thì cực trong lòng

Phận tôi là gái má đào mắt xanh

Lẽ nào kêu cố bằng anh

(142) Bà già đã tám mươi tư

Ngồi bên miệng lỗ gửi thƣ lấy chồng

Không ai dễ dàng nhầm tưởng rằng những lời “không thực tế, phóng đại quá mức” đều là sự thật, nhưng cũng không thể coi chúng là những điều vô nghĩa hoàn toàn hay không có giá trị Ví dụ, bài ca dao sau đây phản ánh cách nhìn nhận về cuộc sống qua những lời lẽ đôi khi mang tính ẩn dụ hoặc khoác lác, nhưng vẫn chứa đựng những ý nghĩa sâu xa về thực tại.

(143) Em là con gái nhà giàu

Thầy mẹ thách cưới ra màu làm cao Cưới em chín tấm lụa đào

Chín mươi hòn ngọc, chín mươi chín ông sao trên trời Cưới em chín nén vàng mười

Huê viên một vạn, tiền dời cơ man Cưới em đôi võng đôi tàn

Phòng khi bác mẹ em sang chơi nhà

Thủ pháp ẩn dụ

Trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, thủ pháp ẩn dụ là một phương pháp nổi bật nhằm tạo ra tiếng cười dí dỏm và sinh động Các bài ca dao trào phúng sử dụng ẩn dụ một cách khéo léo, thể hiện sự bản lĩnh và sáng tạo độc đáo của dân gian Nghệ Tĩnh Phương thức ẩn dụ không chỉ góp phần làm nổi bật nội dung hài hước mà còn thể hiện sự phá cách trong nghệ thuật trào phúng của vùng đất này.

(145) Con cua là con cua đồng

Tôi bắt nấu dấm cho chồng tôi ăn

(146) Tay em cầm con dao, tay em cầm cái rổ

Cắt cổ con dê, lấy huyết uống ta thề Sống mà không lấy đƣợc bạn, chết mả táng kề bên nhau

Trong văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, các hình tượng như chim, cá, cú, mèo và chó được sử dụng sáng tạo để tạo ra những ẩn dụ độc đáo nhằm phản ánh các thói xấu của con người trong đời sống hàng ngày Các ẩn dụ này chủ yếu nhấn mạnh phản ứng tiêu cực như tham lam, ích kỷ trong tình yêu, thiếu nghiêm túc và hay đa đoan, dẫn đến hậu quả là "lắm mối tối nằm không", thể hiện cảnh đời bi đát và đáng trách.

(147) Một bầy cá lội sông sâu

Anh cười híp mắt buông câu ngồi chờ Anh câu con giếc, anh tiếc con rô Anh câu con cá gáy anh dò con trê Quá trƣa mặt ủ mày ê

Vì chƣng tham quá nên về giỏ không

Có khi là bài học cho sự dại dột của con người:

(148) Vạc sao vạc chẳng biết lo

Bán ruộng cho cò vạc phải ăn đêm

Còn đây là thân phận thấp cổ bé họng của những người dân lao động đành phải chấp nhận cuộc sống an phận:

(149) Cha rô mà lấy mẹ rô Đẻ ra con giếc, con rô, con tràu

Tác giả dân gian Nghệ Tĩnh thường sử dụng hình ảnh quen thuộc, gần gũi trong đời sống gia đình để tạo ra tiếng cười, đồng thời phản ánh những oan ức, bất công trong cuộc sống Những hình ảnh như quạ, cò, chó, mèo, rùa, cú, trùn (giun) không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn thể hiện các cảm xúc và số phận của nhân vật trong các câu chuyện dân gian Việc sử dụng những hình ảnh đời thường này giúp truyện kể trở nên gần gũi, dễ hiểu và đồng cảm với người đọc hoặc người nghe.

(150) Con gái mà lấy chồng già Đêm nằm thỏ thẻ đẻ ra con chồn

(151) Con mèo đập bể nồi rang

Con chó chạy lại, lại mang lấy đòn Chó ngồi chó khóc nỉ non

Mèo kia đập bể để đòn cho tao

(152) Cú đâu dám sánh phƣợng hoàng

Trùn đâu lại dám nằm ngang trên rồng

(153) Cú đã biết phận cú hôi

Cú đâu lại dám đến ngồi cùng tiên

Cá được ví là người con gái lưỡng lự, quá lứa:

(154) Con cá ẩn bóng ăn rong

Em còn lƣỡng lự chƣa xong nơi nào

(155 ) Trách trời cá nhỏ đó thƣa

Người cao tuổi chưa có chồng thường là chủ đề gây nhiều tranh luận và suy ngẫm trong xã hội Ẩn dụ trào phúng về người cao tuổi này giúp thúc đẩy sự nhận thức sâu sắc, nhấn mạnh sự hòa quyện giữa thực tế cuộc sống và các yếu tố hài hước, tạo nên tác động mạnh mẽ đến người đọc Sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và chất suy tưởng trong ẩn dụ không chỉ mang lại tiếng cười mà còn khiến người đọc thấm thía về cuộc sống và các giá trị xã hội xung quanh.

