NGUYỄN ANH QUYẾT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 1NGUYỄN ANH QUYẾT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, tháng 6 năm 2016
Trang 2NGUYỄN ANH QUYẾT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60.14.01.14
Người hướng dẫn : PGS.TS Ngô Đình Phương
Nghệ An, tháng 6 năm 2016
Trang 3cao trình độ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ mới
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua Những nội dung học tập được ở Trường thông qua tài liệu được các nhà giáo lên lớp hướng dẫn nghiên cứu đã giúp tôi nâng cao nhận thức để hoàn thành
đề tài Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Ngô Đình Phương đã
tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên nghành Quản lý giáo dục
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa cùng các đơn vị, cán bộ, giáo viên, nhân viên đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn tốt nghiệp Xin cảm ơn các cơ quan, doanh nghiệp may, các trường đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, các sở ban ngành, cán bộ quản
lý, cán bộ kỹ thuật các doanh nghiệp may, cán bộ quản lý, đóng góp nhiều ý kiến cho nội dung nghiên cứu đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả anh em, bạn bè đồng nghiệp, gia đình, người thân đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi thiếu sót Mong được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 6 năm 2016
Tác giả
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 11
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 13
1.2.1 Đào tạo, liên kết 13
1.2.2 Liên kết đào tạo 16
1.2.3 Quản lý và quản lý hoạt động liên kết đào tạo 17
1.2.4 Giải pháp và giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo 19
1.2.5 Doanh nghiệp may 20
1.2.6 Trường cao đẳng nghề 20
1.3 Nội dung hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng nghề với doanh nghiệp 22
1.3.1 Liên kết xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo 22
1.3.2 Liên kết tổ chức đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp 23
1.4 Quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp trong đào tạo 26
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo 26
1.4.2 Các nội dung quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành May 28
1.4.3 Phát triển liên kết giữa trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may 35
1.5 Các yếu tố chi phối hoạt động liên kết giữa trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp trong đào tạo ngành may 37
Trang 5CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP THANH HÓA VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP 45
2.1 Giới thiệu khái quát về kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa 45
2.2 Thực trạng hệ thống đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa 46
2.2.1 Hệ thống các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề đào tạo ngành may trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa 46
2.2.2 Quy mô đào tạo ngành may tại các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa 48
2.3 Thực trạng về quản lý hoạt động liên kết đào tạo nhân lực ngành May giữa Trường CĐ nghề Công nghiệp Thanh Hóa với các doanh nghiệp 51
2.3.1 Thực trạng về liên kết xác định mục tiêu đào tạo 51
2.3.3 Thực trạng liên kết về phương pháp đào tạo 54
2.3.4 Thực trạng liên kết về tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 55
2.3.5 Thực trạng về đánh giá, kiểm tra nhân lực đào tạo 57
2.4 Đánh giá về thực trạng hoạt động liên kết đào tạo nhân lực ngành may giữa Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa với các doanh nghiệp 63
2.4.1 Thành tựu 63
2.4.2 Hạn chế, nguyên nhân 66
2.4.3 Bài học 71
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP THANH HÓA VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 74
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất giải pháp 74
Trang 63.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 76
3.2 Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa trường cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may 76
3.2.1 Nâng cao nhận thức của nhà trường và doanh nghiệp trong vấn đề liên kết đào tạo 76
3.2.2 Xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, đổi mới phương pháp đào tạo ngành may 78
3.2.3 Tăng cường nguồn lực cho đào tạo ngành may 81
3.2.4 Tổ chức quá trình đào tạo ngành may 83
3.2.5 Phát triển, chuyển giao công nghệ ngành may 88
3.2.6 Trao đổi thông tin và hoạt động dịch vụ 90
3.3 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 92
3.3.1 Mục đích, đối tượng thăm dò 92
3.3.2 Nội dung, phương pháp thăm dò 93
3.3.3 Kết quả thăm dò 94
Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
Trang 7Sơ đồ 1.1: Tổ chức liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp bên ngoài 30
Sơ đồ 1.2: Tổ chức liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp được thành lập bên trong Nhà trường 31
Sơ đồ 1.3: Tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp và nhà trường thành lập tại doanh nghiệp 33
Sơ đồ 1.4: Các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo 43
Bảng: Bảng 2.1: Danh sách các trường đào tạo ngành may trên địa bàn 47
Bảng 2.2: Quy mô đào tạo chuyên ngành may của các trường cao đẳng, trung cấp trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa 49
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát về tính phù hợp với thực tiễn của 53
Bảng 2.4: Kết quả đánh giá về sự đáp ứng của cơ sở vật chất so với 56
Bảng 2.5: Đánh giá của học sinh sinh viên về chất lượng đào tạo 58
Bảng 2.6: Đánh giá của cựu học sinh sinh viên về khả năng đáp ứng 60
Bảng 2.7: Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của học sinh sinh viên trường cao đẳng nghề công nghiệp Thanh Hóa 61
Bảng 3.1: Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp 94
Bảng 3.2: Đánh giá tính khả thi của các giải pháp 95
Trang 8
Doanh nghiệp sản xuất
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện đại hoá
Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization) Trường Đại học Kinh tế INSEAD - Pháp
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xu thế toàn cầu hóa và sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế quốc tế đã
mở ra rất nhiều cơ hội cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Tuy nhiên điều này cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các quốc gia cần phải nỗi lực rất nhiều trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh để tránh bị phụ thuộc
và tụt hậu Trong bối cảnh đó, điều quyết định cho sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia là đào tạo được những con người có học vấn cao, có chuyên môn tốt, có đạo đức, có văn hóa và biết cách làm việc hiệu quả Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện nay là nhiệm vụ quan trọng không chỉ đối với các trường cao đẳng, đại học và các trường dạy nghề mà còn là nhiệm vụ chung của cả hệ thống giáo dục quốc dân
Theo điều tra xã hội học, nguồn nhân lực của nước ta hiện nay đã cải thiện hơn so với nhiều năm trước đây Tuy nhiên, chất lượng của nguồn nhân lực vốn được xem là khâu then chốt để nâng cao tính bền vững của nền kinh
