Để có một nền giáo dục tốt, cần có một đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có đủ năng lực, phẩm chất, trình độ chính trị, để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó là đào tạo cán bộ cho nước nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _
MAI THỊ HÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _
MAI THỊ HÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: LL&PPDH bộ môn Giáo dục chính trị
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.TRẦN VIẾT QUANG
Nghệ An, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo Sau Đại học, Khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi học Cao học Xin cảm ơn thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy
và cung cấp cho Tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình Tôi học tập tại Trường
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS Trần Viết Quang, Phó Trưởng khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Vinh, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Đồng thời, Tôi cũng xin chân trọng cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Như Thanh, Ban Tuyên giáo Huyện, Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa, Liên đoàn Lao động huyện Như Thanh, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Huyện, Phòng Giáo dục và đào tạo, phòng Văn hóa, phòng Nội vụ và cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn Huyện, đã nhiệt tình hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu, khảo sát, thu thập dữ liệu, hình ảnh và đã đóng góp nhiều ý kiến và những kinh nghiệm quý báu để giúp tôi thực hiện công trình nghiên cứu đề tài của mình
Mặc dù Tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Với ý thức luôn cầu thị, học hỏi và nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học, tôi rất mong được sự góp ý của Quý Thầy, cô và các bạn
Trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
BẢNG QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
MỞ ĐẦU 6
B NỘI DUNG 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC 14
1.1 Một số khái niệm cơ bản 14
1.2 Đặc trưng của lý luận chính trị 21
1.3 Nội dung bồi dưỡng lý luận chính trị 26
1.4 Sự cần thiết của việc bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay 32
Kết luận chương 1 44
Chương 2 THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ở HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA 45
2.1 Khái quát về huyện Như Thanh và hệ thống giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa 45
2.2 Thực trạng trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa 49
2.3 Công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa những năm qua 54
Kết luận chương 2 65
Trang 5Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 67 3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục hiện nay 67 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa 70 Kết luận chương 3 97 KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Số lƣợng, cơ cấu đội ngũ CBQLGD huyện Nhƣ Thanh, tỉnh Thanh
Hóa năm học 2014 - 2015 49 Bảng 2.2 Độ tuổi của đội ngũ CBQLGD huyện Nhƣ Thanh, tỉnh Thanh Hóa
năm học 2014 - 2015 50 Bảng 2.3 Thâm niên đảm nhiệm công tác quản lý của đội ngũ CBQLGD huyện
Nhƣ Thanh, tỉnh Thanh Hóa (tính đến năm học 2014 - 2015) 51 Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBQLGD huyện Nhƣ Thanh, tỉnh
Thanh Hóa (từ năm học 2011 - 2012 đến năm học 2014 - 2015) 52 Bảng 2.5 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBQLGD huyện Nhƣ Thanh,
tỉnh Thanh Hóa (năm học 2014 - 2015) 53
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI - thế kỷ của nền kinh tế tri thức, sẽ là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc; hoặc là chịu sự tụt hậu, phụ thuộc, hoặc sẽ vươn lên hội nhập và phát triển Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo phải có bước phát triển toàn diện với mục tiêu: xây dựng những con người Việt Nam thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam
Để có một nền giáo dục tốt, cần có một đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên
có đủ năng lực, phẩm chất, trình độ chính trị, để thực hiện nhiệm vụ quan trọng
đó là đào tạo cán bộ cho nước nhà; là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa”, người thầy giáo có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định: Chúng ta coi trọng thế hệ ngày mai, ngày kia, coi trọng xã hội mới, đời sống con người mới bao nhiêu, thì phải chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên bấy nhiêu, Chúng ta phải kiên trì và
quyết tâm từng năm xây dựng cho đội ngũ giáo viên trưởng thành (Đăng trên
tạp chí Giáo dục số 230 năm 2010) Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Người
thầy giáo phải học chính trị, hay nói cách khác là đội ngũ giáo viên phải được đào tạo, phải có kiến thức lý luận chính trị, phải đặt nhiệm vụ học chính trị lên trước nhiệm vụ học chuyên môn” [34, tr.126-127]
Trang 9Tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn ngành Giáo dục ngày 21-2-1956, Bác đã căn dặn: "Các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn Nếu không tiến bộ mãi thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu"[34, tr.126-127]
Từ những quan điểm trên cho chúng ta thấy: Công tác bồi dưỡng giáo dục
lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, giáo viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng, nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo là những người yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, phải có chí khí cao thượng, với tinh thần cách mạng
“Dạy học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân” Trên tinh thần nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bản thân người thầy giáo phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, phải luôn chú trọng đến một
vấn đề hết sức quan trọng đó là học tập chính trị, vì “Có học tập lý luận Mác -
Lênin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao
sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác Đảng giao phó”
Trong những năm qua, công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo quản lý nói chung và cho cán bộ quản lý ngành giáo dục nói riêng
đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, các văn bản, nghị quyết của Đảng, hướng dẫn, quyết định của Chính phủ, của các Bộ ngành và Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân Đã có nhiều bài viết, hội thảo đăng trên các tạp chí ở những góc độ, khía cạnh khác nhau những tập trung ở một số hướng nghiên cứu chủ yếu sau:
Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn ở một số nước
Trung Quốc: GS Triệu Lý Văn, Trường Đảng Trung ương Trung Quốc,
(2010), Giáo trình: “Lý luận và thực tiễn công tác giáo dục cán bộ của Đảng cộng sản Trung Quốc, Nxb Trung Quốc”; Cuốn sách của Cục cán bộ, Ban
Trang 10Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005), “Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới” Đây là cuốn sách có tính chất giáo khoa nghiệp vụ chuyên ngành công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên truyền nói riêng nói về vai trò, vị trí, nhiệm vụ của công tác lý luận và kinh nghiệm, kỹ năng công tác tuyên truyền tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay
Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào: Nhiều công trình nghiên cứu về giáo
dục LLCT cho cán bộ, đảng viên, tiêu biểu là bài viết của tác giả Bun Nhăng Vo
