1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bglt tu van su dung thuoc

41 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài 1. Đại cương về tư vấn sử dụng thuốc
Trường học Đại Học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Dược học
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản chất của mô hình này chưa nhìn nhậnđúng khả năng và cách giải quyết vấn đề của bệnh nhân, chưa chú ý đến thái độ và niềm tin của bệnh nhân, vì vậy tạo cho bệnh nhân cách tiếp cận vấn

Trang 1

BÀI 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TƯ VẤN SỬ DỤNG THUỐC

Thời gian: 02 giờ

A Mục tiêu

Sau khi học xong bài này, sinh viên phải:

1.1 Trình bày được một số khái niệm về tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân.1.2 Trình bày được vai trò của hoạt động tư vấn bệnh nhân

1.3 Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tư vấn sử dụng thuốc trongthực hành nghề nghiệp từ đó có thái độ nghiêm túc, cẩn trọng, đồng cảm vớibệnh nhân trong thực hiện tư vấn sử dụng

B Nội dung

1 KHÁI NIỆM VỀ TƯ VẤN SỬ DỤNG THUỐC CHO BỆNH NHÂN

1.1 Khái niệm và các mô hình tư vấn bệnh nhân

1.1.1 Khái niệm

Một trong những định nghĩa toàn diện nhất về tư vấn bệnh nhân được xây

dựng bởi dược điển Mỹ (USP) năm 1997 Theo USP, tư vấn bệnh nhân là “cách tiếp cận tập trung vào nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề của bệnh nhân với mục tiêu cải thiện hoặc duy trì chất lượng sức khỏe và chất lượng cuộc sống”.

Định nghĩa này nhấn mạnh rằng nhân viên y tế cung cấp và thảo luận về thôngtin thuốc với từng đối tượng bệnh nhân để đạt được mục tiêu trên Bản chất củamối quan hệ giữa bệnh nhân và nhân viên y tế là tương tác và học hỏi kinhnghiệm cho cả hai bên

Theo USP, tư vấn sử bệnh nhân được phân thành 4 mức độ: độc thoại củadược sỹ, hỏi đáp đơn thuần, đối thoại và thảo luận Các mức độ phát triển liêntục từ mức thấp nhất là độc thoại của dược sĩ đến mức cao nhất là thảo luận, từchỗ dược sĩ chỉ cung cấp thông tin một chiều đến có những trao đổi chi tiết vớibệnh nhân để đưa ra lời khuyên sử dụng thuốc hợp lí nhất cho bệnh nhân Cácmức độ tư vấn này có thể coi là tương ứng với các mô hình tư vấn bệnh nhânkhác nhau

1.1.2 Các mô hình tư vấn bệnh nhân

Mô hình tư vấn bệnh nhân là cách thức của quá trình tương tác giữa dược

sĩ và bệnh nhân trong tư vấn Năm 1993, Ingrosso chia mô hình tư vấn bệnhnhân thành 3 loại:

• Mô hình tư vấn một chiều (magisterial health counselling)

• Mô hình tư vấn hai chiều (participative health counselling)

• Mô hình tư vấn khuyến khích (promotional health counselling)

Trang 2

- Mô hình tư vấn một chiều

Mô hình tư vấn một chiều (magisterial health counselling) là mô hìnhtrong đó bệnh nhân được coi như một cỗ máy thực hiện tiếp nhận thông tin mộtchiều Tynjälä năm 1999 cho rằng mô hình tư vấn một chiều có thể so sánh vớimức độ độc thoại của dược sĩ trong 4 mức độ của tư vấn bệnh nhân theo USP.Tương tự như trong tư vấn độc thoại của dược sĩ, bệnh nhân tiếp nhận thông tinmột cách thụ động mà không có sự phản hồi đối với dược sĩ Mô hình tư vấnmột chiều được coi là trung lập, bất đối xứng và dựa trên lý thuyết học tập hành

vi Tuy nhiên, mô hình này vẫn chưa chú ý đến điểm riêng biệt của mỗi bệnhnhân, chưa nhìn nhận đúng về khả năng giải quyết vấn đề một cách độc lập của

họ Do đó, bệnh nhân chỉ kiểm soát và tuân thủ nghiêm túc những lời khuyêncủa dược sĩ mà không xem xét liệu việc điều trị có phù hợp với mình hay không

- Mô hình tư vấn hai chiều

Mô hình tư vấn hai chiều (participative health counselling) là mô hìnhtrong đó bệnh nhân có quyền tự đưa ra các lựa chọn, quyết định liên quan đếnviệc điều trị của mình Mô hình tư vấn hai chiều có thể so sánh với mức độ hỏiđáp đơn thuần giữa dược sĩ và bệnh nhân trong 4 mức độ tư vấn bệnh nhân theoUSP Theo đó quá trình tư vấn được coi như là sự chia sẻ thông tin giữa bệnhnhân và dược sĩ Mô hình tư vấn hai chiều dựa trên lí thuyết về khả năng họccủa bệnh nhân, theo đó mỗi bệnh nhân tự có ý thức về bệnh và thuốc của mình

So với mô hình tư vấn một chiều, mô hình này đã nhấn mạnh sự phù hợp đối vớitừng bệnh nhân, bệnh nhân có thể tự đưa ra những quyết định có lợi cho tìnhtrạng sức khỏe của mình Tuy nhiên, mô hình vẫn chưa đề cập đến khả năng suynghĩ và đánh giá những quyết định đưa ra liên quan đến điều trị của bệnh nhân

- Mô hình tư vấn khuyến khích

Mô hình tư vấn khuyến khích (promotional health counselling) là môhình bao gồm quá trình tương tác học hỏi kinh nghiệm giữa dược sĩ và bệnhnhân Mô hình này tăng cường các kĩ năng giải quyết vấn đề, cách suy nghĩ vàcách đánh giá riêng của bệnh nhân về mỗi hành động của mình Mô hình tư vấnkhuyến khích có thể so sánh với mức độ đối thoại và thảo luận giữa dược sỹ vàbệnh nhân trong 4 mức độ tư vấn bệnh nhân theo USP Tư vấn sức khỏe khuyếnkhích được thiết lập dựa trên tâm lí học nhận thức và học thuyết hành động liênquan đến nhận thức Bàn về vấn đề này, Rauste-von Wright năm 1994 cho rằngviệc học ở đây dựa trên quan niệm học tập mang tính chất xây dựng, thông tin

