NỘI DUNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG BỒI DƢỠNG
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC TRUNG TÂM BỒI DƢỠNG CHÍNH TRỊ 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Lý luận chính trị 1.1.1.1 Lý luận chính trị Khái niệm “Lý luận”:
Hiện nay, khái niệm lý luận vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn do có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau Lý luận là một phạm trù rộng lớn, tồn tại và phát triển song song cùng sự tiến bộ của xã hội loài người Vì vậy, hiểu biết về khái niệm lý luận ngày càng được mở rộng và làm rõ hơn theo thời gian.
Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy qua quá trình lịch sử, đóng vai trò là hệ thống tư duy chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức.
Lý luận là hệ thống các tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn và có tác dụng chỉ đạo thực tiễn Đây là những kiến thức tổng hợp và hệ thống trong một lĩnh vực nhất định, đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và phát triển hoạt động thực tiễn.
Trong cuốn Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị do Ban Tuyên giáo
Lý luận là các khái niệm, phạm trù, quy luật được khái quát hóa từ hoạt động thực tiễn của con người, phản ánh kết quả nhận thức chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy Theo TW năm 2008, lý luận bao gồm những kết quả này, giúp hiểu rõ hơn về các quy luật và phạm trù trong quá trình phát triển xã hội Đoàn Thế Hanh trong bài viết về tăng cường nhận thức lý luận chính trị nhấn mạnh rằng lý luận là hệ thống những tri thức đã được tổng hợp và hệ thống hóa, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên theo tinh thần nghị quyết TW 5 khóa X.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƢỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC TRUNG TÂM BỒI DƢỠNG CHÍNH TRỊ……………………………………………………… 08 1.1 Một số khái niệm
THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG BỒI DƢỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA CÁC TRUNG TÂM BỒI DƢỠNG CHÍNH TRỊ Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội và các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở thành phố Cần Thơ
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội và các trung tâm bồi dƣỡng chính trị ở thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ, trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên 1.401 km² và nằm bên bờ Tây sông Hậu, cách biển Đông 75 km Cần Thơ cách Hà Nội 1.877 km về phía Bắc và cách TP Hồ Chí Minh 169 km về phía Bắc theo đường bộ Thành phố này giáp các tỉnh An Giang, Đồng Tháp về phía Bắc; Hậu Giang về phía Nam; Kiên Giang về phía Tây; và Vĩnh Long, Đồng Tháp về phía Đông, vị trí địa lý thuận lợi giúp phát triển kinh tế và du lịch.
Cần Thơ nằm trong vùng đất phù sa màu mỡ của sông Mê Kông, có hệ thống sông ngòi dày đặc, nổi bật là sông Hậu với chiều dài 65 km chảy qua thành phố Hệ thống kênh rạch phong phú giúp duy trì nguồn nước ngọt quanh năm, thuận lợi cho nông nghiệp và thủy lợi Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp đa dạng và phát triển kinh tế địa phương.
Cần Thơ là trung tâm giao thông quan trọng với hệ thống đường bộ, đường thủy và hàng không phát triển đồng bộ Đường bộ, với quốc lộ 1A dài 40 km chạy qua thành phố, là tuyến huyết mạch kết nối Cần Thơ với thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh trong vùng và cả nước, bên cạnh đó quốc lộ 91 dài 30 km nối các cảng, sân bay Trà Nóc và khu công nghiệp Trà Nóc với quốc lộ 1A Đặc biệt, cầu Cần Thơ đã hoàn thành, tạo liên kết thuận lợi giữa Cần Thơ và các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Về đường thủy, vị trí bên bờ sông Hậu giúp Cần Thơ trở thành trung tâm giao thông thủy quan trọng, dễ dàng tiếp cận các tuyến vận tải lớn trên sông Mê-kông chảy qua nhiều quốc gia, tạo điều kiện vận chuyển hàng hóa lớn và dễ dàng đi lại đến các quốc gia lân cận Tuyến Cần Thơ - Xà No - Cái Tư là cầu nối quan trọng giữa thành phố Hồ Chí Minh, Hậu Giang và Cà Mau, cùng hệ thống bến xe khách liên tỉnh góp phần thúc đẩy giao thương, du lịch và phát triển kinh tế cho thành phố.
Thành phố Cần Thơ sở hữu 6 bến xe nội tỉnh đáp ứng hiệu quả nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa đường bộ Ngoài ra, hệ thống cảng biển đa dạng gồm Cảng Cần Thơ rộng 60.000m², có khả năng tiếp nhận tàu 10.000 tấn và là cảng lớn nhất ĐBSCL; Cảng Cái Cui phục vụ tàu 10.000 - 20.000 tấn với hàng hóa qua cảng đạt 4,2 triệu tấn/năm; cùng với Cảng Trà Nóc diện tích 16ha, nhiều kho chứa lớn đạt dung tích 40.000 tấn, và khả năng vận chuyển hàng hóa lên đến 200.000 tấn/năm Đặc biệt, sân bay quốc tế Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận chuyển hàng hóa nội địa và quốc tế, mở rộng kết nối với các thị trường ASEAN, Châu Á - Thái Bình Dương, Châu Âu và Châu Mỹ.
