VƯƠNG THỊ MẬN MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KIẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ HÀ TĨNH VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Nghệ An, 2017... VƯƠNG
Trang 1VƯƠNG THỊ MẬN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KIẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP
NGHỀ HÀ TĨNH VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2017
Trang 2VƯƠNG THỊ MẬN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KIẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP
NGHỀ HÀ TĨNH VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS: NGUYỄN THỊ HƯỜNG
Nghệ An, 2017
Trang 3Với tình cảm chân thành tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến lãnh đạo Nhà trường, Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ mới
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, giúp tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua Đặc biệt tôi xin
chân thành cảm ơn nhà giáo PGS.TS Nguyễn Thị Hường đã chân tình hướng
dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả anh, chị em bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Những nội dung học tập được ở trường thông qua tài liệu được các nhà giáo lên lớp hướng dẫn nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp đã giúp tôi nâng cao nhận thức để hoàn thiện Đề tài: “Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào nghề tạo giữa trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các Doanh nghiệp”
Xin trân trọng cảm ơn !
Nghệ An, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Vương Thị Mận
Trang 4MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 4
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
7.3 Phương pháp thống kê toán học 5
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
Trang 51.2.3 Quản lý, quản lý hoạt động liên kết đào tạo 15 1.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo 18
1.3 Vấn đề liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 19
1.3.1 Ý nghĩa của liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 20 1.3.2 Nội dung liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp và các doanh nghiệp 25 1.3.3 Các loại hình tổ chức liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp và các doanh nghiệp 30 1.3.4 Các nguyên tắc liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 36
1.4 Nội dung quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 38
1.4.1 Quản lý mục tiêu liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 38 1.4.2 Quản lý nội dung liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 38 1.4.3 Quản lý phương thức liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 38 1.4.4 Quản lý giáo viên trong liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp nghề với các doanh nghiệp 39 1.4.5 Quản lý học sinh trong liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 39 1.4.6 Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ đào tạo 39 1.4.7 Kiểm tra, đánh giá việc liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp 39
Trang 61.5.1 Cơ chế chính sách nhà nước 40
1.5.2 Môi trường liên kết 40
1.5.3 Các yếu tố bên trong mối quan hệ 42
1.5.4 Tính chất lao động sản xuất của doanh nghiệp 44
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ HÀ TĨNH VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 46
2.1 Khái quát về trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh 46
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Nhà trường 46
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Nhà trường 47
2.1.3 Tổ chức bộ máy của Nhà trường 50
2.1.4 Quy mô đào tạo 51
2.1.5 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 52
2.1.6 Cơ cấu nghề đào tạo 53
2.1.7 Đội ngũ giáo viên 54
2.2 Thực trạng liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các DN 55
2.2.1 Thực trạng mức độ LKĐT giữa Nhà trường với doanh nghiệp 55
2.2.2 Thực trạng nội dung LKĐT giữa trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các Doanh nghiệp 58
2.2.3 Thực trạng hình thức LKĐT giữa trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các Doanh nghiệp 59
2.2.4.Thực trạng chất lượng học sinh được đào tạo tại trường sau khi tốt nghiệp 61
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các doanh nghiệp 63
Trang 72.3.3 Thực trạng công tác quản lý giáo viên trong liên kết đào tạo với DN 65
2.3.4 Thực trạng quản lý học sinh 67
2.3.5 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ đào tạo 67
2.3.6 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Nhà trường với doanh nghiệp 68
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 70
2.4.1 Về mặt mạnh 70
2.4.2 Mặt yếu 70
2.4.3 Nguyên nhân 71
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ HÀ TĨNH VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 76
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 76
3.1.1 Bảo đảm tính hệ thống 76
3.1.2 Bảo đảm tính thực tiễn 77
3.1.3 Bảo đảm tính hả thi 77
3.1.4 Bảo đảm tính hiệu quả 78
3.2 Đề xuất các giải pháp 78
3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức cho CBQL, GV về sự cần thiết phải liên kết đào tạo giữa Nhà trường với các doanh nghiệp 78
3.2.2 Chỉ đạo đổi mới nội dung chương trình đào tạo của Nhà trường phù hợp với yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp 82
3.2.3 Tăng cường đổi mới các phương thức, hình thức liên kết đào tạo giữa Nhà trường với các Doanh nghiệp 86
3.2.4 Bồi dưỡng nâng cao kỹ năng sư phạm cho cán bộ, giáo viên phù hợp với thực tiễn sản xuất của các doanh nghiệp 89
Trang 83.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá ết quả hoạt động liên kết đào
tạo 97
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 101
3.4 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của giải pháp 102
3.4.1 Đối tượng thăm dò 102
3.4.2 Kết quả thăm dò ý iến về tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp quản lý 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Kiến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Phụ lục 1 112
Phụ lục 2 119
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐTVHPT Đào tạo vận hành phương tiện
GD & ĐT Giáo dục và Đào tạo GTVL, DH Giới thiệu việc làm, Du học
LĐTBXH Lao động thương binh xã hội
Trang 10DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
TRANG
Bảng 2.1: Quy mô đào tạo của Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh 51
Bảng 2.2: Đội ngũ giáo viên của Trường Trung cấp nghề HàTĩnh
Bảng 2.5: Đánh giá của khách thể điều tra về thực trạng hình
thức liên kết đào tạo giữa Nhà trường với DN
60
Bảng 2.6: Số liệu liên kết đào tạo với DN của một số nghề từ
năm 2014 - 2016
61
Bảng 2.7: Đánh giá của khách thể về điều tra chất lượng học sinh
được đào tạo tại trường sau khi tốt nghiệp
62
Bảng 2.8: Đánh giá của khách thể điều tra về thực trạng quản lý
nội dung liên kết đào tạo với DN
64
Bảng 2.9: Đánh giá của khách thể điều tra về thực trạng quản lý
phương thức liên kết đào tạo với DN
64
Bảng 2.10: Đánh giá của khách thể điều tra về thực trạng
