2.1.4 Kế toán bất động sản đầu tư 252.2 Sự khác biệt của việc trình bày báo cáo tài chính 26 CHƯƠNG 3 Minh họa sự sai lệch của một số các khoản mục giữa hai hệ thống kế toán trong báo cá
Trang 1NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2010
Trang 2NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ THỊ QUÝ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Thị Quý đã tận tìnhhướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện tốt luận văn này cũng như hoàn thiện cáckiến thức chuyên môn của tôi
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các Thầy cô khoa Quản trị kinh doanhTrường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là Tiến sĩ NguyễnQuang Thu đã giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trongsuốt thời gian tôi đã học tập tại trường cũng như việc hoàn thành luận văn tốtnghiệp này
Nhân đây tôi xin trân trọng cảm ơn Anh Đặng Xuân Cảnh – TổngGiám đốc của Công ty Kiểm toán DTL đã cho tôi lời khuyên bổ ích về cácchuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế, cảm ơn anh LêKhánh Lâm – Phó Tổng Giám đốc Công ty Kiểm toán DTL đã tạo điều kiệnthuận lợi để tôi có thời gian hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Quản trị kinh doanh và Phòng quản lýđào tạo sau Đại học – Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Gia đình đã tạo điều kiện để tôi hoàn thànhluận văn này
Tác giả
NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Cácphân tích, số liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồngốc rõ ràng
Tác giả
NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
Trang 5MỤC LỤC
1.2 Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và
8
1.2.4 Những khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ
11
1.3.2 Các chỉ tiêu tài chính thường được các nhà đầu tư sử dụng khi phân tích 17
CHƯƠNG 2 Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam so với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế có
Trang 62.1.4 Kế toán bất động sản đầu tư 25
2.2 Sự khác biệt của việc trình bày báo cáo tài chính 26
CHƯƠNG 3 Minh họa sự sai lệch của một số các khoản mục giữa hai hệ thống kế toán trong báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp Việt Nam
37
3.1.2 Phân tích một số chỉ tiêu tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và
38
3.1.2.3 Phân tích về doanh thu hoạt động kinh doanh và doanh thu hoạt động
Trang 73.1.2.4 Phân tích về vốn chủ sở hữu và các chỉ tiêu liên quan đến VCSH 43
3.2 Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT 47
3.2.2 Phân tích một số chỉ tiêu tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và
47
3.2.2.3 Phân tích về doanh thu hoạt động kinh doanh và doanh thu hoạt động
50
3.2.2.4 Phân tích về vốn chủ sở hữu và các chỉ tiêu liên quan đến VCSH 52
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT
TẮT
IAS: International Accounting
Standards Chuẩn mực kế toánquốc tế
VNM: Công ty Cổ phẩn sữa Việt Nam
FPT: Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1
Các chỉ tiêu tài chính được nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất
17
Bảng 3.1 Bảng phân tích về lãi cơ bản trên cổ phiếu của VNM 39
Bảng 3.7 Bảng phân tích chỉ tiêu ROE & ROA của VNM theo VAS và IAS 45
Bảng 3.9 Bảng phân tích về lãi cơ bản trên cổ phiếu của FPT 48
Bảng 3.15 Bảng phân tích chỉ tiêu ROE & ROA của FPT theo VAS và IAS 54
DANH MỤC HÌNH
Trang 10Phụ lục 1 So sánh giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt
Nam Phụ lục 2 Tình hình sử dụng Chuẩn mực kế toán Quốc tế tại các quốc giatrên thế giới
Phụ lục 3 Trích Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Công ty Cổ phần sữa
Việt NamPhụ lục 4 Trích Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Công ty Cổ phần Phát triển
Đầu tư Công nghệ FPTPhụ lục 5 Bảng chuyển đổi bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp A
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hóa cùng với sự phát triển nhanh chóng của thịtrường vốn quốc tế đòi hỏi thông tin tài chính phải nâng cao chất lượng và phải
so sánh được với nhau; để so sánh được với nhau các thông tin tài chính phảiđược ghi nhận trên cùng hệ thống chuẩn mực kế toán chung, là tiền đề để hệthống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) được hình thành Trên thực tế, các quốcgia có thể áp dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau để lập các báo cáo tàichính và các chuẩn mực kế toán có thể có sự khác biệt Sự khác biệt của hệthống các chuẩn mực kế toán xuất phát từ sự khác nhau về văn hóa, hệ thốngpháp lý, chính trị, quá trình hình thành và phát triển của các hiệp hội nghềnghiệp Và các báo cáo tài chính của cùng một doanh nghiệp được lập trên các
hệ thống chuẩn mực khác nhau có thể có sự khác biệt
Chuẩn mực kế toán quốc tế đang dần được áp dụng chung trên hơn 100quốc gia trên thế giới và tại các quốc gia chưa áp dụng chuẩn mực kế toán quốc
tế cũng đang diễn ra quá trình hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán củaquốc gia đó với chuẩn mực kế toán quốc tế Ví dụ điển hình, Mỹ đã ký hiệpước Norwalk năm 2002 nhằm thúc đẩy quá trình hòa hợp giữa chuẩn mực kếtoán quốc tế và Hệ thống các nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận của Mỹ(US GAAP - Generally Accepted Accounting Principles); căn cứ vào hiệp ướcnày, Ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ chỉnh sửa một số điểm trong chuẩnmực kế toán quốc tế và đến năm 2011 Mỹ sẽ chuyển qua sử dụng chuẩn mực
kế toán quốc tế Một ví dụ khác vào tháng 1 năm 2006, Ủy Ban chuẩn mực kếtoán Canada cũng đã thông qua kế hoạch 5 năm hội tụ giữa Hệ thống cácnguyên tắc kế toán đã được chấp nhận của Canada (GAAP Canada) với chuẩnmực kế toán quốc tế
Các nghiên cứu gần đây trên thế giới đã khẳng định rằng chuẩn mực kếtoán quốc tế là một chuẩn mực chuẩn các quốc gia cần sử dụng để tham chiếuvà
Trang 12thực hiện Nghiên cứu của Mary E.Barth của Stanford Graduate School ofBusiness, Wayne R.Landsman của University of North Carolina at Chapel Hill– Accounting Area và Mark H.Lang của University of North Carolina atChapel Hill, ngày 1 tháng 9 năm 2007, đã tiến hành nghiên cứu trên 21 quốcgia trên thế giới và nhận thấy khi sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế, chấtlượng kế toán đã được cải thiện hơn và đưa ra khẳng định chuẩn mực kế toánquốc tế là một chuẩn mực kế toán gắn liền với chất lượng kế toán cao.