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Đến cuối năm 2014, dân số toàn thành phố đạt khoảng 1.209.192 người, với mật độ dân số 847 người/km², phản ánh mức độ đô thị hóa cao Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) đạt 69.515 tỷ đồng, tăng trưởng 12,05% so với năm 2013, là mức tăng cao nhất trong 3 năm gần đây (2012: 10,7%; 2013: 11,32%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng tích cực, khi tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng (khu vực II) và thương mại dịch vụ (khu vực III) tăng dần, trong khi lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản chiếm khoảng 7,27% trong cơ cấu GDP Tất cả ba khu vực đều ghi nhận tăng trưởng so với năm 2013, nổi bật nhất là ngành thương mại dịch vụ, tăng 14,85% Thu nhập bình quân đầu người đạt 70,2 triệu đồng, tương đương 3.298 USD, tăng 294 USD so với năm 2013, phản ánh sự phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân.
Cần Thơ giữ vị trí trung tâm trong khu vực kinh tế ĐBSCL, là thành phố công nghiệp năng động với các khu chế xuất và khu công nghiệp phát triển hiệu quả Khu công nghiệp Trà Nóc, diện tích 300ha, nằm chỉ cách sân bay Cần Thơ 2 km và cảng Cần Thơ 3 km, được trang bị đầy đủ dịch vụ ngân hàng, bưu chính viễn thông và nguồn nhân lực dồi dào từ thành phố để phục vụ sản xuất công nghiệp Khu công nghiệp Hưng Phú rộng 975 ha, nằm bên bờ sông Hậu phía nam thành phố, đóng vai trò quan trọng trong phát triển doanh nghiệp công nghiệp tại địa phương Trung tâm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Cái Sơn - Hàng Bàng (quận Ninh Kiều) có tổng diện tích 38,2 ha, với hạ tầng đang trong quá trình hoàn thiện và đã thu hút hơn 15/23 nhà đầu tư hoạt động hiệu quả.
Cần Thơ là trung tâm kinh tế - xã hội, trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ của vùng ĐBSCL, đóng vai trò quan trọng trong phát triển văn hóa và y tế khu vực Là đầu mối giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế, Cần Thơ giữ vị trí chiến lược về quốc phòng và an ninh, góp phần đảm bảo ổn định và phát triển bền vững cho cả vùng Không chỉ là trung tâm trọng điểm về phát triển kinh tế, Cần Thơ còn là cực phát triển thúc đẩy mạnh mẽ sự tiến bộ của toàn vùng ĐBSCL.
Khái quát về các quận, huyện ở thành phố Cần Thơ:
Thành phố Cần Thơ hiện có 9 đơn vị hành chính quận, huyện, trong đó có
Cần Thơ có tổng cộng 5 quận gồm Ninh Kiều, Ô Môn, Bình Thủy, Cái Răng và Thốt Nốt, cùng 4 huyện là Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ và Phong Điền Trong đó, Ô Môn là quận có diện tích lớn nhất với 132,22 km², còn Ninh Kiều là quận nhỏ nhất với 29,27 km² Ninh Kiều cũng là quận có số dân đông nhất, lên tới 244.065 người, trong khi Cái Răng có dân số ít nhất với 86.328 người Huyện Cờ Đỏ có diện tích lớn nhất với 311,15 km², còn Phong Điền là huyện nhỏ nhất với 125,26 km² Về dân số, huyện đông nhất vẫn là Cờ Đỏ, góp phần vào sự đa dạng và phát triển của tỉnh Cần Thơ.
Cờ Đỏ (124.245 người), huyện có dân số ít nhất là Phong Điền (109.304 người)
Về đặc điểm các tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức
Hệ thống chính trị cấp huyện tại Việt Nam hiện nay bao gồm các tổ chức chủ chốt như Đảng bộ, chính quyền quận, huyện, cùng các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn Lao động, Hội Cựu chiến binh và Hội Nông dân Các tổ chức này phối hợp chặt chẽ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Theo các quy định của Đảng và Nhà nước, hệ thống chính trị cấp huyện đóng vai trò trung tâm trong công tác lãnh đạo, quản lý và thực hiện các chính sách, nhiệm vụ chính trị local Việc duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội tại cấp huyện là yếu tố then chốt góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, thúc đẩy phát triển bền vững địa phương.
Khối cơ quan Đảng cấp quận, huyện bao gồm các cơ quan chuyên trách như ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban dân vận, ủy ban kiểm tra và văn phòng giúp việc quận, huyện ủy Ngoài ra, còn có đài truyền thanh及 trung tâm BDCT huyện nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo, góp phần xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh tại địa phương.
Khối Mặt trận, đoàn thể gồm có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận, huyện cùng các cơ quan của Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn Lao động, Hội Cựu chiến binh và Hội Nông dân Các tổ chức này đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, vận động và thúc đẩy phong trào quần chúng, góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh và phát triển địa phương Ngoài ra, các cơ quan này còn phối hợp chặt chẽ trong công tác tuyên truyền, phát triển xã hội và chăm sóc đời sống của các hội viên, đảm bảo sự đoàn kết và phát triển bền vững của khu vực.
Theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp gồm có phòng Nội vụ, Tư pháp, Tài chính - Kế hoạch, Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn hóa và Thông tin, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Thanh tra, Văn phòng HĐND và UBND Ngoài ra, các cơ quan chuyên môn phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện như phòng Kinh tế giúp UBND quận quản lý nhà nước về tiểu thủ công nghiệp, thương mại, khoa học công nghệ; phòng Quản lý đô thị tham mưu về kiến trúc, quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị; phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giúp UBND huyện quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, phát triển kinh tế hộ, trang trại và làng nghề; cùng với đó, phòng Công thương giúp UBND huyện quản lý về công nghiệp, xây dựng, hạ tầng kỹ thuật đô thị, giao thông, thương mại.
Tính đến tháng 12 năm 2014, thành phố Cần Thơ có 680 tổ chức cơ sở đảng, gồm 444 chi bộ cơ sở, 236 đảng bộ cơ sở, và 2.186 chi bộ trực thuộc, với tổng số 40.105 đảng viên, trong đó có 14.145 đảng viên ở xã, phường, thị trấn, cùng 1.774 đảng viên dự bị và 4.525 đảng viên hưu trí, mất sức Các tổ chức đoàn thể thành phố có tổng cộng 324.483 đoàn viên, hội viên, trong đó nổi bật là Hội Nông dân với 88.371 hội viên, Hội Liên hiệp Phụ nữ có 131.647 hội viên, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có 86.002 đoàn viên, Hội Cựu chiến binh với 11.474 hội viên, và Cựu quân nhân là 6.989 người (Nguồn: Ban Tổ chức Thành ủy Cần Thơ)
Các quận, huyện, xã, phường, thị trấn có 5.797 cán bộ, công chức, viên chức (không tính cán bộ, giáo viên ngành giáo dục và đào tạo) Trong đó:
Trình độ chuyên môn: Sau đại học: có 49, tỷ lệ 0,84% Đại học, cao đẳng có 1.946, tỷ lệ 33,56% Trung cấp có 1.730, tỷ lệ 29,84% Chưa qua đào tạo có 2.072, tỷ lệ 35,74%
Trong công tác đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, trình độ chính trị của cán bộ đảng và chính quyền hiện nay gồm có cử nhân, cao cấp chiếm tỷ lệ 7,14%; trung cấp chiếm 25,72%; sơ cấp chiếm 26,22%; và chưa qua đào tạo chiếm 40,83% Đội ngũ cán bộ cấp huyện và cơ sở đã trải qua nhiều biến động do việc chia tách và thành lập mới các đơn vị hành chính, gây ảnh hưởng đến cấu trúc nhân sự Mặc dù nguồn cán bộ trẻ luôn được bổ sung đầy đủ về số lượng, nhưng chất lượng vẫn cần được đào tạo bồi dưỡng thêm trong thời gian nhất định để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và yêu cầu công việc.
2.1.3 Các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở thành phố Cần Thơ Đặc điểm hình thành, phát triển của các trung tâm
Các trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa xe ô tô (TTBDCT) tại thành phố Cần Thơ đã trải qua quá trình hình thành và phát triển đa dạng qua các thời kỳ, với nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn Quá trình này phản ánh sự thích nghi và mở rộng dịch vụ trong ngành công nghiệp ô tô của địa phương Việc hiểu rõ lịch sử phát triển của các TTBDCT giúp nâng cao nhận thức về chất lượng dịch vụ và tiềm năng phát triển bền vững tại Cần Thơ.
Thực trạng BDLLCT và nâng cao chất lượng BDLLCT của các trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị TP Cần Thơ
Trong giai đoạn hiện nay, nâng cao chất lượng công tác Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ (ĐTBD cán bộ) của các trung tâm bồi dưỡng chính trị tại thành phố Cần Thơ là mục tiêu hàng đầu Theo tinh thần của Đại hội IX của Đảng, cần xây dựng và chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường, trung tâm chính trị nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp Đồng thời, chống lại các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động giảng dạy và học tập để đảm bảo chất lượng giáo dục chính trị ngày càng được nâng cao.
142] Cụ thể hóa yêu cầu này, nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) của Đảng đã chỉ rõ:
3.1.1 Đổi mới mạnh mẽ chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lý luận, coi trọng chất lượng và tính hiệu quả
Tổ chức học tập một cách nghiêm túc và có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống cách mạng của dân tộc để nâng cao nhận thức chính trị Đồng thời, phát huy tính sáng tạo và chủ động của người học, dành nhiều thời gian cho việc tự học và tự đọc các tác phẩm lý luận cùng các văn kiện của Đảng nhằm tăng cường kiến thức, kỹ năng và tư duy phản biện.
Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX) cũng tiếp tục nhấn mạnh:
Dựa trên kế hoạch phát triển, việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ theo chức danh và nguồn cán bộ là ưu tiên hàng đầu, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng phẩm chất chính trị, trình độ nghề nghiệp và năng lực thực tiễn của cán bộ để xử lý tình huống linh hoạt và khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong quá trình đào tạo.