1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cau hoi dap an mon tu tuong hcm

15 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi ôn tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh (mới) lớp Trung cấp lý luận chính trị – hành chính
Trường học Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tập ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 180 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1 : Đc hãy trình bày nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh ? Theo đc, chúng ta phaỉ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào để đem lại hiệu quả thiết thực ? TRẢ LỜI : Bất cứ một Tư tưởng nào cũng phải có nguồn gốc, cơ sở hình thành, đó chính là tuân theo qui luật hình thành Tư tưởng từ ít đến nhiều, từ hình thức đến nội dung, bản chất. Vì vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng ko nằm ngoài qui luật đó. Trước hết, chúng ta phải hiểu : Tư tưởng HCM là gì ? Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH, Đảng ta đã khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh như sau : “ Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa MácLê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH (mới)

LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ –HÀNH CHÍNH

ĐÁP ÁN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Câu 1 : Đ/c hãy trình bày nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh ? Theo đ/c, chúng ta phaỉ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào để đem lại hiệu quả thiết thực ?

TRẢ LỜI :

Bất cứ một Tư tưởng nào cũng phải có nguồn gốc, cơ sở hình thành, đó chính là tuân theo qui luật hình thành Tư tưởng từ ít đến nhiều, từ hình thức đến nội dung, bản chất Vì vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng ko nằm ngoài qui luật đó

Trước hết, chúng ta phải hiểu : Tư tưởng HCM là gì ? Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kì quá độ lên CNXH, Đảng ta đã khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh như sau : “ Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

Tư tưởng HCM được hình thành trên cơ sở các nguồn gốc sau :

1- Từ giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam :

Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thể hiện qua các giá trị căn bản sau đây:

- Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất, tự lực tự cường để dựng nước và giữ nước được hun đúc qua hàng ngàn năm Lịch sử đã đặt dân tộc ta luôn luôn phải chống lại các cuộc xâm lăng và luôn phải thích nghi với môi trường thiên nhiên nghiệt ngã Qua hàng ngàn năm hun đúc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là giá trị tinh thần cao nhất của dân tộc ta, nhưng nó lại mang trong mình một giá trị kép, đó là : yêu nước-thương dân, thương dân-yêu nước

- Tinh thần cộng đồng, đoàn kết, ý thức dân chủ xuất hiện, được nuôi dưỡng trong quá trình dựng nước, giữ nước và trở thành giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Những giá trị này được biểu hiện trong kinh

tế như trong chế độ ruộng đất công điền; về xã hội là vấn đề dân chủ và tự chủ trong tổ chức làng xã, xây dựng hương ước; trong văn hóa là sự tôn vinh các giá trị anh hùng, thờ phụng những người có công với nước, với dân và trọng người hiền tài Những giá trị tốt đẹp đó làm cho mối quan hệ Cá nhân-Gia đình-Làng-Nước trở nên bền chặt

và nương tựa vào nhâu để tồn tại và phát triển

- Dũng cảm, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động, sản xuất, chiến đấu đồng thời dân tộc Việt Nam luôn rộng mở để đón nhân những giá trị văn minh của nhân loại để bảo tồn dân tộc và phát triển đất nước Dân tộc ta đã trải qua ngàn năm Bắc thuộc, mà vẫn không bị đồng hóa, vẫn không bị khuất phục, để rồi lại đứng lên giành lấy độc lập

Chính chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam là cội nguồn, là giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, là điểm xuất phát, là động lực lên đường cứu nước và là bộ lọc các học thuyết để Hồ Chí Minh lựa chọn, tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác –Lê Nin

2- Từ tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây :

Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã được Việt hóa và ảnh hưởng tích cực tới văn hóa Việt Nam, đó là tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân, chăm lo làm điều thiện