Lạ Chít (2005): “Nâng cao chất lượng xây dựng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của Đảng”, Tạp chí
LLCT - Hành chính Lào (số 1); bài viết của PGS Sạ Mút Thong Sôm Pha Nít
(2007): “Vai trò của người thầy trong điều kiện mới”, Tạp chí Lý luận chính trị
- Hành chính, (số 6), Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Các công trình này đã luận giải vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và của đội ngũ giáo viên, các bộ quản lý giáo dục nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Lào và yêu câu về bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở Lào
Thứ hai: Nhóm các văn bản, nghị quyết chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các cấp về công tác bồi dưỡng lý luận chính trị
Thời gian qua, có các Nghị quyết, chỉ thị về công tác bồi dưỡng lý luận chính trị như:
- Nghị quyết của Bộ Chính trị số 01/NQ-TW ngày 28 tháng 3 năm 1992 của Bộ Chính Trị "Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay";
- Quy định số 54/QĐ-TW, ngày 12/5/1999 của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị;
- Nghị quyết số 32/NQ-TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trang 11- Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác
lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030
- Nghị quyết số 12/NQ-TU ngày 21/7/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng, xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020
Các Nghị quyết và quy định trên đề cập đến vai trò, vị trí, tầm quan trọng của Công tác lý luận chính trị đối với công tác xây dựng phát triển Đảng, bảo vệ chế độ chính trị, xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh đó cũng quy định chế độ học tập Lý luận chính trị trong Đảng
Thứ ba: Nhóm các công trình nghiên cứu công tác tư tưởng, lý luận
Nghiên cứu công tác tư tưởng, lý luận có các công trình tiêu biểu như:
GS.NGND Nguyễn Đức Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch
Hội đồng Lý luận TW với bài viết: Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện
nay, Tạp chí Cộng sản, Số 829 (tháng 11/2011); Phan Đình Đạt: Vai trò của
lý luận đối với quá trình đổi mới xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí sinh hoạt
lý luận, 3/1993; ThS.Trần Viết Quang: “Lý luận và thực tiễn trong tư tưởng
Hồ Chí Minh soi sáng vai trò lý luận hiện nay”, Tạp chí Tư tưởng văn hóa, số
5/2005 Bài viết “Tiếp tục đổi mới công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong
thời kỳ mới” của TS Phạm Tất Thắng, Phó Tổng Biên tập Thường trực Tạp
chí Cộng sản; Bài viết “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” của
GS.NGND Nguyễn Đức Bình đăng trên tạp chí Lý luận chính trị; Luận văn
Thạc sĩ Chính trị học của Lăng Văn Thăng (2004) về “Vai trò giáo dục Lý
luân Chính trị trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ cơ sở ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”
Các công trình nghiên cứu và bài viết nêu trên làm rõ ý nghĩa của công tác
lý luân chính trị đối với sự phát triển của đời sống xã hội; thực trạng của công tác lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay; vai trò của giáo dục lý luận chính
Trang 12trị trong việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; mối liên hệ giữa lý luận
và thực tiễn trong giáo dục tư tưởng chính trị, v.v
Thứ tư: Nhóm các công trình nghiên cứu về công tác giáo dục, bồi dưỡng
lý luận chính trị
Nghiên cứu về giáo dục LLCT nói chung và giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên có một số công trình tiêu biểu như: sách trích dẫn những bài viết của
Hồ Chí Minh (2007) “Về công tác giáo dục LLCT” ThS Phạm Đình Đạt: Góp
phần nâng cao hiệu quả giáo dục LLCT cho cán bộ đảng viên, Tạp chí Khoa
học Chính trị, Số 3/1999; Nguyễn Ngọc Long: Năng lực tư duy lý luận trong
quán trình đổi mới tư duy, Tạp chí Cộng sản, số 10/1987; Đoàn Thế Hanh: Tăng cường nhận thức LLCT đối với cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết TW
5, khóa X, Tạp chí Cộng sản, Số 781 (tháng 11/2007); TS Vũ Ngọc Am: Hiệu quả và tiêu chí đánh giá hiệu quả giáo dục LLCT, Tạp chí Ban Tuyên giáo TW,
Số: 11/2011; Bài viết trên Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá (số 6)của TS Đào Duy
Quát (2006) về “Đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giáo
dục LLCT trong tình hình mới”; Bài viết trên Tạp chí Tuyên giáo (số 11) của
GS.TS Mạch Quang Thắng (2008), “Phương pháp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
LLCT theo quan điểm Hồ Chí Minh”; Bài viết “Mấy vấn đề phương pháp luận
về nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình hiện nay” Thượng tá, TS Đỗ Văn Ngoan đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử; Trần
Kiểm: Khoa học giáo dục - Một vấn đề về lý luận và thực tiễn, Nxb giáo dục, Hà Nội, 2004; PGS.TS Trần Quang Nhiếp, “Bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ
Đảng viên” Trích trong “Những bài học nhỏ từ tư tưởng lớn Hồ Chí Minh”
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2014; TS.Nguyễn Thị Tuyết
Mai, “Nâng cao hiệu quả công tác phát triển lý luận của Đảng trong giai đoạn
hiện nay” (Theo Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông số tháng 4/2015)
Các công trình nêu trên đã đã bàn đến vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục LLCT, nâng cao trình độ LLCT, nêu lên một số phương hướng, giải
Trang 13pháp nhằm nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ, giáo viên ngành giáo dục nói riêng
Về thực tiễn giáo dục, những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nước,
sự nghiệp giáo dục nước ta nói chung và giáo dục của huyện Như Thanh nói riêng đã đạt được nhiều kết quả to lớn góp phần vào sự phát triển chung của đất nước, của địa phương Tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém bất cập: “Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; nội dung giáo dục còn nặng lý thuyết, xa rời thực tế, chạy theo thành tích, chưa chú trọng giáo dục đạo đức, với ý thức trách nhiệm của công dân Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí
vi phạm đạo đức nghề nghiệp” (Kết luận số 51, hội nghị lần thứ 6 BCHTW
Đảng khóa XI)
Từ thực tế đó, Hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành TW Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29/NQ-BCHTW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo mà biện pháp trong Nghị quyết đề ra trong công tác xây dựng đội ngũ
nhà giáo đó là: “Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng
trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục”
Từ những lý do trên và với cương vị là một cán bộ lãnh đạo, quản lý, tác
giả chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận, đánh giá, khảo sát thực tiễn và từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay
Trang 143 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
- Khảo sát, đánh giá thực trạng trình độ lý luận chính trị và công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và khảo sát đối tượng là đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục bao gồm: Hiệu trưởng, hiệu phó các trường Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT; Giám đốc, phó giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên
và dạy nghề, Trưởng phòng, phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo trên địa bàn Huyện ở địa bàn huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn từ 2011 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chính trị và bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp như: lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; sử dụng các phương pháp: thống kê; điều tra xã hội học và một