tế, việc phát triển xã hội thì vẫn còn nhiều hạn chế hay nói đúng hơn là vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập Chính vì vậy, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam với chỉ số ước đạt 55% lao động có tay nghề cao, nhằm đáp ứng trước thách thức của nền kinh tế thị trường [19] Thông qua chiến lược này, Chính phủ kỳ vọng người lao động có đủ trình độ, nhạy cảm đối mặt với một thách thức rất lớn là môi trường làm việc mang tính cạnh tranh Cạnh tranh với lao động trong nước và cạnh tranh với lao động nước ngoài, khi tham gia vào quá trình xuất khẩu lao động hay khi lao động nước ngoài trực tiếp vào làm việc tại Việt Nam là một trong những động lực để các cơ sở nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực ngành Dệt May
Trang 10Ngành Dệt May Việt Nam hiện nay đang thu hút khoảng gần 3 triệu lao động Để đáp ứng với mục tiêu phát triển của ngành, trong vòng vài ba năm tới, số lao động của ngành dự kiến sẽ tăng lên khoảng 4 triệu Trong khi đó, hiện nay lao động ngành Dệt May đang rất thiếu và yếu cả các đội ngũ lao động trực tiếp, quản lý, kinh doanh và chuyên môn nghiệp vụ Trong các doanh nghiệp Dệt May nói chung, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng chưa được quan tâm đúng mức Nếu không nhanh chóng giải bài toán nguồn nhân lực thì khả năng cạnh tranh của ngành Dệt May Việt Nam sẽ khó có thể đảm bảo được Chính vì thế, tìm kiếm các giải pháp cần thiết, khả thi để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho ngành May là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các trường cao đẳng, đại học và các trường dạy nghề
Hiện nay, chất lượng đào tạo ngành May chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, với nhiều quy mô khác nhau trên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học và các trường dạy nghề ở Thanh Hóa Học sinh, sinh viên sau khi đã tốt nghiệp vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc theo công nghệ mới, của người sử dụng lao động Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này
là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề Nhà trường giảng dạy ngành May chủ yếu dựa trên khả năng đào tạo của mình mà chưa quan tâm tới nhu cầu tương ứng từ các doanh nghiệp may, đào tạo những gì nhà trường có chứ chưa đào tạo những cái gì mà doanh nghiệp May cần thiết Do đó luật cung cầu đào tạo mất cân bằng về quy mô, cơ cấu
và đặc biệt là chất lượng, giảm hiệu quả đào tạo, gây ra những lãng phí Mặt khác, các doanh nghiệp May rất mong muốn sở hữu nguồn nhân lực có kỹ năng, có chất lượng cao nhưng cũng chưa chủ động tham gia vào quá trình liên kết đào tạo nghề
Vì vậy, để phát huy được thế mạnh của ngành May trong nền kinh tế, đồng thời để hội nhập được với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới thì vấn đề nhà trường liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân
Trang 11lực có chất lượng cao, nhằm đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước đồng thời giúp cho ngành May trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam nói chung và của Tỉnh Thanh Hóa nói riêng
Mục tiêu đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặt ra cho các cơ
sở đào tạo một nhiệm vụ cao cả và một trọng trách nặng nề Các cơ sở đào tạo phải giải quyết hiệu quả bài toán giữa phát triển nhanh quy mô, phạm vi đào tạo và ổn định, nâng cao chất lượng đào tạo, để hoàn thành sứ mệnh: đào tạo đạt chuẩn, đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, của cơ sở đào tạo nhân lực trên cả nước
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII cũng đã khẳng định cần
“tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm
xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, thực hiện chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo; đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý” [9]
Thanh Hóa là tỉnh đông dân, gần 3,8 triệu người, hơn 2,2 triệu lao động và hàng năm có khoảng 54 -55 ngàn người bước vào tuổi lao động và phần lớn đều có nhu cầu việc làm
Mục tiêu của tỉnh hiện nay là giải quyết việc làm cho khoảng 330 ngàn lao động; bình quân mỗi năm 65.000 người, trong đó xuất khẩu lao động từ 10.000 lao động trở lên Năm 2015, cơ cấu lao động trong nông nghiệp chiếm
Trang 1255% , công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm 45% tổng lao động xã hội Giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 4,5% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên trên 85%
Tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản trong GDP giảm từ 24,2% năm
2010 xuống còn 17,6% năm 2015; tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 41,4% lên 42%; tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 34,4% lên 40,4% GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.600 USD trở lên Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP năm 2020: nông, lâm, thủy sản chiếm 12%; công nghiệp - xây dựng chiếm 53,7%; dịch vụ chiếm 34,3%
Để góp phần thực hiện bền vững những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030 của tỉnh Thanh Hóa, trong
đó có nhiệm vụ nâng cao chất lượng nhân lực ngành May, cần có những giải pháp để đổi mới căn bản toàn diện hoạt động đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Tỉnh Đó cũng là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết của Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa
hiện nay Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp ở Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa” nhằm góp phần thực hiện
nhiệm vụ nói trên
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành May ở Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hoá, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường
và doanh nghiệp
Trang 133.2 Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý hoạt động liên kết
đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp ở Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện một cách sáng tạo, linh hoạt các giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp ở Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa sẽ nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành May, đáp ứng nhu cầu của xã hội
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề liên kết giữa nhà trường với
doanh nghiệp
5.1.2 Đánh giá thực trạng hoạt động liên kết với doanh nghiệp trong
việc đào tạo nhân lực ngành May của Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa
5.1.3 Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động liên kết với doanh
nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành May của Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa
6 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổng hợp tài liệu
tham khảo về chủ trương, chính sách, quan điểm thuộc lĩnh vực đào tạo
ngành May
Trang 14- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng
công tác đào tạo ngành May hiện nay tại Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp
Thanh Hóa
- Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác: Phương pháp so sánh,
phương pháp toán thống kê và một số phương pháp khác
7 Đóng góp đề tài
- Góp phần tổng hợp được những vấn đề cơ bản về cơ sở quản lý giáo dục và quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở giáo dục với doanh nghiệp
- Khảo sát, đánh giá được thực trạng đào tạo ngành May và việc liên
kết với doanh nghiệp ở trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa
- Đề xuất được các giải pháp quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành May ở Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa
trường cao đẳng nghề với các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường
Cao đẳng nghề công nghiệp Thanh Hóa với các doanh nghiệp
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa
Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa với các doanh nghiệp
Trang 15và các doanh nghiệp đã, đang và sẽ ngày càng có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học cho cả nhà trường và sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, các nước trên thế giới đều quan tâm thúc đẩy các hoạt động hợp tác cũng như nghiên cứu [11], [15] về vấn đề này và cho Việt nam chúng ta nhiều kinh nghiệm, bài học quý báu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Tại Mỹ, đầu tư của Chính phủ Mỹ cho Khoa học Công nghệ (KH-CN)
cao hơn tổng đầu tư tương tự ở các Chính phủ các nước Châu Âu và Nhật Bản cộng lại, trong khi đó, đầu tư cho KH-CN của các công ty Mỹ còn cao hơn gấp 3 lần giá trị đầu tư của Chính phủ, riêng năm 2003, Chính phủ Mỹ đầu tư
112 tỷ USD cho nghiên cứu KH-CN với mục tiêu sáng chế ra những sản phẩm của tương lai, kiểm soát những ngành thông tin liên lạc Ngân sách khoa học liên bang sẵn sàng tài trợ cho cả các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu tư nhân thông qua hợp đồng nghiên cứu Bất kỳ một nhà khoa học nào cũng có quyền nộp đơn xin tài trợ cho những dự án nghiên cứu do mình
đề xuất Việc tuyển chọn dự án để tài trợ sẽ được tiến hành, nếu có từ 2 dự án đăng ký trở lên và mức độ giải ngân sẽ được gia tăng tỷ lệ thuận với kết quả nghiên cứu thu được trên thực tiễn
Chủ trương của Chính phủ Mỹ là tạo điều kiện cho mọi công dân Mỹ đều có thể tiếp cận với nền giáo dục và đào tạo mà họ cần Bộ Lao động Mỹ
Trang 16cũng tích cực hỗ trợ trong việc huấn luyện kỹ thuật, nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho những công nghệ có thể tăng hiệu quả đào tạo ở các trường chính thống, đào tạo trong công nghiệp và tại nhà; tăng thêm đầu tư của Nhà nước cho các soạn thảo chương trình nhằm trang bị những kỹ năng cần thiết về toán, khoa học và kỹ thuật trong các trường phổ thông, đại học, sau đại học và dạy nghề; thúc đẩy chuyển giao kinh nghiệm đào tạo trong các trường quốc phòng sang các trường dân sự
Tại Trung Quốc, để tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu chuyển giao
công nghệ phù hợp nguyên tắc thị trường, đồng thời với việc cắt giảm bao cấp tài chính từ ngân sách cho các cơ quan nghiên cứu, Trung Quốc khuyến khích thành lập các quỹ đầu tư với vốn góp từ 3 nguồn: 10% từ các trường đại học; 30% từ các nhà nghiên cứu/nhà giáo, trong đó 2/3 đóng góp bằng tri thức công nghệ và 1/3 từ đóng góp đầu tư của các cá nhân; 60% từ ngân sách nhà nước và tài trợ của các công ty Khi dự án thành công, lợi nhuận được chia đều theo tỷ lệ góp vốn Cho đến nay, để tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản, Trung quốc đã có quỹ khoa học tự nhiên quốc gia với số vốn hơn 600 triệu nhân dân tệ Ngoài ra, còn có hơn 50 quỹ khoa học khác với tổng số vốn hơn
250 triệu nhân dân tệ, do các Bộ và chính quyền địa phương thành lập Các quỹ này tập trung tài trợ cho các dự án có tầm quan trọng chiến lược trong phát triển KHCN và được lồng ghép với phát triển kinh tế có mục tiêu trung
và dài hạn, nhằm tăng giá trị thực tế của các nghiên cứu khoa học cơ bản
Kinh nghiệm quan trọng trong việc tổ chức và thúc đẩy hợp tác khoa học và công nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp, cũng như phát triển thị trường công nghệ ở Trung Quốc là việc thành lập các trung tâm chuyên phục vụ trao đổi, chuyển giao công nghệ, tạo ra một môi trường thông thoáng cho các doanh nghiệp có thể tìm được những dự án phù hợp để đầu tư Các viện, trường đại học có thể tìm được nhiều nguồn tài chính nhiều cho công việc nghiên cứu của họ
Trang 17Tại Italia, hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp diễn ra chủ
yếu dưới 2 hình thức: Thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ; Các doanh nghiệp tuyển mộ các nhà khoa học của các trường đại học vào làm việc tại các doanh nghiệp theo thời hạn
Từ những năm 1960, Chính phủ Italia đã hỗ trợ các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (DNVVN) thực hiện các hợp đồng nghiên cứu hỗ trợ thành lập các cơ quan chuyển giao công nghệ Năm 1977, Chính phủ Italia đã đưa ra một loạt biện pháp mới nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các DNVVN, tập trung vào việc khuyến khích các DNVVN tuyển mộ các nhà khoa học có trình
độ tiến sĩ và những người được giải thưởng vào thực hiện các hoạt động nghiên cứu trong doanh nghiệp, với thời hạn làm việc tối thiểu là 2 năm và mức lương lên tới hàng chục ngàn USD/năm Gần đây, Chính phủ Italia có một số cải cách giao nhiều quyền tự chủ để các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học được độc lập hơn trên phương diện quy chế, tổ chức và tài trợ vốn, từ đó tạo động lực khuyến khích các trường đại học đóng vai trò chủ động hơn trong chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp Tại Italia, có rất nhiều cơ quan địa phương và khu vực (bao gồm các phòng thương mại và công nghiệp cũng như các hội liên hiệp ngành) có thể hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đặc biệt là cho các DNVVN Cũng như các nước công nghiệp phát triển khác, Italia cũng xây dựng một số công viên KH-CN và thực hiện chuyển giao công nghệ qua các công ty chuyên trách, mà thành viên sáng lập của chúng thường là từ các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu khác
Tại Pháp, Chính phủ rất quan tâm đến sự hợp tác giữa các trường đại
học và doanh nghiệp Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên doanh nghiệp và mở rộng trao đổi nhân sự giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp là một trong những ưu tiên của sự hợp tác này Luật Đổi mới năm 1999, các nhà nghiên cứu được nhà nước tuyển dụng có thể tham gia nghiên cứu tại các công ty vệ tinh Trong 6 tháng đầu năm đó, họ
Trang 18có thể giữ nguyên vị trí công tác nếu họ thành lập doanh nghiệp và quản lý
nó Sau đó, họ có thể làm cố vấn và duy trì quyền lợi tài chính của mình tại các doanh nghiệp này nếu muốn Pháp đã thành lập các trung tâm đổi mới và chuyển giao công nghệ (CRITT) thực hiện chức năng những “trung tâm nguồn lực công nghệ” (CRT) trong chuyển giao công nghệ theo hợp đồng cho ngành và doanh nghiệp Từ đầu những năm 1990, Pháp đã phát triển mạng lưới phổ biến công nghệ (RDT) nhằm thúc đẩy hợp tác, phối hợp tốt hơn giữa các chủ thể chuyển giao công nghệ nhà nước và bán công, đặc biệt là DNVVN ở cấp độ vùng Một số trường đại học đã tách riêng các cơ sở nghiên cứu theo các hợp đồng nghiên cứu hoặc thành lập các trung tâm ươm công nghệ để hỗ trợ cho cơ sở phụ hay vệ tinh của các công ty mới
Tại Anh, tỷ lệ vốn tài trợ nghiên cứu từ các doanh nghiệp (so với tổng