Nho giáo vào Việt Nam, qua quá trình Việt hóa thành Nho giáo Việt Nam, thể hiện qua lòng yêu nước, thương dân, nhân văn, dung hòa cá nhân với cộng đồng, coi trọng lợi ích cộng đồng trên lợi ích cá nhân, gắn lợi ích cá nhân với lợi ích dân tộc Nho giáo Việt nam lấy yên nước-nhân văn Việt Nam là đạo lí làm người Nho giáo Việt Nam vẫn đặt quan hệ vua –tôi ở vị trí cao, nhưng đòi hỏi nhà vua phải trung thành với Tổ quốc, nhân hậu với nhân dân, phải lấy tu thân làm gốc Những tác động tích cực của Phật giáo và Nho giáo Việt Nam đã tác động tới Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nhỏ trong môi trường văn hóa làng xã và dưới sụ dạy bảo của người cha- Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc Sau này, khi trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục tìm hiểu, học hỏi và tiếp thu chủ nghĩa Găngđi và chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn

Khi học ở Huế, tư tưởng tiến bộ của cách mạng Pháp về “ tự do, bình đẳng, bác ái” đã ảnh hưởng mạnh tới Người và là một trong những yếu tố tác động tới hướn đi tìm đường cứu nước của Người Ba mươi năm sống, làm việc, hoạt động trong môi trường văn hóa phương Tây, những tư tưởng tiến bộ của các cuộc cách mạng tư sản Mỹ và Pháp đã tác động mạnh mẽ tới Người, đó là những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa dân tộc và nhân văn, với quyền dân tộc, quyền con người và tư tưởng dân chủ mà nội dung của nó là “ Tự do-Bình đẳng-Bác ái” Những năm hoạt động ở phương tây, cũng giúp hình thành nên phong cách dân chủ ở Người

1

Trang 2

3- Từ Chủ nghĩa Mác-Lê Nin : Với hành trang giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã có điều kiện tiếp cận, thâu nhận một cách tự nhiên, về cả lí trí và tình cảm, chủ nghĩa Mác-Lê Nin Tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lê Nin, Hồ Chí Minh đã từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, trở thành người tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp Đến với chủ nghĩa Mác từ đòi hỏi của công cuộc giải phóng dân tộc và con người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã biết vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê Nin để tự tìm ra con đường của cách mạng Việt Nam Như vậy, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được nâng lên tầm thế giới với việc thâu nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại và chủ nghĩa Mác-Lê Nin, hình thành và tạo ra bước phát triển mới phù hợp với tiến hóa của nhân loại trong thời đại mới của tư tưởng HỒ Chí Minh

4- Từ chính Trí tuệ và hoạt động thực tiễn của NGười : Tại sao, có nhiều người đi tìm đường cứu nước, nhưng chỉ có Bác mới thành công ? Trước hết, người có ý chí quyết tâm của một người yêu nước, một chiến sĩ cộng sản với tấm lòng yêu nước, thương dân và đồng loại Người có tài năng trí tuệ mà biểu hiện trước hết ở sự kiên trì học hỏi, là tư duy độc lập trong tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa của dân tộc, của nhân loại và thời đại Người có năng lực hoạt động thực tiễn phong phú

* Tóm lại : Tư tưởng HCM có cội nguồn và được hình thành từ các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lê Nin thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn của Người

* Muốn học tập tư tưởng HCM để đem lại hiệu quả thiết thực, chúng ta phải :

- Trước hết, cần tiếp tục mở rộng công tác tuyên truyền bằng các biện pháp thiết thực, để mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ giá trị vô giá của tư tưởng HCM đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, để mọi người thêm tin tưởng, tự hào và tự giác học tập và làm theo Làm cho mọi tầng lớp nhân dân thấm nhuần quan điểm : Học tập tư tưởng HCM là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức

- Đội ngũ cán bộ phải thực sự gương mẫu, lời nói phải đi đôi với việc làm để làm gương cho quần chúng noi theo

- Phải biết vận dụng sáng tạo tư tưởng HCM vào phong trào cách mạng cụ thể của nước ta……

Chúng ta phaỉ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào để đem lại hiệu quả thiết thực ?