số phương pháp khác
Trang 156 Giả thuyết khoa học
Nếu các giải pháp của đề tài được ứng dụng phù hợp vào thực tiễn tình hình địa phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay
7 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ tính tất yếu khách quan của việc nâng cao trình
độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Qua đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo giúp cho cấp ủy Đảng, hệ thống các Trường học, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị trong việc nghiên cứu, xây dựng nội dung, chương trình, tiêu chuẩn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp nói chung, cán bộ quản lý giáo dục huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa nói riêng
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có cấu trúc gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục
Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Trang 16B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
QUẢN LÝ GIÁO DỤC
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm lý luận
Lý luận là một phạm trù khoa học phản ánh hiện thực khách quan, tồn tại
và phát triển cùng với sự phát triển của trí tuệ loài người trên mọi lĩnh vực tự nhiên và xã hội Theo Từ điển Triết học: “Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về
tự nhiên và xã hội tích lũy được trong quá trình lịch sử”; là “Hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức” [43, tr.526]
Lý luận là sự tổng hợp về những tri thức tự nhiên và xã hội được tích lũy trong quá trình lịch sử nhân loại Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [34, tr.497]
Lý luận xuất phát từ thực tiễn và có vai trò định hướng, soi đường cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn Theo Từ điển tiếng Việt: “Lý luận là tổng kết có hệ thống những kinh nghiệm của loài người phát sinh từ thực tiễn để chi phối và cải tạo thực tiễn” [42, tr.496]
Như vậy, lý luận được hiểu là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, được biểu đạt đưới dạng các khái niệm, phạm trù, quy luật, tư tưởng, quan điểm, nhằm giúp con người chi phối và cải tạo thực tiễn
1.1.2 Khái niệm chính trị
Theo tiếng Hy Lạp, Chính trị (politica) là công việc của nhà nước, công
việc của xã hội liên quan tới vấn đề nhà nước Theo Từ điển tiếng Việt:
Trang 17“Chính trị là những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và quan hệ về mặt nhà nước giữa các nước với nhau”
[42, tr.107] Theo Từ điển Triết học: “Chính trị là sự tham gia vào các công
việc của nhà nước, việc quy định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” [43, tr.58]
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen: “Chính trị là vấn đề giai cấp, quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp và đỉnh cao của cuộc đấu tranh này là đấu tranh giành quyền lực cho một giai cấp nhất định Bước ngoặt của đấu tranh chính trị là sự bùng nổ cách mạng xã hội, giành lấy chính quyền nhà nước, lật đổ chế độ cũ và thiết lập chế độ mới Chính trị là vấn đề quyền lực, biểu hiện trực tiếp là quyền lực nhà nước và tính hiện thực của quyền lực lại là lợi ích, mà trước hết là lợi ích kinh tế” [27, tr.157]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Chính trị là một hiện tượng lịch sử xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành nhà nước Chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Nó cũng là lĩnh vực hoạt động phức tạp luôn thu hút các nhà tư tưởng suy nghĩ, khám phá, cố gắng làm sáng tỏ bản chất đầy bí ẩn của chính trị Trên thực tế đã có những quan điểm khác nhau về chính trị
V.I.Lênin cũng đã khẳng định “chính trị với nghĩa là công việc nhà nước,
là việc vạch hướng đi cho Nhà nước, là việc xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung của Nhà nước” [20, tr.150] Hơn nữa chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, là đấu tranh giai cấp trong dành, giữ, thực thi quyền lực Nhà nước và suy cho cùng là vấn đề lợi ích kinh tế V.I.Lênin nêu ra một nguyên tắc cơ bản trong chính trị mà những người cộng sản phải quán triệt và đó cũng chính là bản chất của chính trị là “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” [25, tr.349], có nghĩa là chính trị phải mang trong mình quy định kinh tế khách quan, phải phản ánh nó trong cấu trúc, trong phương thức hoạt động của các thành tố cấu thành nên hệ thống chính trị, trong các quyết sách chính Các tổ chức chính trị, các
Trang 18hình thức nhà nước muốn tồn tại và phát triển phải dựa trên một cơ sở kinh tế của xã hội Có thể nói, kinh tế là gốc, là cơ sở của chính trị Chế độ chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng và phải thích ứng với cơ sở kinh tế Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì sẽ giữ địa vị thống trị xã hội về chính trị
Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, tuy nhiên nó có tính độc lập
và tác động trở lại mạnh mẽ đến kinh tế Nó định hướng cho sự phát triển, lựa chọn các mô hình và điều tiết sự phát triển của kinh tế Chính trị thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển của kinh tế, thâm nhập và chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ưu tiên cho chính trị là ưu tiên cho việc giành lấy quyền lực chính trị và cho xây dựng các quyết sách chính trị đúng Kinh tế phát triển phải thông qua chính trị, thông qua hệ thống đường lối, chính sách pháp luật, quyền lực Nhà nước và giai cấp nào muốn lãnh đạo kinh tế phát triển, đạt mục tiêu, lợi ích
đề ra thì không được sai lầm về chính trị Chính trị phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời luôn tìm cách dẫn dắt xã hội theo tư tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền Chính trị mang trong nó yếu tố năng động đặc biệt và không có một công thức, cách thức chung duy nhất nào Chính trị không phải là con đường thẳng, thuận lợi dễ đi V.I.lênin cho rằng: “Chính trị giống đại số hơn
là số học, càng giống toán học cao cấp hơn là toán học sơ cấp”, “Chính trị là vận mệnh thực tế của hàng triệu con người” [25, tr.150]
Chính trị là một lĩnh vực họat động đặc biệt của con người, nó có quan hệ chặt chẽ với họat động thực tiễn của con người, biểu hiện lợi ích kinh tế nhất định của các tầng lớp dân cư trong xã hội, gắn liền với vận mệnh của nhân dân Chính trị được đưa vào thực tiễn cuộc sống nhờ hệ thống thiết chế chính trị, Đảng phái chính trị, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội
Như vậy, chính trị là sản phẩm của con người làm ra nhằm điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó Với
Trang 19cách hiểu như thế này, chính trị giữ vai trò hết sức quan trọng đối với từng con người cũng như toàn xã hội Trong bất kỳ một xã hội nào cũng cần những luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng, tránh tình trạng vô tình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản, sức khỏe hay thậm chí tính mạng của người khác hay của cộng đồng
1.1.3 Khái niệm lý luận chính trị
Lý luận chính trị là bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của nhân loại giới hạn trong lĩnh vực chính trị, phản ánh mối quan hệ của các giai cấp trong việc giành và giữ chính quyền Nói cách khác, lý luận chính trị là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị thể hiện thái độ và lợi ích giai cấp đối với quyền lực nhà nước trong xã hội có giai cấp, là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học