Mingyi Hung và K.R.Subramabyam (2007), nghiên cứu ảnh hưởng củabáo cáo tài chính được lập trong giai đoạn từ 1998 đến 2002, chỉ ra rằng thôngtin về tổng tài sản và giá trị sổ sách của tài sản cũng như việc thay đổi của giátrị sổ sách và thu nhập đáng tin cậy hơn khi áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế
so với trường hợp áp dụng chuẩn mực kế toán chung của Đức
Có thể nói rằng, chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mựcchuẩn để các quốc gia tham chiếu khi xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toáncủa mình Và có ba cách tiếp cận phổ biến (1) chấp nhận chuẩn mực kế toánquốc tế là chuẩn mực của quốc gia; (2) dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế đểhình thành chuẩn mực kế toán quốc gia; (3) tự phát triển các chuẩn mực quốcgia và điều chỉnh dần khoảng cách với chuẩn mực quốc tế
Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, với các chuẩn mực kế toán đầutiên được ban hành vào ngày 31/12/2000, việc xây dựng các chuẩn mực kế toánViệt Nam (VAS) dựa trên việc kế thừa và điều chỉnh các chuẩn mực kế toánquốc tế cho phù hợp với đặc điểm và tình hình của Việt Nam Tuy nhiên, việcxây dựng có điều chỉnh đó lại làm cho các chuẩn mực kế toán Việt Nam hiệnnay có sự khác biệt so với các chuẩn mực kế toán quốc tế
Việc yêu cầu các thông tin trên báo cáo tài chính phải trung thực, hợp lý
và đáng tin cậy là một yêu cầu chính đáng, dựa vào đó nhà đầu tư phân tích vàđánh giá ra quyết định đầu tư Tuy nhiên, sự khác biệt trong các chuẩn mực kếtoán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế có thể sẽ dẫn đến các khácbiệt về các
Trang 13thông tin trong báo cáo tài chính ảnh hưởng không chính xác đến quá trìnhphân tích và so sánh để ra các quyết định của nhà đầu tư.
Với tình hình chung như vậy đề tài “Phân tích ảnh hưởng của sự khác
biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế đến quyết định của nhà đầu tư” hy vọng sẽ cung cấp cho nhà đầu tư một cái nhìn
toàn diện hơn khi ra các quyết định đầu tư
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục giữa hai hệ thống chuẩnmực kế toán Việt Nam và quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư;
Ví dụ minh họa và khuyến nghị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những khác biệt của một số khoản mục giữahai hệ thống chuẩn mực kế toán có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư;
Phạm vi nghiên cứu chỉ nghiên cứu ở các khác biệt của hệ thống haichuẩn mực ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư mà không đi sâu phântích sự khác biệt của từng chuẩn mực kế toán
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu địnhtính, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… và phương pháp chuyên gia
Dữ liệu sử dụng: đa nguồn
▪ Các dữ liệu sơ cấp đã được thu thập thông qua việc phỏng vấn cácchuyên gia trong lĩnh vực kế toán tài chính
▪ Các dữ liệu thứ cấp đã được thu thập thông qua tìm hiểu các nghiêncứu về chuẩn mực kế toán quốc tế, nghiên cứu sâu vào các chuẩnmực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế Bên cạnh đó,nghiên cứu
Trang 14tìm hiểu các phân tích về sự khác biệt của chuẩn mực kế toán ViệtNam và kế toán quốc tế ảnh hưởng đến báo cáo tài chính và cácnghiên cứu về tình hình sử dụng thông tin kế toán trong đầu tư cũngđược quan tâm xem xét.
▪ Các dữ liệu về các thông tin tài chính được thu thập tại các Báo cáotài chính tại các Báo cáo thường niên đã được công bố Riêng báocáo tài chính của Công ty A đã được sự cho phép của Giám đốc tàichính của công ty, vì không phải là công ty niêm yết và theo yêu cầucủa công ty nên sẽ không nêu tên công ty trong nghiên cứu này
▪ Hầu hết các dữ liệu được thu thập từ internet, các trang web củachính phủ và các trang web học thuật chẳng hạn nhưwww.fpts.com.vn, www.iasplus.com
5 Kết cấu luận văn
Nội dung luận văn bao
gồm: Lời mở đầu
Chương 1: Khái quát về lý thuyết ra quyết định đầu tư Khái quát chung
về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ thống chuẩn mực kếtoán quốc tế
Chương 2: Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục trong hệ thốngchuẩn mực kế toán Việt Nam so với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư
Chương 3: Minh họa sự khác biệt của một số khoản mục giữa hai hệthống kế toán trong báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp ViệtNam và các khuyến nghị đối với nhà đầu tư
Kết luận
Trang 15CHƯƠNG 1.
LÝ THUYẾT VỀ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ.
Nghiên cứu này sẽ hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng có thể ảnh hưởngđến quyết định của nhà đầu tư: lý thuyết ra quyết định nhằm tìm hiểu quá trình
ra quyết định của nhà đầu tư, nhà đầu tư sử dụng thông tin tài chính như thếnào, và lựa chọn giải pháp tối ưu nhất để ra quyết định; các phương pháp phântích nào được nhà đầu tư sử dụng khi ra quyết định đầu tư
1.1 Khái quát về lý thuyết ra quyết định
có khả năng thành công hoặc hiệu quả nhất và (2) đó là giải pháp đạt được mụctiêu, mong muốn, sở thích của chúng ta…
Một định nghĩa khác của Robert Harris, 2008 nói rằng ra quyết địnhchính là quá trình nhằm làm giảm đi một cách đáng kể các sự kiện không chắcchắn và các nghi ngờ giữa các lựa chọn để cho phép chọn ra vấn đề chắc chắnnhất Định nghĩa này nhấn mạnh đến chức năng liên kết thông tin trong quátrình ra quyết định
Trang 161.1.2 Quá trình ra quyết định
Nhìn chung, có sáu bước cơ bản trong quá trình ra quyết định:
Hình 1 Quá trình ra quyết định Xác định vấn đề cần phải ra quyết định: câu hỏi đầu tiên khi ra quyết
định là cần phải biết chúng ta đang giải quyết vấn đề gì Chúng ta thường hànhđộng và bị chi phối của những hiện tượng bề nổi mà quên đi cái gốc mà chúng
ta cần phải giải quyết là gì, để rồi đầu tư vào những hiện tượng bề nổi mà quên
đi vấn đề cốt lõi hoặc đầu tư vào những điểm không cần thiết dẫn đến lãng phíthời gian và công sức
Xây dựng tiêu chí sơ bộ ra quyết định và giải quyết vấn đề: mọi quyết
định khi đưa ra đều phải có những tiêu chí rõ ràng để đạt được những quyếtđịnh hiệu quả, tiêu chí càng rõ ràng bao nhiêu thì chúng ta càng có cơ hội raquyết định chuẩn xác bấy nhiêu Các tiêu chí được lựa chọn phải căn cứ vàomục đích của vấn đề và kết quả mà chúng ta hướng tới Nếu việc đưa ra quyếtđịnh không dựa trên
Trang 17các tiêu chí rõ ràng hoặc dựa trên cảm tính của người quyết định sẽ dẫn đến cácsai lầm.
Thu thập thông tin: trong bước này đòi hỏi người ra quyết định phải
xác định được các loại thông tin cần thu thập, xác định được nguồn thông tin cóthể thu thập, đề ra các phương pháp thu thập thông tin và các phương pháp xử
lý thông tin và các thông tin này phải phù hợp với các tiêu chí đưa ra
Đánh giá và lựa chọn các giải pháp/phương án: căn cứ vào các thông
tin đã thu thập được, các tiêu chí đã lựa chọn và các phương pháp phân tích cụthể để đưa ra các giải pháp/ phương án phù hợp có thể xảy ra
Đánh giá các giải pháp/phương án: việc xác định chi phí bỏ ra và lợi
ích thu được của từng giải pháp/phương án đạt được sẽ cho phép người raquyết định lựa chọn được giải pháp tối ưu, giải pháp tối ưu là giải pháp màchúng ta vẫn có thể đạt được mục tiêu của mình mà vẫn đảm bảo các nguyêntắc nhưng vẫn có thể tiết kiệm được các nguồn lực tốt nhất dựa trên kinhnghiệm và thực nghiệm của người đưa ra quyết định
Xác định môi trường ra quyết định và ra quyết định cuối cùng: sau khi
đánh giá các phương án và đề ra các phương án tối ưu nhất; người ra quyếtđịnh cần xem xét môi trường để ra quyết định và đưa đến quyết định cuối cùng
1.1.3 Các loại quyết định
Trong cuộc sống, có rất nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải đưa ra quyếtđịnh, quyết định đầu tư cũng là một loại quyết định mà chúng ta cần phải thựchiện
Các quyết định đầu tư thường được phân loại như sau:
▪ Nếu quyết định đầu tư chủ yếu được phân loại theo thời gian đầu
tư thì có quyết định đầu tư ngắn hạn và quyết định đầu tư dài hạn(hay còn gọi là quyết định đầu tư chiến lược),
Trang 18▪ Nếu phân loại theo khả năng và trình độ chuyên môn thì có quyết
định đầu tư chuyên nghiệp và quyết định đầu tư không chuyênnghiệp,
▪ Nếu phân loại theo đối tượng ra quyết định thì có quyết định của nhà
đầu tư trong nước và quyết định của nhà đầu tư nước ngoài
Mỗi loại hình quyết định đầu tư khác nhau sẽ có một chiến lược cụ thể
để ra quyết định trong đầu tư khác nhau
Đối với quyết định đầu tư ngắn hạn và không chuyên nghiệp thì thôngthường nhà đầu tư sẽ sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật, tài chính hành
vi và kinh nghiệm để ra các quyết định đầu tư của mình Ngược lại các quyếtđịnh đầu tư dài hạn thường sử dụng các phân tích cơ bản cho quá trình ra quyếtđịnh đầu tư Quá trình phân tích cơ bản sẽ tập trung vào việc phân tích cácthông tin về nội tại của doanh nghiệp nhằm xác định giá trị cơ bản của doanhnghiệp
Trong nghiên cứu này sẽ tập trung vào quá trình ra quyết định của các nhà đầu tư dài hạn thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích cơ bản trong đầu tư.
1.2 Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và
hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)
1.2.1 Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán
Kế toán là một hoạt động mang tính chuyên môn cao có chức năng cungcấp các thông tin trung thực, hợp lý về tình hình và kết quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng có thể đưa ra các quyết định
Kế toán phải làm cho người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải giúp so sánhđược các thông tin tài chính Muốn vậy, cần phải có các quy định làm khuônmẫu giúp đánh giá, ghi nhận và trình bày thông tin tài chính, đó chính là nhữngchuẩn mực kế toán
Trang 19Vậy chuẩn mực kế toán là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc,nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghichép kế toán và lập Báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực,hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanhnghiệp.
1.2.2 Chuẩn mực kế toán quốc tế
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đếnnhững vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp
có tính chất cơ bản được chấp thuận rộng rãi trên toàn thế giới
Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toánquốc tế chính là Ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế (“IASC”) Đây là một tổchức độc lập thành lập vào năm 1973, bao gồm đại diện của 13 nước thànhviên trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (“IFAC”), đại diện của 03 tập đoànkinh tế lớn và một số quan sát viên độc lập đến từ Ủy Ban Châu Âu, TrungQuốc, Ủy Ban chứng khoán quốc tế (IOSCO), Ủy Ban chuẩn mực kế toán tàichính Hoa Kỳ
Đến năm 12/1999, IASC đã chỉ định ủy ban lựa chọn và thành lập Hộiđồng thành viên (“Trustees”) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnhvực và chuyên môn khác nhau Để thực hiện chức năng của mình, vào tháng02/2001, Hội đồng thành viên Trustees đã thiết lập nên Ủy Ban sáng lập chuẩnmực kế toán quốc tế gồm ba tổ chức chính là Ủy Ban Chuẩn mực kế toán quốc
tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) và Ủy Ban hướng dẫn các chuẩnmực báo cáo tài chính (IFRIC)
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được ban hành và quản lý bởi ỦyBan sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế Các chuẩn mực kế toán quốc tế(IASs) vẫn được kế thừa các chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC ban hànhtrước đây và Ủy Ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế tiếp tục xây dựng,ban hành và phát triển các chuẩn mực kế toán mới với tên gọi là chuẩn mực báocáo tài chính quốc tế IFRSs
Trang 20Cho đến 01/01/2009, IASC và IASB đã ban hành được 30 chuẩn mực kếtoán quốc tế (IAS) và 08 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).
Hiện nay, đang có sự dịch chuyển dần từ IAS sang IFRS bằng việc banhành thêm IFRS Trong đó, IAS đứng trên khía cạnh nào đó mang nguyên tắcgiá gốc nhiều hơn cùng với sự chuyển đổi qua IFRS nguyên tắc giá trị hợp lýđược đề cập nhiều hơn IFRS đề cập nhiều hơn đến việc trình bày thông tin tàichính như thế nào để đảm bảo lợi ích cao hơn cho các đối tượng sử dụng báocáo tài chính được lập ra từ kết quả của công việc kế toán, Mai Hương (2008)
1.2.3 Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Với mục tiêu đáp ứng cho nhu cầu hội nhập, từ năm 1996 Việt Nam đãnghiên cứu toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Hệ thống chuẩnmực kế toán Việt Nam được nghiên cứu và xây dựng dựa trên cơ sở các IAS vàIFRS được cập nhật mới nhất, nên thuận lợi là chuẩn mực kế toán Việt Nam đãđược vận dụng sát với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Tại Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền ban hành cácchuẩn mực kế toán Các chuẩn mực kế toán này được nghiên cứu và soạn thảobởi Ban chỉ đạo nghiên cứu, soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm 13thành viên, bao gồm các thành viên đến từ các cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính
và các thành viên đến từ các trường đại học và Hội kế toán Việt Nam Vụ chế
độ kế toán là đơn vị thường trực của các Ban chỉ đạo và các Tổ soạn thảochuẩn mực, có nhiệm vụ tổ chức triển khai việc soạn thảo, tiếp thu ý kiến vàhoàn chỉnh trình Bộ ký ban hành
Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán sau 5 đợt ban hành.Các chuẩn mực kế toán của Việt Nam cũng đã dịch ra tiếng Anh nhằm đáp ứngnhu cầu của nhà đầu tư nước ngoài trong việc tìm hiểu hệ thống chuẩn mực kếtoán Việt Nam Các chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toánquốc tế đã
Trang 21có sự tương đối phù hợp về nội dung, về cơ sở đánh giá, ghi nhận và trình bàytrên BCTC mà còn cả về hình thức trình bày.
1.2.4 Những khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
và hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, sự hìnhthành hàng loạt các công ty đa quốc gia, thị trường tài chính quốc tế và các hoạtđộng thương mại quốc tế, nhà đầu tư không chỉ hoạt động trong phạm vi khuvực mà còn mở rộng hoạt động ra toàn thế giới Các báo cáo tài chính phải nóicùng một ngôn ngữ, nhằm nâng cao tính khách quan, tính có thể tin cậy được,tính có thể so sánh được là một nhu cầu khách quan và tất yếu Một ví dụ điểnhình ảnh hưởng đến việc so sánh của các nhà đầu tư do sự khác biệt của chuẩnmực kế toán của công ty Daimler Benz năm 1993, công ty sản xuất hàng đầucủa Đức và là công ty đầu tiên của nước này niêm yết cổ phiếu trên thị trườngchứng khoán NewYork, đã buộc phải chấp nhận các yêu cầu công bố thông tintheo chuẩn mực kế toán Mỹ Theo đó, Công ty Daimler Benz đã phải công bốquỹ dự trữ vào khoảng 4 tỷ DM (tương đương 2 tỷ đô la Mỹ) trên thị trườngNew York mà theo luật của Đức thì công ty không cần phải công bố khoảngquỹ dự trữ này Luật kế toán của Đức theo khuynh hướng chống rủi ro-risk-averse trong đầu tư, trong khi đó hệ thống kế toán Mỹ theo khuynh hướngrisk-friendly và báo cáo tài chính được thiết kế nhằm cung cấp thông tin chocác cổ đông tiềm năng (Geoffrey Mazullo, 1999).Sự khác biệt này đem lại sựphẫn nộ của các cổ đông của Công ty Daimler Benz ở Đức mà nguyên nhânxuất phát từ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán
Có thể nói rằng, việc ban hành và áp dụng hệ thống chuẩn mực kế toánquốc tế tại thị trường vốn trên thế giới là một yêu cầu cấp bách và chính đángnhằm hài hòa các sự khác biệt của hệ thống các nguyên tắc kế toán chung đượcchấp nhận và cung cấp cho nhà đầu tư một cái nhìn chung khi so sánh các báocáo tài chính với nhau
Trang 22Nhìn về tổng thể chuẩn mực kế toán Việt Nam có một vài sự khác biệt
so với chuẩn mực kế toán quốc tế như sau:
So với số lượng của chuẩn mực kế toán quốc tế đã ban hành thì chuẩnmực kế toán Việt Nam ít hơn Hiện nay, Bộ Tài chính đang lên kế hoạch để tiếptục ban hành các chuẩn mực kế toán khác cho phù hợp với tình hình phát triểntại Việt Nam
Đối với các chuẩn mực kế toán Việt Nam đã được ban hành thì một sốnội dung của chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng có điểm khác biệt với chuẩnmực kế toán quốc tế Một số điểm của chuẩn mực này trình bày cụ thể hơnchuẩn mực kia và ngược lại, hoặc còn một vài khác biệt về thuật ngữ, hoặc vềcác phương pháp được áp dụng, phạm vi trình bày (Đoàn Xuân Tiên, 2008)
Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam ra đời và đưa ra được nhữngnguyên tắc cơ bản trong việc xử lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và trình bàycác chỉ tiêu tài chính trên báo cáo tài chính Nhưng do đặc thù của Việt Nam,
hệ thống kế toán của Việt Nam vẫn có sự khác biệt so với chuẩn mực kế toánquốc tế, thể hiện ở các điểm sau:
▪ Hệ thống tài khoản kế toán sử dụng: Hệ thống tài khoản kế toán là một
phần quan trọng trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp dùng để phânloại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinhtế
- Theo thông lệ quốc tế, hệ thống tài khoản sẽ do doanh nghiệp tự xâydựng phù hợp với đặc điểm và tình hình kinh doanh và hoạt độngcủa doanh nghiệp
- Tại Việt Nam, hệ thống tài khoản do Bộ Tài chính ban hành Hệthống tài khoản trước đây được ban hành theo Quyết định1141TC/QĐ/CĐKT đã được thay thế bởi hệ thống tài khoản kế toántheo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 cho chế độ kếtoán doanh nghiệp và Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày14/09/2006 cho doanh nghiệp vừa
Trang 23và nhỏ Quyết định 15/2006/QĐ-BTC được ban hành là một bướctiến giúp doanh nghiệp có thể đơn giản hóa công tác nghiên cứu vàtuân thủ chế độ kế toán, nhất thể hóa công tác kế toán tiến tới nângcao tính minh bạch trong kế toán tài chính, đảm bảo tính có thể sosánh được về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanhnghiệp Việt Nam với nhau.
- Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, khi xây dựng
hệ thống tài khoản, doanh nghiệp sẽ tuân thủ đúng với nội dung, kếtcấu và phương pháp hạch toán của các tài khoản cấp 1 và cấp 2;doanh nghiệp chỉ có thể xây dựng hệ thống tài khoản cấp 3 trở đicho phù hợp với tình hình quản lý của doanh nghiệp Vì sự ràngbuộc chặt chẽ nói trên nên việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phátsinh của các doanh nghiệp Việt Nam cũng bị nhiều hạn chế
- Trên thực tế, hệ thống tài khoản của các doanh nghiệp thường lập ranhằm cho mục đích báo cáo thuế là chính nên cũng ảnh hưởng đếnkhả năng xây dựng một hệ thống tài khoản phục vụ cho mục đích kếtoán quản trị của doanh nghiệp
▪ Hệ thống báo cáo tài chính: Tương tự như hệ thống tài khoản của
doanh nghiệp, hệ thống Báo cáo tài chính của Việt Nam phải xây dựngtuân theo mẫu do Bộ Tài chính đưa ra Trong khi đó, IAS 01 – Trình bàybáo cáo tài chính chỉ yêu cầu doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉtiêu tài chính cần thiết trong từng loại báo cáo
▪ Hệ thống phương pháp đánh giá tài sản: Đối với phương pháp đánh
giá các tài sản, giống như chuẩn mực kế toán Việt Nam thì chuẩn mực
kế toán quốc tế cũng có phương pháp khấu hao ngoài ra còn có cácphương pháp đánh giá tài sản khác là đánh giá lại và tổn thất
Trang 24- Nguyên nhân của sự khác biệt này là do Việt Nam chủ yếu đo lườnggiá trị tài sản theo phương pháp “giá gốc” hay “giá lịch sử”(historical/ original cost) mà ít sử dụng phương pháp “giá trị hợp lý”(fair value) Nguyên tắc giá gốc làm cho báo cáo tài chính của doanhnghiệp Việt Nam mang tính bảo thủ cao, không phản ảnh được mộtcách chính xác giá trị hiện tại của các tài sản khi được đánh giá lại.(Bùi Công Khánh, 2007).
- Tuy nhiên, việc đánh giá lại của tài sản đòi hỏi phải có thị trườnghoạt động, thị trường hoạt động là thị trường có đặc điểm sau: cácgiao dịch trên thị trường là đồng nhất, thường có thể tìm thấy nhữngngười muốn mua và bán, và có sẵn giá cả công khai Vì ở thị trườngViệt Nam, thị trường hoạt động chưa xây dựng được mức giá chuẩncủa một số tài sản nên cũng ảnh hưởng đến việc đánh giá lại giá trịcủa một số tài sản
Do đặc thù tại Việt Nam, công tác kế toán đôi khi lại phụ thuộc vào cácthông tư hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kế toán Các nhân viên thực thicông tác kế toán tại các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏlại không xem trong các nội dung của chuẩn mực mà quá phụ thuộc vào cácthông tư hướng dẫn ban hành kèm theo; đây cũng là một nội dung có ảnhhưởng đáng kể đến thông tin tài chính được trình bày cho các nhà đầu tư
Khác với chuẩn mực kế toán Việt Nam, các chuẩn mực kế toán quốc tếđược cập nhật lại hàng năm phù hợp với sự phát triển đa dạng của nền kinh tếthế giới
1.3 Phương pháp phân tích trong đầu tư
Nhà đầu tư thường sử dụng hai phương pháp phân tích trong quá trình raquyết định của mình đó là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật
Trang 25Phân tích kỹ thuật là quá trình nghiên cứu xu hướng lên xuống của giá
cả thị trường chứng khoán và xu hướng lên xuống của một loại chứng khoán đểxem xét thời điểm thích hợp cho việc mua bán chứng khoán, lý thuyết thườngđược áp dụng đó là lý thuyết Dow
Phân tích cơ bản là phương pháp mà nhà đầu tư sẽ quan tâm đến giá trị
nội tại của một doanh nghiệp Việc xác định giá trị nội tại của một doanhnghiệp phụ thuộc vào việc phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình kinhdoanh của doanh nghiệp để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc pháttriển công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán,giá trị doanh nghiệp là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản Vì vậy, thông tin
kế toán (bao gồm các báo cáo tài chính) là một nguồn thông tin quan trọng đểnhà đầu tư có thể dựa vào đó phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định đầu tưthông qua lựa chọn doanh nghiệp nào có nhiều triển vọng nhất
1.3.1 Báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính cung cấp cho nhà đầu tư rất nhiều thông tin hữuích Khi phân tích và xem xét báo cáo tài chính sẽ đem lại các câu trả lời chocác câu hỏi chẳng hạn như: quy mô công ty lớn như thế nào? Công ty có đangtăng trưởng không? Công ty đang làm ra tiền hay đang hao hụt tiền? Công ty có
tỷ lệ tài sản lưu động so với tài sản cố định như thế nào? Công ty chủ yếu đangvay ngắn hạn hay vay dài hạn? Công ty có đang phát hành thêm trái phiếu hay
cổ phiếu trong năm vừa qua? Công ty đã thực hiện các khoản chi phí đầu tư lớntrong năm vừa qua? Công ty đã hiện đang có nhiều tiền mặt hay không hayđang thiếu tiền Có các báo cáo tài chính chủ yếu như sau:
▪ Bảng cân đối kế toán: là bảng báo cáo tài chính được lập vào một thời
điểm nhất định trong năm theo hai cách phân loại vốn và nguồn hìnhthành vốn cân đối nhau Nó bao gồm các loại tài sản có, tài sản nợ vàvốn cổ phần của một doanh nghiệp Nó có ý nghĩa rất quan trọng đối vớinhiều đối
Trang 26tượng có quan hệ sở hữu, quản lý kinh tế tài chính trong quá trình sảnxuất kinh doanh của một doanh nghiệp.
▪ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp
phản ánh doanh thu và chi phí của công ty trong một kỳ kế toán, thường
là một năm tài chính Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tintổng hợp nhất về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, laođộng và kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của một doanh nghiệp
▪ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để phản ánh việc hình thành và sử
dụng tiền phát sinh trong kỳ, gồm 3 phần chính: lưu chuyển tiền từ hoạtđộng kinh doanh, lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền
từ hoạt động tài chính Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích xuất xứ củalượng tiền mặt trong một giai đoạn và lượng tiền này được chi vào đâu.Thông qua báo cáo này, chủ sở hữu và các nhà đầu tư có thể đánh giáviệc thu và chi tiền mặt trong năm có hợp lý hay không
▪ Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp không tách rời với
báo cáo tài chính của doanh nghiệp được sử dụng để giải thích và bổsung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tàichính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khácchưa trình bày rõ ràng, chi tiết và cụ thể được
Ngoài ra, đối với các công ty trên sàn chứng khoán còn đòi hỏi phải
cung cấp cho các nhà đầu tư Báo cáo thường niên Báo cáo thường niên là báo
cáo quan trọng mà công ty cung cấp thông tin cho các cổ đông Báo cáo nàygồm hai phần Phần thứ nhất là phần diễn giải, thông thường là của ban giámđốc công ty, mô tả kết quả hoạt động của công ty trong năm qua và bàn luận vềnhững xu hướng phát triển mới có tác động lên hoạt động tương lai của công ty.Phần thứ hai là phần báo cáo, sẽ cung cấp bốn loại báo cáo cơ bản bảng cân đối
kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ vàthuyết minh báo cáo tài chính
Trang 271.3.2 Các chỉ tiêu tài chính thường được các nhà đầu tư sử dụng khi phân tích
Các nhà đầu tư thường sử dụng báo cáo tài chính để phân tích tình hìnhdoanh nghiệp bằng việc đưa ra các chỉ tiêu phân tích nhằm dự báo được thunhập, cổ tức và giá cổ phiếu, tìm ra hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, rủi
ro và triển vọng tăng trưởng
Phân tích báo cáo tài chính bao gồm: (a) so sánh tình hình hoạt động củacông ty với các công ty khác; và (b) đánh giá xu hướng và vị trí của công tytheo thời gian từ đó mới đưa ra các quyết định đầu tư
Theo nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng, 2008 một số các chỉ tiêu tài chínhđược các nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất như sau:
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu tài chính được nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất
1 Thu nhập trên mỗi cổ phiếu thường (EPS) 71
2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 68
3 Chỉ số giá thị trường so với giá trên mỗi cổ phiếu (P/E) 65
Nguồn: Võ Thị Ánh Hồng, 2008 [06 P45 ]
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu thường EPS – Earning per share (Lãi cơ
bản trên cổ phiếu) = Tổng lãi (Lợi nhuận) dành cho cổ đông thường/Số lượng
cổ phần thường đang lưu hành trên thị trường Theo nghiên cứu Graham,Harvey và Rajgopal (2005) Payout Policy in the 21st century, Journal ofFinancial Economics
77 483-528, các Giám đốc tài chính tin rằng các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến
Trang 28chỉ tiêu EPS hơn là dòng tiền Vấn đề trên xuất phát từ các nguyên nhân sau:(1) các nhà đầu tư hàng ngày nhận được rất nhiều thông tin (từ báo cáo tàichính cũng như từ các nguồn khác) trong khi khả năng xử lý thì có hạn Nên,các nhà đầu tư cần một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp một cách đơn giản, dễ hiểu và dễ so sánh; trong đó, EPS được coi
là đáp ứng tốt các yêu cầu này Lý do thứ hai, chỉ tiêu EPS là chỉ tiêu được sửdụng một cách phổ biến nhất và xuất hiện với tần suất nhiều nhất trên cácphương tiện thông tin đại chúng đến mức mà người ta coi nó là quan trọng màchẳng cần hỏi lý do Cuối cùng, giống như các nhà đầu tư các chuyên gia phântích tài chính, các ngân hàng đầu tư cũng muốn có một chỉ tiêu tổng hợp thuậntiện cho việc phân tích, đánh giá, dự báo tình hình hoạt động của các doanhnghiệp, và họ cũng chọn EPS
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là thu nhập thuần của
các cổ đông nắm giữ chia cho tổng vốn chủ sở hữu của công ty Hệ số nàythường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngànhtrên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào
Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổđông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trìnhhuy động vốn, mở rộng quy mô Nếu ROE cao thì giá cổ phiếu cũng có xuhướng tăng cao
Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ
cụ thể như sau (1) ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty
có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuậntạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng; (2) ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thìchúng ta phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thếcạnh tranh trên thị trường chưa, và đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROEtrong tương lai hay không
Tỷ số giá thị trường so với giá trên mỗi cổ phiếu hay Chỉ số giá thu nhập (P/E) Chỉ số giá thu nhập=Giá trị thị trường mỗi cổ phần/ Thu nhập trên
mỗi cổ phần
Trang 29P/E là mức giá mà nhà đầu tư sẵn lòng bỏ ra để có một đồng thu nhậpcủa cổ phiếu đó hay số năm hoàn vốn nếu EPS không đổi Tuy nhiên P/Ethường thể hiện kỳ vọng của thị trường về tăng trưởng của cổ phiếu đó hơn làkết quả kinh doanh đã qua.