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần làm tốt các mặt sau đây:

Một là, thực hiện “trung với nước, hiếu với dân”, mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành vô hạn với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của dân tộc, tham gia tích cực vào việc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Suốt đời hy sinh phấn đấu vì nước, vì dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn,

mong muốn tột bậc là đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hưởng tự do, “đồng bào ta ai cũng có cơm

ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chúng ta cần:

- Trung thành vô hạn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền văn hoá, bảo vệ Đảng, chế độ và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước, dân tộc

- Luôn luôn quan tâm đến lợi ích của nhân dân, tôn trọng dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, giải quyết kịp thời những yêu cầu, kiến nghị của dân, biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên cho nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo, “làm giàu cho mình, cho đất nước”

- Có ý chí vươn lên, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

- Có ý thức giữ gìn đoàn kết dân tộc, đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước mọi mưu đồ chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ Đảng với nhân dân của các thế lực thù địch, cơ hội

- Có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, có lương tâm nghề nghiệp trong sáng; ham học hỏi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ cá nhân - gia đình - tập thể - xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và

quyền lợi theo lời dạy của Bác: “Việc gì có lợi cho dân thì làm Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”10

Trang 3

Hai là, thực hiện đúng lời dạy: ''Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ mới

- Tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần lao động sáng tạo có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách có hiệu quả

- Quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức

- Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, không để cho lợi ích cá nhân chi phối Chống thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích các mình, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công; cục bộ địa phương, thu vén cho gia đình, cá nhân

- Thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt;

chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, bao che, giấu giếm khuyết điểm…

- Kiên quyết chống bệnh lười biếng, chạy theo lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, làm dối, làm ẩu Có thái độ rõ ràng, lên án và quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã hội

Ba là nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân phục vụ:

- Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc, pháp luật, kỷ cương

- Gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân, khắc phục cho được thói vô cảm, lãnh đạm, thờ

ơ trước khó khăn, thắc mắc, những đau khổ của nhân dân.

- Coi trọng tự phê bình và phê bình, “phải nghiêm khắc với chính mình” Phê bình có mục đích trong sáng, có lý, có tình Khắc phục bệnh chuộng hình thức, thích nghe lời khen (thậm chí xu nịnh), tâng bốc nhau, không dám nói thẳng, nói thật để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, đồng thời, cần phê phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân, vụ lợi mà “đấu đá”; nhân danh phê bình để đả kích, lôi kéo, chia rẽ, làm rối nội bộ

Bốn là học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển

- Tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước khác, mở rộng hợp tác cùng có lợi, cùng nhau phấn đấu vì hoà bình, phát triển, hợp tác, chống chiến tranh, đói nghèo, bất công, cường quyền, áp đặt trong quan hệ quốc

tế Với những vấn đề của quá khứ, lịch sử cần xoá bỏ mặc cảm, hận thù, nhìn về tương lai, xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc

- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nguồn lực bên trong với nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

- Nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào, tự tôn dân tộc; đấu tranh chống biểu hiện của dân tộc hẹp hòi, tự ti; đồng thời phê phán tư chủ nghĩa tư tưởng ngoại lai, vong bản, vọng ngoại, ảo tưởng trước chủ nghĩa tư bản

Câu 2 : Đ/c hãy trình bày quan niệm của Hồ Chí Minh ( HCM) về vị trí, vai trò của đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam Liên hệ thực tiễn việc xây dựng khối đại đoàn kết ở địa phương ( cơ quan) đ/c ?

TRẢ LỜI :

3

Trang 4

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế là một chiến lược cơ bản, lâu dài trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Luận điểm nổi tiếng của Người:

“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

Đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam Tư tưởng đại đoàn kết của

Hồ Chí Minh cùng với đạo đức, nhân cách vô cùng cao thượng và trong sáng cảu Người đã quy tụ được khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế đấu tranh vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Người cho rằng, “hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc” nên ngay sau khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, Người đã

đề ra chủ trương thành lập “Hội phản đế đồng minh” - một hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống đế quốc Thời kỳ 1936 – 1939, Người đã bổ sung vào tên gọi mặt trận, thành lập mặt trận dân tộc, dân chủ rộng rãi, mặt trận này không chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc Để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa năm 1945, Người thành lập “Mặt trận Việt Minh”…