Sử dụng yếu tố tục

Việc sử dụng yếu tố tục trong ca dao là một biện pháp cần thiết để tạo ra tiếng cười, giúp làm nổi bật tính hài hước của tác phẩm Cái tục gần gũi với người lao động vì phản ánh cuộc sống tự nhiên, mộc mạc của họ, khác hoàn toàn với cái dâm - yếu tố kích thích bản năng sinh lý Trong ca dao trào phúng, cái tục chỉ lấy yếu tố sinh lý làm phương tiện, không mang tính dâm dục, nhằm giúp giải tỏa những điều cấm kỵ trong lễ giáo phong kiến Các bài ca dao trào phúng tại Nghệ Tĩnh thường sử dụng cái tục như một phương tiện đắc lực để tạo tiếng cười sảng khoái, phản ánh chân thực đời sống và tư duy của người dân. -Khám phá giải pháp viết nội dung chuẩn SEO giúp bạn làm nổi bật yếu tố tục trong ca dao trào phúng với [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/2699274) ngay hôm nay!

(156) Tướng thầy là tướng khoai lang Ăn hết nửa sàng thầy ẻ không ra

(157) Chém cha quân đế quốc

Mả mẹ quân Nam triều Làm cho anh em vô sản nhiều điều đắng cay

(158) Mả cha cái bọn thằng Tây

Thấy o mô bặt bặt hắn quàng tay bóp liền

(159) Chém cha bốn chó họ Bùi Ăn no rồi lại tha mồi cho quan Yếu tố tục trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh có khi xuất hiện tường minh trên câu chữ của bài ca dao như trong (157), (158) và (159), nhưng cũng

(160) Nhà máy diêm có thằng cai Lạp

Nhà máy gỗ có thằng cai Cồn Thiên hạ hay đồn: hai thằng Cồn Lạp

(161) Trao chàng một nắm ngô rang

Chàng đúc vô mô mọc được thiếp theo chàng về luôn

- Nơi mô mà nắng không khô

Mà mƣa không ƣớt anh đúc vô mọc liền

Các bài ca dao này sử dụng yếu tố tục, thậm chí rất tục, nhưng không xuất hiện trực tiếp mà yêu cầu người đọc phải suy luận mới nhận ra được, tạo nên sự thú vị và kích thích trí tò mò Khi đã nhận ra ý nghĩa hàm chứa, người đọc sẽ cảm thấy tiếng cười bật ra một cách hả hê và sảng khoái, mang lại trải nghiệm vừa hài hước vừa sâu sắc.

Trong ca dao Nghệ Tĩnh, yếu tố tục thường không xuất hiện rõ ràng mà thể hiện một cách ngầm ẩn qua hành động của nhân vật, qua đó tạo ra tiếng cười mỉa mai thâm thúy Ví dụ, các hành động của nhân vật trong những bài ca dao phản ánh những suy nghĩ chân thật, đôi khi mang tính trào láo nhưng vẫn mang ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống và xã hội Những câu ca dao này sử dụng các hình ảnh mang tính biểu tượng để thể hiện sự châm biếm, tạo cảm giác hài hước nhưng không kém phần thâm thúy, giúp người nghe dễ dàng đồng cảm và suy ngẫm về thực trạng xã hội.

(162) Đêm khuya trăng sáng tờ mờ

Có anh quần lận đi sờ mệ cu

(163) Năm mươi mắc bệnh "ngứa nghề"

Lần vô chỗ tối ngồi kề con trai

Có anh tưởng bở quàng vai

Rờ phải vú tẹt mới biết bà cai ngứa nghề

(164 ) Cháu ơi đừng lấy chồng đi Ở đây với dượng cũng như lấy chồng Tối tối dượng thắp đèn lồng

Dƣợng quây mùng lại dƣợng bồng cháu lên

(165) Ông già đã tám mươi ba

Còn mong trẻ lại để cà gái tơ Râu ông đã bạc phơ phơ

Tay còn rờ rẫm rẫm rờ hồng nhan

Trong ca dao trào phúng Việt Nam, nội dung tục thường nhằm mục đích mua vui giải trí, còn trong truyện cười chủ yếu để đả kích và tố cáo các thế lực quyền lực như vua chúa và quan lại (Theo Nguyễn Thị Thúy Vân) Các bài ca dao chứa yếu tố tục trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh chủ yếu dùng tiếng cười để châm biếm các thói hư tật xấu của con người trong xã hội cũ, như tham lam, lăng nhăng, mê trai mê gái, hoặc thói chơi trống bỏi khi đã già, thể hiện yếu tố tục một cách thẳng thắn, không e ngại hay khép nép, qua việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh tục tĩu, đặc biệt khác với ca dao trào phúng chung của Việt Nam.

Tiểu kết chương 3

Nghệ thuật ca dao Nghệ Tĩnh kết hợp nhiều phương pháp của truyện cười dân gian cùng các thể hát ví, hát dặm để tổ chức ngôn ngữ một cách sáng tạo và phong phú Các bài ca dao thể hiện sự đa dạng trong nghệ thuật gây cười nhờ vào việc khai thác yếu tố mâu thuẫn, cường điệu, so sánh, ẩn dụ và chơi chữ, phản ánh trí tuệ và khả năng sáng tạo của người lao động Đặc biệt, nghệ thuật làm trò cười trong ca dao Nghệ Tĩnh có sự đa dạng về hình thức, từ những bài dài đến ngắn gọn, cô đọng, sử dụng ngôn ngữ điêu luyện hoặc lời ăn tiếng nói hàng ngày, pha trộn từ ngữ địa phương để tạo ra tiếng cười mạnh mẽ và chân thật Người lao động Nghệ Tĩnh dù vẻ ngoài mộc mạc giản dị, nhưng ẩn chứa tâm hồn tinh tế, trí tuệ sắc sảo cùng nét hóm hỉnh uyên thâm và sâu lắng triết lí, góp phần hình thành nên những kiến trúc nghệ thuật đặc trưng đầy sức sống.

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm