Để có cơ sở giúp các ban, ngành của tỉnh trong việc hoạch định chínhsách phát triển kinh tế - xã hội từng bước nâng cao đời sống đồng bào các dântộc thiểu số vốn đang rất khó khăn hiện
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hà Tĩnh mảnh đất giàu truyền thống văn hoá - nơi sinh tụ của khôngnhiều các dân tộc anh em nói ngữ hệ Việt - Mường Mặc dù, đã được biết đến
từ lâu nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về dân tộc thiểu số ở
Hà Tĩnh
Hiện tại, đời sống của đồng bào đang gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộnghèo đói cao, khoảng cách giàu nghèo giữa đồng bào các dân tộc thiểu số vàđồng bào dân tộc Kinh khá lớn và đang có xu hướng ngày càng gia tăng Đểgiúp đồng bào vươn lên đuổi kịp các dân tộc khác trong cộng đồng các dântộc Việt Nam đòi hỏi phải có các chính sách đồng bộ hợp lý từ Trung ươngđến địa phương
Thời gian qua Nhà nước và địa phương đã có nhiều chương trình, dự ánđầu tư giúp đỡ đồng bào nhưng hiệu quả mang lại chưa được như mongmuốn Thu nhập và mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn thấp,các dạng hình kinh tế lạc hậu, đời sống văn hoá nghèo nàn, quan hệ xã hộibiệt lập, Nguyên nhân cơ bản của tình hình trên là do hiểu biết về phong tụctập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số còn quá ít ỏi nên các chương trình,
dự án mang nặng tính chủ quan, áp đặt từ phía các cấp quản lý, chưa xuất phát
từ đời sống và mong muốn của đồng bào
Để có cơ sở giúp các ban, ngành của tỉnh trong việc hoạch định chínhsách phát triển kinh tế - xã hội từng bước nâng cao đời sống đồng bào các dântộc thiểu số vốn đang rất khó khăn hiện nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi tỉnh Hà Tĩnh”
Trang 21.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Thông qua việc đánh giá hiện trạng kinh tế - xã hội của đồng bào cácdân tộc thiểu số vùng núi Hà Tĩnh thời gian qua, đề xuất các giải pháp pháttriển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập và đời sống cho đồng bào các dân tộcthiểu số của địa phương trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triểnkinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số;
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào các dântộc thiểu số vùng núi tỉnh Hà Tĩnh thời gian qua;
- Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế - xã hội và mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi tỉnh Hà Tĩnh;
- Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nângcao mức sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi Hà Tĩnh trong thờigian tới
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các chủ trương chính sách phát triển kinh tế-xã hội đồng bào các dântộc thiểu số vùng núi
Đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi tỉnh Hà Tĩnh, trong đó tậptrung chủ yếu vào dân tộc Mã Liềng
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu sốvùng núi Hà Tĩnh
1.4.2 Phạm vi về không gian
Khảo sát và nghiên cứu các xã, thôn bản vùng núi Hà Tĩnh nơi cư trú
Trang 3của đồng bào dân tộc thiểu số
1.4.3 Phạm vi về thời gian
Đề tài thực hiện từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 10 năm 2010
Số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu, báo cáo từ năm 2008 trở vềtrước;
Số liệu sơ cấp: Thu thập tình hình đời sống của các hộ gia đình, cáclàng (bản) đồng bào các dân tộc thiểu số trong năm 2009
Trang 42 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về dân tộc
Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch
sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước Trong xã
hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc Những thành viên trong thị tộc gắn
bó với nhau bằng quan hệ huyết thống Bộ lạc bao gồm những người cùng họ
và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn Sản xuất phát triểnthì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng nhưngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phươngthức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ýthức) Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến
tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau như chúng ta thấy hiện nay Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được [5].Văn hoá của các dân tộc có những nét
chung giống nhau (thí dụ như đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lênnền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách
dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các
nếp tâm lý và tư duy, các ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ratính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại
Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp
với khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội được
Trang 5quản lý bằng bộ máy nhà nước Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có,
như trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là nhữngquốc gia nhiều dân tộc (nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủyếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong lịch sử) Cũng có tình hình lànhững người cùng một dân tộc nhưng sống phân tán ở những quốc gia khácnhau Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều
cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ phát triển Đã có tình hìnhnhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào nhau hoặc đồng hoá,thôn tính lẫn nhau Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà nước để bảo vệlãnh thổ của mình Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành ý thức quốc
gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước Bản thân nhà nước, đến lượt nó, lại có
tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộctrong biên giới của mình
Thực ra, trên thế giới, tính cố kết dân tộc có thể bắt nguồn từ nhiềunguyên nhân kinh tế, chính trị khác, như nhu cầu có những công trình trị thuỷlớn ở các vùng trồng lúa nước, nhu cầu chống lại sự xâm lược, đô hộ và đồnghoá của ngoại tộc Việt Nam đã từng bị ngoại tộc đô hộ hơn một nghìn năm
mà không bị đồng hoá, sở dĩ như vậy là vì con người Việt Nam đã có ý thức
về bản sắc của dân tộc mình và nổi dậy chống lại sự đồng hoá ấy Ý thức vềquốc gia - dân tộc đã thể hiện rõ trong hành động lịch sử của Lý Bí khi ông tựxưng là Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI, hoặc trong câu thơ
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thế kỷ thứ XI, trong áng văn bất hủ “BìnhNgô đại cáo” thế kỷ thứ XV Rõ ràng là người Việt Nam đã hình thành nêndân tộc của mình ngay từ thời cổ đại, có thể là ngay từ khi bị ngoại tộc đô hộ
mà không sao đồng hoá nổi, chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nướcphong kiến độc lập bền vững vào thế kỷ thứ X
Trang 62.1.2 Khái niệm về dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đôngnhất trong một nước có nhiều dân tộc
Khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân
số trong một quốc gia đa dân tộc và không mang ý nghĩa phân biệt địa vị,trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộckhông phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điềukiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có sốdân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trongmột quốc gia đa dân tộc và cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan sosánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới.Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồngthời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác [16] Chẳng hạn người Việt (Kinh)được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểusố” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc),
Trang 7chiều giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, chứ không phải là một sự ban ơn.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem vấn đề dân tộc và đoàn kếtdân tộc có tầm quan trọng chiến lược trong chỉ đạo cách mạng nước ta Cácthế lực thù địch luôn tìm cách chia rẽ các dân tộc, song chúng luôn thất bại vìđoàn kết dân tộc đã trở thành truyền thống hết sức quý báu của các dân tộc.Truyền thống đó được phát huy mạnh mẽ trong điều kiện lịch sử mới và thểhiện trong chính sách đại đoàn kết của Đảng ta Và được các cấp uỷ, chínhquyền, thể hiện cụ thể trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, giáodục, văn hoá và xã hội phù hợp với sắc thái từng dân tộc
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh, do số lượng dân số ít, địabàn cư trú phân tán, trình độ kinh tế - xã hội còn thấp thì tăng cường đoàn kết,giúp đỡ đồng bào càng có ý nghĩa quan trọng
Đoàn kết dựa trên nguyên tắc bình đẳng và tương trợ Bình đẳng là vềquyền lợi và nghĩa vụ
Bình đẳng về quyền lợi, thể hiện trước hết mỗi dân tộc dù người Kinhhay dân tộc thiểu số đều được tôn trọng như nhau, không có sự phân biệt đối
xử và được tin cậy như nhau Mỗi dân tộc đều có quyền làm chủ hay bìnhđẳng trong việc phát huy những khả năng của mình để xây dựng quê hương,phát huy những truyền thống dân tộc và đoàn kết nội bộ dân tộc trong sựnghiệp chung Khi thực hiện chế độ tập trung dân chủ nên tạo mọi điều kiện
để người dân tộc thiểu số phát huy cao những khả năng của mình Vì vậy, cần
có hình thức để người dân tộc thiểu số có những đại biểu hoặc người đại diệncho mình trong các tổ chức chính trị cơ sở Để đồng bào phản ánh tâm tư,nguyện vọng cũng như tham gia giải quyết những công việc thuộc về sự tiến
bộ xã hội của tộc người mình
Bình đẳng về nghĩa vụ, trước hết là thực hiện đầy đủ những nhiệm vụcông dân hoặc những nhiệm vụ xã hội được cộng đồng quy định Song, không
Trang 8nên chỉ nhìn vào mức độ đóng góp mà trong nhiều trường hợp cần thấy nhữngnhiệm vụ bảo vệ đường biên giới, bảo vệ rừng, môi trường sinh thái là nhữngcông việc thường xuyên mà không có đồng bào thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Tương trợ giữa các dân tộc ngoài những việc thuộc kế hoạch chung cònđược thể hiện khi người thiểu số đến định cư trên quê hương mới , lúc bị thiêntai và trong cuộc sống hàng ngày Các cấp uỷ, chính quyền hay các tổ chức xãhội không chỉ lạc quyên khi thiên tai mà quan trọng còn là tìm phương thứclàm ăn, những giống cây trồng vật nuôi, hướng dẫn đồng bào kỷ năng laođộng, để có những thành quả lao động cao hơn cũng như giúp nhau trongsinh hoạt bằng những hành động cao cả Những điều đó là sự thể hiện tinhthần và kết quả của việc thực hiện bình đẳng, đoàn kết với đồng bào thiểu số
2.2.3.2 Cơ sở phát triển của đồng bào các dân tộc thiểu số
Sự phát triển của đồng bào các dân tộc thiểu số phải dựa trên cơ sở sựgiúp đỡ của Nhà nước và sự tự vươn lên của chính bản thân tộc người
Sự giúp đỡ của Nhà nước chính là việc xây dựng và thực hiện cácchương trình, dự án cụ thể và tạo ra những khả năng, điều kiện thực hiện cóhiệu quả Sự phát triển chậm về kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số
có thể là do kế hoạch phát triển còn thiếu điều tra nghiên cứu cụ thể, có nộidung còn xa với thực tế và yêu cầu của đồng bào, đôi khi còn là sự áp đặt nênkhông được đồng bào ủng hộ Để phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào, sựđòi hỏi hiện nay là tăng thêm các chương trình, dự án, trong đó chú trọng đếncác dự án tạo ra các điều kiện sản xuất
Sự tự vươn lên của bản thân tộc người là hết sức quan trọng Chính vìvậy, lúc còn sống Bác Hồ thường động viên các dân tộc thiểu số: “Cố gắngvươn lên phấn đấu để tự cải thiện và phát triển kinh tế của dân tộc mình Cán
bộ nơi khác đến chỉ có thể hỗ trợ chứ không nên làm thay đồng bào dân tộcthiểu số” Trên thực tế, tinh thần tự lực tự cường của mỗi dân tộc, nhóm
Trang 9người luôn luôn là yếu tố quyết định Nhiều khi trong những điều kiện tựnhiên, môi trường như nhau lại có những chênh lệch về trình độ phát triểngiữa các nhóm tộc người Trong mỗi nhóm tộc người có những mô hình làm
ăn tốt là do những cố gắng tự vươn lên của đồng bào
Đối với các nhóm người thiểu số hiện nay ở Hà Tĩnh vẫn còn tư tưởng
tự coi mình là dân tộc bé nhỏ, tự ty, cái gì cũng cho là không làm được, rồikhông cố gắng Vì vậy, để có sự phát triển bền vững lâu dài không có gì kháchơn là động viên tinh thần tự vươn lên của đồng bào
2.2.3.3 Tăng trưởng kinh tế không thể tách khỏi nhân tố xã hội - văn hoá
Kinh nghiệm phổ biến cũng như thực tiễn đã chỉ ra là các giải phápkinh tế phải gắn với các nhân tố xã hội - văn hoá Điều này càng đúng đối vớicác nhóm người thiểu số ở Hà Tĩnh, khi mục tiêu của sự phát triển kinh tế làthực hiện chính sách dân tộc và quyền làm chủ của đồng bào Trước hết, đó lànhững vấn đề thuộc về chế độ sở hữu, chiếm hữu đất đai truyền thống Trongviệc thực hiện luật đất đai, giao đất giao rừng cho các hộ khai thác và sử dụngcần có sự kết hợp hài hoà với những truyền thống văn hoá Có thể là giao chođồng bào diện tích rừng lớn hơn so với các cư dân nơi khác đến Vì đó là lợiích kinh tế, nhưng cũng là sự tôn trọng quyền làm chủ và nhiều yếu tố vănhoá đối với đồng bào Đồng thời sự phát triển kinh tế hộ gia đình ở trình độngày càng cao là tất yếu, song các hộ gia đình không thể phát triển sản xuất,kinh doanh một cách đơn độc, tách khỏi các mối liên hệ cộng đồng ở cácphạm vi khác nhau như làng bản, hợp tác xã, xã và các tổ chức hành chính -kinh tế, xã hội cao hơn Chính vì vậy, cùng với phát triển kinh tế là động viênđồng bào tham gia vào hợp tác xã, hội nông dân, để làm chỗ dựa trong sảnxuất như mở rộng việc sử dụng giống cây, con mới, mua phân bón về ứngtrước cho các hộ Tiến tới nhận thế chấp để đồng bào vay tiền ngân hàng, hợpđồng với khách hàng để thu mua và tiêu thụ sản phẩm, cùng các hộ đầu tư
Trang 10làm đường nội vùng, quản lý kênh mương, bảo vệ làng bản, giữ gìn trật tự anninh và an toàn xã hội.
2.1.4 Tiêu chí xác định thành phần dân tộc
Mặc dù đang còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng giới chuyên môn nước
ta đi đến thống nhất: Tiếng nói, những đặc điểm sinh hoạt văn hoá và ý thức
tự giác dân tộc là những tiêu chuẩn chủ yếu để xác minh thành phần dân tộc
2.1.4.1 Ngôn ngữ
Cùng nói một ngôn ngữ, nói cách khác mỗi dân tộc đều có tiếng nóiriêng của mình Có thể nói rằng: Cộng đồng ít bị phân hoá hơn cả là cộngđồng về ngôn ngữ Ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là một phương tiện để giaodịch mà còn là một phương tiện để phát triển các hình thái quan trọng nhấtđối với đời sống văn hoá tinh thần của mỗi dân tộc Chỉ có ngôn ngữ mẹ đẻđược tiếp nhận từ thời thơ ấu mới có thể giúp họ hiểu biết được những sắcthái tinh vi nhất của đời sống tinh thần, mới cho phép họ hiểu nhau thấu đáo.Ngôn ngữ liên quan mật thiết đến bản tính tộc người, không phải ngẫu nhiên
mà phần lớn các tên gọi dân tộc lại trùng lặp với ngôn ngữ của họ Vì vậytrong tất cả các đặc trưng tộc người thì ngôn ngữ là quan trọng nhất
Dẫu ngôn ngữ là tiêu chí rất quan trọng để phân định tộc người, song
nó không phải là duy nhất, bởi vì hiện nay trên thế giới cũng có những dân tộcnói hai, ba ngôn ngữ khác nhau, ngược lại cũng có nhiều dân tộc cùng nóimột thứ tiếng như tiếng Anh, tiếng Pháp
2.1.4.2 Đặc điểm văn hoá
Một trong những dấu hiệu cực kỳ quan trọng để phân định giữa các tộcngười là đặc điểm văn hoá Văn hoá là cái mà mỗi dân tộc xây dựng nên trongquá trình phát triển lịch sử của mình được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
Trang 11khác Vì thế mà cho đến nay mỗi dân tộc đều có những đặc điểm văn hoáriêng, các yếu tố văn hoá đặc thù thường trở thành biểu tượng của bản tính tộcngười Khi nói đặc điểm văn hoá có nghĩa là những thành tựu văn hoá dân tộc
đó đã đạt được, những tri thức mà họ đã tích luỹ được, những đóng góp của
họ vào kho tàng văn hoá nhân loại Vấn đề là, phải xét xem họ có phải là chủnhân kế thừa nền văn hoá của dân tộc đó hay không, có phải là những ngườitiếp tục phát triển nó một cách sáng tạo và tiến bộ hay không chứ không phảichỉ xem họ có ở cùng một kiểu nhà hay ăn mặc cùng một kiểu quần áo, cùngđội một loại khăn
Vấn đề là khi xác định một tộc người, không phải chỉ dựa vào cộngđồng văn hoá mà là dựa trên những yếu tố văn hoá có tính chất đặc trưng.Những đặc trưng ấy cùng với ngôn ngữ tạo ra một sắc thái riêng [23] Trongthực tế cũng có thể có những dân tộc có cùng một tiếng nói nhưng không thể
có hai dân tộc với cùng một nền văn hoá
2.1.4.3 Ý thức dân tộc
Ý thức dân tộc hay tự giác dân tộc, suy cho cùng lại là cái quyết định