và thực tiễn chính trị của nhiều người, qua nhiều thế hệ
Về nguồn gốc, lý luận chính trị là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu về
lý luận và thực tiễn chính trị của giai cấp trong việc đấu tranh giành, giữ và xây dựng chính quyền nhà nước
Về bản chất, lý luận chính trị phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh
tế - chính trị - văn hóa - xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp đối với quyền lực nhà nước
Về mục đích, lý luận chính trị nhằm trang bị thế giới quan và thúc đẩy hành vi thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của giai cấp
Lý luận chính trị của giai cấp vô sản là sự khái quát tri thức nhân loại và tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân thế giới làm công cụ đắc lực cho việc giành và giữ chính quyền của giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia, dân tộc Theo V.I.lênin, lý luận có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng:
“Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” và
“chỉ Đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [20, tr.30-32] Hồ Chí Minh cũng cho rằng:
Trang 20“Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” [30, tr.268]
Lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống những nguyên lý của chủ ngĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của dân tộc và nhân loại Nó phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là công cụ quan trọng cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Từ sự phân tích nêu trên về khái niệm lý luận và khái niệm chính trị, có thể khái quát chung về khái niệm lý luận chính trị như sau: Lý luận chính trị là
lý luận trong lĩnh vực chính trị Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp
và đấu tranh giai cấp để đại diện cho lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định trong xã hội Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một Đảng, một giai cấp để dành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
1.1.4 Khái niệm đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
1.1.4.1 Khái niệm quản lý
Từ điển Giáo dục học nêu rằng: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [44, tr.326]
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định
Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều
Trang 21chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý
Sự xuất hiện của hoạt động quản lý trong xã hội dẫn đến mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý và những mối quan hệ qua lại của các nhân tố trong
hệ thống quản lý Những mối quan hệ phức tạp ấy người ta gọi là quan hệ quản
lý - một kiểu của quan hệ xã hội và là đối tượng nghiên cứu của khoa học quản
lý Khoa học quản lý đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các mối quan hệ quản
lý và các quy luật vận động, phát triển của chúng, trên cơ sở đó đề xuất những con đường, phương pháp tối ưu cho sự quản lý hệ thống xã hội nhằm tạo điều kiện cho nó vận hành thuận lợi đạt tới mục tiêu xác định
1.1.4.2 Khái niệm giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt Bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình phát triển của xã hội loài người, từ thế hệ đi trước cho đến thế hệ đi sau Thế hệ đi sau có trách nhiệm lĩnh hội, kế thừa, bổ sung và phát triển những kinh nghiệm đó Hiện tượng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với xã hội và đối với cá nhân Nó giúp cho xã hội bảo tồn nền văn hoá nhân loại, đồng thời, giúp cho cá nhân phát triển tâm lý, ý thức, phát triển tiềm năng của bản thân Tính đặc thù của quá trình giáo dục là sản phẩm của quá trình hình thành nhân cách con người phù hợp với yêu cầu của xã hội Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đặc biệt trong thời đại ngày nay giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội vì chỉ
có giáo dục mới đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội Vì vậy giáo dục đã trở thành mục tiêu phát triển hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới trong thời đại ngày nay Giáo dục có vị trí quan trọng như vậy nên nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đưa ra những khái niệm về quản lý giáo dục
Trang 221.1.4.3 Khái niệm quản lý giáo dục
Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục có mục đích
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục, song thường người ta đưa ra quan niệm quản lý giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi mô Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường
Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra
Ở cấp độ vi mô, Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất Có thể hiểu quá trình quản lý giáo dục là hoạt động tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục nhằm thực hiện
có hiệu quả mục đích, mục tiêu giáo dục của nhà trường
Theo khái niệm trên, quá trình quản lý giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung, phương pháp quản lý, mục tiêu quản
lý Các thành tố đó luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau, đồng
Trang 23thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường kinh tế, chính trị,
xã hội chung quanh
Theo nhà giáo dục Liên xô M.I.Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở tất cả các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cơ quan quản
lý cao nhất là Bộ đến Sở và nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như quy trình của giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”
1.1.4.4 Khái niệm đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Theo từ điển tiếng Việt, “Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng, hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định” [42, tr.32]
Có thể hiểu, đội ngũ là một tập thể gắn kết với nhau, cùng chung lý tửng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc Vì vậy, khi xem xét đến đội ngũ, người ta thường chú ý đến ba yêu tố tạo thành đó là: Số lượng, cơ cấu; trình độ và phẩm chất, năng lực của đội ngũ
Như vây, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là một tập hợp gồm nhiều người, có sự gắn kết với nhau để cùng thực hiện mục tiêu của nhiệm vụ giáo dục, làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ Đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất nhằm đạt được mục tiêu mà giáo dục đề ra
1.2 Đặc trưng của lý luận chính trị
1.2.1 Lý luận chính trị mang tính trừu tượng, khái quát cao
Để xây dựng hệ thống lý luận, trong quá trình nhận thức, tư duy con người luôn diễn ra quá trình trừu tượng hóa, khái quát hóa những tri thức thu
Trang 24được về thế giới; những quy luật vận động và phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Các hình thức thể hiện lý luận nói chung, lý luận chính trị nói riêng như khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù… đều là kết quả của quá trình trừu tượng hóa, khái quát hóa cao của tư duy con người trong quá trình nhận thức thế giới
Nhờ có đặc trưng trừu tượng hóa, lý luận hướng con người vào việc tìm ra chân lý, nắm bắt những mối quan hệ khách quan có tính bản chất, phát hiện ra các quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong thế giới Khái quát hóa giúp cho con người xây dựng các khái niệm, phạm trù, từ đó xây dựng nên các lý thuyết khoa học Khái quát hóa được thực hiện trên cơ sở một số thuộc tính, đặc tính quan trọng nào đó đã được tư duy trừu tượng tách ra khỏi những thuộc tính, đặc tính khác Từ những thuộc tính đã được trừu tượng hóa, tư duy đi đến khái quát thành cái chung bản chất, mang tính quy luật