Trang 3

không được truyền trực tiếp cho người học, mà họ sẽ tự nhận thức và tự tìmthông tin cho chính mình Mô hình tư vấn khuyến khích đã quan tâm tới hiểubiết và suy nghĩ độc lập của từng bệnh nhân trong suốt quá trình tư vấn Đâychính là vấn đề mà hai mô hình tư vấn trước chưa đề cập đến

Như vậy từ mô hình tư vấn một chiều tới mô hình tư vấn khuyến khích đãtừng bước hướng tới bệnh nhân trong quá trình tư vấn Mỗi mô hình tư vấnhướng tới và giải quyết những mục tiêu riêng, nhưng tư vấn khuyến khích là môhình đạt được đầy đủ nhất các mục tiêu của một quá trình tư vấn bệnh nhân.1.2 Các cách tiếp cận của bệnh nhân trong quá trình tư vấn bệnh nhân

Bệnh nhân có cách tiếp cận khác nhau đối với từng mô hình tư vấn cũngnhư từng mức độ tư vấn Khi mô hình tư vấn phát triển từ một chiều đến khuyếnkhích,từ mức độ tư vấn độc thoại của dược sĩ đến mức độ thảo luận thì cách tiếpcận của bệnh nhân thay đổi dần từ tuân thủ đến đồng thuận

1.2.1 Tuân thủ (Compliance)

Khái niệm chung về tuân thủ

Haynes và cộng sự năm 1979 đã đưa ra định nghĩa tuân thủ là “mức độmột bệnh nhân tuân theo chế độ ăn, thực hiện thay đổi lối sống theo các lờikhuyên về thuốc và sức khỏe” Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), tuân thủ là

“mức độ bệnh nhân tuân theo lời hướng dẫn của bác sĩ” Năm 1999,Blenkinsopp cho rằng tuân thủ thuốc đề cập đến hành vi của bệnh nhân liênquan đến các loại thuốc của họ

Trong tư vấn bệnh nhân, cách tiếp cận tuân thủ không công nhận bệnhnhân là người có thể chủ động kiểm soát việc điều trị của họ Thay vào đó, cáchtiếp cận này xem các chuyên gia chăm sóc sức khỏe là người đưa ra quyết địnhcho bệnh nhân Vì vậy, quá trình tư vấn coi như một quá trình truyền thông tin

từ nhân viên y tế tới bệnh nhân một cách thụ động

Cách tiếp cận tuân thủ tương ứng với mô hình tư vấn một chiều và giaiđoạn tư vấn độc thoại của dược sĩ Bản chất của mô hình này chưa nhìn nhậnđúng khả năng và cách giải quyết vấn đề của bệnh nhân, chưa chú ý đến thái độ

và niềm tin của bệnh nhân, vì vậy tạo cho bệnh nhân cách tiếp cận vấn đề mộtcách thụ động, chỉ tuân thủ mà không xem xét sự phù hợp với bản thân mình.Với cách tiếp cận này bệnh nhân không có cơ hội thảo luận với dược sĩ nhữngkhó khăn họ gặp phải trong quá trình dùng thuốc để tìm cách giải quyết Vàchính những vấn đề này ảnh hưởng và là rào cản tới sự tuân thủ thuốc của bệnh

Trang 4

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân

Tuân thủ là một hiện tượng đa chiều được xác định bởi sự tương tác qualại của nhóm 5 yếu tố: yếu tố kinh tế - xã hội, yếu tố liên quan đến hệ thốngchăm sóc sức khỏe, yếu tố liên quan đến bệnh, yếu tố liên quan đến phác đồ điềutrị, yếu tố liên quan đến bệnh nhân, trong đó bệnh nhân chỉ là một yếu tố quyếtđịnh

❖ Yếu tố kinh tế - xã hội

Một vài yếu tố được cho là có ảnh hưởng đáng kể đến sự tuân thủ như:tình trạng kinh tế xã hội kém phát triển, nghèo đói, mù chữ, trình độ học vấnthấp, thất nghiệp, điều kiện sống không ổn định, xa trung tâm điều trị, chi phí đilại cao, chi phí cho thuốc điều trị cao, thay đổi môi trường, thái độ và niềm tin

về bệnh, về phương pháp điều trị

❖ Yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe

Những yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe ảnh hưởng đến

sự tuân thủ của bệnh nhân bao gồm dịch vụ y tế và hệ thống phân phối thuốckém phát triển, đội ngũ nhân viên chăm sóc sức khỏe thiếu kiến thức trong việcquản lí bệnh mãn tính, năng lực của hệ thống giáo dục bệnh nhân còn yếu, thiếukiến thức về tuân thủ và những can thiệp có hiệu quả để cải thiện sự tuân thủ củabệnh nhân

❖ Yếu tố liên quan đến bệnh

Các yếu tố này tiêu biểu cho những yêu cầu đặc biệt liên quan đến bệnh

mà bệnh nhân phải vượt qua Một số yếu tố quan trọng quyết định sự tuân thủliên quan đến mức độ nặng của triệu chứng bệnh, mức độ khuyết tật (thể chất,tâm lí, xã hội), mức độ tiến triển của bệnh, sự sẵn có của các phác đồ điều trị cóhiệu quả Tác động của những yếu tố này phụ thuộc vào việc nó ảnh hưởng đếnnhận thức về nguy cơ của bệnh nhân, đến tầm quan trọng của việc tuân thủ phác

đồ điều trị, đến sự ưu tiên việc tuân thủ như thế nào Loại bệnh cũng là một yếu

tố ảnh hưởng, ví dụ bệnh nhân bệnh tim thường tuân thủ tốt, trong khi bệnhnhân bệnh hen thường không tuân thủ

❖ Yếu tố liên quan đến phác đồ điều trị

Có nhiều yếu tố của phác đồ điều trị ảnh hưởng tới sự tuân thủ Đáng chú

ý nhất là những yếu tố liên quan sự phức tạp của chế độ điều trị, thời gian điềutrị,thất bại của phác đồ điều trị trước đó, sự thay đổi thường xuyên phác đồ điều