số vốn hoạt động nghiên cứu khoa học) trong các trường đại học chiếm khoảng 11%, trong khi tỷ lệ này ở Thụy điển là 4% và ở Đức là 8% Sự tham gia tài trợ của ngành trong các trường đại học khác nhau khá lớn Năm 1997, chỉ 7 trường đại học đã nhận được 1/3 nguồn vốn tài trợ cho nghiên cứu từ các ngành Các trường đại học đa số có văn phòng liên lạc nghiên cứu Mục đích của các văn phòng liên lạc nghiên cứu này là hỗ trợ chuyển giao công nghệ giữa các viện và ngành Các văn phòng đề xuất đàm phán về các điều khoản tài chính và điều khoản khác, các điều kiện hợp đồng nghiên cứu, tư vấn và các dịch vụ khác Các trường đại học cũng có lợi từ hoạt động của các văn phòng liên lạc nghiên cứu thông qua tư vấn về việc thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ và thẩm định chuyên môn
Trong những năm 1995-1997, hơn một nửa có sở giáo dục đại học tại Anh có công ty (sở hữu toàn bộ hay một phần) để khai thác các kết quả nghiên cứu Nhiều trường đại học đã tham gia vào các “công viên khoa học” với nhiều mục tiêu như: tạo doanh thu, nắm bắt nhiều hơn quyền sở hữu trí tuệ bị rò rỉ từ các trường đại học, thu hút các công ty là khách hàng tiềm năng
Trang 19của mình đóng vai trò tái sinh kinh tế địa phương Tuy nhiên, do thiếu sự tham gia thực sự của các trường đại học trong chuyển giao công nghệ, nhiều
“công viên khoa học” không có khả năng duy trì các cơ sở hỗ trợ tại chỗ nhằm kích hoạt hay hỗ trợ phát triển công nghệ
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Tại Việt Nam, những năm gần đây các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề đã ít nhiều quan tâm đến vấn đề liên kết đào tạo với doanh nghiệp Một số trường đại học, cao đẳng ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng cũng đã tiến hành các hoạt động cam kết với một số doanh nghiệp trong và ngoài nước về hỗ trợ đào tạo, thực tập tốt nghiệp, tuyển dụng sinh viên ra trường Bộ Giáo dục & Đào tạo đang thực hiện cuộc vận động “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và không đáp ứng nhu cầu sử dụng của
xã hội” thì vấn đề liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết Chính vì thế cũng đã có rất nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu về vấn đề liên kết đào tạo giữa Nhà trường và Doanh nghiệp
Đề tài của tác giả Hoàng Xuân Trường (2009) nghiên cứu “Một số giải pháp kết hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Nghệ An” đã nghiên cứu tình hình thực tế của việc kết hợp đào tạo với các doanh nghiệp của các trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này [dẫn theo 15]
Đề tài của tác giả Trương Việt Khánh Trang (2012) nghiên cứu “Giải pháp liên kết giữa trường và doanh nghiệp may nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” [15] đã đi sâu phân tích thực trạng về chất lượng đào tạo và sự liên kết giữa các trường và doanh nghiệp tại các trường dạy nghề thuộc dự án kỹ thuật
và dạy nghề Qua đó, tác giả cũng đề xuất 2 nhóm giải pháp liên kết giữa Nhà
Trang 20trường và nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bao gồm nhóm giải pháp
áp dụng cho cấp cơ sở (nhà trường, doanh nghiệp, người học) và nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách khuyến khích quan hệ trường ngành
Trong luận án tiến sỹ của tác giả Trần Khắc Hoàn đã phân tích và đưa
ra vấn đề “Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất”[11] là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Song, do hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả phân tích các cơ sở khoa học, đề cập đến các cách tiến hành tăng cường quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất, đề cập phương thức kết hợp đào tạo tổng quát ở Việt nam, và đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiện kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải quyết các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo CNKT xây dựng ở thủ đô Hà Nội, nên không đi sâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn kết hợp đào tạo nghề)
Nghiên cứu “Gắn đào tạo sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp” (2009) của Trần Anh Tài [14] đã nêu lên thực trạng mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp đồng thời đưa ra các giải pháp gắn kết đào tạo với sử dụng, nhà trường với xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả phân tích về mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các trường đại học, chưa đề cập đến các trường cao đẳng kỹ thuật và các trường dạy nghề
Nghiên cứu “Phát triển mô hình liên kết bền vững giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp dệt may trong xu hướng hội nhập WTO” của tác giả Nguyễn Thị Bích Thu, trường Đại học Đà Nẵng đã đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình liên kết bền vững giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp dệt may Tuy nhiên các giải pháp chưa được phân tích sâu về nội dung
và cách thức thực hiện
Trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu nói trên, tác giả bao quát toàn diện về các khía cạnh của vấn đề liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh
Trang 21nghiệp, từ đó tác giả hy vọng có thể đề xuất những giải pháp mang tính hiệu quả và tính khả thi cao
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Đào tạo, liên kết
William Mc Gehee (1979): Đào tạo nghề là những quy trình mà những công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của doanh nghiệp
Max Forter(1979) cũng đưa ra khái niệm đào tạo nghề phải đáp ứng việc hoàn thành 4 điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học; phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ; tạo ra sự thay đổi trong hành vi; đạt được những mục tiêu chuyên biệt
ILO định nghĩa: đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những
kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao
Đào tạo nghề là một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và phương pháp, nhằm trang bị cho người học những kiến thúc, kỹ năng và thái
độ cần thiết để họ có cơ hội tìm được việc làm và có năng lực hành nghề ở những vị trí lao động theo yêu cầu của sản xuất Kết thúc khóa đào tạo, sinh viên được cấp bằng hoặc chứng chỉ để có thể hành nghề
Trang 22Năng lực hành nghề (competence) của họ bao gồm 3 yếu tố: kiến thức (Knowledge), kỹ năng(Skill) và thái độ(Attitude) mà mỗi nghề đòi hỏi người phải có để có thể hành nghề
Kiến thức là những hiểu biết về các khái niệm, định nghĩa, nguyên lý, quy tắc, phương pháp, sự kiện về công cụ lao động, đối tượng lao động, quy trình công nghệ, sản phẩm lao động và những hiểu biết khác cần thiết cho việc hành nghề Những kiến thức này có được do quá trình học nghề và trong kinh nghiệm lao động sản xuất của bản thân
Kỹ năng là sự thể hiện khả năng thực hiện thành thạo các công việc của nghề theo yêu cầu của sản xuất, của thị trường lao động
Thái độ nghề nghiệp là những phẩm chất đạo đức trong lao động như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật, tính tập thể, tác phong công nghiệp và các phẩm chất cần thiết khác để người công nhân kỹ thuật có thể lao động có chất lượng và hiệu quả
- Đào tạo ngành may cũng là đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để các học sinh sinh viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo,
sự khéo léo, thành thục nhất định về ngành may Học sinh sinh viên tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành để đạt được một trình độ nhất định, đào tạo nghề cho học sinh sinh viên là giáo dục kỹ thuật sản xuất vững vàng nghề nghiệp chuyên môn ngành may
Mục tiêu đào tạo nhân lực kỹ thuật ngành trực tiếp trong sản xuất, dịch
vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 23Như vậy, nội dung của đào tạo ngành may bao gồm: trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành may nhằm giúp họ có thể làm trong lĩnh vực ngành may nhất định, đào tạo các kỹ thuật viên trình độ cao đẳng ngành công nghệ may có đủ năng lực, phẩm chất, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp để có thể đảm nhận công việc ở các cương vị khác nhau tại các doanh nghiệp may hoặc cơ sở đào tạo nghề cũng như có khả năng tổ chức quản lý sản xuất những cơ sở sản xuất vừa và nhỏ của ngành may và các công việc sản xuất may công nghiệp trên toàn bộ dây chuyền sản xuất, thiết lập quy trình sản xuất sản phẩm may trên chuyền, quản lý chuyền, kiểm tra chất lượng sản phẩm may, sử dụng thành thạo các máy may trên chuyền, thiết kế sản phẩm may và thực hiện các bước công nghệ cho đến kiểm tra chất lượng sản phẩm
Mặc dù số lượng học sinh sinh viên qua đào tạo đông như thế nhưng ngành may vẫn đang thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao Điều này đòi hỏi các trường cũng như các doanh nghiệp trong ngành may phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
1.2.1.2 Liên kết
Theo Từ điển tiếng Việt, liên kết là “kết, buộc lại với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau” hoặc rõ hơn liên kết là “kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng lẽ nhằm mục đích nào đó” [23]
Các khái niệm trên cho thấy liên kết phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau giữa các thành phần trong một tổ chức hay giữa các tổ chức khác nhau Các khái niệm cũng chỉ ra rằng tính mục đích là tiêu điểm,
là cơ sở hình thành sự liên kết Có thể thấy rằng, liên kết sẽ tạo ra sức mạnh mới, trạng thái mới mà mỗi thành phần sẽ không có được khi chưa liên kết với nhau
Trang 24Mục tiêu của liên kết là nhằm thỏa mãn mong muốn chung, mong muốn
cụ thể của từng thành phần, tổ chức tham gia liên kết dưới dạng các lợi ích như lợi ích kinh tế, lợi ích an ninh, an toàn, nâng cao vị thế, gia tăng nguồn lực Có thể nói lợi ích là động lực cho liên kết
Thành viên trong liên kết là các thành phần, các tổ chức độc lập, có
tư cách pháp nhân, thuộc nhiều loại hình, tính chất hoạt động có thể rất khác nhau nhưng tương đồng nhau về mục đích chung làm nảy sinh nhu cầu liên kết
Tuy vậy quan hệ liên kết giữa các thành phần, tổ chức cũng có những điều kiện nhất định của nó Quá trình thực hiện liện kết nếu như mục đích chung đạt được và lợi ích cụ thể của từng thành viên liên kết cũng được thỏa mãn thì sự liên kết còn được động lực để tồn tại, phát triển Nếu nhu cầu liên kết không còn hoặc động lực liên kết mất đi thì sự liên kết khó có thể tồn tại Ngoài ra nếu trong các thành viên xảy ra xung đột lợi ích hoặc thiếu công bằng, minh bạch, chân thành trong thực hiện các cam kết liên kết thì có nguy
cơ liên kết cũng không còn Đây là điều kiện bên trong mang tính nội tại đảm bảo cho sự tồn tại hay không của liên kết giữa các thành viên
Về điều kiện bên ngoài của liên kết cho thấy nếu tư cách pháp nhân của các thành viên tham gia liên kết mất đi hoặc tính pháp lý của liên kết không còn thì liên kết cũng sẽ mất
1.2.2 Liên kết đào tạo
Liên kết đào tạo là sự hợp tác, phối hợp giữa cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó của quá trình đào tạo nhằm góp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước đồng thời mang lại lợi ích cho mỗi bên Liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học
Trang 25Đơn vị chủ trì đào tạo là các trường tổ chức quá trình đào tạo bao gồm: tuyển sinh, thực hiện chương trình, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp
Đơn vị phối hợp đào tạo là chủ thể trực tiếp tham gia liên kết đào tạo với vai trò hợp tác, hỗ trợ các điều kiện thực hiện liên kết đào tạo
Mục đích của hoạt động liên kết đào tạo là:
- Thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội; huy động tiềm năng của các trường nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho địa phương
- Tạo cơ hội học tập cho nhiều người trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và xã hội hoá giáo dục
1.2.3 Quản lý và quản lý hoạt động liên kết đào tạo
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản lý học
Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với
sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
Trang 26Quản lý theo định nghĩa của các trường phái quản lý học Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là
kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau [13], [22]:
- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "
- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà
ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"
Tóm lại, quản lý là quan niệm chứ không phải kỹ thuật, là tự do chứ không phải bị khống chế, là nhiệm vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ không phải tiềm năng, là trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ không phải thăng hến; là cơ hội chứ không phải chướng ngại;
là đơn giản chứ không phải phức tạp
Quản lý hoạt động liên kết đào tạo là việc thực hiện kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát hoạt động liên kết đào tạo đó
Trang 271.2.4 Giải pháp và giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo
Giải pháp có nghĩa là chỉ , vạch ra con đường để đi tới được cái "đích" mình cần đến hay mục tiêu mong đợi, giải pháp tốt thì đến đích nhanh an toàn giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn Theo Từ điển tiếng Việt [23], “giải là cởi ra”, “pháp là phép”; “giải pháp là cách giải quyết những vấn đề khó khăn; phương pháp giải quyết một vấn đề”
Khái niệm giải pháp rộng hơn biện pháp ở chỗ nó được sử dụng cho những hoạt động có tính chất dài hạn như chiến lược của tổ chức, đòi hỏi sự
nỗ lực, phối hợp hoạt động bằng nhiều nguồn lực khác nhau, có tác động sâu sắc làm biến đổi hiện trạng của một hoạt động hoặc tổ chức Một giải pháp có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau
Giải pháp là việc đưa ra những cách thức, những công việc cần thực hiện
để giải quyết một vấn đề khó khăn hay những tồn đọng đang gặp phải nhằm đạt được các kết quả tốt đẹp hơn
Giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo
Để quản lý liên kết đào tạo thì người lãnh đạo phải nghiên cứu các giải pháp để thực hiện thật tốt, thật hiệu quả cái mà nhiệm vụ quản lý cần thực hiện, đích cần đạt có hiệu quả cao, thành công lớn ta gọi là có giải pháp quản
lý tốt
Giải pháp quản lý liên kết đào tạo là nhóm giải pháp quản lý được hiểu là những cách giải quyết cụ thể nhằm tổ chức các hoạt động liên kết đảm bảo tính mục đích, hiệu quả Như vậy, giải pháp đó phải bao gồm về quản lý nhận thức, quản lý kế hoạch, quản lý tổ chức hoạt động, quản lý cơ
sở vật chất thiết bị, quản lý công tác kiểm tra và các điều kiện đảm bảo khác cho hoạt động [22]
Trang 281.2.5 Doanh nghiệp may
Doanh nghiệp may tại Việt Nam là những doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ bằng phương pháp quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội
Những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các
bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm nhiều phân hệ sau như: tổ hành chính, nhân sự, sản xuất, thương mại, tiếp thị, hậu cần Như vậy, một trong những yếu tố cấu thành hệ thống trong hoạt động của doanh nghiệp là nguồn nhân lực trong tổ chức Để có được nguồn nhân lực này, doanh nghiệp cần thu hút lực lượng lao động từ bên ngoài xã hội và các nhà trường Chính
