CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐẢNG VIÊN MỚI
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
Lý luận chính trị là gì? Để hiểu rõ bản chất của vấn đề này, cần nghiên cứu khái niệm “lý luận” và “chính trị” để thấy rõ mối liên hệ giữa chúng Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người dựa trên cơ sở thực tiễn Quá trình này không đơn giản, thụ động, máy móc, mà là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách năng động, sáng tạo và biện chứng, đi từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ chưa đầy đủ và chưa chính xác trở thành đầy đủ và chính xác hơn.
Nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn chính là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, trong đó nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu sử dụng các giác quan để trực tiếp cảm nhận sự vật Trong khi đó, nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn, phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát các thuộc tính và bản chất của đối tượng Nhận thức lý tính giúp ta khám phá mối liên hệ bản chất, những quy luật phổ biến bên trong sự vật, từ đó phản ánh sâu sắc, chính xác và đầy đủ hơn về bản chất của đối tượng Nếu nhận thức cảm tính chỉ mới dừng lại ở mức độ bề ngoài, chưa phân biệt được cái riêng và cái chung, thì nhận thức lý tính mở ra khả năng đi sâu vào giới hạn của tồn tại, giúp nhận thức rõ nét hơn về bản chất thực sự của sự vật và hiện tượng.
Lý luận là hệ thống tri thức khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh mối quan hệ bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Theo Từ điển Triết học, lý luận là tổng hợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy qua lịch sử, là hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, giúp tổng hợp tri thức về tự nhiên và xã hội đã tích lũy trong quá trình lịch sử Lý luận thể hiện trình độ cao của nhận thức, tồn tại và phát triển cùng sự tiến bộ của trí tuệ nhân loại trong các lĩnh vực tự nhiên và xã hội.
Lý luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ, chứa đựng các khái niệm, phạm trù, nguyên lý và quy luật phản ánh bản chất của sự vận động, biến đổi và phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Nó mang tính trừu tượng và khái quát, đúc kết từ thực tiễn để mở rộng hiểu biết và lý giải các quy luật tự nhiên và xã hội.
Lý luận là kết quả của quá trình nhận thức chủ quan của con người về các hiện tượng khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy, được hình thành từ thực tiễn phong phú của loài người Nó bao gồm các khái niệm, phạm trù và quy luật được khái quát hóa từ nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn, giúp con người hiểu rõ thế giới xung quanh Lý luận không hình thành tự nhiên từ kinh nghiệm mà là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa các tri thức thực tiễn, phản ánh trình độ khái quát hóa nhất định của tri thức lý luận.
Nhận thức kinh nghiệm và lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ; nhận thức kinh nghiệm làm nền tảng cho lý luận, cung cấp dữ liệu phong phú, cụ thể và gắn kết trực tiếp với thực tiễn để kiểm tra, điều chỉnh và xây dựng lý luận mới Trong khi đó, lý luận có tính trừu tượng và khái quát cao, giúp hiểu rõ bản chất và quy luật của các hiện tượng khách quan một cách sâu sắc hơn Lý luận thể hiện chân lý rõ ràng, chính xác, hệ thống hơn, với phạm vi ứng dụng rộng rãi, bao quát hơn so với tri thức dựa trên kinh nghiệm.
Lý luận đóng vai trò rất quan trọng trong thực tiễn, như một "kim chỉ nam" giúp guiding các hoạt động và quyết định đúng đắn Nó được hiểu là hệ thống tri thức khái quát từ thực tiễn khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, thể hiện qua các khái niệm, phạm trù, quy luật, tư tưởng và quan điểm Lý luận giúp con người nhận thức rõ hơn về thế giới xung quanh và từ đó có các giải pháp phù hợp để cải tạo, phát triển thực tiễn hiệu quả.