Trang 5

trị,hiệu quả tức thì của phác đồ, tác dụng không mong muốn, và các biện pháp y

tế sẵncó để giải quyết những vấn đề này

❖ Yếu tố thuộc về bệnh nhân

Các yếu tố liên quan đến bệnh nhân có ảnh hưởng đến sự tuân thủ tiêubiểu là kiến thức, thái độ, niềm tin, nhận thức và nguồn lực của bệnh nhân(resources) Các yếu tố này bao gồm: tính hay quên, tâm lí căng thẳng, thiếukiến thức và kĩ năng kiểm soát triệu chứng và phương pháp điều trị, thiếu nhucầu tự nhận thức về phương pháp điều trị, thiếu nhận thức về hiệu quả củaphương pháp điều trị, thiếu hiểu biết về bệnh, không tin tưởng vào chẩn đoán,hiểu sai về hướng dẫn điều trị, thiếu sự kiểm soát và theo dõi, bi quan, thất vọng,

lo lắng về tác dụng không mong muốn của thuốc, cảm giác bị kì thị vì mắc bệnh

Rào cản tới sự tuân thủ thuốc

Năm 1984, Becker cho rằng rào cản thứ nhất của sự tuân thủ thuốc là sựphức tạp của phác đồ điều trị và sự khó khăn trong việc tuân thủ phương phápđiều trị đã đưa ra Phác đồ điều trị càng phức tạp thì bệnh nhân càng ít tuân thủthuốc Khó khăn trong việc nhớ uống thuốc vài lần mỗi ngày hoặc trong việcđiều chỉnh dùng thuốc cho phù hợp với thói quen hàng ngày của bệnh nhân cũngđược xem như lý do để bệnh nhân ít tuân thủ thuốc hơn

Thời gian điều trị dài cũng làm cho bệnh nhân ít tuân thủ hơn Nguyênnhân của việc này là do bệnh nhân gặp khó khăn trong việc nhớ và sắp xếp lịchuống thuốc Việc giảm tuân thủ theo thời gian sẽ làm bệnh nhân ít quan tâm đếnbệnh hơn hoặc ít có nhu cầu tiếp tục dùng thuốc

Tác dụng không mong muốn của thuốc khi xảy ra cũng làm giảm sự tuânthủ thuốc, do bệnh nhân thấy khó chịu, lo lắng tác dụng này sẽ nặng thêm Đặcbiệt khi bệnh nhân không được cảnh báo trước về khả năng xảy ra tác dụngkhông mong muốn hoặc không được hướng dẫn các biện pháp để làm giảmnhững tác dụng không mong muốn này Rào cản về nhận thức, ngôn ngữ, khảnăng đọc viết làm bệnh nhân không hiểu được lí do phải dùng thuốc, hướng dẫn

sử dụng thuốc Vì vậy bệnh nhân sẽ không thể tuân thủ đúng cách dùng thuốc

Các yếu tố ảnh hưởng và rào cản làm giảm sự tuân thủ thuốc của bệnhnhân cần được thảo luận với dược sĩ trong tư vấn để cùng nhau tìm ra cách giảiquyết các vấn đề bệnh nhân gặp phải Khi bệnh nhân thảo luận những vấn đềnày với dược sĩ tức là họ đã chuyển sang một cách tiếp cận mới, từ tuân thủ mộtcách thụ động đến đồng thuận trong quá trình tư vấn

Trang 6

Đồng thuận dựa trên quan niệm mới về việc trao đổi thông tin giữa dược

sĩ và bệnh nhân Trong phương pháp đồng thuận, vai trò của dược sĩ là để hỗ trợbệnh nhân hình thành kiến thức và thái độ trong việc sử dụng thuốc Bệnh nhânđược xem như chuyên gia về bệnh và việc sử dụng thuốc của mình Điều nàykhông làm giảm vai trò chuyên gia thuốc của dược sĩ, mà thay vào đó một cuộctrao đổi, thảo luận giữa dược sĩ và bệnh nhân là cần thiết để thúc đẩy và hỗ trợbệnh nhân theo dõi bệnh của mình

Như vậy, cách tiếp cận đồng thuận tương ứng với mô hình tư vấn khuyếnkhích hay giai đoạn đàm luận, thảo luận trong tư vấn bệnh nhân Mô hình và giaiđoạn này đã chú ý hướng tới bệnh nhân, đề cập đến khả năng, thái độ, suy nghĩ

và cách giải quyết vấn đề của bệnh nhân, bởi vậy tạo cơ hội cho bệnh nhân traođổi với dược sĩ và tự đưa ra quyết định phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình.Cách tiếp cận đồng thuận buộc dược sĩ định hình lại về thái độ của mình đốivới việc tư vấn bệnh nhân Dược sĩ với vai trò là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

có thể giúp mọi người duy trì sức khỏe tốt nhất và nâng cao lợi ích của việcdùng thuốc Để đảm nhận vai trò này dược sĩ đòi hỏi phải có năng lực chuyênmôn mới và khi tư vấn phải lấy bệnh nhân làm trung tâm Dược sĩ nên chuyển từcách tư vấn chỉ tập trung vào thuốc, tư vấn một chiều sang tư vấn tập trung vàobệnh nhân và đưa thông tin phù hợp với nhu cầu từng bệnh nhân để đạt đượchiệu quả điều trị tốt hơn Thực hiện được những điều này thì quá trình tư vấnbệnh nhân sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn mang lại lợi íchcho dược sĩ

2 VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN BỆNH NHÂN

2.1 Mục tiêu của tư vấn bệnh nhân

Tư vấn bệnh nhân là quá trình dược sĩ thảo luận với bệnh nhân về cácthuốc điều trị của họ nhằm hai mục tiêu chính:

• Giáo dục bệnh nhân những thông tin liên quan đến thuốc

• Giúp đỡ bệnh nhân để đạt được lợi ích tốt nhất của việc dùng thuốc

Trang 7

2.1.2 Mục tiêu giáo dục bệnh nhân

Mục tiêu giáo dục bệnh nhân bao gồm nâng cao kĩ năng và kiến thức đểmang lại những thay đổi trong thái độ và hành vi dùng thuốc của bệnh nhân

Để đạt được mục tiêu giáo dục bệnh nhân theo nhiều cách khác nhau, dược sĩphải thực hiện từng bước Các dược sĩ thường nghĩ giáo dục bệnh nhân là cungcấp thông tin thông qua lời nói hay văn bản Tuy nhiên, việc cung cấp thông tinđơn thuần không đảm bảo được kĩ năng và kiến thức về bệnh và việc dùng thuốccủa bệnh nhân được cải thiện

Với mục tiêu giáo dục thì dược sĩ phải đưa thông tin phù hợp với nhu cầucủa từng bệnh nhân Thông qua việc thảo luận với bệnh nhân dược sĩ phải xácđịnh được bệnh nhân biết về bệnh hoặc về thuốc đến đâu, họ có bất kì sự hiểusai nào về thuốc và bệnh không Ví dụ, bệnh nhân có thể nghĩ rằng bệnh tănghuyết áp của họ là kết quả của trạng thái thần kinh căng thẳng, thuốc điều trịtăng huyết áp là để hạ huyết áp và thuốc này chỉ cần khi bệnh nhân cảm thấyhuyết áp của mình tăng Sau khi khám phá ra nhận thức, suy nghĩ của bệnhnhân, dược sĩ cũng cần phải truyền đạt thông tin rõ ràng về bệnh tăng huyết áp,mục tiêu của thuốc và tầm quan trọng của việc dùng thuốc đều đặn