quản lý giáo viên trong liên kết đào tạo với DN
66
Bảng 2.11: Đánh giá của khách thể điều tra về thực trạng
quản lý học sinh trong liên kết đào tạo với DN
67
Bảng 2.12: Đánh giá của khách thể điều tra về thực trạng quản lý
cơ sở vật chất kỹ thuật trong liên kết đào tạo với DN
68
Bảng 2.13: Đánh giá của khách thể điều tra về các yếu tố ảnh
hưởng đến sự liên kết giữa Nhà trường với DN
69
Trang 11Bảng 3.1: Thông tin trích ngang về khách thể thăm dò 102 Bảng 3.2: Kết quả thăm dò các giải pháp được đề xuất 103
Sơ đồ 1.1: Tổ chức Trường nằm trong cơ sở sản xuất 32
Sơ đồ 1.2: Tổ chức đơn vị sản xuất nằm trong cơ sở dạy nghề 33
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nghiệp dạy nghề đã được quan tâm, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường lao động
Mục tiêu phát triển tổng quát của Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 là: Đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền
vững, đảm bảo an sinh xã hội
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mạng lướigiáo dục nghề nghiệp đang chuyển mình,mở rộng quy mô theo sự phát triển chung của địa phương, của Quốc gia Hệ thống giáo dục quốc dân của chúng ta cũng vậy, phải tạo ra môi trường, cơ hội học tập suốt đời cho người dân Trong đó, cần khôi phục và nâng cấp các Cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở tất cả các địa phương khắp cả nước, nhất là những địa phương có nhu cầu cao về lao động có tay nghề; định hướng cho các địa phương xây dựng cơ sở giáo dục nghề nghiệp sau trung học đa cấp, đa ngành tại địa phương trên cơ sở quy hoạch lại mạng lưới các Cơ
sở giáo dục nghề nghiệp, phát triển mạnh các Cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc khối kỹ thuật, ưu tiên phát triển ở những vùng kinh tế -xã hội còn gặp nhiều khó khăn
Hiện naygiáo dục nghề nghiệp đã và đang đứng trước những thách thức mới, bộc lộ nhiều hạn chế, đó là sự thiếu hụt và mất cân đối về nhân lực trong các ngành nghề được đào tạo phục vụ cho nhu cầu xã hội CácDN thiếu trầm
Trang 13trọng nhân lực công nhân kỹ thuật và công nhân lành nghề Trong khi đó, số công nhân kỹ thuật ra trường không đáp ứng được công việc thực tế tại các DN
Vì vậy, sau khi tuyển dụng các DN vẫn phải đào tạo lại Thậm chí có những DN phải đào tạo lại gần như từ đầu đã gây ra sự lãng phí tiền của cho xã hội Những thách thức đó đang đặt ra bức bách hơn bao giờ hết và cần thiết phải có giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để giải quyết triệt để vấn đề này
Trên cơ sở mục tiêu và định hướng nêu trên, các công trình nghiên cứu đều đặc biệt quan tâm đến quản lý đào tạo và đã có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng quản lý giáo dục đào tạo nói chung, trong đó có quản
lý đào tạo và quản lý hoạt động liên kết đào tạo nói riêng Tuy nhiên,cho đến nay việc nghiên cứu sâu hoạt động liên kết đào tạo giữa các Cơ sở GDNN với
DN còn hạn chế
Trường Trung cấp nghềHà Tĩnh, tiền thân là Trung tâm Dạy nghề và Hướng dẫn việc làm, trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh Trải qua 25 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển (09/11/1991 - 09/11/2016), Nhà trường đã để lại những dấu ấn trong công tác giáo dục nghề nghiệp, hướng nghiệp góp phần không nhỏ trong việc cung ứng nguồn nhân lực vào tiến trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa tỉnh nhà Nhà trường là nơi đào tạo ra nhiều công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật cung cấp cho các DN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung Với thành tích đã đạt được, Nhà trường đã được Cục kiểm định của Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chứng nhận là đơn vị “Đạt cấp độ 3“ cấp độ cao nhất đối với kiểm định đào tạo nghề và được Nhà nước phong tặng Huân chương Lao động Hạng nhất năm 2016
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giáo dục nghề nghiệp của Nhà trường cũng còn nhiều khó khăn bất cập thể hiện ở một số nét chính: Kỹ năng tay nghề của học sinh chưa cao do chưa có điều kiện thực tập với thiết bị tiên tiến; chương trình đào tạo của Nhà trường, trình độ giáo viên chưa cập nhật
Trang 14kịp với công nghệ sản xuất mới; những năm gần đây trường gặp khó khăn về công tác tuyển sinh, đầu ra cho học sinh chưa ổn định Đó cũng là thực trạng khó khăn chung của hầu hết các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước Để khắc phục tình trạng trên, những năm gần đây Nhà trường đã có sự liên kết đào tạo với một số DN để đào tạo nhân lực theo đơn đặt hàng đặc biệt là các DN hoạt động tại khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh Bên cạnh đó một số DN có thế mạnh về sản xuất cơ khí và xây lắp các công trình ngầm, công trình thủy điện trên cả nước cũng là đối tác chính của Nhà trường Song với những kết quả đạt được, trong quá trình liên kết đào tạo còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, nổi bật
là vấn đề quản lý hoạt động liên kết đào tạo
Với những lý do nêu trên tôi chọn đề tài ‘‘ Một số giải pháp quản lý hoạt động liên iết đào tạo nghề giữa Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các doanh nghiệp’’ cho luận văn tốt nghiệp khóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thăm dòthực trạng luận văn đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghềHà Tĩnh với các DN, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghềHà Tĩnh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lýhoạt động liên kết đào tạo nghề với các DNtại Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo với các DNtại Trường Trung cấp nghềHà Tĩnh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo với các DN tạiTrường Trung cấp nghề Hà Tĩnh có tính khoa học, tính khả thi cao thì s góp
Trang 15phần nâng cao hiệu quả hoạt động này, đáp ứng yêu cầu cung ứng nguồn lao động qua đào tạo nghề cho các DN sử dụng lao động, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo với các DNtại trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo với các DN tại Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh
- Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các DN
6.Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo của Ban giám hiệu Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các DN đóng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu (phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa), các văn bản, tài liệu thể hiện quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề, liên kết đào tạo nghề giữa Nhà trường với DN ở trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Tiếp cận, quan sát tổng thể, theo dõi những mặt biểu hiện trong quá trình liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghềHà Tĩnh với DN
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tìm hiểu thực trạng về liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghềHà Tĩnh với các DN và các yếu tố có liên
Trang 16quan; thu thập thông tin về tính khả thi của các giải pháp được đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Phương pháp nghiên cứu tài liệu và sản phẩm hoạt động: Thông qua các tài liệu lưu trữ của Nhà trường, hiểu quá trình tổ chức liên kết đào tạo giữa Nhà trường và các DNnhằm tổng kết kinh nghiệm đểrút ra các nhận định khoa học