Tư tưởng đại đoàn kết của HCM là một hệ thống các luận điểm về vị trí, vai trò, nội dung, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc, của quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Quan niệm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của Đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam như sau : 1- Đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Tư tưởng đại đoàn kết của HCM là một tư tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc

Trong từng giai đoạn của cách mạng, có thể và cần thiết có sự điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết phải luôn luôn được nhận thức

là vấn đề sống còn của cách mạng, là một chiến dịch bất di, bất dịch

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, từ khi Đảng cộng sản ra đời đến nay, HCM và Đảng luôn thi hành đường lối đại đoàn kết nhất quán, đúng đắn, có hình thức tổ chức phù hợp nên đã phát huy được truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc, tạo thành sức mạnh vô địch cho cách mạng Bác đã khẳng định “ Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất”, “ Đoàn kết là sức mạnh vô địch” Người nói “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

2- Đại đoàn kết là mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng

HCM cho rằng, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng yêu nước, cách mạng mà cao hơn đó là mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ( 11-02-1951), HCM nêu rõ : “ Về mục đich trước mắt, Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn; giành lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội” Phát biểu tại buổi

lễ ra mắt của Đảng ( 03/3/1951), HCM tuyên bố trước toàn dan tộc : Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam đại thể gồm trong 8 chữ “ Đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”

Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ đầu tiên của Đảng cách mạng là tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tần lớp nhân dân, hình thành nên khối đại đoàn kết dân tộc to lớn, mạnh mẽ Bác cho rằng : đoàn kết là điểm mẹ “ Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt” Do vậy, đại đoàn kết là điểm xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ đường lối, chủ trương của Đảng Bởi vì, Đảng ta luôn xác định : Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Muốn cách mạng thành công, phải tập hợp được mọi tầng lớp quần chúng rộng rãi dưới ngọn cờ của Đảng, biến đại đoàn kết thành sức mạnh vô địch

Nhận thấy Nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là: Lấy liên minh công nông làm nền tảng, tập hợp rộng rãi nhất mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, vừa đoàn kết vừa đấu tranh, lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, trên cơ sở đó bảo đảm sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế vì mục tiêu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…

Liên hệ thực tiễn việc xây dựng khối đại đoàn kết ở địa phương ( cơ quan) đ/c ?

Cách mạng nước ta đã bước sang giai đoạn mới có sự khác biệt về chất so với thời kỳ đấu tranh bảo

vệ tổ quốc và giải phóng đất nước, thậm chí cũng đã khác rất nhiều so với thời kỳ trước đổi mới Đại hội XI của Đảng ta xác định: Hơn bao giờ hết cần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công

Trang 5

bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Các cấp uỷ đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình./

Qua việc xây dựng khối đại đoàn kết ở địa phương của bản thân tôi đang sông Tôi thấy đã đạt được các kết quả sau:

Đã xác định, tổ chức, triển khai cuộc vận động là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Mặt trận Tổ quốc là đầu mối phối hợp thực hiện Do vậy, Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tham mưu cho cấp ủy, huy động lực lượng các đoàn thể thành viên, phối hợp với chính quyền quán triệt kỹ mục đính, ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động trong nhân dân ở tất cả các khu dân cư và đã được mọi người dân nhiệt tình và tích cực tham gia thực hiện

Việc tuyên truyền về cuộc vận động của Mặt trận đã gắn chặt với đặc điểm của từng địa bàn dân

cư, phát huy thế mạnh của mỗi khu dân cư; phát huy tinh thần nhân ái trong đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo; phát huy truyền thống cách mạng ở các khu phố, ấp; tại các xã, phường được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang

Xây dựng và củng cố thường xuyên Ban công tác Mặt trận và Ban vận động ở khu dân cư được tập thể Ban vận động đủ sức quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện Cuộc vận động phù hợp hoàn cảnh cụ thể và điều kiện kinh tế, đời sống của cộng đồng dân cư

Thường xuyên đẩy mạnh phong trào “Người tốt, việc tốt”, phát huy vai trò tích cực của các tập thể,

cá nhân điển hình, nhân rộng mô hình sáng tạo trong từng lĩnh vực; động viên mỗi cá nhân, từng gia đình trong phong trào tự quản và tương thân tương trợ trong khu dân cư