2.1.2 Mục tiêu hỗ trợ bệnh nhân

Mục tiêu của tư vấn bệnh nhân là giúp đỡ bệnh nhân vượt qua bệnh tật vànhững thay đổi do bệnh gây ra Ví dụ bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường hoặctăng huyết áp có thể cần giúp đỡ để vượt qua những thay đổi trong chế độ ăn,trong thói quen công việc và hoạt động giải trí

Thêm vào việc giải quyết những vấn đề trước mắt, tư vấn bệnh nhân nên

có những thảo luận để phòng tránh vấn đề có thể xảy ra trong quá trình bệnhnhân dùng thuốc và nâng cao khả năng giải quyết những vấn đề này cho bệnhnhân Thông qua tư vấn bệnh nhân, dược sĩ có thể dự đoán trước một số vấn đềnhờ đó có thể phòng ngừa được hoặc ít nhất là giảm thiểu tối đa các vấn đề bấtlợi của thuốc Dược sĩ thảo luận với bệnh nhân để biết ý định và khả năng tuânthủ hướng dẫn dùng thuốc của bệnh nhân Ví dụ một bệnh nhân đi ăn tiệc có thểquyết định bỏ qua một liều thuốc tăng huyết áp và uống rượu trong bữa tiệc.Nếu tình huống này được dự đoán trước và thảo luận với dược sĩ thì bệnh nhân

có thể có một quyết định tốt hơn Dược sĩ có thể chỉ ra những nguy cơ khi bệnhnhân bỏ một liều thuốc hoặc gợi ý những thay đổi như bệnh nhân nên hạn chếuống rượu trong khi đang uống thuốc

Trang 8

Một vấn đề khác cần chú ý đó là sự gia tăng tác dụng không mong muốncủa thuốc Ví dụ, các tác dụng không mong muốn như táo bón, nước tiểu đổimàu cũng có thể làm bệnh nhân lo âu và có thể dẫn đến dừng thuốc Vì vậytrong quá trình tư vấn dược sĩ nên tư vấn để bệnh nhân nhận ra những triệuchứng nào là tác dụng không mong muốn của thuốc, tìm cách giải quyết vàkhông tự ý dừng thuốc Như vậy trong trường hợp bệnh nhân phải điều trị lâudài, mục tiêu của tư vấn là phát hiện ra tất cả những vấn đề nói trên và đảm bảomọi thứ diễn ra tốt đẹp.

Khi đã phát hiện ra các vấn đề có thể xảy ra thì mục tiêu của tư vấn lànâng cao khả năng giải quyết những vấn đề này cho bệnh nhân

Tư vấn bệnh nhân với hai mục tiêu chính là giáo dục bệnh nhân các thôngtin liên quan đến thuốc và giúp đỡ bệnh nhân vượt qua những vấn đề gặp phảitrong quá trình sử dụng thuốc Như vậy, việc dược sĩ có thực hiện được 2 mụctiêu này trong quá trình tư vấn hay không sẽ quyết định cách tiếp cận của bệnhnhân với những gì họ được tư vấn

2.2 Vai trò của dược sĩ trong tư vấn bệnh nhân

Khi bệnh nhân tiến đến cách tiếp cận đồng thuận trong tư vấn thì đây làmột thử thách để dược sĩ nhìn lại vai trò của mình đối với việc tư vấn bệnh nhân.Đảm nhiệm vai trò này đòi hỏi dược sĩ phải có năng lực mới, khi tư vấn phải lấybệnh nhân làm trung tâm để đưa thông tin phù hợp với từng đối tượng nhằm đạtđược hiệu quả điều trị cao nhất

Thông qua quá trình tư vấn, dược sĩ tìm hiểu nhu cầu hiện tại và tương laicủa bệnh nhân Dược sĩ phải đánh giá được bệnh nhân đã biết những gì, kĩ năng

gì họ muốn cải thiện, vấn đề gì họ đang gặp phải và muốn giải quyết Thêm vào

đó dược sĩ phải xác định được những hành vi, thái độ mà bệnh nhân cần phảithay đổi Dược sĩ cũng cần cung cấp cho bác sĩ thông tin về nhu cầu, sở thíchcủa bệnh nhân để hỗ trợ mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân Ví dụ bệnh nhân

có thể nói với dược sĩ những điều mà họ không muốn thảo luận với bác sĩ hoặchỏi dược sĩ về việc lựa chọn phương pháp điều trị của bác sĩ Vì vậy dược sĩ cóthể giúp cả hai bên trở nên hiểu nhau hơn bằng cách khuyến khích bệnh nhânthảo luận các vấn đề với tất cả nhân viên y tế và nếu bệnh nhân cho phép có thểthay mặt bệnh nhân thảo luận với nhân viên y tế khác

C LƯỢNG GIÁ

Trang 9

BÀI 2 QUY TRÌNH TƯ VẤN SỬ DỤNG THUỐC

Thời gian: 04 giờ

A MỤC TIÊU

1 Trình bày được các bước trong quy trình tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân

2 Áp dụng được quy trình tư vấn sử dụng thuốc trong thực hành lâm sàng

3 Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tư vấn sử dụng thuốc trongthực hành nghề nghiệp từ đó có thái độ nghiêm túc, cẩn trọng, đồng cảm vớibệnh nhân trong thực hiện tư vấn sử dụng Chủ động ứng dụng kiến thức trong

các tình huống thực tiễn và có khả năng tự nghiên cứu, tự đọc tài liệu.