Tỷ số này thường được nhà đầu tư sử dụng phổ biến nhưng chỉ là con sốtham khảo cho nhà đầu tư sau khi đối chiếu với các công ty cùng ngành nghề
và theo dõi xu hướng dài hạn dựa trên con số P/E trong một thời gian dài
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)= Lãi ròng/ Tổng tài sản Chỉ
tiêu này cho các nhà đầu tư thấy được 1 đồng tài sản mà nhà đầu tư bỏ ra sẽ thuđược về bao nhiêu đồng lãi ròng
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tổng nợ bao gồm tất cả khoản nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Các nhà đầu
tư thường dựa vào đây để đánh giá rủi ro tài chính của một doanh nghiệp Tỷ sốnày càng cao sẽ làm nguy cơ vỡ nợ cao tuy nhiên nếu các công ty làm ăn hiệuquả thì việc duy trì một tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu có thể làm tăng thu nhập
dự tính cho các nhà đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lãi ròng/ Doanh thu Chỉ tiêu này
sẽ cho nhà đầu tư thấy được lãi ròng trên mỗi đồng doanh thu
Một số chỉ tiêu khác cũng được xem là quan trọng khi phân tích tỷ số vàđạt được câu trả lời tương đối cao theo nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng, 2008
đó là: Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn và Tỷ số khả năng thanh toán nhanh Vìcác chỉ tiêu này sẽ trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp có khả năng chi trả cáckhoản nợ chi trả khi đến hạn hay không, nếu doanh nghiệp không có khả năngchi trả đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang có nguy cơ trên bờ vực phá sản
Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn, tỷ số
này đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty bằng cách bán tàisản lưu động (tài sản ngắn hạn có thời gian đáo hạn nhỏ hơn một năm) để thutiền mặt để
Trang 30thanh toán các khoản nợ ngắn hạn (nợ ngắn hạn có thời gian đáo hạn nhỏ hơnmột năm), tỷ số này cho nhà đầu tư thấy khả năng công ty có dễ dẫn tới việc bịphá sản hay không.
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh = (tiền + khoản phải thu)/nợ ngắn
hạn đo lường khả năng thanh toán tốt hơn cho những doanh nghiệp có hàng tồnkhi chưa thể chuyển ngay thành tiền Hàng tồn kho thông thường có tính thanhtoán kém nhất trong các tài sản lưu động của công ty Vì thế chúng là tài sản cókhả năng bị thiệt hại giá trị trong trường hợp thanh lý Do vậy, thước đo khảnăng chi trả các khoản nợ ngắn hạn không cần đến việc bán hàng tồn kho làmột yếu tố quan trọng
Tóm tắt chương 1
Các nhà đầu tư thường dựa vào các thông tin kế toán để đưa ra các quyếtđịnh đầu tư thông qua phân tích các các chỉ tiêu tài chính để đánh giá tình hìnhcủa doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho các nhà đầu tưcác dữ liệu đầy đủ có thể đánh giá tình hình doanh nghiệp hiện tại cũng như cáinhìn tổng quan về tương lai
Tuy nhiên, việc doanh nghiệp áp dụng các phương pháp kế toán khácnhau cũng có thể dẫn đến các số liệu để tính toán các chỉ tiêu phân tích khácnhau Như phân tích trên, hiện nay chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩnmực kế toán quốc tế có những sự khác biệt có thể ảnh hưởng đến quyết địnhcủa nhà đầu tư Vì vậy, nghiên cứu sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán ViệtNam và chuẩn mực kế toán quốc tế giúp các nhà đầu tư có tính toán đúng khi
ra quyết định đầu tư là điều cần thiết
Trang 312.1 Sự khác biệt trong phương pháp đánh giá
Có thể nhận thấy rằng, điểm khác biệt trong phương pháp đánh giá làViệt Nam sử dụng phương pháp đo lường giá trị tài sản bằng phương pháp “giágốc” hay “giá lịch sử” (historical/ original cost) hơn là sử dụng phương pháp
“giá trị hợp lý” (fair value) Vì vậy, giá trị của tài sản trong ghi nhận tại chuẩnmực kế toán quốc tế phản ánh thực hơn so với giá trị tài sản được ghi nhậntrong chuẩn mực kế toán Việt Nam Cụ thể được trình bày trong các trường hợpsau:
2.1.1 Kế toán hàng tồn kho
Chuẩn mực kế toán quốc tế đã không còn sử dụng tính giá hàng tồn khoLIFO (nhập sau xuất trước – last in first out) Tuy nhiên, chuẩn mực kế toánViệt Nam vẫn cho sử dụng phương pháp này trong hạch toán kế toán
Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) áp dụng dựa trên giả định làhàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàngtồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất tại thời điểmcuối kỳ Theo phương pháp này thì giá vốn hàng bán được tính theo giá lô hàngnhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị hàng tồn kho được tínhtheo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho
Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO) áp dụng trên giả định là hàngtồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn khocòn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó Theo phươngpháp này thì giá trị vốn hàng bán được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặcgần sau
Trang 32cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳhoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.
Việc tiếp tục cho sử dụng phương pháp này có thể dẫn đến sự khác biệttrong giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Cụ thể, nếu
sử dụng phương pháp FIFO trong điều kiện có lạm pháp sẽ dẫn đến giá trị hàngtồn kho trong bảng cân đối kế toán sẽ lớn hơn so với khi sử dụng phương phápLIFO; giá vốn hàng bán sẽ thấp hơn so với sử dụng phương pháp LIFO; lợinhuận báo cáo sẽ cao hơn so với sử dụng phương pháp LIFO
2.1.2 Kế toán tài sản cố định hữu hình
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03, phương pháp đánh giá lại
giá trị tài sản cố định hữu hình chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước cổphần hóa tại Việt Nam Ngoài ra, giá trị tài sản cố định hữu hình sau khi ghinhận ban đầu chỉ cho phép sử dụng phương pháp giá gốc và không được phépđánh giá lại Nên, giá trị tài sản cố định theo sổ sách tại một thời điểm nào đó
có thể không phản ánh chính xác giá trị của tài sản cố định dẫn đến sự so sánhgiữa các doanh nghiệp với nhau có thể không phù hợp Theo quy định hiệnhành, ghi nhận tài sản cố định tại Việt Nam dựa vào giá trị tài sản cụ thể là10.000.000 đồng nhằm giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong ghi nhận tài sản
cố định của doanh nghiệp Tuy nhiên, tại một số doanh nghiệp do đặc thù hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp việc ấn định giá trị tài sản có thể gây khókhăn, chẳng hạn như một doanh nghiệp sản xuất máy bay thì các phụ tùng (bùlon, đinh tán) kèm theo giá có thể lên đến vài ngàn đô cao hơn gấp nhiều lần sovới giá trị quy định
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 16, việc xác định giá trị tài sản
cố định sau ghi nhận ban đầu có hai phương pháp là phương pháp giá gốc hoặcphương pháp đánh giá lại Giá đánh giá lại phải là giá trị hợp lý tại ngày đánhgiá lại trừ đi khấu hao lũy kế và các khoản lỗ do giá trị tài sản bị tổn thất Khiviệc đánh giá lại làm tăng giá trị tài sản thì số chênh lệch giá này cần được ghităng khoản mục thặng dư đánh giá lại (phần nguồn vốn), trừ trường hợp tài sảnnày
Trang 33trước đó đã được đánh giá giảm mà số chênh lệch giảm đã được ghi vào chi phíthì số đánh giá tăng lần này cần được ghi nhận là thu nhập Ngược lại, khi đánhgiá lại làm giảm giá trị tài sản thì số chênh lệch giá vượt quá số có thể ghi giảmvào mục thặng dư đánh giá lại (là số hiện đang ghi nhận là thặng dư đánh giálại của cùng tài sản) cần được ghi nhận là chi phí.