để xác định thành phần tộc người Nó được xuất hiện khi con người ở trongcùng một cộng đồng, sử dụng một tộc danh thống nhất và nó cũng là kết quảcủa sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cơ bản hình thành nên cộng đồng tộcngười Điều quan trọng của ý thức dân tộc là nó có tính chất độc lập cao hơnhẳn so với các nguyên nhân hình thành ra nó Dẫu cho khi lãnh thổ bị ngăncách, văn hoá bị đứt gãy, thậm chí đến cả ngôn ngữ mẹ đẻ cũng đã bị mất mát
đi thì ý thức tự giác tộc người vẫn được duy trì [9]
Ngoài ra khi xác định thành phần dân tộc nên đề cập đến: Lãnh thổ tộcngười - Lãnh thổ như là một điều kiện vật chất cơ bản để hình thành các cộngđồng tộc người
Trang 122.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu
Ở Hà Tĩnh cho đến nay thành phần các dân tộc vẫn chưa có sự thốngnhất Mỗi đợt điều tra đều đưa ra những số liệu khác nhau; bởi vì mục tiêucủa các đợt điều tra là không giống nhau Những năm gần đây, được sự quantâm của Đảng, Chính phủ có nhiều chương trình, dự án đầu tư lên vùng miềnnúi, đặc biệt ưu tiên cho vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú Cácchương trình như: Định canh - định cư, hỗ trợ đồng bào đặc biệt khó khăn chỉđầu tư cho vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Vì vậy, chính quyềnđịa phương cũng như người dân muốn tự nhận mình là người dân tộc thiểu số
để được hưởng chính sách Trong khi công tác điều tra, nghiên cứu cũng chỉmới dừng lại ở mức độ tập hợp thống kê theo sự khai báo của người dân, củachính quyền địa phương Còn các dấu hiệu về dân tộc chưa được xem xét đầy
đủ thậm chí chưa được đề cập đến Thêm vào đó là công tác quản lý hộ tịch,
hộ khẩu của chính quyền địa phương còn lỏng lẻo
Do đó, trước khi đề xuất giải pháp phát triển kinh tế-xã hội cần phảikhẳng định được thành phần dân tộc ở vùng núi Hà Tĩnh
2.2.2 Xác định thành phần dân tộc ở vùng núi Hà Tĩnh
Các nguồn tài liệu viết về các dân tộc trong cả nước có nhiều nhưng tàiliệu viết về các tộc người ở tỉnh Hà Tĩnh thì hầu như không có Những số liệucủa các bản niên giám thống kê hàng năm, các tiêu chí về dân tộc không được
đề cập đến, còn số liệu của các cuộc điều tra dân số về lĩnh vực này cũng rấthiếm hoi
Thời kỳ chiến tranh (trước năm 1975), chưa tìm thấy tài liệu nào nói vềcác dân tộc đang sinh sống ở Hà Tĩnh Bởi vì lúc bấy giờ cả nước phải lo toanvào một công việc lớn nhất là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.Thời gian nhập tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An (1976 - 1991) do chỗ coi các dân
Trang 13tộc thiểu số ở Hà Tĩnh chỉ là một phần rất nhỏ trong nhiều dân tộc thiểu số ởNghệ Tĩnh nên chưa được quan tâm giúp đỡ cũng như quan tâm nghiên cứunhiều Trong danh mục các dân tộc ở Việt Nam khi nói về địa bàn cư trú chủyếu của từng dân tộc thiểu số không hề nhắc đến Hà Tĩnh Theo Khổng Diễn
“Hà Tĩnh là một tỉnh trước đây không có dân tộc thiểu số” [7] Điều đó chứng
tỏ rằng: Nếu có thì tỉnh Hà Tĩnh cũng có không nhiều các dân tộc
Trong cuốn lịch sử Nghệ Tĩnh [11] khi đề cập đến các dân tộc anh emcùng chung sống trong tỉnh, ở Hà Tĩnh chỉ nói đến mỗi dân tộc Chứt với haingành Mã Liềng và Cọi cư trú ở huyện Hương Khê
Nhưng số liệu tổng điều tra dân số năm 2009 của huyện thì không códân tộc Chứt [17] Tuy nhiên theo nguồn tài liệu này thì tỉnh Hà Tĩnh có rấtnhiều dân tộc (Bảng 2.1) Do quá trình làm ăn, sinh sống hoặc do hôn nhânngoại tộc mà một số bà con dân tộc các tỉnh bạn về định cư ở Hà Tĩnh
Họ không sống tập trung thành bản, thành thôn mà sống rải rác khắpnơi, mỗi xã vài ba người, đông hơn ở các vùng trung tâm thị trấn, thị tứ Đâythực chất là những nhóm tộc người bị cách biệt về mặt lãnh thổ
Trang 14Bảng 2.1 Kết quả tổng điều tra dân số năm 2009
( người )
Trong đó Hương Khê (1) Hương Sơn
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2009)
Năm 1995, Ban Miền núi - Di dân và Phát triển vùng kinh tế mới phốihợp với Cục thống kê Hà Tĩnh tiến hành điều tra đối tượng dân tộc đặc biệtkhó khăn thì thống kê được 227 hộ với 1.127 nhân khẩu bao gồm 5 tộc người
là Mã Liềng, Cọi, Lào, Mường, Mán (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Kết quả điều tra đối tượng dân tộc đặc biệt khó khăn
Trang 15Số lượng
Địa bàn cư trú Số
hộ
Khẩu (người)
Liềng
23 94 Hương Liên (Hương Khê)
3 Lào Lào Thưng 93 508 Hương Lâm, Phú Gia (Hương
Khê) và Vũ Quang (Vũ Quang)
(Nguồn: [3])
Vì là điều tra dân tộc đặc biệt khó khăn nên tên gọi tộc người cũng chỉdựa vào sự tự khai báo nhưng khi kiểm tra sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dânthì có sự không trùng hợp (Bảng 2.3)
Trang 16Bảng 2.3 Kết quả kiểm tra sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân
tộc
người
Tên gọi khác
Số lượng
Địa bàn cư trú Số
hộ
Khẩu (người)
Liềng
23 94 Hương Liên (Hương Khê)
Quang (Vũ Quang)
(Nguồn: Số liệu điều tra 2009)
Trên thực tế thành phần dân tộc không phải là bất biến mà vấn đề này ởtỉnh Hà Tĩnh từ trước tới nay lại chưa được quan tâm Xác định thành phầntộc người điều quan trọng phải xem đó là một cộng đồng tộc người hay là một
bộ phận của nó, đây là nhóm bị cách biệt về lãnh thổ của một dân tộc haychính là một dân tộc Giải quyết vấn đề này rất khó khăn, ngay cả khi có trongtay những tài liệu thống kê khá tỷ mỹ Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nhữngthay đổi về thành phần tộc người ở những mốc thời gian khác nhau Trong đó
có quá trình tộc người (cố kết, đồng hoá hoặc phân ly tộc người), cũng có khi
do chưa đủ cơ sở khoa học, lại có sự can thiệp mang tính chủ quan, áp đặt củacác nhà quản lý; mặt khác nó còn bị tác động bởi các lợi ích chính trị, kinh tếcủa các nhóm tộc người đang là đối tượng để nghiên cứu [6], [10]
Ở Hà Tĩnh cho đến nay thành phần các dân tộc vẫn chưa có sự thốngnhất [21] Mỗi đợt điều tra đều đưa ra những số liệu khác nhau; bởi vì mụctiêu của các đợt điều tra là không giống nhau Những năm gần đây, được sựquan tâm của Đảng, Chính phủ có nhiều chương trình, dự án đầu tư lên vùngmiền núi, đặc biệt ưu tiên cho vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú Các
Trang 17chương trình như: Định canh - định cư, hỗ trợ đồng bào đặc biệt khó khăn chỉđầu tư cho vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Vì vậy, chính quyềnđịa phương cũng như người dân muốn tự nhận mình là người dân tộc thiểu số
để được hưởng chính sách Trong khi công tác điều tra, nghiên cứu cũng chỉmới dừng lại ở mức độ tập hợp thống kê theo sự khai báo của người dân, củachính quyền địa phương Còn các dấu hiệu về dân tộc chưa được xem xét đầy
đủ thậm chí chưa được đề cập đến Thêm vào đó là công tác quản lý hộ tịch,
hộ khẩu của chính quyền địa phương còn lỏng lẻo
Thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trêndiện rộng, xem xét tất cả các dấu hiệu (tiêu chí) xác minh thành phần dân tộc.Với phương pháp loại trừ dần chúng tôi chỉ tập trung điều tra, khảo sát tại 8thôn (bản) thuộc 7 xã của 3 huyện miền núi Hương Khê, Hương Sơn và VũQuang Trên cơ sở tôn trọng “Ý thức tự giác tộc người”, theo sự tự nhận củađồng bào thì tập hợp được 308 hộ với 1.529 khẩu bao gồm 5 tộc người là MãLiềng, Cọi (Khạ Phoọng), Lào, Mường, Mán (Bảng 2.4)
Trang 18Bảng 2.4 Số lượng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi Hà Tĩnh
Số lượng
Địa bàn cư trú Số
hộ
Khẩu (người)
1 Mã Liềng 30 118 Bản Rào Tre xã Hương Liên,
huyện Hương Khê
2 Cọi Khạ Phoọng 11 31 Bản Giàng II xã Hương Vĩnh,
huyện Hương Khê
3 Lào Lào Thưng 111 594 Bản Giàng I xã Phú Lâm, huyện
Hương Khê Bản Kim Quang xã
Vũ Quang, huyện Vũ Quang
4 Mường 85 403 Bản Lòi Sim xã Hương Trạch,
huyện Hương Khê
(Nguồn: Số liệu điều tra 2009)
Tìm hiểu về ngôn ngữ thì trong số 1.508 người chỉ có 127 người ở bảnRào Tre (Hương Liên) và Giàng II (Hương Vĩnh) nói được ngôn ngữ của dântộc mình, còn đại bộ phận ở các bản khác không có ai nói được (Bảng 2.5)
Bảng 2.5 Số người dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh nói được tiếng mẹ đẻ
(Nguồn: Số liệu điều tra, 2009)
Nghiên cứu kỷ hơn về các đặc trưng văn hoá, đặc điểm cư trú, hônnhân, nguồn gốc tộc người, sinh hoạt kinh tế chúng tôi thấy rằng ngoàingười Mã Liềng và người Cọi, bộ phận khác không phải là dân tộc thiểu số
Trang 19hoặc không còn giữ được nét đặc trưng riêng của mình.