B NỘI DUNG

Năm 1997, hiệp hội dược sĩ Mỹ (ASHP) đưa ra một hướng dẫn về cách tưvấn bệnh nhân cho dược sĩ Theo đó, quá trình này gồm 4 bước: (1) thiết lập mốiquan hệ với bệnh nhân, (2) đánh giá kiến thức và thái độ của bệnh nhân về thuốc

và bệnh, khả năng bệnh nhân có thể sử dụng thuốc hợp lí, (3) cung cấp thông tinbằng lời nói và các phương tiện hỗ trợ khác để nâng cao, cải thiện nhận thức vàhiểu biết của bệnh nhân, (4) kiểm tra lại nhận thức và hiểu biết của bệnh nhân vềcách sử dụng thuốc Các nội dung của quá trình tư vấn nên diễn ra theo mộttrình tự logic Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh nhân sẽ hiểu và nhớ thông tin tốthơn nếu thông tin được xếp thành từng nhóm hoặc từng mục Quá trình tư vấnđược thực hiện qua 3 giai đoạn sau:

1 MỞ ĐẦU TƯ VẤN

Mục tiêu của phần mở đầu là làm cho bệnh nhân cảm thấy thoải mái thamgia vào quá trình tư vấn, từ đó xây dựng mối liên hệ thân mật giữa dược sĩ vàbệnh nhân và tạo cho bệnh nhân cảm giác tin tưởng vào dược sĩ

Nếu bệnh nhân và dược sĩ trước đây chưa từng gặp nhau, dược sĩ nên tựgiới thiệu bản thân và làm cho cuộc thảo luận trở nên thoải mái, đồng thời giảithích mục tiêu của cuộc tư vấn cho bệnh nhân Nếu bệnh nhân không có thờigian để thảo luận ngay lúc đó, cần phải sắp xếp một cuộc thảo luận khác có thể

là gặp trực tiếp hoặc là bằng điện thoại ở thời điểm khác

Đối với bệnh nhân có đơn mới, dược sĩ cần nhấn mạnh tầm quan trọngcủa việc tư vấn nếu trước đó bệnh nhân chưa từng được tư vấn Đối với bệnhnhân có đơn kê lại dược sĩ nên đánh giá hiệu quả của thuốc, theo dõi việc sửdụng thuốc để xác định những vấn đề liên quan đến thuốc có thể xảy ra đặc biệt

là việc không tuân thủ và tác dụng không mong muốn của thuốc

Trang 10

1.1 Thảo luận để thu thập thông tin và xác định nhu cầu của bệnh nhân

Nếu bệnh nhân mới, dược sĩ cần thu thập thông tin cơ bản của bệnh nhânnhư: tên, địa chỉ, số điện thoại, tuổi và giới tính Thêm vào đó cần thu thậpthông tin về tiền sử dị ứng, phản ứng thuốc của bệnh nhân Trong trường hợpbệnh nhân khám lại, các thông tin đã có sẵn từ lần tư vấn trước hoặc từ đơn củabệnh nhân Dược sĩ chỉ cần xác nhận bệnh nhân không có sự thay đổi gì như cóthêm bệnh mới, hay dùng thuốc khác kể cả thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn

❖ Đối với bệnh nhân có đơn mới

Đối với bệnh nhân có đơn mới, các thông tin dưới đây nên được thu thập,thêm vào những thông tin về tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân như đã đượcthảo luận ở trên:

• Tiền sử dùng thuốc

Dược sĩ phải xác định xem liệu rằng trước đó bệnh nhân đang có sử dụngthuốc gì không Thậm chí đối với bệnh nhân khám lại, những thuốc không cótrong đơn nhưng bệnh nhân có thể mua ở nơi khác, trực tiếp từ bác sĩ hoặc quathời gian nằm viện Nếu bệnh nhân đã dùng thuốc trước đó, phần còn lại củacuộc tư vấn sẽ chuyển sang tư vấn cho đơn kê lại phù hợp hơn là cho đơn mới

• Kiến thức về bệnh và về mục đích của thuốc

Nếu thực sự là đơn mới thì dược sĩ phải xác định bệnh đang được điều trị,hiểu biết và nhận thức của bệnh nhân về tình trạng bệnh này Dược sĩ cũng nênhỏi bệnh nhân về những gì bác sĩ đã nói với họ về mục đích sử dụng thuốc Điềunày cho phép dược sĩ đánh giá mức độ nhận thức và hiểu biết của bệnh nhân vềbệnh và về mục đích của thuốc, đây là cơ hội cho bệnh nhân bày tỏ vấn đề liênquan đến tình trạng bệnh của họ Từ đó dược sĩ có thể đánh giá được nhu cầucủa bệnh nhân và xác định được những vấn đề bệnh nhân hiểu sai hoặc sự thiếuđộng lực dẫn đến không tuân thủ trong dùng thuốc Thông qua thảo luận dược sĩ

có thể thu thập được thông tin để đánh giá tính phù hợp của thuốc được kê Nếu

có thể, dược sĩ nên cung cấp thêm những thông tin về chẩn đoán hoặc mục tiêuđiều trị thực sự của bác sĩ

• Kiến thức về chế độ dùng thuốc

Dược sĩ phải xác định hiểu biết của bệnh nhân về cách sử dụng thuốc.Dược sĩ nên hỏi xem bác sĩ đã nói cho họ biết cách sử dụng chưa và liệu bệnhnhân có bất kì khó khăn nào trong quá trình dùng thuốc được kê không Điềunày cho phép dược sĩ đánh giá nhu cầu của bệnh nhân và có thể tiết kiệm thời

Trang 11

gian nếu bệnh nhân cho biết họ đã biết những thông tin đó một cách rõ ràng.

• Mục tiêu điều trị

Bệnh nhân có thể được hỏi họ muốn đạt tới điều gì khi dùng thuốc Điềunày sẽ làm sáng tỏ bất kì nhận thức nào của bệnh nhân về thuốc liên quan đến sựkhông tuân thủ

• Những vấn đề có thể xảy ra

Ở thời điểm này, dược sĩ có thể bắt đầu xác định những vấn đề có thể xảy

ra Hỏi bệnh nhân cảm thấy thế nào khi uống thuốc và liệu có bất kì khó khănnào mà họ sẽ gặp phải với việc dùng thuốc hay không để dược sĩ đánh giá vàđưa ra cách giải quyết

❖ Đối với đơn kê lại hoặc theo dõi việc dùng thuốc tiếp theo

Trong trường hợp này, những thông tin dưới đây nên được thu thập, thêmvào những thông tin về bệnh nhân và cách sử dụng thuốc đã được bàn ở trên khicần thiết:

• Chi tiết việc sử dụng thuốc

Dược sĩ nên xác định bệnh nhân đang sử dụng thuốc thế nào, có gặp bất kìkhó khăn nào khi dùng thuốc không (ví dụ quá liều hay chưa đủ liều…) Nếuthấy bệnh nhân không tuân thủ thuốc, dược sĩ nên hỏi về việc thường xuyêndùng thuốc hoặc lí do cho sự không tuân thủ Nhờ đó những yếu tố làm bệnhnhân không tuân thủ sẽ được phát hiện