Phương pháp đàm thoại: Tiến hành trò chuyện, trao đổi trực tiếp với một số khách thể có uy tín và kinh nghiệm trong công tác quản lý nhằm thu thập thêm thông tin cho việc nghiên cứu
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến của chuyên gia về công tác quản lý đào tạo nói chung và công tác quản lý đào tạo liên kết nói riêng
7.3.Phương pháp thống kê toán học
Xử lý và phân tích các số liệu, kết quả điều tra, đồng thời để xác định mức
độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu
8 Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận:Làm rõ thêm các lý luận liên quan đến quản lý hoạt
động liên kết đào tạo nghề giữa Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với DN
- Vềmặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá về vấn đề quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với DN, những điểm đạt được
và những điểm còn hạn chế
- Luận văn đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với doanh nghiệp Qua đó góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo nghề
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghề với các DN
Trang 17- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các DN
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo với các
DN giữa tại Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh với các DN
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hoạt động liên kết đào tạo giữa các trườngcơ sở giáo dục nghề nghiệp và
DN đã được nhiều nước tiên tiến trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời hiệu quả của hoạt động liên kết đào tạo
đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho cả phía Nhà trường và DN Đối với các Cơ
sở giáo dục nghề nghiệp thì sản phẩm đào tạo chính là học sinh Học sinh tốt nghiệp ra trường có tay nghề cao, tiếp cận được với công nghệ thực tiễn của sản xuất Đây là yếu tố quan trọng để giữ vững thương hiệu, uy tín của Nhà trường đồng thời giảm chi phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo
Đối với các DNthì việc liên kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể chủ động về đội ngũ lao động và khi tiếp nhận lao động vào DN không mất thời gian đào tạo lại do công nhân còn hạn chế về kỹ năng thực hành nghề và khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ
Có thể nói, hoạt động liên kết đào tạo giữa Nhà trường với DN từ lâu đã được nhiều nước phát triển quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng đào tạokỹ năng nghề cho người lao động
Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp Người ta đã
ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, sự chuyên môn hóa được chú trọng Do vậy, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội
Trang 19Ở một số quốc gia phát triển như Đức thì các trường không những liên kết với DN trong hoạt động đào tạo mà các DN tự xây dựng trường để đào tạo nhân lực phục vụ yêu cầu sản xuất còn trực thuộc trong DN Theo thống kê có khoảng 93,3 % các công ty sở hữu trường dạy nghề riêng và phát triển chiến lược nhân
sự trong tương lai thông qua các mô hình dạy nghề
Tại các nước phát triển trên thế giới từ lâu đã chú trọng công tác đào tạo nghề nên học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông Ở Nhật, Mỹ, Đức người ta xây dựng các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm Giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội
Từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trường đại học Cambridge với 700 năm lịch sử đã thử nghiệm mô hình "Công ty đại học" Ngày nay, xu thế các trường đại học liên kết với các xí nghiệp trong đào tạo ngày càng nhiều, nhất là
ở Mỹ và một số nước Châu Âu "Công ty đại học" đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu, tạo thời cơ phát triển cho trường đại học và xí nghiệp Các
"Công ty đại học" này có một số đặc điểm sau:
1 Dùng phương thức thị trường để thu hút sinh viên, mời các học giả nổi tiếng đến giảng dạy
2 Việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tiếp hướng về sản xuất, về quản lý kinh doanh, có thể làm gia tăng thu nhập tài chính và nhân đó không ngừng cải thiện điều kiện xây dựng trường, nâng cao địa vị của trường
3 Mối quan hệ giữa Nhà trường với DN ngày càng mật thiết, trường học và
xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợi ích trên phương tiện dịch vụ kỹ thuật, do vậy mà tăng cường liên kết giữa các bên
Do những ưu điểm như vậy mà các "Công ty đại học" mọc lên như nấm, từ nước Mỹ đến Châu Âu, rồi đến toànthế giới "Công ty đại học" với những
Trang 20hình thức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hóa trường học, báo trước sự phát triển quan trọng của sự phát triển giáo dục
Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích "những trụ cột của giáo dục" đã viết: "Học để biết, học để làm việc, học để làm người và học để cùng chung sống " Theo ông, vấn đề học nghề của học sinh là không thể thiếu được trong những trụ cột của giáo dục, đồng thời đã tổ chức các hội thảo, nghiên cứu về vấn đề "gắn đào tạo với sử dụng" trong đào tạo nghề Ở Nhật và Mỹ, nhiều nhà trường được thành lập ngay trong các công ty tư nhân để đào tạo nhân lực cho chính công ty đó và
có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng Mô hình này có ưu điểm là chất lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt, được định hướng việc làm trước khi học và có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp
"Ba trong một" là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt ch với các DN và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2003, APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề ở Indonesia từ năm 1993 đã được nghiên cứu và phát triển mạnh Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa Nhà trường với DN được quan tâm đặc biệt
Năm 1999, ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng "Hệ thống liên kết đào tạo nghề" (Cosperative training system) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo nghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn
Trang 21đào tạo nghề ở Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực đủ sức đương đầu với cạnh tranh và liên kết
Đối với Việt Nam chúng ta, do yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, đặc biệt là những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Trong cơ chế thị trường, nhất
là tương lai nền kinh tế tri thức sẻ chiếm thị phần lớn, giá trị của sức lao động tuỳ thuộc vào trình độ tay nghề, khả năng thích ứng về mọi mặt của người lao động Để nâng cao được chất lượng giáo dục nghề nghiệp, đòi hỏi người lao động phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững kỹ năng thực hành nghề đáp ứng yêu cầu của xã hội, của các DN Xuất phát từ những lý do trên mà hoạt động liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và DN
đã được nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ các nước tiên tiến trên thế giới và được vận dụng vào các chính sách của Việt Nam Điều này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005, Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993, Điều lệ trường cao đẳng nghề năm 2007 Cụ thể: Khoản 2, Điều 12 Nghị định số 139/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Bộ Luật Lao động về dạy nghề quy định DN có thể “Thành lập cơ
sở dạy nghề hoặc liên kết dạy nghề với cơ sở dạy nghề theo phương thức dạy lý thuyết tại cơ sở dạy nghề, dạy thực hành tại DN” [20]; Điều 9 Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993 quy định “ Quá trình giáo dục đào tạo phải quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội Việc hình thành và phát triển các trường đào tạo nghề thuộc DN để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật trực tiếp sản xuất của DN và nhu cầu của xã hội ở nước ta trong thời gian qua là tất yếu khách quan Là nơi trực tiếp cung cấp lao động qua đào tạo nghề cho DN, phù hợp với nhu cầu thực tế sử dụng của DN, người học được thực hành ngay trên may móc, thiết bị đang được sử dụng ở DN
Trang 22Mặc dù có chủ trương, chính sách như vậy song ở nước ta cho đến nay thực trạng hoạt động liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và DN được đánh giá là vẫn còn yếu kém, chưa đồng bộ và có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề trên Những nghiên cứu về liên kết đào tạo mới chỉ giới hạn trong ngành hoặc trong lĩnh vực hẹp Ví dụ: Vào những năm 70 của thế kỷ
XX, tác giả Đặng Danh Ánh và một số cán bộ thuộc Tổng cục dạy nghề lúc đó
đã đi sâu nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy nghề trong các trường nghề Năm 1993, PGS - TS Trần Khánh Đức có đề tài cấp bộ "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp"[13] Đề tài tập trung nghiên cứu các trường, lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa chất Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ với luận văn tốt nghiệp: "Cơ sở lý luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất" Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ đi sâu tìm hiểu: "Cơ sở lý luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất"[32] Năm 2004, Trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng" có nêu ra các giải pháp thiết lập quan hệ giữa Nhà trường và DN Năm 2005 Hoàng Ngọc Trí với luận
án tiến sĩ "Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô Hà Nội" [25]có đề cập đến mối quan hệ giữa các Nhà trường và đơn vị sản xuất Năm 2006, Nguyễn Văn Tuấn với luận văn thạc sĩ "Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội" [27]có đi sâu phân tích mối quan hệ giữa quản lý
và chất lượng đào tạo nghề; những nhân tố tác động đến quản lý quá trình đào tạo nghề Năm 2007, Nguyễn Anh Tuấn có luận văn tốt nghiệp "Hoàn thiện và đổi mới các biện pháp quản lý đào tạo nghề của trường trung học công nghiệp quốc phòng trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2007 đến năm 2015)" đi sâu
Trang 23nghiên cứu về các giải pháp quản lý đào tạo nghề theo quan điểm hệ thống: Quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý phương pháp đào tạo nghề, quản lý kết quả và chất lượng đào tạo nghề
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề liên kết đào tạo giữa Trường trung cấp nghề Hà tĩnh với các doanh nghiệp
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đào tạo, đào tạo nghề
1.2.1.1 Đào tạo
Là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết Như vậy đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để
họ thực hiện một nghề hay một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn
1.2.1.2 Đào tạo nghề
Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai Đào tạo nghề bao gồm 2 quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau đó là:
Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền đạt những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để các học viên có được một trình độ kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp
Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành
của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định
Trang 24Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn Bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề…
Năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng không phải là bản năng mà phải trải qua rèn luyện Môi trường tốt nhất cho sự phát triển khả năng này ở học sinh trường nghề đó là họ phải được rèn luyện trong môi trường sản xuất của DN sau khi được học lý thuyết Đây chính là trách nhiệm của toàn xã hội đối với công tác đào tạo nghề hiện nay, và cần phải nhấn mạnh, trách nhiệm trước hết là thuộc về lãnh đạo của các trường dạy nghề Chính bản thân họ phải ý thức được việc cần phải cải tổ công tác quản lý để không ngừng tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp trong liên kết đào tạo để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của đơn vị
1.2.2 Liên kết, liên kết đào tạo
1.2.2.1 Liên kết
Liên kết đào tạo là sự hợp tác, phối hợp giữa Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
và các DN để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó của quá trình đào tạo nhằm góp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước đồng thời mang lại lợi ích cho mỗi bên Do vậy, quan hệ giữa Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
và các DN là quan hệ cung - cầu, quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực Bởi vậy sự liên kết giữa các Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các DN là không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi bên trong cơ chế thị trường
Trong thực tế, liên kết đào tạo giữa Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các DN
có nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc và yêu cầu vào khả năng của mỗi bên Các mức độ có thể kể đến là:
- Liên kết toàn diện là sự tham gia của các DN với Cơ sở giáo dục nghề
nghiệp trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo Với mức độ liên kết này, các DN tham gia đầu tư trang thiết bị cho Cơ sở giáo dục nghề nghiệpđể Cơ
sở giáo dục nghề nghiệp và DN cùng sử dụng, cử kỹ sư và công nhân cùng tham
Trang 25gia giảng dạy; tham gia với Cơ sở giáo dục nghề nghiệp từ khâu hướng nghiệp chọn nghề phù hợp để học, xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tham gia đào tạo và đánh giá kết quả học tập của học sinh, tham gia giới thiệu việc làm cho học sinh v.v
- Liên kết có giới hạn là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnh
vực hoặc trong một số khâu của quá trình đào tạo Mức độ liên kết này phù hợp với những trường hợp cả hai bên đối tác chưa có nhu cầu hoặc chưa có điều kiện
để hợp tác toàn diện Ví dụ DN hàng năm nhận học sinh, sinh viên của Cơ sở giáo dục nghề nghiệp vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp
- Liên kết rời rạc là sự liên kết chỉ thực hiện trong một số lĩnh vực và sự
hợp tác này cũng có thể không thực hiện được thường xuyên mà chỉ thực hiện khi có điều kiện