chức-vì thế doanh nghiệp trở thành nơi “tiêu thụ sản phẩm” của các nhà trường, là
“khách hàng” mà các cơ sở đào tạo phải hướng tới để phục vụ Sản phẩm may mặc là các loại quần áo: áo sơ mi, áo jacket, quần kaki, quần bò, quần âu, quần áo bảo hộ lao động, đồng phục công sở, đồng phục học sinh Sản phẩm của các doanh nghiệp may Việt nam không những chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp may còn kinh doanh các thiết bị, phụ kiện và nguyên vật liệu phục vụ trong ngành dệt may
Trang 29Trường cao đẳng nghề là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân,
có con dấu và tài khoản riêng; có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo qui định của pháp luật
Nhiệm vụ của trường cao đẳng nghề: 1) Tổ chức đào tạo lao động kỹ thuật sản xuất, dịch vụ các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề; trang bị cho người học năng lực thực hành tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp; tạo điều kiện cho người học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động 2) Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo, xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề 3) Tổ chức các hoạt động dạy
và học, thi kiểm tra, công nhận tốt nghiệp cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ lao đông thương binh & xã hội 4) Tuyển dụng quản lí đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên của trường đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, qui mô và trình độ đào tạo theo qui định của pháp luật 5) Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, thực hiện sản xuất kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo qui định của pháp luật, phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề 6) Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội thực hiện dân chủ công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính 7) Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo qui định; thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật
Trang 301.3 Nội dung hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng nghề với doanh nghiệp
1.3.1 Liên kết xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo
Nội dung chương trình đào tạo có vai trò là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công của đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp Tuỳ theo từng
vị trí công việc trong doanh nghiệp sẽ thiết kế nội dung chương trình về kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết Các doanh nghiệp cần tham gia trực tiếp vào việc xây dựng, cải tiến chương trình đào tạo thông qua cung cấp thông tin, phản biện nội dung chương trình Trong nhóm xây dựng, cải tiến chương trình đào tạo cần có một số thành viên của doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là những người quản lý các bộ phận tác nghiệp Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, ngoài đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp, nhà trường còn phải đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại của chương trình đào tạo mà các doanh nghiệp chưa biết đến hoặc ít quan tâm và quan trọng hơn là việc đào tạo ra những con người có khả năng tự học
để học suốt đời Đây chính là điểm khác biệt quan trọng giữa đào tạo cao đẳng và đào tạo nghề
Khi có được các chương trình đào tạo đạt chuẩn thì việc xây dựng học liệu không quá khó khăn Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng học liệu là tham gia hoặc cung cấp thông tin để viết các nghiên cứu tình huống Kinh nghiệm thành công và thất bại của các cá nhân trong từng vị trí công việc sẽ
là những bài học vô cùng quý giá cho những học sinh sinh viên, học viên Nhà trường rất cần các nghiên cứu tình huống sống động từ thực tiễn của doanh nghiệp và hoàn toàn có thể tham gia được việc này Doanh nghiệp càng đầu tư đúc kết những kinh nghiệm thành công, thất bại của những người đi trước bao nhiêu để tham khảo cho những người đi sau thì càng tăng được giá trị và giảm bớt những tổn thất cho mình trong tương lai Điều này đã được các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp (CEO) nổi tiếng trên thế
Trang 31giới đúc kết qua nhiều cuốn sách về lãnh đạo, quản trị nhân sự
1.3.2 Liên kết tổ chức đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp
1.3.2.1 Liên kết về tài chính và cơ sở vật chất
Công nghệ đào tạo có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc quan trọng vào nguồn tài chính Chất lượng đào tạo tốt phụ thuộc vào nguồn tài chính tốt Nguồn tài chính của phần lớn các đại học, cao đẳng, trung cấp ở nước ta hiện nay vẫn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và một phần nhỏ vốn
tự có từ học phí Cả hai nguồn vốn này, về cơ bản mới chỉ đủ cho nhà trường duy trì các hoạt động thường xuyên thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao Kinh nghiệm thành công của nhiều đại học lớn trên thế giới cho thấy, muốn
có “nguồn tài chính khoẻ” cần phải dựa vào doanh nghiệp và tài trợ Các doanh nghiệp có thể hỗ trợ đào tạo thông qua các hoạt động cung cấp học bổng cho học sinh sinh viên, trả học phí dưới dạng tài trợ cho nhà trường để đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, cung cấp tài chính cho đào tạo thông qua việc ký các hợp đồng nghiên cứu, tư vấn và đầu tư mạo hiểm (phát minh, sáng chế, ý tưởng mới…) Mặt khác, các doanh nghiệp
có thể đóng góp tài chính với nhà trường để thành lập các công ty, vườn ươm doanh nghiệp, khu công nghệ cao… Các trường, doanh nghiệp ở thành phố Kawasaki (Nhật Bản) rất thành công trong mô hình gắn kết nhà trường và doanh nghiệp Doanh nghiệp, nhà trường, chính quyền thành phố cùng góp vốn để xây dựng các vườn ươm doanh nghiệp, khu công nghệ cao
Đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp còn được thể hiện rất rõ qua việc tăng cường năng lực về cơ sở vật chất cho nhà trường Các trường ở nước ta đang gặp khó khăn rất lớn vì thiếu trầm trọng giảng đường, phòng thí nghiệm và thiết bị dạy học Các doanh nghiệp có thể hỗ trợ giải quyết một phần khó khăn này thông qua việc đầu tư, tài trợ giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết bị dạy học và đào tạo tại doanh nghiệp (sử dụng cơ sở vật chất của doanh nghiệp) Nhờ đó, học sinh sinh viên có cơ hội được làm quen
Trang 32với môi trường doanh nghiệp, các thiết bị, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Đồng thời, các doanh nghiệp cũng có cơ hội để lựa chọn, hướng nghiệp cho những học sinh sinh viên, học viên có năng lực tốt phục vụ cho doanh nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp
1.3.2.2 Liên kết về nhân sự
Đội ngũ giảng viên là thành tố then chốt trong công nghệ đào tạo và quyết định sự thành công của đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, các giảng viên phải xây dựng, điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp
mà doanh nghiệp cần chứ không phải là dựa vào những thứ có sẵn hoặc ý muốn chủ quan của giảng viên Phương pháp dạy học, thực tập của học sinh sinh viên cũng phải thay đổi theo hướng phục vụ người học, đảm bảo được sự linh hoạt và bám sát thực tế Yêu cầu này đã buộc các giảng viên và học sinh sinh viên phải đi khảo sát, gắn bó với doanh nghiệp Mặt khác, với phương thức đào tạo gắn kết này, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội và trách nhiệm trong việc báo cáo thực tiễn , trực tiếp tham gia hướng dẫn thực tập, khoá luận, luận văn tốt nghiệp của học sinh sinh viên, học viên