• Hiệu quả của thuốc

Dược sĩ nên đánh giá liệu thuốc có hiệu quả hay không, thuốc có tác dụngnhư những gì mong muốn không, những dấu hiệu cho thấy thuốc có hiệu quả.Thảo luận này cho phép dược sĩ phát hiện những mối nghi ngại của bệnh nhân(ví dụ bệnh nhân có thể cho biết giảm mức huyết áp nhưng họ không cảm thấy

có sự khác biệt gì , bởi vậy có thể ít tiếp tục sử dụng thuốc hơn)

• Tác dụng không mong muốn xảy ra

Dược sĩ nên xác định xem có bất kì tác dụng không mong muốn nào xảy

ra hay không, thu thập thông tin về thời gian và mức độ nặng để dược sĩ và bác

sĩ có thể quyết định tác dụng này có thể kiểm soát được hay phải thay thuốc.Việc khai thác thông tin về tác dụng không mong muốn nên được cân bằng vớiviệc nhắc lại lợi ích của thuốc

1.2 Thảo luận để đưa ra kế hoạch chăm sóc và giải quyết vấn đề

❖ Đối với đơn mới

Trang 12

Khi đã xác định được các vấn đề có thể xảy ra thì dược sĩ nên thông báovới bệnh nhân và thảo luận để đưa ra cách giải quyết Tiếp đó, thiết lập mục tiêu

về hiệu quả điều trị cho mỗi vấn đề Nếu thảo luận với bệnh nhân dẫn đến phác

đồ của bệnh nhân cần thay đổi, dược sĩ phải làm rõ sự thay đổi Sự thay đổi nàyphải được thảo luận với bệnh nhân và nếu có sự thay đổi về thuốc thì phải thảoluận với bác sĩ Sau khi cân nhắc kĩ dược sĩ nên xác định giải pháp tốt nhất vàphù hợp với điều trị của từng bệnh nhân Cuối cùng dược sĩ nên thảo luận kếhoạch theo dõi điều trị cho bệnh nhân

❖ Đối với đơn kê lại hoặc tiếp tục theo dõi việc dùng thuốc tiếp theo

Trong phần này của quá trình tư vấn dược sĩ nên ghi lại tất cả những thayđổi về kế hoạch điều trị và thông tin bệnh nhân cung cấp trong các cuộc thảoluận về những việc bệnh nhân đã làm được trong kế hoạch điều trị

2 TƯ VẤN

2.1 Đối với đơn mới

Đối với đơn mới, bệnh nhân cần được giáo dục về tất cả các vấn đề của thuốc.Các loại thông tin cần thiết cung cấp cho bệnh nhân mới được liệt kê dưới đây:

- Tên và mô tả về thuốc

- Mục tiêu tác dụng của thuốc

- Cách dùng và thời gian uống

- Cách tuân thủ và tự theo dõi điều trị

- Tác dụng phụ và phản ứng có hại của thuốc

- Thận trọng, chống chỉ định và tương tác thuốc

- Hướng dẫn bảo quản thuốc

- Thông tin nếu phải kê đơn lại và kế hoạch theo dõi tiếp theo

2.2 Đối với đơn kê lại hoặc tiếp tục theo dõi việc dùng thuốc tiếp theo

Nếu vấn đề như không tuân thủ, tác dụng phụ hay phản ứng có hại củathuốc được phát hiện trong quá trình thu thập thông tin của bệnh nhân thì dược

sĩ không cần cung cấp thêm thông tin mới cho bệnh nhân Dược sĩ chỉ nhấnmạnh lại thông tin về những thận trọng cần theo dõi trong quá trình sử dụngthuốc, khuyến khích bệnh nhân nên tiếp tục tuân thủ sử dụng thuốc

Đối với các vấn đề liên quan đến tuân thủ thuốc dược sĩ có thể cung cấpthông tin về tình trạng bệnh, thông tin về cách thuốc hoạt động trong cơ thể,khẳng định lại hiệu quả của thuốc, đề nghị thay đổi chế độ điều trị để cải thiện

sự tuân thủ, hướng dẫn bệnh nhân tự theo dõi, hoặc đề nghị những thảo luận chi

Trang 13

tiết hơn với bác sĩ Nếu tác dụng phụ hoặc phản ứng có hại của thuốc xảy ra,dược sĩ nên cung cấp thông tin về cách để làm giảm các tác dụng phụ, cách tiếptục theo dõi tác dụng phụ và cách giải quyết nếu nó trở nên nặng hơn, hoặc đềnghị những thảo luận chi tiết hơn với bác sĩ.

3 KẾT THÚC TƯ VẤN

Trong phần kết thúc thảo luận, dược sĩ nên để bệnh nhân có cơ hội đểxem xét lại các thông tin đã được tư vấn và hỏi lại những gì chưa hiểu Dược sĩcũng nên yêu cầu bệnh nhân nhắc lại hầu hết các thông tin đã được tư vấn nhưhướng dẫn cách sử dụng thuốc Dược sĩ nên tạo cho bệnh nhân cảm giác thoảimái khi hỏi bất cứ vấn đề gì Phần kết thúc thảo luận dược sĩ nên tóm lại và nhấnmạnh điều quan trọng nhất của cuộc tư vấn, vì thông điệp cuối cùng thường làcái mà bệnh nhân nhớ nhất

THẢO LUẬN: SV thực hiện quy trình tư vấn sử dụng theo theo các tình huống cụ thể.

C LƯỢNG GIÁ

Trang 14

Phụ lục 1 BẢNG KIỂM TƯ VẤN THEO ĐƠN

1 Xác định đối tượng mua thuốc theo đơn.

- Có phải Bệnh nhân trực tiếp mua không ?

- Có phải đơn thuốc lần đầu không?

- Đặt 3 câu hỏi ban đầu:

1 Bác sĩ đã nói cho anh/chị biết thuốc này điều trị bệnh gì?

2 Bác sĩ đã dặn anh/chị dùng thuốc này như thế nào?

3 Bác sĩ đã nói với anh/chị về kết quả điều trị?

- Giải thích với BN mục đích của việc tư vấn

2 Xác định sơ bộ tính chất bệnh/đơn thuốc

- Bệnh cấp tính/mạn tính?

- Đơn thuốc có nhiều thuốc không?

Có dạng bào chế hay dụng cụ đặc biệt không?