Mang đặc trưng trừu tượng hóa và khái quát hóa cao nên lý luận, lý luận chính trị là hệ thống tri thức đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính quy luật của các mối liên hệ tất nhiên… trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng và do đó giúp cho con người có thể tiếp cận bản chất sâu xa của sự vật vốn thường bị che lấp bởi các hiện tượng ngẫu nhiên, đơn lẻ,
bề ngoài; giúp cho con người không ngừng khám phá thế giới, đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra
1.2.2 Lý luận chính trị có tính hệ thống, lôgíc chặt chẽ
Tính thống nhất và chặt chẽ của lôgic với tính chính xác và độ tin cậy cao của lý luận khoa học nói chung, lý luận chính trị nói riêng thể hiện ở chỗ các khái niệm, nguyên lý, phạm trù, quy luật… phản ánh các mặt, các yếu tố, các quá trình,… khác nhau của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan nhưng chúng có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Do đó, một lý luận trong đó có lý luận chính trị muốn trở thành lý luận khoa học phải là một hệ thống mang tính chỉnh thể, toàn vẹn, thống nhất, không thể là sự tùy tiện, chắp
Trang 25vá, cắt xén với khả năng phản ánh chính xác sự vật hiện tượng như nó đã hình thành, tồn tại, vận động, phát triển; dự báo được xu hướng vận động và phát triển của sự vật
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận điển hình về tính chính xác và lôgic chặt chẽ Vì thế, nó trở thành khoa học về những quy luật chung, phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy Một lý luận mang tính chính xác
và logic chặt chẽ sẽ có tác dụng tích cực đối với họat động thực tiễn của con người, sẽ được con người, cộng đồng, nhất là lực lượng cách mạng nhanh chóng tiếp thu, ủng hộ
1.2.3 Lý luận chính trị có tính liên hệ, thống nhất với thực tiễn
Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận khoa học nói chung và chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận thụôc về lĩnh vực hoạt động tinh thần còn thực tiễn thuộc về hoạt động vật chất, là sản xuất là cuộc đấu tranh để bảo
vệ sự tồn tại của con người trước thiên nhiên và xã hội V I Lênin khẳng định:
“Thực tiễn cao hơn nhận thức vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến
mà cả của tính hiện thực trực tiếp” [24, tr.230]
Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, lý luận còn tồn tại, có sức sống hay không phụ thuộc ở mức độ phù hợp của vai trò định hướng, gợi mở, chỉ dẫn, giải quyết những vấn đề của đời sống thực tiễn Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển buộc lý luận phản ánh đời sống thực tiễn cũng phải không ngừng được bổ sung, phát triển đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để làm cho tri thức lý luận ngày càng phản ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, phong phú hơn đời sống thực tiễn
Tuy nhiên, lý luận cũng có tính độc lập tương đối của nó, không hoàn toàn thụ động mà lý luận cũng đóng vai trò tích cực trở lại đối với thực tiễn Lý luận là kim chỉ nam giúp cho thực tiễn đạt kết quả cao Lý luận vạch ra phương hướng cho thực tiễn, chỉ rõ phương pháp thực hiện có hiệu quả nhất để đạt mục
Trang 26đích Đặc biệt là lý luận cách mạng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa “Không
có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” [19, tr.30]
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung làm phong phú lẫn nhau, là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhau Tại diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc ngày 7/9/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin Thực tiễn không
có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng; lý luận mà không liên hệ với thực tiên là lý luận suông” [34, tr.496]
Nhờ có lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi
to lớn Vì thế, Đảng và Bác Hồ luôn coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục lý luận cho cán bộ, đảng viên nhất là bồi dưỡng, giáo dục lý luận chính trị, coi đó là yêu cầu cơ bản không thể thiếu trong công tác xây dựng Đảng Người đã chỉ rõ:
“Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta, giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình” [31, tr.142]
Quán triệt nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Lênin được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa sẽ chống được mọi biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc
Mác-1.2.4 Lý luận chính trị có sự thống nhất cao giữa tính đảng và tính khoa học
Nói tới tính Đảng là nói tới tính giai cấp, còn tính khoa học là sự phản ánh đúng thực tế khách quan, tôn trọng sự thật Lý luận nói chung, lý luận chính trị nói riêng bao hàm trong nó đặc trưng thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa
Trang 27học Lý luận chính trị của giai cấp công nhân, giai cấp vô sản là chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát và phản ánh khách quan nhu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động phù hợp với nguyện vọng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động thế giới cho nên lý luận đó đảm bảo tính thống nhất giữa tính đảng
và tính khoa học
Trong lý luận chính trị, tính Đảng và tính khoa học có mối liên hệ biện chứng không thể tách rời, tính Đảng càng cao thì tính khoa học càng sâu sắc, tính Đảng và tính khoa học làm điều kiện, tiền đề, tồn tại, phụ thuộc nhau Thực tiễn cho thấy, việc xuyên tạc sự thật thường gắn liền với sự xa rời lập trường, quan điểm lợi ích của giai cấp công nhân Lý luận chính trị không có mục đích nào khác ngoài mục đích thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng cho nên nhiệm vụ quan trọng của nó là định hướng cho con người trong nhận thức và hành động để cải tạo thế giới Khi đó, tính khoa học là tiền đề, là cơ sở và tính Đảng giữ vai trò định hướng cách mạng để loại trừ cái cũ, cái lạc hậu, xây dựng cái mới tiến bộ, hợp quy luật V.I.Lênin coi trọng chủ nghĩa Mác là cơ sở lý luận vững như đá hoa cương, có “sự hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước theo lý luận đó chính là ở chổ nó kết hợp tính khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội), với tinh thần cách mạng” [19, tr.421]
Lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với tổng kết thực tiễn có vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chủ trương kế hoạch đề ra Lý luận chính trị của Đảng ta chính
là sự kế thừa và phát triển những tinh hoa trí tuệ của dân tộc và thời đại, khái quát những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học trên thế giới Là sự tổng kết, đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng của dân tộc và nhân dân thế giới, sự vận dụng sáng tạo và phát triển của chủ nghĩa Mác-
Trang 28Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, trong hoàn cảnh cụ thể mới, đồng thời cũng chính là một điển hình về sự thống nhất cao giữa tính Đảng và tính khoa học
Ngoài những đặc trưng cơ bản về tính khái quát và tính trừu tượng, tính chính xác và lôgíc, tính thống nhất lý luận và thực tiễn, tính Đảng và tính khoa học, lý luận chính trị còn có một số đặc trưng khác như: tính hệ thống và tính kế thừa, là hệ thống mở có khả năng bổ sung và phát triển
1.3 Nội dung bồi dưỡng lý luận chính trị