* Nhóm người Mường: Mường là tên tự gọi của một nhóm người sống
ở bản Lòi Sim xã Hương Trạch huyện Hương Khê Nhóm người này từ xãHoá Hợp huyện Minh Hoá tỉnh Quảng Bình di cư ra Hương Trạch - HươngKhê từ năm 1952 Lúc đầu chỉ có 7 hộ, 35 khẩu về định cư với người dân địaphương ở xóm Chuối - Một vùng ranh giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình cáchbản ngày nay chừng 3 km Do điều kiện làm ăn, sinh sống ở đây thuận lợi hơn
ở Hoá Hợp nên những năm sau bà con tiếp tục di cư ra Tổng số các đợt di cưđến năm 1958 có 14 hộ với 78 khẩu Từ đó đến nay không có chuyện di cưnữa và dân số hiện nay là các thế hệ con cháu của họ
Thời kỳ chiến tranh ác liệt, nằm cạnh cầu La Khê nên xóm Chuối trởthành “túi bom, chảo lửa”, đồng bào phải tản cư vào Đồng Cố, Đồng Để làmnhà tạm trong rừng, trong núi Sau ngày hoà bình lập lại, đất nước được thốngnhất, thực hiện chính sách định canh - định cư của Đảng đồng bào mới vềđịnh cư xen ghép với dân địa phương ở bản Lòi Sim ngày nay
Theo tài liệu của Ban Dân tộc và Miền núi Quảng Bình thì tỉnh QuảngBình có 15 nhóm tộc người thiểu số, trong đó người Mường chỉ có 6 người cưtrú ở huyện Bố Trạch, còn ở huyện Minh Hoá có các nhóm Khùa, Sách, Mày,Rục, Arem, Thổ, Thái và Pa cô không có dân tộc Mường Các nhóm: Khùa,Sách, Mày, Rục, Arem, Thổ, Thái và Pa cô không có lịch sử di cư ra HươngTrạch của Hà Tĩnh [2]
Như vậy người dân từ Hoá Hợp Minh Hoá di cư ra Hương Trạch Hương Khê là dân tộc gì? Chúng tôi đã có dịp vào Hoá Hợp tìm hiểu vấn đềnày và được biết đây là nhóm người Nguồn Trong danh mục các dân tộcthiểu số ở Quảng Bình, người Nguồn không được xếp vào dân tộc thiểu số.Theo Khổng Diển thì đây là một bộ phận của người Kinh từ các tỉnh ThanhHoá, Nghệ An di chuyển vào từ thế kỷ XIV, XV cùng với quá trình mở mang
Trang 20-và phát triển của đất nước Hiện nay đồng bào vẫn muốn tự nhận mình là mộtdân tộc, tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa tìm được một nét đặc trưng riêng nào
về văn hoá, ngôn ngữ cũng như sinh hoạt kinh tế
* Nhóm người Lào
Người Lào ở Hà Tĩnh được nhắc đến đầu tiên vào năm 1995, khi BanMiền núi - Di dân và Cục thống kê tỉnh tiến hành điều tra đối tượng đặc biệtkhó khăn [3], [4] Mặc dù họ đã sinh sống xen ghép với người Kinh ở ba bảnGiàng I (Hương Lâm), Phú Lâm (Phú Gia) của huyện Hương Khê và KimQuang (Vũ Quang) của huyện Vũ Quang từ rất lâu rồi
- Đối với người dân ở Bản Giàng I: Theo gia phả họ Trần ở Hương
Lâm thì một người đàn ông có tên là Uyên ở Bản Giàng II (Hương Vĩnh) kếthôn với một người Kinh quê ở Giàng I - Hương Lâm và rồi họ về định cư ởbản Giàng I Tính đến nay đã 7 đời và thế hệ con cháu bây giờ, ngoài tiếngKinh không còn nói được một ngôn ngữ nào khác Như vậy, việc người dân ởbản Giàng I tự nhận là người Lào cũng không phù hợp với nguồn gốc hìnhthành; bởi vì người dân ở bản Giàng II không phải là người Lào
- Đối với người dân ở bản Kim Quang và Phú Lâm: Dân số hiện nay ở
hai bản Kim Quang và Phú lâm chủ yếu là người Kinh Tuy vậy, cũng có một
bộ phận ít người có gốc gác xa xưa từ Lào, họ về định cư ở đây từ những nămđầu thế kỷ XX Quá trình cộng cư lâu đời nên hôn nhân ngoại tộc đã xẩy ra từrất sớm và lớp con cháu bây giờ không nói được một ngôn ngữ nào khácngoài tiếng Việt
* Nhóm người Mán Thanh
Thượng Kim và Đại Kim là tên gọi của 2 bản người thuộc xã Sơn Kimhuyện Hương Sơn Trước đây bà con không nhận mình là dân tộc thiểu số(Biểu kết quả tổng điều tra dân số năm 2009) Thời gian gần đây bà con tựnhận là dân tộc Mán Thanh (Kết quả điều tra đối tượng dân tộc đặc biệt
Trang 21khó khăn), tuy nhiên hoàn cảnh mà họ về định cư ở hai bản này là khônggiống nhau.
- Đối với người dân ở bản Đại Kim: Khoảng đầu những năm hai mươi
của thế kỷ trước, một nhóm người chạy loạn do giặc dã, gồm 9 hộ với 39khẩu đều là anh em, họ hàng với nhau ở bản Napê huyện Kăm Kớt tỉnh Pô LyKhăm Xay của nước bạn Lào về định cư ở nước Sốt (Nậm Sốt ngày nay)thuộc xã Sơn Kim huyện Hương Sơn Sống ở đây được một thời gian thì bịthực dân Pháp đốt nhà, phá làng bà con phải sống chui lủi trong rừng Saunăm 1945 được chính quyền địa phương đưa về vùng Hói Trươi xã Sơn Thọtuy nhiên 2 năm sau thì chính quyền huy động lực lượng này đi đốt than ở ĐạiKim, những người có sức khoẻ trong bộ phận này đã tham gia và dần dần họđưa cả gia đình lên Đại Kim sinh sống Do ảnh hưởng của dòng họ Lê là dòng
họ chiếm số đông ở Đại Kim hồi đó nên bà con lấy họ Lê làm họ cho mình vàsinh hoạt kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngươì Kinh Các thế hệ concháu của bộ phận này kết hôn với người Kinh và đến nay đã có 37 hộ với 171khẩu mà không ai nói được tiếng mẹ đẻ
- Đối với người dân ở bản Thượng Kim: Thượng Kim là vùng đất rộng
và bằng phẳng Người dân Sơn Giang đã lên khai phá vùng đất này từ đầunhững năm 1930 Năm 1935 một nhóm người gồm 6 hộ với 18 khẩu từ PhủQuỳ - Nghệ An di cư về đây [1] Họ phát nương làm rẫy, làm nhà dựng cửa
và sống xen ghép với người Kinh Đến nay đã có 35 hộ với 213 khẩu và ngônngữ chỉ có tiếng Kinh
Trong quá trình cộng cư với người Kinh, sự giao lưu về kinh tế đã ảnhhưởng mạnh mẽ đến sự giao lưu về văn hoá, nó ảnh hưởng lớn đến mức phá
vỡ những nét cổ truyền và phát triển ngang bằng với người Việt sở tại Hiệnnay, không còn ai nói được tiếng mẹ đẻ và các sắc thái văn hoá riêng của cácnhóm người Lào, Mường, Mán cũng không tìm thấy
Trang 22* Nhóm Mã Liềng
Năm 1966, khi đi tuần tra bộ đội biên phòng đã phát hiện ra người MãLiềng Hồi đó người Mã Liềng sống ở Cửa Ba - Bản Quạt giáp ranh với tỉnhQuảng Bình sát ngay biên giới Việt - Lào Họ sống trong các lán tạm đượcche bằng lá rừng hoặc sống trong các hang đá, hốc cây Về sau bộ đội biênphòng kết hợp với chính quyền huyện Hương Khê đưa về định cư ở bảnGiàng II xã Hương Vĩnh Quá trình sống chung với người ở Giàng có đến gần
10 năm, năm 1976 người Mã Liềng được đưa về định cư ở bản Rào Tre ngàynay [18]
Trong bảng danh mục các dân tộc ở Việt nam, người Mã Liềng cùngvới các nhóm Sách, Rục, Mày, Arem hợp thành dân tộc Chứt, địa bàn cư trúchỉ có ở Hà Tĩnh và Quảng Bình [12],[14] Ở Hà Tĩnh chỉ có mỗi nhóm MãLiềng Mã Liềng là một trong những tộc người lạc hậu và kém phát triển nhấthiện nay Tuy nhiên cho đến những năm gần đây cả giới nghiên cứu dân tộchọc cũng như dư luận xã hội chưa biết hoặc chưa quan tâm gì nhiều về người
Mã Liềng Do chỗ coi tộc người này là một bộ phận của dân tộc Chứt, người
ta luôn tưởng rằng những giới thiệu về người Chứt dựa vào hiểu viết về nhómSách - Rục cũng đã là những hiểu biết về nhóm người này [22] Trong quátrình chỉ đạo thực tiễn cũng như qua những lần đi nghiên cứu điền dã, chúngtôi có cảm nhận rằng giữa các nhóm người khác nhau được gộp vào dân tộcChứt, người Mã Liềng cũng có những nét riêng của họ Chúng tôi sẽ trình bàyvấn đề này một cách kỹ hơn trong những phần sau
* Nhóm người ở bản Giàng II
Người Khạ Phoọng có nguồn gốc từ bản Ma Ca, bản Pụng bên Lào di
cư đến bản Giàng II cách đây từ rất lâu Bằng chứng là hiện nay trong bản cónhững cây trồng cổ thụ có hàng trăm năm tuổi
Chúng tôi đề nghị coi người ở Giàng II cũng là người Mã Liềng vì
Trang 23những lý do chính sau đây.