Chính trị và lý luận chính trị là những lĩnh vực quan trọng trong kho tàng tri thức của nhân loại, với hệ thống lý luận đặc thù riêng cho từng ngành, lĩnh vực Theo quan điểm của các nhà Mácxít, chính trị thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc và quốc gia với quyền lực nhà nước, xuất phát từ sự phân chia xã hội thành giai cấp và nhà nước Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, ảnh hưởng sâu sắc đến sự thăng trầm của lịch sử nhân loại, và vẫn còn nhiều tranh luận về khái niệm này do tính phức tạp của nó Thuật ngữ "chính trị" có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ, nghĩa là các công việc của nhà nước, nghệ thuật cai trị đất nước, đồng thời còn chỉ một tổ chức xã hội dưới quyền lực của nhà nước.
C.Mác và Ph.Ăngghen xem xét chính trị với tƣ cách là một hiện tƣợng xã hội - chính trị mang tính lịch sử, chỉ ra vai trò to lớn của nó trong đời sống xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, khi kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội phân chia thành giai cấp và mâu thuẫn giữa các giai cấp trở nên gay gắt không thể điều hòa, thì nhà nước và chính trị ra đời để điều chỉnh các xung đột này V.I Lênin nhấn mạnh rằng chính trị bắt nguồn từ tổ chức chính quyền nhà nước và là sự tham gia vào các công việc của nhà nước, giúp định hướng, xác định hình thức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nó Bất kỳ hoạt động xã hội nào cũng mang tính chất chính trị khi liên quan đến lợi ích giai cấp, quyền lực và vị trí địa vị kinh tế của các giai cấp Chính trị phản ánh cuộc đấu tranh của các giai cấp để giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, và đồng thời bị chi phối bởi vị trí kinh tế của các giai cấp đó Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế, thúc đẩy hoặc cản trở tiến trình của nó Chính trị tồn tại trong các quan hệ xã hội, chứa đựng kiến thức tích lũy qua lịch sử, liên quan đến con người, giai cấp, dân tộc và thời đại Với tư cách hệ thống các quan hệ xã hội khách quan, chính trị không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân hay đảng phái, và luôn hướng dẫn xã hội theo tư tưởng của giai cấp thống trị.
Theo Hồ Chí Minh, đời sống xã hội gồm bốn lĩnh vực quan trọng là kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, đều có vai trò như nhau trong sự phát triển chung Trong tác phẩm "Thường thức chính trị", Người nhấn mạnh nội hàm của khái niệm chính trị bao gồm mối quan hệ giữa các giai cấp, chế độ xã hội do các giai cấp xác lập, đấu tranh dựa trên lợi ích kinh tế và động lực cách mạng Chính trị còn phản ánh quá trình giải phóng của người nghèo, quyền và lợi ích của nhân dân, nhiệm vụ của Nhà nước và Đảng, cũng như quan hệ quốc tế và xu hướng phát triển theo quy luật của đất nước, dân tộc.
1.1.3 Khái ni m lý luận chính trị 1.1.3.1 Khái niệm lý luận chính trị
Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối và chính sách của một Đảng hay giai cấp nhằm mục tiêu giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Nó xuất hiện trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp để đại diện lợi ích của một giai cấp hoặc Đảng nhất định Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giai cấp vô sản, phản ánh hệ tư tưởng chân chính nhất của giai cấp công nhân và Đảng Cộng Sản, trở thành kim chỉ nam trong cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân khỏi áp bức bóc lột của giai cấp tư sản và khôi phục vị trí đúng đắn của con người trong xã hội. -Nắm vững lý luận chính trị và đấu tranh giai cấp với nội dung sắc nét, dễ hiểu từ [Talkpal](https://pollinations.ai/redirect/2699274).
Trong cuốn "Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị" do Ban Tuyên giáo Trung ương xuất bản năm 2008, lý luận chính trị được định nghĩa là sự kết hợp giữa lý luận và chính trị, trong đó lý luận tập trung vào mối liên hệ giữa các giai cấp trong xã hội Lý luận chính trị nhấn mạnh vai trò của cuộc đấu tranh giữa các giai cấp nhằm giành và giữ chính quyền, phản ánh bản chất của các vấn đề lý luận liên quan đến quyền lực và xung đột giai cấp trong xã hội hiện đại.
Lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của dân tộc và nhân loại Nó phản ánh quy luật của các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội và thể hiện lợi ích, thái độ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đảng xác định các quan điểm chỉ đạo cơ bản dựa trên điều kiện, hoàn cảnh từng giai đoạn cách mạng, từ đó xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp, góp phần dẫn dắt nhân dân đạt được nhiều thành tựu Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và phát triển đất nước theo con đường đã được Hồ Chí Minh cùng toàn dân lựa chọn.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận không thể tách rời, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới Đại hội lần thứ VII của Đảng xác định rõ ràng rằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động” Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, vận dụng sáng tạo hệ thống lý luận này giúp đạt được nhiều thành quả, như đánh thắng đế quốc và xây dựng quốc gia độc lập, thống nhất Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, chúng ta cũng gặp phải khủng hoảng kinh tế - xã hội (1975-1985) do vận dụng chưa đúng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng nhờ nhận thức đúng đắn và sáng tạo trong vận dụng, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng và phát triển vững chắc Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không ngừng học tập, nghiên cứu, rèn luyện và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề bức xúc của đất nước và thế giới, đồng thời luôn phải bổ sung và phát triển lý luận dựa trên thực tiễn mới.
Minh luôn có sức sống mãnh liệt trong sự nghiệp cách mạng, trong sự phát triển trường tồn của dân tộc
Bồi dƣỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới
1.2.1 Đội ngũ Đảng viên mới Điều lệ Đảng do Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành đã chỉ rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng
Từ khi thành lập, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thu hút quần chúng nhờ đảng viên luôn nêu cao tinh thần gương mẫu, xả thân vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đặt lợi ích của đất nước trên cá nhân và gia đình Trong lịch sử, hàng vạn đảng viên sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc và nhân dân, thể hiện sự tận tụy, trung thành và đạo đức tốt đẹp Vai trò của từng đảng viên là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Đảng, khi có những thế hệ đảng viên giữ gìn phẩm chất, lối sống mẫu mực, Đảng mới có đủ uy tín lãnh đạo đất nước vững mạnh.
Trong quá trình phát triển của lịch sử đất nước, việc lựa chọn và kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng là một nội dung quan trọng, góp phần xây dựng và phát triển Đảng ngày càng lớn mạnh Việc chọn những người có lý tưởng cách mạng, đặc biệt là công nhân và người lao động, tạo nền tảng vững chắc để củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Đây là hành động cụ thể thể hiện sức mạnh của công tác xây dựng đảng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng thành công.
Trong lớp huấn luyện Đảng viên mới, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng lý do gia nhập Đảng không phải để thăng quan, phát tài, mà là vì một lòng một dạ làm cách mạng Ngài đã nhấn mạnh rằng khi Đảng còn hoạt động bí mật, các đồng chí gia nhập để góp phần vào sự nghiệp cách mạng bất chấp sự bắt bớ, cầm tù, xử tử của địch, thể hiện lòng trung thành và tinh thần chiến đấu quyết tâm.
Những đồng chí như Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Thụ đã anh dũng hy sinh vì Đảng và cách mạng Tham gia Đảng là để phục vụ giai cấp và nhân dân hết lòng, thực hiện tốt nhiệm vụ của người đảng viên Để xứng đáng với danh hiệu đó, các đảng viên cần không ngừng rèn luyện tư tưởng vô sản, giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, và nâng cao trình độ hiểu biết qua học tập và rèn luyện liên tục.
Đảng Lao động Việt Nam là tập hợp những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước, nhiệt huyết và cách mạng nhất Đảng này gồm những người quyết tâm phụng sự Tổ quốc, nhân dân và lao động, luôn giữ vững tính chí công vô tư và là những tấm gương tiêu biểu trong cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.
Người nhấn mạnh rằng, mỗi cán bộ, đảng viên cần đặt lợi ích của cách mạng, Đảng và nhân dân lên trên hết, trước hết Họ phải kiên quyết loại bỏ chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật trong nội bộ Đồng thời, cần đi sâu sát thực tế, gần gũi quần chúng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân để xây dựng một phong trào vững mạnh Việc không ngừng học tập, rèn luyện và nâng cao trình độ hiểu biết là yếu tố then chốt để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ đề ra.