1.3.1 Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận được khái quát từ những thành tựu khoa học và thực tiễn xã hội Giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là trang bị cho cán bộ kiến thức về quá trình vận động và quy luật phát triển xã hội; về bản chất và quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản; về động lực và lực lượng cách mạng xã hội chủ nghĩa; về thời kỳ quá độ, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản… Do vậy, khi đưa nội dung lý luận này đến đội ngũ cán bộ cơ sở cần giải thích bằng lý lẽ và cả liên hệ thực tế
để họ dễ tiếp thu Trên cơ sở đó, xây dựng quan điểm nhận thức đúng đắn, làm cho họ thấm nhuần các quan điểm lý luận chính trị, có niềm tin khoa học, nâng cao tính tự giác, để tự giáo dục và vận dụng lý luận vào thực tiễn cuộc sống, đồng thời phê phán, khắc phục những nhận thức sai trái, lạc hậu, khắc phục lối
tư duy siêu hình, phiến diện
Tính giáo dục tư tưởng ở đây không chỉ hình thành ở họ những tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, mà cả nhân cách sống, khát vọng và lý tưởng cao đẹp đồng thời cả khả năng tư duy hành động thực tiễn Để đạt được điều này, nội dung giáo dục chính trị tư tưởng phải thể hiện đúng và sâu sắc tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước Qua giáo dục chính trị tư tưởng hình thành thế giới quan khoa học và cách mạng, nhân sinh quan cộng
Trang 29sản, tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng
và lãnh đạo và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trong giáo dục lý luận chính trị cần đảm bảo tính chiến đấu biểu hiện ở
sự phê phán Khi các thế lực thù địch, phản cách mạng trên thế giới bằng chiến
lược diễn biến hoà bình, với những hoạt động vừa công khai vừa không công
khai tuyên truyền xuyên tạc vu khống, thổi phồng những khó khăn, thiếu sót, thậm chí những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình nhận thức hay chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; kết hợp giữa tác động từ bên ngoài với sự vận động chuyển hoá từ bên trong với mục đích làm tan rã, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì phê phán là một nội dung cần thiết trong các bài giảng nhằm khẳng định tính đúng đắn, bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Điều quan trọng hơn hết là qua phê phán mà khẳng định lập trường, quan điểm, củng cố lòng tin của người cán bộ, của Đảng, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng vào thực tiễn cuộc sống và tránh những sai lầm, thiếu sót trong vai trò, vị trí mà cách mạng, tổ chức và nhân dân giao phó
1.3.2 Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Cùng với giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cần được coi trọng Bởi vì, chính các đảng viên này là người tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho quần chúng; đồng thời là người tổ chức
cho quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách ấy
Trang 30Đường lối, chính sách thể hiện mục tiêu lý tưởng của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, nguyện vọng của nhân dân; song, điều đó chỉ có thể trở thành hiện thực bằng sự giác ngộ, đồng tình ủng hộ và hăng hái thực hiện thông qua phong trào cách mạng của quần chúng Vì vậy, cán bộ đảng viên phải học tập, nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để thấy rõ phương hướng tiến lên của cách mạng, hiểu rõ mình cần phải làm gì và làm như thế nào để đạt được mục đích đó Cán bộ, đảng viên không hiểu nắm vững đường lối đổi mới, chính sách và pháp luật của Nhà nước thì khó tránh khỏi chệch hướng xã hội chủ nghĩa
1.3.3 Quán triệt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần theo tinh thần Chỉ thị số 03/CT-TW ngày 14/5/2011 của
Bộ Chính trị
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá kinh tế thế giới thì việc học tập và vận dụng tư tưởng của Người trong giáo dục đạo đức phẩm chất là nhân tố hàng đầu đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng trong thời gian tới Giáo dục đạo đức cho cán bộ đang viên cần tập trung làm rõ các nội dung: Trung thành với lý tưởng, dũng cảm sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng; ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích cá nhân, kết hợp hài hoà giữa lợi ích
cá nhân và lợi ích tập thể Yêu thương con người; hoà mình cùng quần chúng; trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có ý thức tự phê bình và phê bình, nghiêm khắc với bản thân và khoan dung với người khác; chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tính tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống tiêu cực
Tại Hội nghị lần thứ 4 (Khóa XI) BCH Trung ương Đảng ra Nghị quyết
“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nêu rõ quyết tâm chính
Trang 31trị của toàn Đảng ta đó là: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ, trong việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng Nghị quyết Trung ương IV đề ra bốn nhóm giải pháp, trong đó giải pháp hàng đầu trong nhóm giải pháp thứ 4 về công tác chính trị, tư tưởng là đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Chính vì thế, việc giáo dục, tuyên truyền học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng
cho hoạt động giáo dục lý luận chính trị
Bên cạnh đó, cần tăng cường giới thiệu những tấm gương về đạo đức cách mạng, biểu dương người tốt việc tốt, góp phần bồi đắp, cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng trong hành vi đạo đức; lên án, đẩy lùi cái xấu, cái sai, cái ác Giáo dục những tấm gương của các đồng chí lãnh đạo cách mạng lão thành, của những chiến sĩ cách mạng trung kiên qua các thời kỳ của cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng bảo vệ Tổ quốc
1.3.4 Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lưc thù địch
Việc giáo dục nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu và thủ đoạn
“diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phản cách mạng cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên nói chung và cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay, nhằm góp phần ổn định tình hình chính trị, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng Chính
vì thế, cần tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là tuyên truyền
đấu tranh chống âm mưu "diễn biến hòa bình" trong cán bộ, đảng viên thông
qua các hội nghị sinh hoạt chi bộ, các diễn đàn sinh hoạt chính trị của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, "tuần sinh hoạt công dân" ở các trường học
Trang 32Qua đó, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch
1.3.5 Giáo dục tinh thần đoàn kết dân tộc, tinh thần quốc tế trong sáng; tinh thần tương thân, tương ái, hướng về cội nguồn, các hoạt động xã hội; giữ gìn truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc
Ðại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Từ khi ra đời, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tập hợp đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành thắng lợi lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và các cuộc kháng chiến cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang tiếp tục phát huy cao độ, trở thành động lực của sự nghiệp CNH, HÐH đất nước Ðại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là bài học lớn của cách mạng nước ta
Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng đã chỉ ra tinh thần: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc Ðề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội” [18, tr.159-161] Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 03/CT-TW của Bộ Chính trị; phong
Trang 33trào thi đua yêu nước; vận động các tầng lớp nhân dân cùng Ðảng, Nhà nước phát triển kinh tế - xã hội; hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế đòi hỏi chúng ta phải mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế và giao lưu văn hoá với các nước trên thế giới Thông qua việc mở rộng quan hệ, chúng ta đã tiếp thu được nhiều thành tựu văn minh của nhân loại, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc Nhưng cũng trong quá trình mở cửa hội nhập, sự xâm nhập của văn hoá
và lối sống ngoại lai làm cho văn hoá truyền thống dân tộc có nguy cơ bị lãng quên Trong đời sống xã hội, đã có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh Đặc biệt, tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng Đó là một thực trạng đáng lo ngại, do đó, trong quá trình phát triển, cần phải có sự tính toán, sự chọn lọc, không phải vì lợi ích kinh tế trước mắt mà từ bỏ những chuẩn mực về văn hoá, những giá trị đạo đức truyền thống
để đu nhập văn hoá và lối sống ngoại lai không phù hợp với dân tộc mình
Ngày nay, trong sự nghiệp phát triển đất nước, từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường trong bối cảnh quốc tế biến động nhanh và phức tạp, chúng ta càng cần phải gìn giữ những giá trị đạo đức truyền thống, đồng thời phải coi trọng giáo dục đạo đức, phải tăng cường giáo dục đạo đức trong gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội Bên cạnh những giá trị đạo đức truyền thống như lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, tính trung thực, tinh thần ham học hỏi, truyền thống tôn sư trọng đạo, đức tính cần cù, giản dị chúng ta cần tiếp nhận những giá trị mới được bổ sung trong sự phát triển của thế giới ngày nay,
đó là những giá trị: lý tưởng nhân đạo, chính sách nhân đạo, lối sống nhân đạo,
vẻ đẹp tâm hồn, hoà bình - hoà hợp, bình đẳng - công lý, nhân quyền, dân quyền, lòng nhân ái, lòng vị tha, yêu thiên nhiên, sự lương thiện, thận trọng, sáng tạo, công bằng, sòng phẳng, tự giác, tự trọng
Trang 34Chính vì thế, việc giáo dục tinh thần đoàn kết dân tộc, tinh thần quốc tế trong sáng; tinh thần tương thân, tương ái, hướng về cội nguồn, các hoạt động xã hội; giữ gìn truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc cho đội ngũ cán bộ cơ sở là vấn đề hết sức quan trong giai đoạn hiện nay
1.4 Sự cần thiết của việc bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay
1.4.1 Bồi dưỡng lý luận chính trị nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ quản
lý giáo dục có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có phương pháp quản lý khoa học, gắn lý luận với thực tiễn; có phẩm chất đạo đức cách mạng đáp ứng với sự phát triển của đất nước
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, biểu hiện tập trung của
nó là nằm ở hệ thống chính trị, Đảng ta được trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhận thức đúng đắn quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người là sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng sản Vì
lẽ đó, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì đòi hỏi trước tiên ở người cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ lãnh đạo quản lý nói riêng phải có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất, đạo đức, có tri thức khoa học, nắm bắt được quy luật vận động, phát triển xã hội, qua đó vận dụng nó vào hoạt động thực tiễn thúc đẩy sự tiến lên chủ nghĩa xã hội nhanh hơn Xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa mà con người đó phải có trí tuệ, phát triển toàn diện, có ý chí nghị lực, vượt qua những khó khăn trở ngại xã hội như các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hoá, kể cả những sự ngăn cản của các thế lực thù địch trong xã hội, trong chính trị Người cán bộ quản lý, đảng viên phải là người có bản lĩnh chính trị
Mỗi tổ chức chính trị, mỗi đảng chính trị phải xuất phát từ tư tưởng, lý tưởng của mình mà đưa ra tôn chỉ, mục đích, lý tưởng của Đảng Nếu mục tiêu của Đảng đó phấn đấu vì giai cấp, vì nhân dân, vì dân tộc thì hệ thống chính trị
Trang 35của đảng chính trị sẽ phải có các yếu tố cấu thành, các thiết chế hoạt động và cơ chế vận hành cho phù hợp để đạt được mục tiêu chung của đảng, của quần chúng nhân dân lao động Bản lĩnh chính trị của cán bộ, lãnh đạo quản lý và đảng viên trong hệ thống chính trị ở nước ta là khả năng, ý chí, nghị lực vượt qua mọi thách thức hiện nay để kiên định giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhằm xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung và cán bộ quản
lý giáo dục nói riêng còn được quy định bởi khí chất và phẩm chất, đạo đức cách mạng Khí chất là do bản chất sinh lý, thành phần xuất thân quy định xét về từng
cá nhân, còn xem xét với tư cách là một đội ngũ thì khí chất này thực chất là bản chất của những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; những người mang bản chất giai cấp công nhân, của nhân dân lao động Việt Nam yêu nước Chính khí chất này chúng sẽ quy định lập trường chính trị của Đảng Cộng sản, lập trường của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam, trung thành với nhân dân với chủ nghĩa xã hội và cũng chính là sự trung thành với Đảng, với Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Ngoài khí chất ra, để có được bản lĩnh chính trị thì còn đòi hỏi người cán
bộ quản lý giáo dục phải có phẩm chất và năng lực Phẩm chất của người cán
bộ quản lý giáo dục trước hết biểu hiện ở sự bảo đảm các yêu cầu con người với tư cách là chủ thể chính trị, được thể hiện sự mẫu mực trong hệ thống chính trị Để có sự yêu nước, yêu lao động, yêu chủ nghĩa xã hội…, thì trước hết phải có sự hiểu biết về nó, hiểu biết được bản chất tất yếu xã hội loài người
dù sớm hay muộn cũng tiến tới chủ nghĩa cộng sản Hiểu biết được con đường
đi lên chủ nghĩa cộng sản không phải là thẳng tắp mà là quanh co, khúc khuỷu,
từ đó tin vào sự phát triển đi lên của xã hội mà ta hướng tới, tin vào sự lãnh đạo của Đảng
Trang 36Trước thực tế sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và cùng với những khó khăn về nền kinh tế hiện nay của nước ta, phần đông cán bộ quản lý giáo dục vẫn thể hiện được bản lĩnh chính trị, không bị lôi cuốn thu hút bởi những sự choáng ngợp của đồng tiền mà họ vẫn kiên định lý tưởng cộng sản, xả thân vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa Nhưng bên cạnh đó cũng có một số ít cán bộ quản lý giáo dục có tư tưởng dao động, chuyển hướng tư duy và cả trong hành động Rõ ràng, phẩm chất chính trị là yếu tố quy định nghiêm ngặt bản lĩnh chính trị, không đủ phẩm chất chính trị nên bản lĩnh chính trị không đúng, dẫn tới suy nghĩ và hành động sai lầm
Bản lĩnh chính trị của người cán bộ, đảng viên không phải có sẵn, bẩm sinh mà có Nó là kết quả của sự rèn luyện công phu, nghiêm túc của mỗi cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên Bản lĩnh chính trị được hình thành và phát triển bởi nhiều yếu tố khác nhau: như thông qua việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của chính bản thân người cán bộ quản lý, đảng viên đó và của những điều kiện kinh tế - xã hội tạo nên Cụ thể:
Một là, Bản lĩnh chính trị của người cán bộ, đảng viên nói chung và cán