Như vậy, sự liên kết giữa Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các DN rất đa
dạng,tuỳ thuộc vào nhu cầu và điều kiện của mỗi bên, không thể áp đặt một cách đồng loạt mặc dầu sự hợp tác s mang lại lợi ích cho cả đôi bên.[17]
1.2.2.2 Liên kết đào tạo
Trong xã hội hiện đại không có một tổ chức nào tồn tại mà không có mối liên hệ, liên kết với các tổ chức kinh tế, xã hội khác
Liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học Đơn vị chủ trì đào tạo là các trường tổ chức quá trình đào tạo bao gồm: tuyển sinh, thực hiện chương trình, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp
Đơn vị phối hợp đào tạo là chủ thể trực tiếp tham gia liên kết đào tạo với vai trò hợp tác, hỗ trợ các điều kiện thực hiện liết đào tạo
Hợp đồng liên kết đào tạo là chủ thể trực tiếp tham gia liên kết đào tạo với vai trò hợp tác, hỗ trợ các điều kiện thực hiện liên kết đào tạo
Trang 26Hợp đồng liên kết đào tạo là văn bản được ký kết giữa các bên liên kết nhằm xác định quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm mà các bên thoả thuận trong quá trình liên kết đào tạo
Trong đào tạo, liên kết là hình thức phối hợp, hỗ trợ, tạo sự gắn bó chặt ch với nhau giữa các cơ sở đào tạo hoặc giữa các cơ sở đào tạo với các đối tác khác nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ sở đào tạo
Năm 2008 Bộ GD&ĐT nước ta đã ban hành Quyết định số BGDĐT về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học [21] Tại văn bản này liên kết đào tạo được hiểu là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
42/2008/QĐ-Đối với một tổ chức như nhà trường thì việc liên kết lại càng quan trọng, mang lại hiệu quả rất lớn Nó phát huy được sức mạnh tổng hợp về nguồn lực vật chất và trí thức, nó gắng kết giữa học đi đôi với hành, bởi ngay bản thân sản phẩm mà nhà trường tạo ra chính là nguồn lực cho xã hội Nguồn lực này có mặt trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội Liên kết s tạo ra một sức mạnh mới, một chất lượng làm việc mới cho tổ chức
1.2.3 Quản lý, quản lý hoạt động liên kết đào tạo
1.2.3.1 Quản lý
Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá trình quản lý xã hội Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, dưới đây là một
số nhận thức chung về khái niệm này
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (Người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (Đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị…[09]
Trang 27- Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính v v để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước
- Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội, đặc biệt là từ khi con người biết tiến hành những hoạt động lao động chung
- Quản lý là một thuộc tính lịch sử, là nội tại của quá trình lao động, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện sớm ngay từ khi xuất hiện xã hội loài người Khi con người xuất hiện thì xuất hiện quản lý con người và quản lý xã hội
Những tư tưởng bàn về quản lý xã hội đã xuất hiện rất sớm ở cả Phương đông lẫn Phương tây Song quản lý chỉ trở thành khoa học và được vận dụng vào thực tiễn có tính chất phổ biến chỉ mới bắt đầu vào thập niên đầu của thế kỷ
XX (vào năm 1911 khi Taylor nhà tâm lý học, quản lý học người Mỹ công bố tác phẩm nổi tiếng: Những nguyên lý quản lý khoa học)
Theo F Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và
rẻ nhất Sau này ông Lerence chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh Mỹ đã khái quát quan điểm của F Taylor và cho rằng: Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng cần xem xét khái niệm quản lý ở hai góc độ: Chính trị - Xã hội và hành động Ở góc độ Chính trị - Xã hội quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Còn ở góc độ hành động quản
lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành
Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu Kinh tế - Xã hội
Một xã hội, một tổ chức muốn phát triển tốt thì trước hết phải có một cơ chế quản lý tốt Cơ chế quản lý ấy phải chi phối và tác động vào các lĩnh vực của xã hội, tổ chức và làm cho nó vận động theo hướng tích cực mà chủ thể
Trang 28quản lý đã xác định Từ góc độ này tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản
lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan Những năm gần đây vấn đề nguồn nhân lực, nhân tài có vị trí đặc biệt quan trọng đến nỗi nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Quản lý là quá trình tập hợp và sử dụng các nhóm nguồn lực (đặc biệt là nhân lực) theo định hướng mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ
Tuy tiếp cận ở những góc độ khác nhau về quản lý, song về cơ bản các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở các nội dung cơ bản, quản lý bao gồm các yếu tố, các điều kiện sau:
Là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm phối hợp hành động để đạt được mục tiêu quản lý
Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất
là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
Quản lý là phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải
có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình
1.2.3.2 Quản lý hoạt động liên kết đào tạo
Quản lý hoạt động LKĐT là các giải pháp, cách thức để hoạt động LKĐT được diễn ra theo hợp đồng LKĐT và đạt được mục tiêu đề ra
Quản lý hoạt động LKĐT bao gồm ở các đơn vị chủ trì đào tạo, các đơn vị phối hợp đào tạo, các Sở GD&ĐT, UBND cấp tỉnh, thành phố và Bộ GD&ĐT
Trang 29Theo quy định của Bộ GD&ĐT thì quản lý hoạt động LKĐT theo trình tự như sau [05]:
1 Khi phát hiện những vướng mắc trong hoạt động liên kết, thủ trưởng hai đơn vị liên kết có trách nhiệm cùng hợp tác với nhau để xử lý Nếu vượt quá khả năng xử lý của hai bên, thì đơn vị chủ trì đào tạo báo cáo cơ quan có thẩm quyền cho phép LKĐT để xử lý
2 Sở Giáo dục và Đào tạo là đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham gia quản lý hoạt động liên kết về các vấn đề sau:
a) Tổ chức kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền việc thực hiện Quy định về LKĐT đối với các lớp liên kết đặt tại địa phương mình; phát hiện và báo cáo kịp thời về Bộ Giáo dục và Đào tạo những trường hợp vi phạm Quy định về LKĐT của các đơn vị tham gia liên kết tại địa bàn quản lý
b) Thẩm định các điều kiện đảm bảo chất lượng (theo yêu cầu thực hiện chương trình đào tạo đã đăng ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo) và trực tiếp chỉ đạo, giám sát hoạt động LKĐT diễn ra tại địa phương mình
3 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, các Bộ, ngành trung ương có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát việc thực hiện LKĐT của các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý Nhìn chung, quản lý hoạt động LKĐT là một hệ thống các phương pháp, cách thức tác động vào hoạt động LKĐT nhằm mang lại hiệu quả trong quản lý, trong thực hiện các hợp đồng LKĐT nhằm đạt được mục tiêu đề ra
1.2.4 Giải pháp, giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo
1.2.4.1 Giải pháp
“Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề khó khăn Giải pháp chính là tình huống cụ thể đã đưa vào áp dụng thành công Giải pháp có nghĩa là chỉ vạch ra con đường để đi tới được cái "đích" mình cần đến hay mục tiêu mong đợi, giải pháp tốt thì đến đích nhanh, an toàn, giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn” [34]
Trang 301.2.4.2 Giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo
Từ thực tiễn quản lý phát triển xã hội có thể hiểu giải pháp quản lý là phương pháp, cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định Tùy theo tính chất và mức độ của khách thể quản lý
mà chủ thể quản lý có những giải pháp có tính chiến lược, lâu dài hay những giải pháp quản lý có tính giai đoạn, thời kỳ
Giải pháp quản lý liên kết đào tạo giữa Cơ sở giáo dục nghề nghiệpvà DN được hiểu là cách thức tiến hành cụ thể của các chủ thể quản lý liên kết đào tạo nhằm tác động, giải quyết các thành tố trong liên kết đào tạo để đạt được các mục tiêu đã đề ra theo chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và cam kết giữa các bên tham gia đào tạo liên kết
1.3 Vấn đề liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản nhất trong hoạt động liên kết giữa Nhà trường và Doanh nghiệp chính là mối quan hệ “lợi ích mang lại cho hai bên”
Lợi ích đối với Doanh nghiệp trong hoạt động liên kết này chính là nguồn nhân lực (kết quả của của hoạt động liên kết) có trình độ kỹ năng nghề đáp ứng được yêu cầu sản xuất mà Doanh nghiệp đang cần; Chủ động được nguồn nhân lực phù hợp với từng vị trí việc làm mà Doanh nghiệp đang cần; Cân đối được nguồn lực tài chính cho Doanh nghiệp tránh tình trạng tuyển dụng rồi đào tạo lại gây lảng phí và không chủ động được nguồn nhân lực; Xây dựng được kế hoạch sản xuất kinh doanh sát với thực tế trên cơ sở chủ động nguồn nhân lực đã liên kết đào tạo với Nhà trường
Lợi ích đối với Nhà trường trong hoạt động liên kết đào tạo với Doanh nghiệp thể hiện trên các nội dung sau: Chủ động đầu vào cho quá trình đào tạo,
vì vậy s chủ động trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo hằng năm; Mang lại một phần lợi ích kinh tế cho Nhà trường; Chủ động trong việc bố trí việc làm cho giáo viên; Mang lại cho giáo viên sự năng động, tự chủ trong công tác đào tạo nghề; Thay đổi nhận thức về quan điểm dạy nghề một bộ phận không nhỏ
Trang 31giáo viên và các nhà quản lý, lâu nay giáo viên dạy nghề và các nhà quản lý vẩn cho rằng Nhà trường chỉ có nhiệm vụ đào tạo nghề còn làm việc ở đâu, làm việc
gì là việc của người học nghề và các nhà hoạch định chính sách Quan điểm đó
s thay đổi nếu các nhà quản lý GDNN làm tốt hoạt động liên kết đào tạo nghề với Doanh nghiệp
Khi hoạt động liên kết đào tạo nghề giữa Nhà trường với Doanh nghiệp diễn ra một cách tự giác, đặc biệt là phía Doanh nghiệp thì không chỉ mang lại lợi ích cho Nhà trường và Doanh nghiệp mà nó còn mang lại lới ích rất lớn cho
hệ thống GDNN và cơ cấu lao động của đất nước, tránh tình trạng đào tạo tràn lan không đúng với nhu cầu của xã hội, gây lãng phí không cần thiết cho công tác GDNN Đây chính là lợi ích lớn nhất khi hoạt động liên kết đào tạo trở thành hoạt động tự giác của các Doanh nghiệp Đây cũng là nội dung mà đề tài nghiên cứu hướng tới
1.3.1 Ý nghĩa của liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp với các doanh nghiệp
Chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó liên kết đào tạo giữa Nhà trường với DN có một vai trò rất quan trọng,
nhất là trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt Vai trò của sự liên kết này nhằm tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và được biểu hiện ở các khía cạnh sau:
Cần xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu
và nhu cầu của thị trường lao động Phải cụ thể hóa mục tiêu và nội dung đào tạo từng nghề vào trong từng hợp đồng liên kết đào tạo với các DN trên nền tảng mục tiêu đào tạo mà Bộ GD - ĐT, Tổng cục dạy nghề đã ban hành
Khi sự liên kết giữa hai bên đã đạt ở mức độ cao thì phải cùng nhau tổ chức biên soạn nội dung, xác định mục tiêu đào tạo nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn sản xuất ở DN Thực hiện dạy cái gì mà thị trường cần, người học cần chứ không dạy cái gì mà Nhà trường sẵn có giúp người lao động đáp ứng được
Trang 32những yêu cầu của các công nghệ sản xuất hiện đại sau khi tốt nghiệp Bên cạnh mục tiêu và nội dung đào tạo theo quy định của Nhà nước, cần bổ sung một số yêu cầu về cập nhật kỹ thuật mới, về tác phong công nghiệp của người lao động trong một nền sản xuất lớn, kỹ năng giao tiếp, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng hòa nhập cộng đồng, kể cả phong tục tập quán ở các nơi người công nhân s làm việc,v.v…Tuy nhiên, việc bổ sung mục tiêu, nội dung chương trình phải đảm bảo nguyên tắc không vượt quá 30% chương trình khung được cho phép
Góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Trong cơ chế cũ, người giáo viên thường có xu hướng khép mình ở trong khuôn viên nhà trường, kiến thức mà họ có mang nặng tính hàn lâm, hàng năm không nhất thiết phải cập nhật và thay đổi Để quá trình liên kết với DN thực sự đạt hiệu quả cao, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý phải có sự chuyển biến tích cực Muốn vậy, cần lên kế hoạch cử giáo viên các ban nghề đi tham quan, tập huấn thường xuyên tại DN, đi đào tạo chuyên sâu về công nghệ mới theo xu thế của thị trường và yêu cầu của DN Chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng, mời chuyên gia DN hoặc giáo viên có kiến thức công nghệ mới tham gia bồi dưỡng cho giáo viên Đây s là cơ hội tốt để người giáo viên, cán bộ quản lý có điều kiện tiếp cận những tri thức, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý mới của DN, nhờ đó tự nâng cao năng lực của bản thân, góp phần quyết định chất lượng giờ giảng và hướng dẫn thực hành cho học sinh
Tranh thủ cơ sở vật chất, tài chính của DN đầu tư cho đào tạo
Để tăng sức mạnh cạnh tranh, DN luôn cải tiến, đầu tư những công nghệ sản xuất hiện đại, họ có thể cung cấp cho Nhà trườngcác tài liệu về công nghệ,
kỹ thuật mới nhất, phù hợp với trình độ kỹ thuật, công nghệ của thực tiễn sản xuất, đây là nguồn tư liệu quý để thầy và trò cùng tham khảo và học tập Cần tranh thủ sự đầu tư của DN về trang thiết bị, hoặc nhờ trang thiết bị để học sinh được thực tập trên mô hình có thực với các công nghệ sản xuất tiên tiến, đắt tiền
mà Nhà trườngkhông thể mua sắm nổi
Trang 33Về tài chính, thông qua các hợp đồng đào tạo, cần tận dụng nguồn kinh phí của DN với tư cách là đơn vị tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp để họ đóng góp kinh phí cho Nhà trường hoặc các DN trả tiền cho Nhà trườngvì học sinh của Nhà trườngđã làm ra sản phẩm cho họ trong quá trình thực tập sản xuất tại
DN Nguồn kinh phí này sử dụng để phục vụ đào tạo cũng như nâng cao phúc lợi, đời sống vật chất và tinh thần cho thầy và trò
Thúc đẩy đổi mới về công tác quản lý đào tạo
Sự liên kết giữa Nhà trườngvới DN s tác động đến việc sắp xếp, hoàn thiện lại tổ chức bộ máy của Nhà trường, đòi hỏi phải xuất hiện các bộ phận làm nhiệm vụ tư vấn, điều hành, kiểm tra, duy trì mối quan hệ, đồng thời cũng có các