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác Mặt trận vẫn còn một số hạn chế Công tác phối hợp tuyên truyền, vận động của MTTQ và các tổ chức thành viên có nhiều đổi mới, song có lúc, có nơi chưa thường xuyên, chưa toàn diện, chưa có chiều sâu; việc chủ động thực hiện, triển khai các hoạt động giám sát ở một số cấp huyện và cơ sở còn chậm và lúng túng trong lựa chọn nội dung, xây dựng chương trình, kế hoạch và phân công phối hợp triển khai thực hiện

- Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:

+ Nhận thức về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân theo quan điểm, đường lối của Đảng có lúc, có nơi chưa được sâu sắc, không đúng, vai trò nhân dân làm chủ thông qua Mặt trận chưa được phát huy, làm cho Mặt trận chưa làm tròn vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân Việc thực hiện Kết luận 62, ngày 08-12-2009 của Bộ Chính trị khóa X

về "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị

-xã hội" còn biểu hiện giao khoán cho Mặt trận, thiếu đôn đốc, kiểm tra thực hiện của hệ thống chính trị

+ Những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường; những khó khăn về kinh tế, xã hội của địa phương; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở một bộ phận không nhỏ cán bộ của hệ thống chính trị làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân, gây khó khăn cho công tác tập hợp, đoàn kết nhân dân

+ Việc thực hiện cơ chế phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên trong UBMTTQVN các cấp cũng như giữa chính quyền với Mặt trận có lúc, có nơi chưa được chặt chẽ, kịp thời Đặc biệt, do việc kéo dài những bất hợp lý về chế độ chính sách, bảo đảm điều kiện, phương tiện làm việc của Mặt trận

ở cơ sở và địa bàn dân cư mà phần lớn phải thực hiện sự vận dụng của địa phương nên trong thực hiện chưa đồng

bộ và thiếu sự nhất quán

5

Trang 6

+ Tổ chức và bộ máy của cơ quan Mặt trận các cấp chưa đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ, chưa thực hiện đúng tinh thần Chỉ thị 18 của ban Bí thư về đầu tư cho công tác cán bộ trong Đại hội, đặc biệt là cán bộ chủ chốt và Kết luận 62, ngày 08-12-2009 của Bộ Chính trị khóa X về "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội" Cán bộ Mặt trận còn nhiều hạn chế

về năng lực tổ chức, thực hiện nhiệm vụ, chưa được đầu tư đúng mức về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ Còn nhiều lúng túng trong đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận cơ sở, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra

- Phê phán các biểu hiện : lôi kéo bè phái, cục bộ địa phương, bằng mặt không bằng lòng, nể nang,

dĩ hòa vi quý, hoặc lợi dụng đấu tranh phê bình để trù dập, trả thù cá nhân…

- Phải tăng cường tuyên truyền để mọi tầng lớp nhân dân nhận thức được vai trò, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng

- Phải có những phương pháp vận động, tập hợp quần chúng phù hợp với từng địa phương, từng cơ quan

Câu 3 : Đ/c hãy trình bày quan niệm của HCM về độc lập dân tộc ? Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhân dân ta đã vận dụng tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội của Người như thế nào ?

TRẢ LỜI :

Độc lập dân lộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh Từ khi trở thành người cộng sản cho đến khi trở thành lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia, mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh chỉ rõ các bài viết của Người chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm về tư tưởng HCM : “ tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhan loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba đình lịch sử, Hồ Chủ tịch trong bản “ Tuyên ngôn độc lập” đã trịnh trọng

tuyên bố với thế giới “ Nước Việt nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt nam, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự

do, độc lập ấy”

Trong Tuyên ngôn độc lập, người đã tuyên bố với thế giới : Việt Nam đã giành được tự do, độc lập và quyết tâm của cả dân tộc nguyện bảo vệ thành quả thiêng liêng đó

Vậy, quan điểm của HCM về độc lập dân tộc cụ thể như sau :

1- Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thực sự :