3 Xác định các đặc điểm bệnh nhân.

- Có phải đối tượng đặc biệt không

- Thông tin tiền sử bệnh

- Các bệnh mắc kèm, tiền sử dị ứng

- Hỏi BN về các thuốc hiện đang sử dụng, có thể bao gồm các

thuốc bán không cần đơn, thuốc có nguồn gốc thảo dược, thực

phẩm chức năng

- Xác định xem BN có các yếu tố nào khác có thể ảnh hưởng

đến tác dụng hoặc tác dụng không mong muốn của thuốc (VD

các thói quen có hại, nghề nghiệp có liên quan…)

B TƯ VẤN

1 Vấn đề mục đích và cách sử dụng thuốc trong đơn

- Trao đổi với bệnh nhân về tên và vai trò của từng thuốc

- Cách dùng thuốc (lưu ý dạng bào chế hay dụng cụ đặc biệt)

- Giải thích chế độ liều, bao gồm thời gian uống thuốc và độ

dài đợt điều trị

- Giúp BN lập được kế hoạch uống thuốc phù hợp với lịch

sinh hoạt hàng ngày

- Tư vấn cho BN việc cần làm khi sử dụng hết đơn thuốc

- Giải thích cách khắc phục khi BN trót quên 1 lần uống thuốc

- Quá liều và xử trí

2 Vấn đề theo dõi hiệu quả điều trị

- Giải thích cho BN hiểu những dấu hiệu về hiệu quả của

thuốc có thể/không thể tự theo dõi được

Trang 15

- Cách theo dõi hiệu quả điều trị, khi nào tình trạng tốt

hơn/xấu hơn

- Nhấn mạnh để BN hiểu lợi ích của việc dùng đúng và dùng

đủ các thuốc đã được kê

3 Trao đổi về các phản ứng bất lợi (ADR)

- Thông báo cho bệnh nhân các ADR quan trọng (thường gặp và/hoặc có thể gây nguy hiểm cho BN)

- Cách xử trí các ADR trên

4 Vấn đề tương tác thuốc

- Tra cứu về các tương tác thuốc-thuốc có trong đơn

- Lưu ý tương tác thuốc - thuốc (ngoài đơn) thuốc - thức ăn, đồuống

- Trao đổi về cách xử trí tương tác nếu có

5 Các biện pháp điều trị không dùng thuốc

C KẾT THÚC TƯ VẤN

1 Kiểm tra lại xem BN đã nắm được thông tin chưa, thông qua khả năng phản hồi

2 Tóm tắt lại thông tin hoặc nhấn mạnh những điểm chính

3 Hỏi xem BN có câu hỏi gì nữa không

Trang 16

BÀI 3 TƯ VẤN SỬ DỤNG MỘT SỐ DẠNG THUỐC ĐẶC BIỆT

Thời gian: 04 giờ

A MỤC TIÊU

Sau khi học xong bài này người học có khả năng:

1 Trình bày được nội dung tư vấn sử dụng một số dụng cụ phân phối thuốc

2 Trình bày được nội dung tư vấn sử dụng insulin dạng lọ tiêm và bút tiêm

3 Thực hiện được các bước trong tư vấn sử dụng một số dạng thuốc đặc biệtđược đề cập trong bài

4 Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tư vấn sử dụng một số dạngthuốc đặc biệt từ đó có thái độ nghiêm túc, cẩn trọng, đồng cảm với bệnh nhântrong thực hiện tư vấn sử dụng Chủ động ứng dụng kiến thức trong các tình

huống thực tiễn và có khả năng tự nghiên cứu, tự đọc tài liệu.

B NỘI DUNG

1 Tư vấn sử dụng một số dụng cụ phân phối thuốc

Thuốc sử dụng đường xông-hít ngày càng trở nên phổ biến trong điều trịcác bệnh lý hô hấp mạn tính như hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính(BPTNMT) ở cả người lớn và trẻ em Sử dụng thuốc bằng đường xông-hít giúpđưa thuốc trực tiếp vào đường thở, nơi cần đưa thuốc đến, nên giảm được tácdụng phụ toàn thân của thuốc so với dùng đường chích/uống Đường xông hítđồng thời cũng giúp thuốc có tác dụng nhanh hơn, điều này rất cần trong nhữngtrường hợp cần phải cắt cơn khó thở nhanh chóng khi bệnh nhân lên cơn khóthở

Không giống như cách dùng thuốc bằng đường uống hay chích mà hiệuquả điều trị chủ yếu phụ thuộc vào thành phần hoá học hay chất lượng củathuốc; hiệu quả điều trị của thuốc dùng đường xông hít ngoài phụ thuộc vào chấtlượng của thuốc còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng hít thuốc đúng kỹ thuật củabệnh nhân Do vậy, biết cách hướng dẫn bệnh nhân dùng thuốc đúng kỹ thuật làmột khía cạnh then chốt góp phần thành công trong việc quản lý hen vàBPTNMT

Có rất nhiều dụng cụ cung cấp thuốc qua đường xông-hít tạm thời đượcchia thành các loại như sau:

(1) Loại dụng cụ xịt thuốc có dùng chất đẩy (MDI còn được viết tắt làpMDI) hoặc dùng lực nén của lò xo (respimat);

(2) Loại dụng cụ hít bột khô không có chất đẩy (DPI) và

(3) Máy phun khí dung

Trang 17

1.1 Tư vấn sử dụng bình xịt định liều (MDIs)

1.1.1 Bình xịt định liều (MDIs)

a) Cấu tạo và đặc điểm MDIs

Bình hít định liều (MDIs) là thiết bị phun hít cầm tay dùng lực đẩy đểphân bố thuốc MDI có hộp kim loại có áp lực chứa thuốc dạng bột hoặc dungdịch, chất surfactant, propellant, van định liều Hộp kim loại này được bọc bênngoài bằng ống nhựa, có ống ngậm

− Ưu điểm của MDIs: dễ mang theo, khả năng phân bố đa liều, ít nguy cơnhiễm khuẩn

– Nhược điểm: cần sự khởi động chính xác và phối hợp tốt giữa động tácthuốc với hít vào Kiểm tra thuốc trong bình còn hay hết bằng cách: cho hộpthuốc vào trong một bát nước, nếu hộp thuốc nổi và nằm ngang trên mặt nướcnghĩa là trong bình hoàn toàn hết thuốc

b) Nội dung tư vấn sử dụng bình hít định liều (MDIs)

Hình 1 Hướng dẫn sử dụng bình hít định liều (MDIs)

c) Nội dung tư vấn sử dụng buồng đệm

Để khắc phục tình trạng hít không đúng kỹ thuật với MDI, một dụng hỗtrợ khác được dùng kèm là buồng đệm Dụng cụ này khi phối hợp với MDI sẽ

Trang 18

giúp bệnh nhân có thể hít thuốc vào phổi nhiều hơn, ít lắng đọng ở vùng hầuhọng hơn mà không cần phải phối hợp chặt chẽ động tác ấn và hít Sở dĩ buồngđệm làm được việc này vì nó giảm được lực quán tính của hạt thuốc trước khi đivào vùng hầu họng nên giảm được thuốc lắng đọng ở nơi này và tăng tỷ lệ hạtthuốc có kích thước nhỏ (2-5 µm) nên thuốc đi vào sâu trong đường hô hấp tốthơn Sử dụng buồng đệm đã được chứng minh cải thiện hiệu quả hít thuốc quadụng cụ MDI đặc biệt là đối với những bệnh nhân sử dụng MDI một mình khókhăn.