Ngoài ra, Nhà trường cũng có thể mời các chuyên gia tại doanh nghiệp đến trực tiếp đào tạo Hình thức này giúp cho các học sinh sinh viên có thể được tiếp cận với những kiến thức thực tế trong môi trường công việc Ngược lại, các học sinh sinh viên tốt nghiệp xuất sắc lại là nguồn cung ứng lao động tốt nhất để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp Như vậy, việc liên kết về vấn
đề nhân sự rõ ràng mang lại không ít lợi ích cho cả hai bên
1.3.2.3 Liên kết về quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là thành tố cuối cùng, nhưng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định thành công hoặc thất bại việc vận hành công nghệ đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp Nội dung này bao gồm các qui định
có liên quan đến tất cả các nội dung của qui trình đào tạo Đối với đào tạo
Trang 33theo nhu cầu của doanh nghiệp, các qui định tuyển sinh và qui mô đào tạo cần phải căn cứ vào yêu cầu (kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, phẩm chất nghề nghiệp) của từng vị trí công việc và nhu cầu phát triển nhân lực của doanh nghiệp hơn là dựa vào các qui định chung hoặc chỉ tiêu được phân bổ hàng năm Qui định chất lượng giảng viên, tiền lương, đãi ngộ cũng phải căn
cứ vào chất lượng công việc, mức độ đóng góp của cán bộ chứ không phải chỉ là dựa vào bằng cấp, thâm niên công tác Về mức học phí được thu dựa trên nguyên tắc thị trường Doanh nghiệp và nhà trường cùng trao đổi về các qui định, phương thức quản lý để thống nhất trong hợp đồng đào tạo
1.3.2.4 Liên kết về thông tin đào tạo
Ngoài việc xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động, Nhà trường cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với các doanh nghiệp để có những thông tin về nhu cầu nhân lực của họ cả về số lượng lẫn chất lượng Ngoài ra, việc liên kết thông tin với doanh nghiệp giúp cho Nhà trường biết được nhu cầu về số lượng và chất lượng của lao động ngành may, từ đó xây dựng các kế hoạch đào tạo và tổ chức được các chương trình đào tạo cũng như tuyển sinh phù hợp với nhu cầu của sản xuất, của thị trường lao động
Việc liên kết thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp còn cung cấp thông tin cho nhà trường về sự phù hợp của các chương trình đào tạo, những nội dung cần cải tiến, bổ sung hoặc cần thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất
Đối với học sinh sinh viên, việc liên kết thông tin giúp họ có định hướng tốt hơn và có nhiều cơ hội tìm được việc làm hơn khi tốt nghiệp ra trường
Về phía doanh nghiệp, liên kết thông tin giúp doanh nghiệp biết được những thông tin đầy đủ về khả năng đào tạo của Nhà trường, hỗ trợ doanh nghiệp có nhiều cơ hội tuyển dụng được những nhân viên phù hợp với yêu cầu của mình
Trang 341.4 Quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng nghề
và doanh nghiệp trong đào tạo
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo
Trong hợp tác, yếu tố quyết định thành công là các bên phải cùng có lợi ích Nếu mỗi bên theo đuổi mục tiêu lợi ích riêng của mình mà không tính đến lợi ích thoả đáng của bên kia thì rất khó hợp tác được với nhau Các bên phải nhìn nhận rất rõ là “khách hàng” của nhau thì mới có được các “ứng xử” theo nguyên tắc cùng có lợi
Hợp tác giữa Nhà trường và doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực đào tạo nói riêng còn khá mới mẻ ở nước ta Do đó, sự hiểu biết lẫn nhau để thực hiện nguyên tắc cùng có lợi còn rất hạn chế Các doanh nghiệp là tổ chức lợi nhuận nên họ rất quan tâm đến chi phí và lợi ích Họ không thể bỏ thời gian, tiền bạc để hợp tác với nhà trường nếu thấy không đem lại lợi ích thiết thực
Lợi ích lớn nhất mang lại từ hợp tác của doanh nghiệp với nhà trường
là có được nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển Các doanh nghiệp thay vì phải tìm kiếm lao động trên thị trường tự do, mất thời gian và chi phí để đào tạo lại, các doanh nghiệp “đặt hàng” với nhà trường để đào tạo ra những cán bộ, chuyên gia đáp ứng được nhu cầu phát triển của mình Như vậy, nhà trường sẽ đem lại lợi ích rất lớn, tạo nguồn “tài sản” quí giá trong tương lai cho các doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp còn nhận được lợi ích từ các trường trong việc tiếp cận trực tiếp với các giải pháp phát triển doanh nghiệp, phát minh, sáng chế và các dịch vụ tư vấn
Gắn kết đào tạo theo nhu cầu phát triển của doanh nghiệp cũng mang lại nhiều lợi ích cho nhà trường Trước hết, sản phẩm đầu ra đã có nơi đặt hàng, nhờ đó nắm bắt được cụ thể yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, phẩm chất nghề nghiệp, số lượng, qui mô cần phải đào tạo Các thông tin này
Trang 35có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thiết kế nội dung các chương trình đạo tạo và tuyển chọn, phát triển đội ngũ giảng viên Mặt khác, nhờ có đơn đặt hàng, nhà trường có được nguồn kinh phí dồi dào, tăng cường cơ sở vật chất Những lợi ích này sẽ giúp nhà trường có được thương hiệu mạnh, thu hút đầu vào giỏi, nhiều đơn đặt hàng, nhận được nhiều tài trợ (đặc biệt là tài trợ của các cựu học sinh, sinh viên thành đạt)
Nhà trường gắn kết đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên Sự gắn kết này đã và đang được nhà trường
và doanh nghiệp ở nhiều nước khai thác triệt để
Mục tiêu của việc kết hợp đào tạo nghề gồm: mục tiêu chiến lược, mục tiêu cạnh tranh và mục tiêu nội tại
Mục tiêu chiến lược: giảm một phần tỉ lệ thất nghiệp và giảm lãng phí
xã hội trong đào tạo nghề, giải quyết vấn đề cân bằng cung – cầu nhân lực
kỹ thuật
Mục tiêu cạnh tranh: nâng cao lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ, tác động
đến sự phát triển của các doanh nghiệp và nhà trường
Mục tiêu nội tại: Nhà trường sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả đào
tạo nghề, liên tục cải tiến nội dung, chương trình giảng dạy cho phù hợp với thực tiễn yêu cầu của thị trường lao động kỹ thuật, truyền đạt kinh nghiệm việc làm, tăng cường các nguồn lực cho đào tạo, sản xuất thực tiễn, rèn luyện tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động cho người học ngay trong quá trình đào tạo nghề, cập nhật công nghệ sản xuất hiện đại trong đào tạo nghề, tạo cơ hội việc làm tốt hơn cho sinh viên tốt nghiệp, hoạch định kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường có hiệu quả hơn
Doanh nghiệp có cơ hội tham gia định hướng mục tiêu đào tạo, chủ động hơn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ lao động kỹ thuật, có cơ hội tuyển chọn được đội ngũ lao động kỹ thuật đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, giảm chi phí đào tạo, Doanh nghiệp có nhu cầu, điều kiện
Trang 36nâng cao trình độ, hay đào tạo lại để đổi mới công nghệ sản xuất cho nhân lực lao động
1.4.2 Các nội dung quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành May
1.4.2.1 Các mức độ liên kết trong đào tạo ngành may, tương quan tổ chức giữa trường và doanh nghiệp may
Sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề rất đa dạng, có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau tuỳ theo yêu cầu và điều kiện của các bên tham gia liên kết với mục tiêu sự hợp tác liên kết này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên, có thể chia sự liên kết này thành các mức độ như sau tùy thuộc vào yêu cầu và khả năng của mỗi bên:
- Liên kết toàn diện: thường chỉ có ở các mô hình tổ chức doanh nghiệp nằm trong trường hoặc trường nằm trong doanh nghiệp Đối với các mô hình
tổ chức độc lập giữa trường và doanh nghiệp thì khó đạt được mức độ liên kết toàn diện song trên thực tế chỉ có một số trường thiết lập được hợp đồng liên kết toàn diện và thường xuyên Liên kết toàn diện có sự tham gia phối hợp của phía nhà trường cùng với doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực của quá trình đào tạo nghề Doanh nghiệp sẽ góp phần đầu tư trang thiết bị, tổ chức các phân xưởng đào tạo để nhà trường và doanh nghiệp cùng sử dụng, cử kỹ sư và các công nhân lành nghề cùng tham gia vào việc giảng dạy, xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tham gia với nhà trường từ khâu hướng nghiệp học sinh phổ thông chọn nghề phù hợp để học, tham gia đào tạo đánh giá kết quả học tập của học sinh, giới thiệu việc làm cho học sinh sinh viên…
- Liên kết từng phần: là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnh vực của quá trình đào tạo nghề Ví dụ, doanh nghiệp hàng năm nhận sinh viên của trường vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp…
Với mức độ liên kết từng phần, có thể chia ra làm hai loại là liên kết thường xuyên và liên kết rời rạc Liên kết thường xuyên là hai bên duy trì sự
Trang 37liên kết một cách liên tục, đều đặn trong thời gian dài ở một số nội dung nhất định Liên kết rời rạc là sự liên kết không đều đặn, mang tính thời điểm và chỉ thực hiện khi các bên có nhu cầu và điều kiện
1.4.2.2 Một số mô hình liên kết giữa trường dạy ngành may và doanh nghiệp phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới
a) Mô hình liên kết giữa trường dạy ngành may và doanh nghiệp phổ biến ở Việt Nam
Chính phủ Việt Nam cũng xác định đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng đầu trong đó “Tăng đầu tư cho giáo dục từ ngân sách nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo Khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáo dục ở tất cả các bậc học, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội” Vì vậy, việc khảo sát nghiên cứu một số mô hình và kinh nghiệm của các trường đại học nước ngoài sẽ giúp chúng ta có một định hướng rõ ràng hơn trong chiến lược xây dựng mối liên kết đào tạo giữa Nhà trường và doanh nghiệp và các trung tâm nghiên cứu định hướng ứng dụng
- Mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp bên ngoài Với loại hình tổ chức này, nhà trường và doanh nghiệp là những đơn vị hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào nhau, có sứ mệnh và chức năng riêng của mình, nhưng tự nguyện liên kết cùng nhau để thực hiện đào tạo nhân lực
kỹ thuật vì lợi ích chung của cả đôi bên
Loại hình tổ chức này có ưu điểm là tận dụng được thế mạnh của mỗi bên để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhằm phục vụ cho lợi ích của đôi bên mà không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và kế hoạch hoạt động của nhau Chính nhờ sự mềm dẻo, linh hoạt này mà mối liên kết có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao Đây cũng là mối quan hệ giữa nhà trường và các khách hàng của mình để phân tích được yêu cầu của từng loại khách hàng khác nhau để đáp ứng nhu cầu về nhân lực của họ trong cơ chế thị trường
Trang 38Tuy nhiên với loại hình tổ chức liên kết này nhà trường cũng có những khó khăn trong việc thực hiện Trước hết là do nhiều đầu mối nên sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý cũng như tổ chức thực hiện liên kết đào tạo Mặt khác, do trình độ công nghệ của các doanh nghiệp có thể khác nhau với các chuẩn chất lượng khác nhau làm cho nhà trường khó khăn trong việc xác định chuẩn đào tạo và do vậy, trình độ học sinh sinh viên tốt nghiệp cũng sẽ không đồng đều
Sơ đồ 1.1: Tổ chức liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp bên ngoài
NHÀ TRƯỜNG
DOANH NGHIỆP
Đầu vào Đầu ra
DOANH NGHIỆP
Trang 39việc liên kết giữa đào tạo và sản xuất, Doanh nghiệp là do nhà trường đầu tư, xây dựng và được coi như xưởng thực hành của trường, chỉ khác là Doanh nghiệp này đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ, vừa đào tạo vừa sản xuất
ra các sản phẩm đưa ra thị trường tiêu thụ và như một xí nghiệp
Như vậy, Doanh nghiệp này cần xây dựng hai kế hoạch là kế hoạch đào tạo và kế hoạch sản xuất đồng thời phải biết phối hợp chặt chẽ hai kế hoạch này với nhau để cùng thực hiện tốt hai nhiệm vụ là đào tạo và sản xuất Chính nhờ thực hiện hai nhiệm vụ này nên Doanh nghiệp thực hiện triệt để được hai nguyên lý giáo dục, học đi đôi với hành, lao động kết hợp với sản xuất mà các xưởng thực hành ở Nhà trường có nhiệm vụ phải bồi dưỡng và huấn luyện cho doanh nghiệp những nhân viên hoặc công nhân mới, phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thay vì bỏ tiền ra để tự thực hiện các chương trình đào tạo, thì thực hiện thu nạp các cơ sở đào tạo và biến nó thành nơi bồi dưỡng và huấn luyện phục vụ cho công ty mình
Sơ đồ 1.2: Tổ chức liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp được thành
lập bên trong Nhà trường [15]
NHÀ TRƯỜNG
Đầu vào Đầu ra
Cơ sở sản xuất
Cơ sở đào tạo
Trang 40- Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nhà trường thành lập tại doanh nghiệp
Mô hình liên kết dạy nghề giữa doanh nghiệp và trường nghề thành lập tại doanh nghiệp Nhiều công ty, có sức hút và tầm nhìn xa, trực tiếp mở mang các loại giáo dục để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và trở thành đối thủ có sức cạnh tranh mạnh mẽ đối với các cơ sở đào tạo truyền thống Ở Mỹ, họ gọi là “giảng đường công ty” Các kế hoạch huấn luyện và giáo dục được mở trong nội bộ xí nghiệp thật rộng rãi Công ty và các hiệp hội đứng ra cấp học hàm và học vị cho sinh viên
Với mô hình liên kết này, Nhà trường có thể hợp tác với doanh nghiệp dưới hình thức hợp đồng góp vốn Lúc này, Nhà trường trở thành thành viên của doanh nghiệp, tham gia vào quá trình điều hành của doanh nghiệp và hưởng lợi tức từ vốn góp Mô hình này cho phép học sinh sinh viên của trường có thể tham gia làm việc tại doanh nghiệp trong kỳ thực tập nhằm bảo đảm quá trình đào tạo gắn kết chặt chẽ với thực tiễn Ngoài ra, Nhà trường thành lập các công ty nghiên cứu để đưa sản phẩm khoa học của nhà trường vào cuộc sống, thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu của nhà trường
Các khóa đào tạo do doanh nghiệp tổ chức có thể được tiến hành theo các chương trình của quốc gia do cơ quan nhà nước ban hành nhưng cũng có thể tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng theo yêu cầu riêng biệt của doanh nghiệp Những khóa đào tạo theo chương trình và trình độ đào tạo quốc gia được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sau khi tốt nghiệp, học sinh sinh viên được cấp bằng tốt nghiệp theo hệ thống văn bằng quốc gia Những khóa đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp theo chương trình riêng của học sinh sinh viên sau khi tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận của cơ sở đào tạo Bằng tốt nghiệp được công nhận trong phạm vi quốc gia còn giấy chứng nhận được chứng nhận trong phạm vi doanh nghiệp