- “Khạ Phoọng” là tên người Lào đặt cho người ở Giàng với nghĩa xem
họ là một tộc người ngoài người Lào Còn tên gọi là “Cọi” do người Việt ởHương Khê gọi nhóm người này với nghĩa họ là cư dân sống dọc bờ cõi.Ngay một điểm ở Giàng mà cũng có tới hai tên gọi “Khạ Phoọng” hay “Cọi”khác nhau, thì làm sao chúng ta cho rằng giữa người ở Giàng và người RàoTre có thể cùng một tên gọi được
- Sau khi phát hiện được người Mã Liềng, người ta đã đưa người MãLiềng lên sống gần với người ở Giàng Thời gian hai nhóm này sống chung cóđến gần mười năm nhưng rồi họ không “hợp” được với nhau mà phải trở lạinơi cư trú mới như hiện nay Tuy nhiên, việc họ ít có quan hệ với nhau haykhông “hợp” nhau không nói lên một điều gì để chứng minh họ không cùng làmột dân tộc cả Sở dĩ người ở Giàng hay liên hệ với người Ma Ca, bản Pụngbên Lào vì các bản này vừa là đồng tộc, vừa có trình độ văn hoá và văn minhtương tự nhau Còn những người ở Giàng và những người ở Rào Tre thì vấn
đề không như vậy Về cơ bản các tập tục như để tang người chết bố trí trongmột ngôi nhà, việc kiêng kỵ của người phụ nữ khi đẻ giữa hai nhóm ngườinày là như nhau, nhưng họ không cùng một trình độ văn minh Trong cuộcsống người ở Giàng hướng tới sự ổn định của việc định cư hơn Sự chênh lệchnày khiến cho người ở Giàng không muốn nhập người Rào Tre là "cùng cấp"với mình, còn người Rào Tre thì có ý thức coi mình cũng chẳng khác gì người
ở Giàng Sự khác biệt giữa hai nhóm này âu cũng là sự khác nhau như kiểungười Việt Hà nội và người Việt ở một làng hẻo lánh nào đó Vì thế nếungười ở Giàng có tâm lý không muốn “ở cùng hàng” với người Rào Tre cũng
là một tâm lý bình thường Nhưng điều đó hoàn toàn không thể là cơ sở đểchúng ta coi giữa người ở Giàng và ở Rào Tre không cùng một dân tộc nếunhững điều khác thể hiện khả năng đó
Trang 24- Điều thứ ba khiến chúng tôi tin người ở Giàng cũng là “một địaphương” của người Mã Liềng là vấn đề ngôn ngữ Chúng ta có thể thấy điều
đó qua một số ví dụ sau đây:
2.6 Ngôn ngữ của Người mã Liềng
Những ví dụ trên đây tuy không nhiều nhưng có một vai trò quan trọng
Bởi vì chúng là những từ thuộc vào lớp từ cơ bản nhất của một ngôn ngữ Sự
tương ứng đều đặn của những từ thuộc lớp từ cơ bản ấy thể hiện một sự tươngứng của một ngôn ngữ thống nhất Nói một cách khác tiếng Rào Tre và tiếngGiàng mặc dù có sự khác nhau nhất định nhưng vẫn là một bộ phận của mộtngôn ngữ thống nhất [8]
Từ những lý do đã nêu trên, chúng tôi thấy rằng hợp lý hơn cả là coingười ở bản Giàng cũng là một “địa phương” hay một “bộ phận” của người
Mã Liềng Và tất nhiên, bộ phận này có nét “văn minh” hơn so với các địaphương khác của tộc người này
Công việc xác minh thành phần dân tộc là một vấn đề phức tạp, nó vừa
là vấn đề khoa học, vừa là vấn đề chính trị, tâm lý, tình cảm dân tộc [14] Vìthế, không nên chủ quan, áp đặt, cũng như không nên chỉ dựa vào mặt này,phủ nhận mặt khác mà phải xem xét đầy đủ tất cả các mặt Từ sự phân tích
Trang 25như trên, với những ghi nhận bước đầu chúng tôi đề nghị coi dân tộc thiểu số
ở vùng núi Hà Tĩnh chỉ có nhóm Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt đang cư trúmang tính tộc người Bộ phận khác sống xen ghép với người Kinh, hầu nhưkhông còn tiếng nói, không còn giữ được bản sắc văn hoá riêng, thậm chíkhông còn nhớ tên gọi của tộc người mình nữa; về cơ bản họ đã hoà đồng vàodân tộc Kinh cùng chung sống Và từ phần này trở đi khi đề cập đến dân tộcthiểu số ở vùng núi Hà Tĩnh chúng tôi chỉ nói đến nhóm tộc người này ở haibản Rào Tre - Hương Liên và Giàng II - Hương Vĩnh huyện Hương khê
2.2.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu
số trong nước và quốc tế
* Một số kinh nghiệm quốc tế
Ở phần lớn các nước công nghiệp hoá và đang phát triển, các nhóm dântộc thiểu số nghèo hơn dân tộc đa số, tuy mức độ có khác nhau Hai nhómchính sách được sử dụng rộng rãi để giúp nhóm dân tộc thiểu số thu hẹpchênh lệch về hiệu quả thu nhập từ các nhóm nguồn lực là:
+ Luật tạo cơ hội ngang bằng, nhằm tránh trường hợp người có khảnăng chuyên môn và kinh nghiệm tương đương lại phải nhận mức lương thấphơn, có cơ hội tiếp cận làm việc và các dịch vụ của Chính phủ ít hơn xuấtphát từ dân tộc, giới tính, tôn giáo hoặc xu hướng tình dục của họ Ví dụ nhưsau cách mạng năm 1959 ở Cuba, luật tạo cơ hội ngang bằng đã được thựchiện song song với các chính sách kinh tế và xã hội toàn diện, kết quả là đếnthập niên 80 đã gần như xoá bỏ chênh lệch mức sống giữa người da trắng và
da đen Gần đây hơn, Hiến pháp 1998 của E-cu-a-đo đã đảm bảo quyền đấtđai công của người dân bản địa, quyền có giáo dục bằng ngôn ngữ người bảnđịa và quyền được tham gia quyết định việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Dù Luật tạo cơ hội ngang bằng được áp dụng rộng rãi ở các nước đã nêu, cácnước đang phát triển và công nghiệp hoá, nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy
Trang 26chênh lệch về lương và mức sống vẫn còn phổ biến.