Việc ghi nhận thu nhập và chi phí phát sinh sau khi tài sản được đánhgiá lại gây ảnh hưởng đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, làm cho thunhập tăng lên hoặc giảm xuống ảnh hưởng đến đánh giá của nhà đầu tư đối vớidoanh nghiệp
Ví dụ, vì giá trị quyền sử dụng đất thường tăng giá theo thời gian, nêngiá trị hiện tại của giá trị quyền sử dụng đất có thể cao hơn rất nhiều lần so vớigiá trị ghi nhận trên sổ sách Nếu không đánh giá lại, giá trị tài sản trên sổ sách
có thể nhỏ hơn nhiều so với giá trị thực của doanh nghiệp Đồng thời, thu nhậpmang lại do công tác đánh giá sẽ làm báo cáo kết quả kinh doanh của doanhnghiệp tốt hơn
Qua khảo sát tại doanh nghiệp A hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bao
bì có vốn đầu tư nước ngoài đã lập báo cáo tài chính theo cả hai chuẩn mực kếtoán Việt Nam và chuẩn mực kế toán Quốc tế, trong đó tài sản cố định đượcđánh giá lại làm tăng nguyên giá và thời gian khấu hao tài sản cố định Cụ thể,giá trị tài sản cố định vào ngày 30/09/2008 có sự chênh lệch tăng từ54.065.350.040 đồng (theo VAS) lên đến 88.111.739.002 đồng (theo IAS) cộngthêm các tác động của việc hạch toán các chi phí và do ảnh hưởng của chênhlệch tỷ giá làm cho tổng lợi nhuận thuần lũy kế có sự chênh lệch đáng kể (theoVAS đang lỗ 28.419.149.291 đồng trở thành lỗ 52.464.856.500 đồng theo IAS).(Nguồn – Phụ lục 5)
2.1.3 Kế toán các khoản đầu tư
Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
Công ty liên kết là công ty trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kểnhưng không phải là công ty con hoặc công ty liên doanh của nhà đầu tư
Trang 34Nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể là nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp hoặcgián tiếp thông qua các công ty con ít nhất 20% quyền biểu quyết của bên nhậnđầu tư, trừ khi có quy định hoặc thõa thuận nào khác.
Phương pháp vốn chủ sở hữu là phương pháp kế toán mà khoản đầu tưđược ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó được điều chỉnh theo những thayđổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư.Báo cáo kết quả kinh doanh phải phán ảnh phần sở hữu của nhà đầu tư trongkết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư
Phương pháp giá gốc là phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được ghinhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không được điều chỉnh thay đổi của phần sởhữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư Báo cáo kết quảkinh doanh chỉ phản ánh phần thu nhập của nhà đầu tư được phân chia từ lợinhuận thuần lũy kế của bên nhận đầu tư phát sinh sau ngày đầu tư
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, trong báo cáo tài chính riêng của công
ty mẹ, các khoản đầu tư vào công ty liên kết có thể trình bày theo phương phápgiá gốc và phương pháp vốn chủ sở hữu
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, trong báo cáo tài chính riêng củacông ty mẹ kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết chỉ được sử dụng theophương pháp giá gốc Việc không sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu sẽkhông phản ánh kịp thời giá trị các khoản đầu tư của công ty, đặc biệt trongtrường hợp được tăng giá do hiệu quả kinh doanh của công ty liên kết
Kế toán các khoản đầu tư vào công ty con
Công ty con là công ty chịu sự kiểm soát của một doanh nghiệp khác,kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanhnghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động của doanh nghiệp đó
Trang 35Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, trong báo cáo tài chính riêng của công
ty mẹ, các khoản đầu tư vào công ty con có thể trình bày theo phương pháp giágốc và phương pháp vốn chủ sở hữu
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, trong báo cáo tài chính riêng củacông ty mẹ kế toán các khoản đầu tư vào công ty con chỉ được sử dụng theophương pháp giá gốc Việc không sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu sẽkhông phản ánh kịp thời giá trị các khoản đầu tư của công ty, đặc biệt trongtrường hợp được tăng giá do hiệu quả kinh doanh của công ty con
2.1.4 Kế toán bất động sản đầu tư
Bất động sản đầu tư là bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất, nhà,hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ hoặcngười đi thuê tài sản theo hợp đồng tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từviệc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cungcấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý hoặc bán trong
kỳ hoạt động kinh doanh thông thường
Đối với nhiều doanh nghiệp, bất động sản đầu tư là một trong nhữnghoạt động quan trọng của doanh nghiệp Trước năm 2001, theo chuẩn mực kếtoán quốc tế, bất động sản đầu tư được coi là một hoạt động đầu tư tài chính và
nó được trình bày như một công cụ tài chính trong mục các khoản đầu tư tàichính trên Bảng cân đối kế toán Nhưng với sự biến động của tình hình sảnxuất kinh doanh thực tế, hoạt động đầu tư bất động sản chiếm tỷ trọng caotrong một số các doanh nghiệp, chính vì vậy IASB đã ban hành chuẩn mựcriêng cho bất động sản đầu tư IAS 40 có hiệu lực từ ngày 01/01/2001, chuẩnmực này yêu cầu bất động sản đầu tư phải được trình bày riêng biệt trên Bảngcân đối kế toán để đáp ứng yêu cầu thông tin cho người đọc Báo cáo tài chính
Mặc dù VAS 05, được xây dựng dựa trên IAS 40 tuy nhiên vẫn có sựkhác biệt trong phương pháp xác định giá của Bất động sản đầu tư Theo IAS
40, bất
Trang 36động sản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc và doanh nghiệp đượcphép lựa chọn một trong hai phương pháp ghi nhận giá trị của bất động sản đầu
tư sau khi ghi nhận ban đầu đó là phương pháp giá gốc và phương pháp giá trịhợp lý
Theo phương pháp giá gốc có nghĩa là bất động sản đầu tư được ghinhận ban đầu theo giá gốc, định kỳ trích khấu hao vào chi phí kinh doanh trong
kỳ Bất động sản đầu tư được theo dõi theo ba chỉ tiêu: nguyên giá, khấu haolũy kế và giá trị còn lại
Theo phương pháp giá trị hợp lý, bất động sản đầu tư được ghi nhận banđầu theo giá gốc và được đánh giá lại theo giá trị hợp lý tại thời điểm lập Bảngcân đối kế toán Chênh lệch giữa giá gốc và giá trị hợp lý được hạch toán nhưmột khoản thu nhập và chi phí trong kỳ kinh doanh
Vì đặc điểm của bất động sản thường tăng giá theo thời gian, nên sauthời gian sử dụng, giá trị tòa nhà có thể cao hơn nhiều lần so với nguyên giában đầu Nên, nếu giá trị bất động sản đầu tư được theo dõi bằng phương phápgiá gốc có thể sẽ nhỏ hơn nhiều lần so với phương pháp giá trị hợp lý
Vì vậy, nhà đầu tư khi phân tích doanh nghiệp để ra quyết định đầu tư cóthể đánh giá doanh nghiệp không đúng với giá trị thực của bất động sản đầu tưcao gấp nhiều lần so với giá trị trên sổ sách
2.2 Sự khác biệt trong trình bày các báo cáo tài chính
2.2.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh 2.2.1.1Cổ tức trả bằng cổ phiếu
Theo Thông tư 95/2008/TT-BTC ngày 24/10/2008, khi doanh nghiệpnhận được thông báo của tổ chức phát hành chứng khoán về khoản cổ tức đượchưởng bằng cổ phiếu tương ứng với số chứng khoán đầu tư dài hạn thuộc sởhữu của công ty mà tổ chức phát hành, kế toán ghi nhận doanh thu theo giá trịhợp lý của số cổ phiếu nhận cổ tức
Trang 37Tuy nhiên, theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì khoản nhận cổ tức này sẽkhông được ghi nhận doanh thu tại thời điểm nhận được thông báo mà chỉ ghinhận và theo dõi số lượng cổ phiếu nhận được ở ngoài bảng, việc ghi nhậndoanh thu sẽ được thực hiện khi và chỉ khi bán phần cổ phiếu trả này ra thịtrường.