HCM khẳng định, nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh cho độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Theo Người, một dân tộc độc lập thực sự, tức là các quyền dân tộc cơ bản phải được bảo đảm; dân tộc đó phải có quyền tự quyết trên tất cả các lĩnh vực đối nội, đối ngoại Tóm lại, Việt Nam độc lập thực sự phải trên guyên tắc nước Việt nam của người Việt Nam

2- Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng của dân tộc :

HCM khẳng định, mỗi dân tộc trên thế giới đều có quyền được hưởng độc lập, tự do Mỗi công dân của một nước độc lập có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ quyền độc lập thiêng liêng của dân tộc Bởi vậy, bất kể thế lực nào vi phạm quyền độc lập thiêng liêng của Việt nam, đều bị đánh trả và bị “ quét” sạch ra khỏi bờ cõi Việt Nam Bất kể người Việt nam nào bán rẻ quyền độc lập thiêng liêng của dân tộc đều bị trừng trị trước pháp luật Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, tháng 12/1946 Người viết “ Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ Không có gì quý hơn độc lập, tự do…”

3- Độc lập dân tộc phải gắn liền với hòa bình :

Theo HCM, chỉ có độc lập dân tộc thực sự mới có một nền hòa bình chân chính, và chỉ có hòa bình chân chính mới

có độc lập dân tộc hoàn toàn Không thể có độc lập dân tộc thực sụ khi đất nước còn có sự lệ thuộc, hoặc có sự hiện diện của quân đội nước ngoài

Trang 7

Trong thực tiễn, HCM là tiêu biểu cho ý chí độc lập, tự do, khát vọng hòa bình của dân tộc Người luôn tìm mọi cách để đẩy lùi chiến tranh, cứu vãn hòa bình, giữ gìn độc lạp dân tộc

4- Độc lập dân tộc phải đi đôi với hạnh phúc của nhân dân :

HCM đặt vấn đề, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa

gì Theo Người, dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Bởi vậy, khi nước nhà giành được độc lập, HCM đòi hỏi Chính phủ cách mạng phải đi đến làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành Người cho rằng, phải thực hiện thành công bốn điều đó, để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức cho tự do, độc lập

* Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhân dân ta đã vận dụng tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Người như sau :

Trong công cuộc đổi mới hiện nay con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đang bị chi phối, tác động mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; thách thức rất lớn, nhưng cũng rất nhiều thời cơ, vận hội Trên cơ sở quan niệm đúng đắn của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội, lại có kinh nghiệm thực tiễn hơn 70 năm qua, đặc biệt là thực tiễn của 30 năm đổi mới, cho phép chúng ta hiểu được thực chất con đường độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội là nhu cầu sống còn, là sự lựa chọn duy nhất đúng của Việt Nam

- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong sự nghiệp đổi mới của VN.

Bài học đầu tiên sau 30 năm đổi mới, ĐCSVN tiếp tục khẳng định là:" Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch HCM đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc Xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau"

Độc lập dân tộc gắn liền với CNH hiện nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc VN đi lên trong sự nghiệp đổi mới ĐCSVN khẳng định:"trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêuđộc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng CN mác lênin và tư tưởng HCM"

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đòi hỏi phải nắm vững bối cảnh mới của thế giới có nhiều yếu tố tác động tới quá trình thực hiện mục tiêu này Về kinh tế - chính trị, cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giưói diễn ra với nhịp độ gia tốc đưa nhân loại tới nền văn minh mới - nền văn minh tin học với 2 biểu hiện tiêu biểu là sự ra đời nền kinh tế tri thức và xã hội hoá thông tin