+ Các chương trình hành động tích cực, nhằm giành quyền ưu tiên chothành viên của các nhóm chịu thiệt thòi Ví dụ như ở Ấn Độ, từ năm 1950 một
số suất học cao học, việc làm trong Chính phủ và ghế trong thượng nghị việnđược giành riêng cho thành viên thuộc một số bộ tộc Tương tự, chính sáchkinh tế mới của Malaysia năm 1971 cũng đã đặt ra chỉ tiêu định lượng về chủ
sở hữu công ty của người Mã Lai bản địa và việc làm của họ trong các ngành.Các chương trình hành động tích cực cũng được sử dụng tại Châu Phi và Mỹsong thường gây tranh cãi và bị chỉ trích là đã trợ giúp cho các thành viên khágiả của một số nhóm dân tộc được hỗ trợ, gây ra sự bất bình từ phía các nhómdân tộc khác và ảnh hưởng đến sự khuyến khích tài năng và đóng góp thựcsự
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy rằng thực hiện phối kết hợp cácchương trình hành động ở một số ngành là cần thiết để giảm thiệt thòi cho cácdân tộc thiểu số Các tổ chức, diễn đàn và tổ chức Phi Chính phủ hoạt động vìquyền lợi của nhóm dân tộc thiểu số hoặc do những người thuộc nhóm dântộc thiểu số trực tiếp thực hiện có vai trò quan trọng trong thực hiện luật vàxoá bỏ rào cản văn hoá và tư tưởng giữa các nhóm dân tộc Ví dụ như Băng-la-desh và Indonesia, Philippine và Thái Lan, các tổ chức của người dân bảnđịa đã tạo điều kiện cho dân tộc thiểu số có tiếng nói có ảnh hưởng hơn Cóthể nói các tổ chức này giúp cải thiện cả nguồn lực cũng như hiệu quả thunhập từ các nguồn lực của dân tộc thiểu số
* Kinh nghiệm trong nước
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, năm 1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay
Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu ViệtNam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng
Trang 27nhau, no đói giúp nhau” [20].
Đã hơn 30 năm kể từ ngày thống nhất đất nước và hơn 20 năm kể từkhi thực hiện công cuộc Đổi mới kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh chóng đãđóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo và cải thiện mức sống củangười dân trên nhiều phương diện Tuy nhiên, thực tế cho thấy tác động củaquá trình tăng trưởng kinh tế đến mức sống của các nhóm dân tộc là khôngđồng đều Chi tiêu của người Kinh tăng lên nhanh hơn so với mức trung bình
ở nông thôn, còn chi tiêu của các nhóm dân tộc thiểu số thấp hơn và tăngchậm hơn Chênh lệch chi tiêu giữa người Kinh và dân tộc thiểu số là đáng kể
và khoảng cách này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Mộtphần của chênh lệch này là do nguồn lực hạn chế của đồng bào hoặc do cácđặc tính của xã nơi họ sinh sống Điều này cho thấy các giải pháp cải thiện cơ
sở hạ tầng cấp xã và cải thiện nguồn lực của đồng bào dân tộc thiểu số dùquan trọng nhưng sẽ không đủ để xoá bỏ chênh lệch chi tiêu nói trên
Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số, có rấtnhiều chính sách và chương trình được thiết kế và thực hiện nhằm hố trợ cho
sự phát triển của đồng bào Những chương trình và chính sách này chú trọnggiải quyết nhiều vấn đề kinh tế-xã hội có liên quan đến sự phát triển của dântộc thiểu số và hướng vào thực hiện nhiều mục tiêu Một số chương trình (nhưhợp phần cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình 135 và 143, hợp phần nước thuộcChương trình 134) tập trung vào xây dựng hạ tầng cơ sở cơ bản ở các vùngđặc biệt khó khăn Nhà nước cũng áp dụng trợ cấp về giá và cước vận chuyểncho các xã khó khăn và ở vùng xa Các chương trình và chính sách khác nhưhợp phần khuyến nông thuộc Chương trình 143, hợp phần đào tạo thuộcChương trình 135, miễn giảm viện phí và nhà ở thuộc Chương trình 134) đã
hỗ trợ kỹ thuật canh tác, tay nghề, chăm sóc sức khoẻ, phổ cập kiến thức vànhà ở cho các hộ thuộc dân tộc thiểu số hoặc hộ nghèo Loại chương trình thứ
Trang 283, điển hình là Chương trình hỗ trợ Các hộ dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn và một số sáng kiến ở các tỉnh nhằm hỗ trợ cho các nhóm dântộc thiểu số, thường là các dân tộc có ít người và mức sống rất thấp Theo thờigian, do tăng trưởng kinh tế nhìn chung giúp nâng cao mức sống của ngườidân, dường như đã có sự chuyển hướng từ hỗ trợ theo địa bàn sang các chínhsách và chương trình được định hướng trực tiếp vào các nhóm đồng bào dântộc thiểu số và các nhóm người nghèo khác Bên cạnh việc hỗ trợ các xãnghèo ở vùng xa, còn tăng cường các giải pháp hỗ trợ trực tiếp nhóm đồngbào dân tộc đặc biệt khó khăn Cũng cần có các chính sách và chương trìnhnâng cao hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực của đồng bào các dân tộc thiểu
số Chênh lệch hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực giữa đồng bào Kinh vàđồng bào dân tộc thiểu số cho thấy những khó khăn liên quan đến văn hoá,ngôn ngữ, địa lý và thị trường nên đồng bào các dân tộc thiểu số đã không tậndụng hết được những cơ hội mà sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của nềnkinh tế mang lại Do vậy các chính sách giúp tăng hiệu quả thu nhập từ cácnguồn lực của đồng bào dân tộc thiểu số có vai trò càng ngày càng quantrọng Một số ưu tiên trước mắt có thể là:
+ Mở rộng các chương trình khuyến nông, dịch vụ thị trường tập trungvào khuyến khích ở rộng và nâng cao hiệu quả canh tác tại các vùng trung du
Trang 29sự tham gia và tận dụng cơ hội từ tăng trưởng kinh tế của đồng bào dân tộctrở nên hết sức cấp thiết Và các giải pháp này chắc chắn sẽ giúp thực hiệnđược ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công bằng và tương hỗ lẫn nhaugiữa các dân tộc anh em.
Trang 303 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên và những vấn đề về môi trương sinh thái
Vùng núi Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 417.519 ha và dân số 554.076người [17], là vùng đất nằm tập trung ở phía Tây của tỉnh, có dãy Hoành Sơngiăng ngang ở phía Nam, núi Trường Sơn vây kín ở phía Tây, vùng đồi bánsơn địa khép lại ở phía Đông - Bắc Vùng núi Hà Tĩnh có vị trí hết sức quantrọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng Nơi đây chứa đựng nhiều tiềm năng
về kinh tế rừng, là nơi có nhiều núi cao, rừng rậm, thác nước nổi tiếng, nhiềuđỉnh núi cao tiêu biểu như: Rào Cọ 2.235 m, Ba Mụ 1.367 m, Giăng Màn 931
m, là nơi có đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đi qua và là nơi căn cứđịa của nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta
Vùng núi Hà Tĩnh bao gồm 4 huyện là Hương Khê, Hương Sơn, KỳAnh, Vũ Quang và thị xã Hồng Lĩnh, ngoài ra 5 huyện khác tuy không phải làhuyện miền núi nhưng có xã miền núi và tổng số xã miền núi của Hà Tĩnh là
126 xã Trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ độ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’ độkinh Đông Có thể nói vùng núi Hà Tĩnh chia ra 2 phần rõ rệt Một phần nằmtập trung dọc theo triền Đông của dãy Trường Sơn Địa hình hẹp và dốc, phíaBắc giáp huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên của tỉnh Nghệ An, phía Tây giápnước bạn Lào và phía Nam giáp huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch của tỉnhQuảng Bình Núi ở đây nghiêng dần theo hướng Tây - Đông và do đó độ dốckhông đều nhau Các dãy núi nối liền trùng điệp tạo thành hình vòng cung cómột đầu nhô ra sát biển (dãy Hoành Sơn) Phía Đông là một phần không lớnbao gồm nhiều ngọn núi thoải trải dài, giữa chúng có khi gián đoạn bởi cáccánh đồng và làng mạc hoặc có những ngọn núi độc lập lọt thỏm giữa cáccánh đồng hoặc kề ngay sát biển nằm rải rác giữa các huyện Nghi Xuân,
Trang 31Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên.