bộ quản lý giáo dục nói riêng trong hệ thống chính trị ở nước ta được hình thành thông qua sự giáo dục, rèn luyện của bản thân, cũng như sự giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội
Để có bản lĩnh chính trị thì bản thân người cán bộ, đảng viên trước hết phải biết tự học tập, tự rèn luyện trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng thời người cán bộ, đảng viên đó phải trau dồi đạo đức cách mạng Nếu chỉ
có kiến thức không mà không có đạo đức cách mạng thì người cán bộ, đảng viên không thể có được bản lĩnh chính trị Giáo dục được diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi như giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội
Giáo dục của nhà trường xã hội chủ nghĩa góp phần nâng cao học vấn, trình độ nhận thức cũng như nhân cách, phẩm chất đạo đức người học Sự hoang
Trang 37mang, dao động của người cán bộ, đảng viên xét cho cùng là do thiếu hiểu biết, không đứng vững trên lập trường thế giới quan khoa học Do đó, vai trò giáo dục nhà trường xã hội chủ nghĩa rất quan trọng đến việc hình thành thế giới quan Mác - Lênin đối với người cán bộ, đảng viên trong việc hình thành bản lĩnh chính trị Hay nói khác đi, thông qua sự giáo dục đó, nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị để họ có được một bản lĩnh chính trị vững vàng
Hai là, Bản lĩnh chính trị của người cán bộ quản lý giáo dục được hình thành, rèn luyện, phát triển trên nền văn hoá chính trị của bản thân người cán bộ, đảng viên và giai cấp công nhân với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Văn hoá chính trị ở nước ta hiện nay là dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhằm giải phóng con người triệt để ở mọi phương diện khỏi sự áp bức, bóc lột, nô dịch Văn hoá chính trị của nước ta là mang bản chất của giai cấp công nhân thể hiện sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp, dân tộc và nhân loại Vì thế, người cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở nước ta nếu không có, không thấm nhuần được văn hoá chính trị của giai cấp công nhân thì sẽ khó mà có được bản lĩnh chính trị vững vàng
Ba là, Bản lĩnh chính trị còn được hình thành trau dồi, rèn luyện, trên cơ
sở kinh nghiệm hoạt động thực tiễn chính trị của chính đội ngũ cán bộ quản lý Một người thiếu từng trải không thể có bản lĩnh, bất luận trong lĩnh vực nào, mà người đó phải thông qua hoạt động thực tiễn gặp nhiều khó khăn, thử thách, có lúc thành công, có lúc thất bại bản lĩnh chính trị mới được hình thành, củng cố Qua đó, giúp cho người cán bộ quản lý có thêm tri thức, hiểu biết sâu về đời sống chính trị, giúp họ làm giàu thêm trí tuệ cho mình, khắc phục những hạn chế, thiếu sót; kinh nghiệm hoạt động thực tiễn chính trị còn giúp cho người cán
bộ, quản lý được tôi luyện trong những thử thách của đời sống chính trị, tạo cho
họ có niềm tin vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trên cơ sở đó người cán bộ quản lý mới có khả năng và ý chí kiên định mục tiêu chính trị của Đảng Chính thông qua hoạt động thực tiễn, người
Trang 38cán bộ quản lý gặp phải nhiều tình huống chính trị buộc phải xử lý, cho nên càng làm cho họ có thêm được bản lĩnh chính trị vững chắc
Thực tế cho thấy, mỗi thời kỳ cách mạng cần phải có một đội ngũ cán bộ, quản lý thích ứng, đáp ứng nhu cầu, đảm nhận được nhiệm vụ cách mạng đặt ra
Có một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được tôi luyện, trưởng thành qua thử thách, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần độc lập tự chủ, trung thành với lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, có ý chí, nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đưa sự nghiệp đổi mới ngày càng thu nhiều thắng lợi
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, Đảng và Nhà nước ta đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp
vụ, về lý luận chính trị cho đội ngũ này Chính vì vậy, những năm qua, việc nhận thức và vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn ngày càng
có hiệu quả hơn Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thích nghi hơn với cơ chế thị trường và tích lũy được thêm nhiều kinh nghiệm, việc hoạch định chính sách, khả năng cụ thể hóa đường lối, chủ trương được nâng lên rõ rệt Tính chủ động, sáng tạo được phát huy Bệnh kinh nghiệm, giáo điều, tính ỷ lại, thụ động từng bước được khắc phục
Hiện nay chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Trước yêu cầu đó, đòi hỏi
phải có một đội ngũ cán bộ quản lý vừa đủ đức, đủ tài, vừa “hồng” vừa
Trang 3932-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, gắn học tập với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách người cách mạng” [9; tr.01]
Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ QLGD đang là yêu cầu cần thiết, vì giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Phát triển giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, trong đó đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục Xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.4.2 Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm gìn giữ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng vững mạnh
Đảng ta đã xác định, công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng phải thường xuyên gắn kết với các nhiệm vụ chính trị của cấp uỷ, địa phương, đơn vị, sát với tình hình thực tiễn, đảm bảo trở thành nhân tố tích cực tác động trực tiếp đến sự phát triển của các lĩnh vực, góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một
bộ phận cán bộ, đảng viên; phải hướng mạnh về cơ sở, chủ động nắm chắc và dự báo tình hình nhằm củng cố trận địa tư tưởng ở cơ sở, tạo thế vững chắc trên từng địa bàn, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng
Trang 40đồng bào có đạo, góp phần giải quyết có hiệu quả những vấn đề mà công cuộc đổi mới đặt ra
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng lý luận của Đảng, là vũ khí tư tưởng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Việt Nam, là điều kiện quyết định bản chất công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ta cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa, cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” [32, tr.275]
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, bằng lao động sáng tạo, nhân dân ta đã hun đúc, xây dựng nên nhiều truyền thống tốt đẹp, trong đó yêu nước là sản phẩm tinh thần sâu sắc nhất của dân tộc ta, là tư tưởng, tình cảm thiêng liêng, thấm đượm trong mỗi người Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý Việt Nam, đứng đầu bậc thang giá trị của văn hoá Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài của lịch sử Việt Nam, là động lực nội sinh to lớn và mạnh mẽ giúp cho dân tộc ta vượt qua bao khó khăn, thách thức trên con đường phát triển Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:
“Dân tộc ta có lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta
Từ xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [32, tr.171]
Đường lối chính trị đúng đắn là nguồn gốc tạo nên sức mạnh của Đảng, là
cơ sở để đoàn kết thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là cơ sở để thống nhất về mặt tổ chức, đồng thời tạo nên bản lĩnh chính trị vững vàng của một Đảng Sự vững vàng về chính trị là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho Đảng
đủ bản lĩnh trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình, đề ra được đường lối chiến lược đúng, đưa con thuyền cách mạng vượt sóng vươn lên, vượt qua thử thách đi đúng hướng