bộ phận bị thu hẹp lại để phù hợp với nhiệm vụ được giao Sự liên hệ qua lại giữa các bộ phận, phòng ban, tổ bộ môn trong trường do vậy cần khăng khít hơn, tạo điều kiện thống nhất đoàn kết nội bộ
Cũng do có sự liên kết với các DN, cơ chế quản lý cần phải "thoáng" hơn, dân chủ hơn, người Hiệu trưởng phải thâm nhập thực tế, học hỏi, trao đổi, bàn bạc, suy nghĩ để dẫn dắt Nhà trường phát triển Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên học tập, sáng tạo, phát huy quyền dân chủ của mình để xây dựng Nhà trường Đối với học sinh cũng cần được tham gia, góp ý kiến vào những kế hoạch đào tạo, thực tập sản xuất của Nhà trường, v.v…
Cải tiến công tác kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo
Công cụ và phương pháp để tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo cần phải khách quan và chính xác; vì lợi ích của mình DN s quan tâm đến việc kết hợp với nhà trường trong xây dựng mục tiêu, biên soạn nội dung chương trình cũng như nội dung kiểm tra, thi hết môn và thi tốt nghiệp
Việc thi thực hành nên tổ chức tại DN, kết quả thi là các sản phẩm có thể tiêu thụ được, học sinh s rất phấn khởi, hào hứng, mặt khác, Ban giám khảo trong đó có đại diện DN là phó chủ tịch hội đồng s đánh giá nghiêm túc, khách
Trang 34quan và chính xác kết quả học tập của học sinh Học sinh sau khi tốt nghiệp có thể tham gia sản xuất được ngay
Cuối cùng, nhà trường nên căn cứ vào kết quả thăm dò, dự báo về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình học sinh tốt nghiệp đang làm việc tại các
DN để có định hướng về sự phát triển của các ngành, nghề trong thời gian tới, từ
đó quyết định đến số lượng, chủng loại máy móc, thiết bị cần đầu tư, xây dựng mục tiêu giảng dạy, bồi dưỡng giáo viên, chuẩn bị các điều kiện cho công tác đào tạo những năm sau Như vậy, việc xác lập sự liên kết giữa Nhà trường với
DN s có tác dụng tích cực, to lớn quyết định đến chất lượng đào tạo đội ngũ người lao động hiện nay theo hướng phù hợp với nhu cầu, yêu cầu của thị trường lao động trong xu thế toàn cầu và hội nhập
Nâng cao chất lượng đào tạo
- Chất lượng trong của đào tạo: Nhờ nắm bắt được yêu cầu đào tạo thể hiện ở đơn đặt hàng của các DN mà Nhà trường có kế hoạch chỉ đạo việc mua sắm các thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành phù hợp với mục tiêu và nội dung chương trình đề ra, như vậy đạt hiệu quả về đầu tư kinh phí Theo phương thức này, tại thời điểm tuyển sinh, Nhà trường và DN có thể
tổ chức cho người học ký quỹ một số tiền "đặt cọc" nhất định để giữ chỗ làm việc của mình cho đến khi tốt nghiệp Đây là một hình thức góp vốn để đầu tư cho sự đổi mới công nghệ tại DN và cũng góp phần tăng cường cơ sở vật chất,
kỹ thuật phục vụ đào tạo Người học nghề theo hợp đồng đào tạo s yên tâm vì
đã xác định được địa chỉ làm việc trong tương lai của mình ở DN nên cố gắng trong học tập, có động cơ, mục đích học tập đúng đắn Kết quả học tập thực chất, đáp ứng được những yêu cầu khách quan của DN
- Chất lượng ngoài của đào tạo: Năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng với đời sống xã hội và thị trường lao động, những giá trị sử dụng và đóng góp thực tế cho xã hội của người tốt nghiệp đã được rèn luyện qua phương thức liên
Trang 35kết giữa nhà trường và DN trong đào tạo, do vậy, tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm s được tăng lên
Khi ký kết hợp đồng đào tạo, DN đã có kế hoạch giao việc cho từng học sinh sau khi tốt nghiệp, nếu DN không còn nhu cầu tuyển dụng một số học sinh nào đó thì với kiến thức, kỹ năng và khả năng thích ứng cao, các em có thể tham gia làm việc ở DN khác hoặc tự mình đi tìm kiếm việc làm Khoảng thời gian phải đi tìm việc làm được rút ngắn Như vậy chất lượng đào tạo ngoài cũng được nâng lên
Người lao động được đào tạo theo phương thức này sau khi tốt nghiệp tuổi đời còn rất trẻ, nắm được công nghệ tiên tiến, có phản xạ nhanh, có sức khỏe, khả năng thích ứng tốt, họ s khẳng định được mình trong công việc, đó là cơ sở
để các chủ DN cân nhắc đề bạt Họ có thể thành đạt ngay cả khi tham gia vào các DN tư nhân, thậm chí tự mình đứng ra thành lập và điều hành DN Tóm lại, muốn nâng cao được chất lượng đào tạo, giáo dục nghề nghiệp phải gắn với sản xuất, với nhu cầu và yêu cầu thị trường lao động thì các Cơ sởgiáo dục nghề nghiệp phải liên kết với các DN Mặt khác chất lượng đào tạo ngày một nâng lên
s làm cho mối quan hệ liên kết giữa Cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN phát triển từ mức độ liên kết thấp chuyển dần lên mức độ liên kết cao (từ kết hợp, phối hợp đến tích hợp), từ liên kết một mặt sang quan hệ nhiều mặt: đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng nâng bậc thợ cho công nhân, Cơ sở giáo dục nghề nghiệp trở thành "đại lý bán hàng" cho DN, là nơi thực nghiệm những công nghệ, vật liệu mới trước khi đưa vào sản xuất đại trà Phát triển từ liên kết song phương sang liên kết đa phương, tức liên kết với nhiều DN với những mối quan hệ khác nhau Chất lượng đào tạo được đảm bảo giúp cho Nhà trường tăng uy tín, là điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ liên kết với nhiều DN, do đó mở rộng quy
mô, loại hình đào tạo
Trang 361.3.2 Nội dung liên kết đào tạo giữa trường Trung cấp và các doanh nghiệp
Mối liên kết giữa Trường và các DN phải được thiết lập trên quan điểm hệ
thống, có nghĩa là một mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực, với nhiều phương thức,
bởi l mục tiêu cuối cùng của mối quan hệ này là để Trường và các DNcùng
nhau tác động để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo CNKT theo yêu cầu của sản xuất, mà chất lượng và hiệu quả thì chịu tác động của hàng loạt nhân tố
trong cũng như ngoài Nhà trường
Những nội dung chính trong mối quan hệ này có thể liệt kê ra như sau:
1.3.2.1 Trao đổi thông tin về nhu cầu đào tạo các ngành nghề và trình độ CNKT
Trong cơ chế thị trường, đánh giá nhu cầu đào tạo là bước khởi đầu quan trọng của việc phát triển một chương trình đào tạo hay tổ chức một khóa đào tạo Ngoài việc xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động, các Trường cần thiết lập mối quan hệ chặt ch và thường xuyên với các DN là khách hàng của mình để có những thông tin về nhu cầu nhân lực của họ cả về số lượng lẫn chất lượng Trường và DN cần có những sự trao đổi thông tin hàng năm cũng như từng kế hoạch phát triển 5 năm để trên cơ sở đó Trường lập kế hoạch tuyển sinh và đào tạo các khoá học cho phù hợp còn DN thì có cơ hội tìm được người lao động đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất của mình
Nếu các Trường không có được thông tin về nhu cầu đào tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh mà tuyển sinh theo chỉ tiêu được phân phối một cách quan liêu, duy ý chí như hiện nay thì không tránh khỏi việc vừa thừa vừa thiếu lao động kỹ thuật
Trao đổi thông tin về nhu cầu đào tạo nhân lực nhằm các mục đích sau đây:
Với cơ sở đào tạo:
- Tạo điều kiện cho Trường biết được nhu cầu về CNKT thuộc các ngành nghề cũng như trình độ để hoạch định được các kế hoạch đào tạo và tổ chức