Như vậy có thể hình dung địa hình miền núi Hà Tĩnh là phía Tây là núicao kế tiếp là đồi bát úp
Về mặt cấu tạo địa chất, núi ở đây là một khối đá biến chất rất cổ, có từtrước kỷ đề vôn mà đặc điểm đặc biệt là có rất nhiều mạch granít cắt ngang
Những khối đá granít bị đứt gãy đã làm cho đất feralít trào ra bao phủmột vùng rộng lớn
Mặt khác, do sự chuyển biến phức tạp của quá trình trầm tích và phuntrào đá vôi qua các thời kỳ kiến tạo địa tầng, nên địa hình ở đây không đều, cóvùng núi nhấp nhô trùng điệp, có vùng đất trầm tích tạo thành những thunglũng tương đối bằng phẳng có núi đứng riêng lẻ xung quanh
Cũng do các cuộc kiến tạo địa tầng phức tạp nên đất đai ở đây có nhiềuloại khác nhau thích nghi với từng loại cây trồng có giá trị như đất Feralítvàng đỏ phát triển trên đá granít Loại đất này chiếm một diện tích rất lớnthích nghi với các loại cây lâu năm như: bưởi, cam, chè
Ở đây còn có đất nâu thẩm phát triển trên đá Paragnai hay đá phiếnthạch, loại đất này thường thấy ở các sườn đồi thích hợp cho việc trồng hoamàu như: khoai, sắn, lạc Ngoài ra ở đây còn có loại đất thích hợp cho việcphát triển lúa nước, ngô, mía Đó là đất dốc tụ và đất phù sa cổ Đất dốc tụ
do quá trình trầm tích của đá vôi tạo thành và thường là những khoảnh ruộngbậc thang ở vùng các thung lũng, còn đất phù sa thì nằm dọc theo triền cáccon sông, suối lớn Và do đặc trưng của hệ thống sông, suối đầu nguồn, nênđất phù sa ở đây được chia làm 3 loại: Phù sa cổ, phù sa Feralít hoá trồng lúa,phù sa được bồi đắp hàng năm
Phù sa cổ là loại đất được bồi đắp từ thời xa xưa, ngày nay do dòngchảy thu hẹp, đất bị nâng lên bậc thềm cao không được bồi đắp Loại đất nàytrồng được các loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày như đậu, lạc,
Trang 32mía, Đất phù sa Feralít hoá cũng là loại đất không được bồi đắp hàng năm,nhưng ở bậc thấp hơn phù sa cổ nên có thể đắp đập, be bờ làm lúa Tuy vậyloại đất này thường bị chua phèn nên năng suất lúa không cao, còn loại đấtphù sa được bồi đắp hàng năm rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước Nhưng
do tác động của hệ thống sông, suối đầu nguồn nên loại đất này ở vùng núi HàTĩnh thường không nhiều và chỉ tập trung ở một vài vùng núi có con sông lớnchảy qua như Ngàn sâu, Ngàn phố
Như vậy, đất trồng ở miền núi Hà Tĩnh có nhiều loại, nhiều tầng canhtác cho phép chúng ta phát triển một nền nông nghiệp toàn diện gồm nhiềuloại cây trồng và vật nuôi
Ngoài ra, đất trồng và địa hình ở đây còn là điều kiện thuận lợi chocác hệ động thực vật phát triển phong phú và đa dạng cả về số lượng vàchủng loại
Với 180.000 ha chiếm gần 40% toàn bộ diện tích tự nhiên, rừng HàTĩnh là một kho tài nguyên phong phú về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ quýnhư lim xanh, sến mật, đinh gõ, pơ mu, lim, táu, dổi, chò, kiền kiền Ngoài
gỗ quý rừng ở đây còn có nhiều loại tre, nứa, song, mây đó là nguyên liệu
để phát triển tiểu thủ công nghiệp và nhiều loại cây dược liệu có giá trị như:
sa nhân, sến, trầm, Rừng trồng ở Hương Khê còn có những đồi thông bátngát, gỗ và nhựa thông là nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến
Bên cạnh đó đồng cỏ ở đây cũng là một nguồn lợi thiên nhiên quý giáxen lẫn giữa sông, suối, núi rừng, trên các sườn đồi là những bãi cỏ xanh tươi.Nguồn lợi thiên nhiên này là điều kiện quan trọng để phát triển chăn nuôi đạigia súc
Núi rừng Hà Tĩnh còn là nơi sinh sống của hàng trăm loài chim, thúnhư hươu, nai, lợn rừng, chồn, cáo một vài khu rừng già còn tồn tại nhiềuđộng vật như voi, hổ, báo, vượn đen, dê sừng thẳng, gấu, sơn dương, sao la,
Trang 33công, mà đặc biệt là khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang; nơi lưu giữ nhiềuđộng vật, thực vật quý hiếm có giá trị cao cho du lịch và nghiên cứu khoahọc.
Nhìn chung, thảm thực vật và các loại động vật có điều kiện phát triểnthuận lợi Rừng Hà Tĩnh nhiều tầng, nhiều lớp chứa đựng một tiềm năng kinh
tế lớn không chỉ trên lĩnh vực khai thác gỗ và lâm sản, dược liệu, hươngliệu mà còn là môi trường lý tưởng cho nhiều loại thú quý sinh trưởng
Vùng núi Hà Tĩnh có một hệ thống sông suối dày đặc Một vài consông lớn và các phụ lưu bắt nguồn từ vùng này đổ ra biển Đông như NgànSâu, Ngàn phố, sông Tiêm, sông Rác đã chia cắt địa hình ở đây đến mức cứvài chục km có nơi vài km đã thấy xuất hiện những sông, suối khá lớn
Sông ở đây có hiện tượng đảo lòng khá mạnh bắt nguồn từ vùngthượng lưu có độ cao (trên 800 m) sau đó thấp dần đến vùng hạ lưu và đổ rabiển Đông Vì thế chúng có độ dốc lớn (từ 10 - 300) lòng sông cạn và hẹp.Lưu lượng nước của các sông suối được thay đổi theo mùa, mùa nắng mựcnước những dòng sông, con suối thường thấp thuận tiện cho việc đi lại củacon người, nhưng gây trở ngại lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp, cũngnhư đến đời sống hàng ngày của đồng bào Vào mùa mưa lưu lượng nước rấtlớn, từ hàng trăm con suối lớn nhỏ nước chảy xuống các lòng sông đổ ra biển
cả cuốn phăng cây cỏ, bào mòn các sườn đồi Mặt khác do lưu lượng của cácdòng chảy lớn nên việc đi lại và các hoạt động bình thường khác của đồngbào gặp nhiều khó khăn
Về khí hậu, miền núi Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa,ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miềnNam Với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở miền Nam và một mùaĐông giá lạnh của miền Bắc Hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa có nhiềubão, lụt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, lượng mưa trung bình cao trên
Trang 342.000 mm, do vậy lũ thường xuyên xẩy ra Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 7,đây là mùa nắng gắt, có gió Tây (thổi từ Lào) nóng, lượng bốc hơi lớn gâyhạn hán nghiêm trọng.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,30 Ở thời điểm cao nhất nhiệt độlên đến trên 400, thời điểm thấp nhất nhiệt độ xuống dưới 100
Về tài nguyên khoáng sản ở miền núi Hà Tĩnh có thể kể đến một trữlượng lớn: Mỏ thiếc Sơn Kim (Hương Sơn), mỏ than (Hương Khê), mỏ vàng(Kỳ Anh - Hương Khê), đá các loại, cát sỏi và các vật liệu xây dựng kháccũng có trữ lượng khá cao Ngoài ra còn có nguồn suối nước nóng
Nhìn chung điều kiện tự nhiên vùng núi Hà Tĩnh rất phong phú và đadạng Với địa hình chia cắt nhiều tầng, đất trồng nhiều loại với chế độ khí hậutương đối ổn định, vùng đất này có điều kiện phát triển nhiều loại giống câytrồng và vật nuôi Thảm thực vật và các loại động vật phong phú là nhữngtiền đề có tính quyết định đến việc ổn định và phát triển nền kinh tế - văn hoá
xã hội của đồng bào các dân tộc trong vùng
Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên ở đây không kém phần khắc nghiệt khíhậu nhiệt đới lắm nắng, nhiều mưa, gây nên hạn hán kéo dài về mùa khô và lũlụt về mùa mưa; thêm vào đó chế độ gió Lào và gió mùa Đông - Bắc trải đềuhai mùa trong năm Đặc biệt địa hình hiểm trở, sông suối dày đặc những điều
đó đã gây không ít khó khăn trong việc phát triển sản xuất, ổn định đời sống
và quá trình giao lưu đi lại của đồng bào
3.1.2 Phát triển dân số và phân bố dân cư
Năm 1966, nhóm người Mã Liềng ở Cửa Ba - Bản Quạt có 7 hộ với
30 người Khi đưa về định cư ở bản Giàng IIơax Hương Vĩnh đưa tổng sốngười ở Bản này lên 70 người với 17 hộ Năm 1976 nhóm người ở Cửa Ba -Bản Quạt trở về bản Rào Tre có 10 hộ với 36 người; Nhóm ở lại bản Giàng có
12 hộ với 46 người Như vậy, sau 10 năm thực hiện định canh - định cư,