Chiến tranh lạnh kết thúc nhưng chiến tranh dân tộc sắc tộc, tôn giáo và nạn khủng bố diễn ra ở nhiều nơi Đấu tranh dân tộc và giai cấp vẫn diễn ra phức tạp và gay gắt Nguy cơ chiến tranh cục bộ vẫn còn Chủ nghĩa đế quốc ra sức thực hiện" diễn biến hoà bình" Về văn hoá - xa hội, thông tin trên mạng internet bùng nổ, bên cạnh mặt tích cực, cũng có nhiều tiêu cực xâm nhập vào các quốc gia Các nước đứng trước cuộc" xâm lăng văn hoá" từ các nước đế quốc.Trong bối cảnh như vậy kiên đinh đường lối độc lập dân tộc và CNXH có ý nghĩa hết sức quan trọng.Trong đó, về độc lập dân tộc phải được chú ý toàn diện từ độc lập về lãnh thổ; chủ quyền an ninh quốc gia, đến độc lập về kinh tế, chính trị văn hoá, lối sống và đạo đức xã hội Về CNXH, kiên định mục tiêu lý tưởng của đảng, xây dựng một nước VN dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc VNXHCN

- Điều kiện mới của độc lập dân tộc gắn liền với CNXH hiện nay.

Một là, muốn xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, trước hết phải phát huy mọi tiềm năng, sức mạnh của nguồn nội lực; đồng thời phải biết tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tận dụng thời cơ, điều kiện quốc tế thuận lợi, làm gia tăng sức mạnh dân tộc Tức

là phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Hai là, Xác định rõ bước đi và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế phù hợpvới điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, trên nguyên tắc đặt lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc lên trên hết Độc lập dân tộc không có nghĩa

la tự cô lập mình, mà phải tích cực hội nhập quốc tế, làm tăng sức mạnh của đất nước và làm giàu bản sắc dân tộc

Ba là: độc lập dân tộc gắn bó chặt chẽ với CNXH, phải được thể hiện trong suốt quá trình đổi mới, trên mọi lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bốn là: giữ vững định hướng XHCN trong tiến trình đổi mới đây là con đường duy nhất đúng đắn

cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, phù hợp thời đại Đồng thời tiếp tục làm sõ mục tiêu, đặc trưng và động lực của CNXH trong đổi mới

Câu 4 : Đ/c hãy trình bày những yêu cầu đạo đức đối với cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng

tư tưởng đạo đức của Người vào việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay ?

7

Trang 8

TRẢ LỜI :

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng

Hồ Chí Minh là một lãnh tụ đặc biệt quan tâm tới đạo đức cách mạng Người là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương cho toàn đảng, toàn dân ta Người cho rằng , đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng : “ Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân…” Người chỉ rõ “ Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không”

Theo tư tưởng của Người, người cán bộ phải có các yêu cầu về đạo đức như sau

- Trung với nước, hiếu với dân : Từ khái niệm cũ của Nho giáo “ trung với vua, hiếu với cha mẹ”, Bác

đã phát triển lên thành quan niệm mới, có ý nghĩa khoa học và nhân văn cao cả, đó là “ trung với nước, hiếu với dân” Đây là cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức Người gạt bỏ điều cốt lõi nhất trong đạo đức Nho giáo là lòng trung thành tuyệt đối với chế độ phong kiến và ông vua phong kiến Cái mà Nho giáo tôn thờ nhất chính là cái

mà cách mạng lên án và đánh đổ Hồ Chí Minh không chấp nhận lòng trung thành của nhân dân bị áp bức với kẻ áp bức mình

“Trung với nước, hiếu với dân” là mối quan hệ với đất nước, với dân tộc, thể hiện trách nhiệm với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển của đất nước, là phẩm chất đạo đức chủ chốt nhất Phải suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết Phải học dân, tin dân, lắng nghe dân, làm cho dân tin, dân quý

- Cần, kiệm, liêm , chính, chí công vô tư :

Cần có nghĩa là siêng năng, chăm chỉ dẻo dai

Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, hoang phí, không bừa bãi Cần và kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của một con người

Liêm là trong sạch, không tham lam : tham tiền của, tham địa vị, danh tiếng, tham ăn ngon, tham sống yên là bất liêm

Chính nghĩa là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng phải có chính mới là người hoàn hảo