Phân tích tại báo cáo tài chính đã được công bố của Công ty Cổ phầnsữa Việt Nam (“Vinamilk”), khoản cổ tức bằng cổ phiếu của công ty phát sinhtrong năm 2008 là 5.205 triệu đồng, nếu theo phân tích thì khoản lợi nhuận kếtoán trước thuế năm 2008 của công ty sẽ giảm đi một khoản tương ứng là 5.205triệu đồng
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 244/2009/TT-BTC ngày31/12/2009,theo đó phần cổ tức nhận bằng cổ phiếu nhà đầu tư không ghi nhậngiá trị cổ phiếu được thưởng, không ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính vàkhông ghi nhận tăng giá trị khoản đầu tư vào công ty cổ phần mà chỉ theo dõi
số lượng cổ phiếu tăng thêm trên thuyết minh báo cáo tài chính
2.2.1.2 Lãi cơ bản trên cổ phiếu
Lãi cơ bản trên cổ phiếu là một chỉ số đo lường lãi cơ bản trên mỗi cổ
phiếu của công ty, đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phầnphổ thông đang lưu hành trên thị trường
EPS=
Tổng số lãi dành cho các cổ
đông phổ
thông Số bình quân gia quyền của cổ phiếu
Nhìn vào công thức trên thì chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực
kế toán quốc tế đều giống nhau
Đối với chuẩn mực kế toán Việt Nam, chỉ tiêu “Tổng số lãi dành cho các
cổ đông phổ thông” còn bỏ qua nhiều khoản mục quan trọng; chẳng hạn, chưa
Trang 38trừ đi các quỹ quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi, mà chỉ đơnthuần trừ đi phần cổ tức của cổ phiếu ưu đãi.
Trang 39Các quỹ khen thưởng phúc lợi và quỹ dự phòng tài chính nên được loạitrừ khi tính chỉ tiêu “Tổng số lãi dành cho cổ đông phổ thông” là do: Quỹ khenthưởng phúc lợi dùng để khen thưởng ban quản trị khi điều hành doanh nghiệp
có hiệu quả, có những đóng góp nhất định hoặc thưởng cho người lao động đã
có những nổ lực trong công việc Tỷ lệ trích lập do đại hội đồng cổ đông quyếtđịnh Do vậy, các cổ đông không được hưởng thụ quỹ này, mà chính là các nhàquản lý của công ty Đồng thời, Quỹ dự phòng tài chính được trích lập từ lợinhuận sau thuế với tỷ lệ là 10% và được trích lập cho đến khi số dư quỹ nàybằng 25% vốn điều lệ của công ty Quỹ này được sử dụng để bù đắp các thiệthại mà công ty gây ra như phạt vi phạm chế độ đăng ký kinh doanh, phạt viphạm hành chánh về thuế và các khoản phạt khác mà các khoản chi phí nàykhông được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế trong kỳ nhằm giảm mộtphần chi phí hoạt động trong kỳ Như vậy, việc sử dụng quỹ này thực chất làmột cách để che dấu các khoản lỗ do điều hành kém hiệu quả và đẩy phần thiệthại này cho các cổ đông gánh chịu Điều này cho thấy, quỹ dự phòng tài chính
về bản chất cũng không thuộc về phần sở hữu của các cổ đông
Vì các quỹ khen thưởng, phúc lợi hay các khoản quỹ khác không phảicủa cổ đông vẫn chưa được loại trừ khỏi khoản lãi dành cho cổ đông để tínhEPS, nên các doanh nghiệp có thể sẵn sàng chi cho các khoản này là rất lớn.Nếu khoản trích này được loại ra khỏi các khoản lãi dành cho cổ đông thì cácnhà quản lý sẽ phải thận trọng hơn trong việc trích quỹ Bởi, khi tăng khoảntrích quỹ không dành cho cổ đông, đồng nghĩa với việc giảm EPS và do vậylàm tăng P/E tức là làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu, vì thế các nhà quản trịphải cân nhắc trước khi trích lập các quỹ này
Về phần quỹ đầu tư phát triển, quỹ này đúng như tên gọi của nó, được
sử dụng để đầu tư phát triển và bổ sung cho nguồn vốn kinh doanh khi cầnthiết Do đó, về bản chất quỹ này vẫn thuộc sở hữu của các cổ đông
Trang 40Đối với chuẩn mực kế toán quốc tế, thì chỉ tiêu “Tổng số lãi dành chocác cổ đông phổ thông” đã được tính toán trừ đi các phần quỹ hợp lý.
Đối với chế độ kế toán Việt Nam không bắt buộc phải trình bày lãi suygiảm trên cổ phiếu (Diluted earning per share) trong báo cáo tài chính nhưng nólại rất quan trọng trong đầu tư chứng khoán
Lãi suy giảm trên cổ phiếu được tính bằng lợi nhuận hoặc lỗ phân bổcho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ và số bình quân giaquyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành do ảnh hưởng của các cổ phiếu phổthông tiềm năng có tác động suy giảm để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu
Bởi lẽ trong kỳ kế toán, các công ty có thể phát hành các công cụ tàichính chưa có quyền đòi chia lãi như cổ phiếu phổ thông, chẳng hạn trái phiếuchuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi, các quyền mua mà nó sẽ chuyển đổithành cổ phiếu phổ thông trong tương lai Khi đó, EPS của công ty sẽ thay đổirất lớn do công ty sẽ tăng một lượng lớn cổ phiếu phổ thông nhưng không cóthêm dòng tiền vào Trong những trường hợp như vậy nếu nhà đầu tư dùngEPS cơ bản để dự đoán EPS cho tương lai sẽ dẫn đến những sai lầm EPS suygiảm sẽ chỉ cho các nhà đầu tư những ảnh hưởng có thể có của việc pha loãngEPS trong tương lai, rất cần thiết cho quyết định đầu tư
2.2.1.3 Lãi từ hoạt động kinh doanh
Theo các văn bản hướng dẫn của VAS 21, báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh sẽ phải tuân theo một mẫu được ban hành, trong đó việc trình bàylãi từ hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm cả hoạt động tài chính
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, doanh nghiệp có thể được xây dựngmột báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo đặc điểm của doanh nghiệpnhưng phải đảm bảo các thông tin tài chính tối thiểu theo chuẩn mực;