Trang 37được các chương trình đào tạo cũng như tuyển sinh phù hợp với nhu cầu của sản xuất, của thị trường lao động
- Cung cấp thông tin cho Trường về sự phù hợp của các chương trình đào tạo, những nội dung cần cải tiến, bổ sung hoặc cần thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất
Với các cơ sở sản xuất:
- Biết được những thông tin đầy đủ về khả năng đào tạo của Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, về ngành nghề và các trình độ CNKT cũng như những chương trình đào tạo mà Trường có thể cung cấp nhân lực cho các cơ sở sản xuất
- Giúp các DN có cơ hội tuyển chọn được những CNKT phù hợp với yêu cầu
Với người học:
- Được hướng nghiệp và tư vấn nghề, giúp học sinh chọn được nghề phù hợp với nhu cầu xã hội cũng như năng lực bản thân để học
- Giúp học sinh tốt nghiệp có nhiều cơ hội để tìm được việc làm
Với người lao động:
Biết được những hình loại công việc còn nhiều vị trí CNKT bị thiếu để hỗ trợ những người đang tìm việc có thể tìm được một việc làm càng nhanh càng tốt
1.3.2.2 Doanh nghiệp tham gia với cơ sở dạy nghề trong việc xây dựng chương trình đào tạo
Theo phương pháptiếp cận mục tiêu trong đào tạo, mục tiêu đào tạo là yếu
tố quan trọng hàng đầu của một chương trình đào tạo Nó là cơ sở để xây dựng nội dung chương trình cũng như để đánh giá chất lượng đào tạo đồng thời cũng
là định hướng cho người học trong quá trình học tập
Mục tiêu đào tạo là những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học phải
đạt được với những chuẩn được quy định để sau khi học xong một chương trình
đào tạo có thể hành nghề
Trang 38Với phương pháp tiếp cận thị trường, những chuẩn này phải xuất phát từ
yêu cầu của sản xuất, của thị trường lao động chứ không phải do hệ thống đào
tạo tự đặt ra như hiện nay
Với cách tiếp cận như trên, trong quá trình xác định mục tiêu, chuẩn chương trình và nội dung đào tạo cho các ngành, nghề, các trình độ CNKT không thể không có sự tham gia của các cơ sở sản xuất
Mặt khác, nội dung chương trình đào tạo cần được thường xuyên phát triển, cập nhật, hiện đại hoá cho phù hợp với các công nghệ mà sản xuất đang ứng dụng hoặc s được ứng dụng trong tương lai gần Chỉ có thiết lập được mối liên kết giữa Nhà trường và các DN đối tác như vậy thì Nhà trường mới thực sự đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của cơ sở sản xuất, học sinh tốt nghiệp mới có
cơ hội tìm được việc làm và mới nâng cao được hiệu quả đào tạo
1.3.2.3 Các DN tham gia với Trường trong quá trình tổ chức đào tạo
Đào tạo CNKT là một lĩnh vực tốn kém, cần nhiều trang thiết bị, đặc biệt là trong dạy thực hành Nhưng trang thiết bị của Trường bao giờ cũng lạc hậu so với sản xuất, bởi l trong cơ chế thị trường cạnh tranh với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, sản xuất phải thay đổi công nghệ và phát triển rất nhanh chóng trong khi Trường thì ít nhiều vẫn mang tính ổn định
Bên cạnh đó, việc liên kết này nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, Trường cần tận dụng năng lực chuyên môn của các kỹ sư và CNKT giỏi ở các DN tham gia vào công tác giảng dạy, vì họ là những người thường xuyên được cập nhật các kiến thức và kỹ năng của các công nghệ hiện đại, trong khi giáo viên của Trường ít có cơ hội để tiếp cận với các tiến bộ kỹ thuật cũng như kinh nghiệm sản xuất
Do vậy, để có được những người lao động kỹ thuật có chất lượng đáp ứng được nhu cầu của mình cũng như để nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở đào tạo, cần thiết lập mối liên kết giữa Trường và các DN trong quá trình đào tạo, đặc biệt là trong quá trình dạy thực hành và thực tập sản xuất
Trang 39Sự liên kết giữa Trường và DN trong việc tổ chức quá trình đào tạo mang lại các lợi ích sau đây:
Với cơ sở đào tạo:
- Sử dụng được các thiết bị hiện đại của sản xuất, những thiết bị đắt tiền
mà Trường không thể có để học sinh, sinh viên thực hành
- Sử dụng được những kỹ sư, công nhân giỏi trong sản xuất, những người thường xuyên được tiếp cận với những kỹ thuật và công nghệ mới tham gia vào công việc giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo
- Kịp thời và thường xuyên cập nhật, bổ sung và cải tiến được các chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất
Với cơ sở sản xuất:
- Có cơ hội để theo dõi và tuyển chọn được những sinh viên giỏi, có năng lực thực tế phù hợp với yêu cầu của DN
- Có một lực lượng lao động phụ, tiền công rẻ để thực hiện những nhiệm
vụ sản xuất phù hợp
Với người học:
- Được học với những phương tiện sản xuất hiện đại để có thể nhanh chóng hình thành được những kỹ năng cần thiết phù hợp với yêu cầu của sản xuất
- Có nhiều cơ hội để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp
- Có điều kiện để tiếp cận được với môi trường sản xuất thật, với nhịp độ khẩn trương của sản xuất công nghiệp với mục tiêu phấn đấu không ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, những điều mà ở Nhà trường không thể có được Nhờ vậy, sớm hình thành được tác phong lao động công nghiệp cũng như đạo đức nghề nghiệp
Với những lợi ích nên trên, cần thiết lập mối liên kết giữa Trường và các
DN trong việc thực hiện quá trình đào tạo
Trang 401.3.2.4 Các DN tham gia đánh giá học sinh trong các kỳ thi tốt nghiệp
Ngoài việc tổ chức các kỳ thi, kiểm tra do các giáo viên của Trường thực hiện như hiện nay, để việc đánh giá kết quả học tập của học sinh - sinh viên sau khi học xong một khóa đào tạo được chính xác, khách quan, trong Hội đồng chấm thi tốt nghiệp cần có một số thành viên là đại diện của các cơ sở sản xuất Như vậy, sự đánh giá vừa bảo đảm tính khách quan vừa thực hiện được nguyên tắc bảo đảm
chất lượng trong cơ chế thị trường là "vừa ý khách hàng"
1.3.2.5 Các DN góp phần kinh phí cho đào tạo
Một nguyên tắc đơn giản trong cơ chế thị trường là khi nhận một sản phẩm nào đó thì bên cầu phải trả tiền cho bên cung để trang trải các chi phí và cho phát triển Hơn nữa, trong điều kiện nước ta còn nghèo, việc đóng góp kinh phí cho đào tạo và tham gia vào quá trình đào tạo là một hình thức để thực hiện xã hội hoá giáo dục
1.3.2.6 Liên kết, hợp đồng đào tạo
Một nguyên tắc cơ bản của đào tạo là người học cần được học thực hành trong điều kiện càng sát với điều kiện sản xuất thực càng tốt Trường liên kết với các DN trong đào tạo là một xu thế ngày càng phát triển rộng rãi ở nhiều nước bởi mối liên kết này có những ưu điểm sau đây:
- Gắn được đào tạo với sản xuất, với thị trường lao động
- Học sinh được học trong điều kiện sản xuất thực, nhờ vậy ngoài việc hình thành các kỹ năng, người học còn được rèn luyện thái độ lao động cần thiết, nhờ vậy, nâng cao được chất lượng đào tạo
- Đào tạo theo hợp đồng của các DN tạo điều kiện cho học sinh tốt nghiệp các khoá đào tạo đều có việc làm đúng ngành nghề và trình độ được đào tạo, do vậy nâng cao được hiệu quả đào tạo đồng thời nâng cao được uy tín cho Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Với những ưu điểm nêu trên, liên kết, hợp đồng đào tạo giữa Trường và các
DN đã trở thành một mô hình đào tạo hiện nay ở nhiều nước