Trang 35người Mã Liềng tăng được 12 nhân khẩu, bình quân mỗi năm tăng 1,2 người.Theo số liệu của Ban miền núi - Di dân Hà Tĩnh năm 1995, người Mã Liềng
có 32 hộ với 124 người Trong đó bản Rào Tre có 22 hộ với 94 người và bảnGiàng II có 9 hộ với 30 người Cũng theo số liệu của Ban miền núi - Di dânnăm 1997 người Mã Liềng có 17 hộ với 93 người ở bản Rào Tre và 9 hộ với
33 người ở bản Giàng; Năm 2000 có 30 hộ với 127 người trong đó ở bản RàoTre có 22 hộ với 95 người và bản Giàng có 8 hộ với 32 người Hiện nayngười Mã Liềng có 41 hộ với 149 khẩu phân bố ở bản Rào Tre 30 hộ với 118người và ở bản Giàng 11 hộ với 31 người Số liệu về dân số của người MãLiềng qua các năm được phản ánh ở bảng 7
Bảng 3.1 Số liệu về dân số của người Mã Liềng (1966-2010)
(người) Ghi chú ( xuất xứ tài liệu )
1 1966 70 Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Hiến - Cán bộ
khuyến nông khuyến lâm thời kỳ đó
2 1976 82 Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Hiến - Cán bộ
khuyến nông khuyến lâm thời kỳ đó
3 1995 124 Ban miền núi - Di dân và Cục thống kê Hà Tĩnh
4 1997 126 Ban miền núi - Di dân Hà Tĩnh
5 2000 127 Ban miền núi - Di dân Hà Tĩnh
6 2010 149 Điều tra thực tế
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009)
Nếu biểu thị các số liệu trên theo đồ thị ta thấy dân số người Mã Liềngtăng theo thời gian
Trang 36Dân số người Mã Liềng
149
0 20 40 60 80 100
Đồ thị 3.1 Dân số người Mã Liềng qua các năm
Một số ý kiến dựa vào số liệu thống kê tỷ lệ trẻ sơ sinh bị chết hàngnăm là 30% đã đưa ra kết luận rằng người Mã Liềng đang giảm dân số vàđang đứng trước nguy cơ diệt vong Tuy nhiên dù tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh caonhưng tỷ lệ chết trong tổng số dân cư không cao hơn tỷ lệ tăng tự nhiên vàtăng cơ học Do đó không thể có quá trình suy giảm dân số ở tộc người này
Bảng 3.2 Bình quân nhân khẩu trong một hộ
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Nhìn vào biểu ta thấy bình quân số nhân khẩu bình quân hộ của người
Mã Liềng tương đối thấp Điều đó không phải đồng bào thực hiện sinh đẻ có
kế hoạch mà do đời sống kinh tế quá nghèo nàn, tỷ lệ hữu sinh vô dưỡng cao,tuổi thọ trung bình thấp Vì thế về cơ cấu lứa tuổi, rõ ràng người Mã Liềng
Trang 37thuộc tộc người có dân số trẻ, số người từ 0 đến 14 tuổi chiếm 48,76% nhưng
số người từ 60 tuổi trở lên chỉ chiếm 2,48%
Tộc người nghèo đói này có sự phân bố dân cư lẻ tẻ, chia cắt Với dân
số gần 150 người, có mặt tại 2 bản thuộc hai xã miền núi cao, địa hình hiểmtrở, đi lại khó khăn Điều đó vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của một đờisống kinh tế - văn hoá - xã hội quá thấp kém của tộc Mã Liềng Đặc biệt cácđiểm tụ cư của người Mã Liềng quá nhỏ, nếu tính bình quân trong một hộ là4,8 khẩu thì trung bình một điểm tụ cư (một bản) của tộc người này chỉ có 20
hộ với 75 người
Số lượng này còn giảm sút, bởi vì hiện nay một số hộ ở Bản Giàng vẫntiếp tục bỏ bản ra đi với người đồng tộc ở bản Ma Ca, Bản Pụng bên Lào.Hơn nữa do đặc điểm cư trú, người Mã Liềng sống biệt lập trong các vùng núicao, bản của họ xa nơi cư trú của người Kinh nên không có trường hợp hônnhân ngoại tộc Do đó khi đến tuổi lập gia đình, người Mã Liềng phải đi cácbản đồng tộc ở Quảng Bình hoặc ở Lào tìm chồng, tìm vợ và không ít trườnghợp họ không về bản cũ Điều này góp phần làm cho dân số trong những nămgần đây tương đối ổn định
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
- Đề tài tập trung điều tra, khảo sát tại 8 thôn (bản) thuộc 7 xã của 3huyện miền núi Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang nơi có đồng bào dântộc thiểu số cư trú (theo sự tự nhận của đồng bào)
- Chọn 308 hộ mà lâu nay đồng bào tự nhận mình là người Mã Liềng,Cọi (Khạ Phoọng), Lào, Mường, Mán
3.2.2 Thu thập tài liệu
- Thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các báo
Trang 38cáo của Phòng Dân tộc (Văn phòng UBND tỉnh), Ban định canh-định cư tỉnh
Hà Tĩnh, Uỷ ban nhân dân các huyện miền núi, các sách báo, công trìnhnghiên cứu và số liệu đã công bố
- Thu thập tài liệu sơ cấp: Tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua điềutra, nghiên cứu điền dã, phỏng vấn các đối tượng về các thông tin có liên quanđến nội dung nghiên cứu của đề tài
Cách thu thập số liệu sơ cấp được tiến hành như sau:
+ Nghiên cứu điền dã; phỏng vấn cán bộ các Sở, ban ngành cấp tỉnh,cấp huyện, cấp xã, người dân; kết quả thực hiện các chương trình, dự án đầu
tư giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số,
+ Điều tra: Lập phiếu điều tra đến các hộ đồng bào dân tộc thiểu sốtheo từng nội dung nghiên cứu: sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm văn hóa, cácyếu tố xã hội,
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số
tương đối và số bình quân trong thống kê, ngoài ra còn sử dụng các thước đophương sai, độ lệch chuẩn để phân tích các kết quả nghiên cứu phản ánh qui
mô, tốc độ phát triển, kết quả sản xuất của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này dùng để so sánh các chỉ tiêu
thể hiện qui mô, kết quả và hiệu quả giữa các nhóm hộ, các tộc người hoặccùng tộc người nhưng ở các địa phương khác nhau
Trang 39- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của cán bộ các Sở, Ban
ngành cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và người dân nhằm đề xuất giải pháp pháttriển kinh tế-văn hóa-xã hội cho các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi
Hà Tĩnh thời gian tới
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
* Chỉ tiêu kinh tế:
- Cơ cấu thu nhập của điểm tụ cư (%)
- Cơ cấu chi tiêu của điểm tụ cư (%)
* Chỉ tiêu xã hội:
- Y tế: Tỉ lệ người mắc bệnh tật (%)
- Giáo dục: Tỉ lệ học sinh đến trường (%)
- Tỉ lệ tảo hôn (%)
Trang 404 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
4.1.1 Các dạng hình phát triển kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số
Cũng như các nhóm khác của dân tộc Chứt, người Mã Liềng vốn lànhững cư dân nông nghiệp, nhưng do bị phân tán thành từng nhóm nhỏ, sốngtrong điều kiện địa lý gần như tách biệt nên sinh hoạt kinh tế của từng nhómcũng khác nhau ít nhiều
* Người Mã Liềng ở bản Rào Tre
Rào tre là tên gọi của một con suối trước đây nhóm người này đã từng
cư trú Mặc dù di chuyển nơi ở, họ vẫn nhận mình là Rào tre với nghĩa "Tôi làngười gốc Rào tre" nên khi chuyển về Hương Liên, người ta lấy luôn tên này
để đặt tên cho bản
Cho đến nay phương thức sản xuất của người Mã Liềng ở bản Rào Trechủ yếu vẫn là săn bắt hái lượm là chính, cuộc sống của họ phụ thuộc rất lớnvào nguồn tài nguyên thiên nhiên Sinh ra, lớn lên đã gắn bó với rừng nênnghề rừng sơ đẳng nhất đã ăn sâu trong tiềm thức và choán hết suy nghĩ của
họ Họ sống tự do, tuỳ tiện thích lang thang trong rừng từ sáng sớm đến chiềutối săn bắt, hái lượm rau, củ, quả rừng hơn là làm rẫy Tuy nhiên rẫy cũnggiúp họ có cái để ăn trong 2 - 3 tháng trong năm Rẫy cách nhà khoảng 2 - 3
km, diện tích rẫy bình quân mỗi hộ chừng 1.000 - 1.500 m2 Rẫy của người
Mã Liềng như vườn của người Kinh, họ trồng nhiều loại cây, ngoài sắn (mỳ)
là cây trồng chủ yếu còn có khoai, môn, chuối, ớt,
Kể từ ngày thực hiện định canh - định cư đặc biệt là sau những nămthực hiện chương trình hỗ trợ đồng bào đặc biệt khó khăn người dân bắt đầulàm quen với kiểu canh tác lúa nước, diện tích đất có khả năng trồng lúa 2 vụchừng 250 - 300 m2/người Có lẽ vì quá “mới mẻ” nên người dân chưa ý thức