Người cũng dặn: “Khi phát triển Đảng, cần chọn lọc rất cẩn thận, phải xem trọng chất lƣợng quyết không làm một cách ồ ạt, không nên tham nhiều
Khi kết nạp mỗi Đảng viên mới, cần phải dựa vào sáu tiêu chuẩn của người đảng viên
Sáu tiêu chuẩn ấy là:
1- Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản 2- Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa tư tưởng sai lầm Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong, chân ngoài
3- Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết Biết đem lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng
4- Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng
5- Liên hệ chặt chẽ với quần chúng
6- Luôn cố gắng học tập; thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình Đó là mấy tiêu chuẩn rất cần thiết để xứng đáng là người đảng viên [31, 571] Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định hệ thống tổ chức của Đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước Tổ chức cơ sở Đảng đƣợc lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, đảng viên sinh hoạt trong các tổ chức cơ sở Đảng Hiện nay, cả nước ta có hơn 58.000 tổ chức cơ sở Đảng với gần 4 triệu đảng viên
Tại mục 2, Điều 1 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI quy định:
Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên có thể được xem xét kết nạp vào Đảng khi họ thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, và đáp ứng các tiêu chuẩn, nhiệm vụ của đảng viên Để đủ điều kiện, họ cần hoạt động tích cực trong tổ chức cơ sở Đảng và qua thực tiễn thể hiện là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm Những yếu tố này đều là căn cứ để xem xét kết nạp đảng viên mới, góp phần xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh, tiêu biểu cho phong trào của Đảng.
Mục 1 và 2, Điều 5, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI quy định:
Người được kết nạp vào Đảng phải trải qua thời gian dự bị kéo dài mười hai tháng kể từ ngày chi bộ tổ chức lễ kết nạp Trong thời gian dự bị, chi bộ tiếp tục giáo dục, rèn luyện và phân công đảng viên chính thức hỗ trợ đảng viên mới tiến bộ Khi kết thúc thời kỳ dự bị, chi bộ xem xét và quyết định kết nạp đảng viên chính thức để chính thức trở thành thành viên của Đảng.
Từ góc độ tổ chức đảng, những đảng viên mới kết nạp hoặc vừa chuyển chính thức đều được xem là đảng viên trẻ, có thời gian tuổi đảng còn ngắn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của tổ chức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, các đảng viên cũ ngày nay từng là đảng viên mới, còn các đảng viên mới sau này sẽ trở thành đảng viên cũ, phản ánh quá trình phát triển liên tục của Đảng Đảng ta luôn luôn phát triển, cần duy trì cả đảng viên cũ và đảng viên mới để giữ vững và nâng cao sức mạnh, bảo đảm sự trường tồn và phát triển bền vững của Đảng cộng sản Việt Nam.
Có nhƣ vậy Đảng mới ngày càng mạnh, mới làm tròn nhiệm vụ to lớn và vẻ vang của mình [30, 318]
Trong những năm qua, đội ngũ đảng viên của Việt Nam đã không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng, từ hơn 600 đảng viên vào năm 1935 đến gần 4 triệu hiện nay, góp phần đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cơ cấu đảng viên đã chuyển biến tích cực, với tỷ lệ đảng viên trẻ, nữ giới, dân tộc thiểu số và tôn giáo ngày càng tăng, đồng thời tuổi đời trung bình của đảng viên giảm, phản ánh sự đa dạng và trẻ hóa trong đội ngũ Chất lượng của đội ngũ đảng viên đóng vai trò quan trọng trong thành tựu của quá trình đổi mới đất nước suốt gần 30 năm qua, khẳng định vai trò chủ đạo của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới
Bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới theo quan điểm của Hồ Chí Minh là quá trình giáo dục và nâng cao nhận thức về tri thức lý luận chính trị, trọng tâm là lý luận Mác-Lênin, nhằm giúp Đảng viên hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng Quá trình này góp phần xây dựng thế giới quan phương pháp luận khoa học và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức cùng năng lực của cán bộ cách mạng Bồi dưỡng lý luận chính trị không chỉ nâng cao trình độ nhận thức, mà còn giúp Đảng viên giác ngộ cách mạng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện đại.