 Ưu điểm:

+ Giúp cải thiện phân bố thuốc, giảm lượng thuốc dính ở họng và mất vàokhông khí

+ Hỗ trợ khi bệnh nhân phối hợp kém hoặc khó sử dụng bình hít đơn thuần

 Nhược điểm: dụng cụ cồng kềnh, diện tiếp xúc với vi khuẩn nhiều hơn,

do lực tĩnh điện có thể giảm phân bố thuốc vào phổi

Kỹ thuật: gần tương tự như trên, chỉ khác là thay vào việc ngậm trực tiếp vàođầu buồng đệm, bệnh nhi hít thuốc qua mặt nạ nối với buồng đệm

Hình 2 Hướng dẫn sử dụng buồng đệm với bình hít định liều

1.1.2 Bình xịt định liều Respimat

a) Cấu tạo và đặc điểm Respimat

Bình hít hạt mịn là một phát minh mới đây với tên gọi Respimat.Respimat không có chất đẩy và không cần lực hút để lấy thuốc Thuốc được tạo

ra dưới dạng sương mù do một hệ thống đẩy bằng lò xo biến thuốc từ dạng lỏngthành dạng khí Respimat có thời gian phóng thích thuốc kéo dài với tốc độ đámmây khí dung thấp Đặc tính này giúp cho bệnh nhân dễ phối hợp động tác ấn vàhít và giảm được thuốc lắng đọng ở hầu họng đồng thời tăng lượng thuốc vào

Trang 19

phổi Khó khăn khi sử dụng dụng cụ này và việc bình chứa thuốc chưa được lắpsẵn vào dụng cụ hít nên cần hướng dẫn cho bệnh nhân thực hiện thao tác này Vìđây cũng là một loại thuốc dạng xịt nên các sai sót hay gặp cũng giống như khi

sử dụng MDI là không phối hợp được ấn và hít hay hít quá nhanh

b) Nội dung tư vấn sử dụng Respimat

Respimat là một dụng cụ phân phối thuốc mới với thiết kê đặc biệt giúptạo ra các hạt mịn dưới dạng phun sương

Hình 3 Hướng dẫn sử dụng Respimat

1.3 Tư vấn sử dụng bình hít bột khô (DPI)

1.3.1 Cấu tạo và đặc điểm DPI

Có nhiều dạng bình hít bột khô trên thị trường và phổ biến nhất là các loạiturbuhaler, accuhale, breezhaler và handihaler Loại bình hít turbuhaler là dạngbình hít có chứa bột khô với tất cả các liều thuốc được chứa trong cùng một bồnchứa, loại accuhaler thì các liều thuốc bột được đóng gói riêng lẻ (từng liều một)

và cũng được sắp xếp bên trong dụng cụ hít còn handihaler là dụng cụ khôngchứa thuốc, mỗi khi bệnh nhân cần hít thuốc thì họ phải bỏ thuốc viên từ bênngoài vào dụng cụ để hít

Ưu điểm của DPI so với MDI là hạt thuốc được tạo ra do lực hút của bệnhnhân, do vậy dụng cụ này không cần chất đẩy thuốc nên không bị hiệu ứng

‘cold-Freon’ và cũng không cần sự phối hợp động tác ấn và hít của bệnh nhân.Tuy nhiên, vì hạt thuốc được tách ra và thuốc được đưa ra khỏi dụng cụ dựa vàolực hút của bệnh nhân nên có thể một số bệnh nhân không hút được thuốc haythuốc không đúng kỹ thuật, làm giảm chất lượng tốt trước khi vào cơ thể bệnhnhân.Với cùng một lưu lượng đỉnh, người hút nhanh mạnh ngay từ đầu (đạt lưu

Trang 20

lượng đỉnh ngay từ đầu) sẽ tạo năng lượng xoáy tốt hơn và đưa thuốc vào đường

hô hấp tốt hơn người hút mạnh từ từ và đạt lưu lượng đỉnh ở nửa cuối của thì hítvào

1.3.1 Bình hít bột khô Accuhaler

Bình hít bột khô (DPI) là thiết bị

được kích hoạt bởi nhịp thở giúp phân

bố thuốc ở dạng các phân tử chứa

trong nang Do không chứa chất đẩy

nên kiểu hít này yêu cầu dòng thở

thích hợp Các DPI có khả năng phun

thuốc khác nhau tùy thuộc sức kháng

với lưu lượng thở

Ưu điểm của DPI là được kích

hoạt bởi nhịp thở, không cần buồng

đệm, không cần giữ nhịp thở sau khi

hít, dễ mang theo, không chứa chất

đẩy Nhược điểm là đòi hỏi lưu lượng

khô, không thả vào nước, lau ống

ngậm và làm khô ngay sau hít, khôngnuốt viên nang dùng để hít

Hình 3 Hướng dẫn sử dụng

Accuhaler

1.3.2 Bình hít bột khô Turbuhaler

Ống hít có bộ đếm liều hiển thị chính xác lượng thuốc còn lại Nếu không

có bộ đếm liều, kiểm tra chỉ thị đỏ ở cửa sổ bên của thiết bị, khi thấy vạch đỏ làcòn khoảng 20 liều

Hình 1.5 Hướng dẫn sử dụng Turbuhaler

Ngày đăng: 17/08/2023, 00:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Y tế (2019), Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong một số bệnh không lây nhiễm, Nhà xuất bản Y học Khác
5. Bộ Y tế (2017), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 Khác
6. Bộ Y tế (2018), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Khác
7. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen phế quản người lớn và trẻ em từ 12 tuổi trở lên Khác
8. Võ Thị Hà (2019), Kỹ năng lâm sàng dành cho dược sĩ, Nhà xuất bản Đại học Y dược Huế Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w