Hồ Chí Minh cho rằng cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính cần có của con người, một lẽ tự nhiên như bốn mùa của trời, bốn phương của đất Cần, kiệm, liêm, chính đặc biệt cần thiết đối với cán bộ, đảng viên vì họ

là những người có chức, có quyền

Người cho rằng : Cần, kiệm, liêm , chính là thước đo trình độ văn minh, tiến bộ của một dân tộc Chí công vô tư là khi làm bất cứ việc gì, đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau Thực hành chí công vô tư gắn liền với chống và quét sach chủ nghĩa cá nhân Người cho rằng “ Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng CNXH Cho nên thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của chủ nghĩa cá nhân”

- Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa : Người cho rằng, trên đời này chỉ có hai loại người : áp bức và bị áp bức, người ác và người thiện

và hai thứ việc : việc chính và việc tà Những người làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác

Thương yêu, quý trọng con người trong tư tưởng HCM luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, biến thành hành động cụ thể Đó là tình thương yêu con người dành cho con người đang sống thực trên đời này, bị áp bức, đói nghèo, bệnh tật Và chính Bác là tấm gương mẫu mực về lòng yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa, được cả loài người tiến bộ ngợi ca, cảm phục

- Tinh thần quốc tế trong sáng : Tinh thần quốc tế là một phẩm chất đạo đức bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công nhân và chế

độ XHCN Chủ tịch HCM là nhà yêu nước nhiệt thành, một chiến sĩ quốc tế vĩ đại

Người luôn lên án, đấu tranh chống chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc; đoàn kết với các lực lượng cách mạng và tiến bộ khắp thế giới

Việc vận dụng tư tưởng, đạo đức của Bác Hồ vào việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay :

Trang 9

Chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn “Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn còn giữ nguyên tính thời sự, soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang, xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới

- Trước hết, nói về việc tu dưỡng, rèn luyện theo tiêu chuẩn : Trung với nước, hiếu với dân : Trung với nước đối với điều kiện cụ thể của dân tộc ta, đất nước ta chính là trung với Đảng Bởi vì Đảng ta là Đảng trung thành tuyệt đối với quyền lợi của dân tộc, của đất nước, ngoài phụng sự quyền lợi của dân tộc, Đảng ta không có mục đich gì khác Trung với Đảng, tức là phải tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tuyệt đối tin tưởng và

đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác đã chọn

Hiếu với dân : Ở đây, Bác Hồ đã phát triển tư tưởng Nho giáo “ hiếu với cha mẹ” thành tư tưởng lớn “ Hiếu với dân” Hiếu với dân, trước hết phải có hiếu với bố mẹ, sống có nghĩa tình với anh chị em ruột thịt và những người trong gia đình Sau đó là đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ những người cùng khu phố, cùng cơ quan Có tấm lòng thương yêu, đồng cảm, sẻ chia đối với nhân dân, đồng loại, theo tinh thần tương thân, tương ái : “ Bầu ơi, thương lấy bí cùng…”; “ Lá lành đùm lá rách”…

- Về việc tu dưỡng, rèn luyện theo tiêu chuẩn : Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư : Hiện nay, tình trạng tham nhũng, lãng phí, chaỵ chức, chaỵ quyền, két bè kéo cánh, lợi ích nhóm… trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã trở nên trầm trọng các biểu hiện trên, xét theo tiêu chuẩn đạo đức cách mạng của Hồ Chủ Tịch, chính là đã vi phạm các điều : không liêm, không chính, không chí công vô tư Để chống lại các biểu hiện trên, chúng ta phải thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để công cuộc chỉnh đốn đảng do Đảng ta phát động

- Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời Bác từng nói “ Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong…” Không vượt qua được chính mình, không chiến thắng được giặc trong lòng thì không thể có đạo đức cách mạng

- Lời nói phải đi đôi với việc làm, phải nêu gương về đạo đức Theo quan điểm của Bác, lí luận phải gắn với thực tiễn, nhưng điều quan trọng nhất về mặt đạo đức là lấy hiệu quả làm thước đo, thực hiện đúng câu “ Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”

- Thực hiện tốt việc xây đi đôi với chống Đảng viên, cán bộ cũng là con người, đều có mặt tốt và mặt chưa tốt Phải tạo cho cán bộ, đảng viên phát huy được mặt tốt, hạn chế và đẩy lùi mặt chưa tốt Chống chủ nghĩa cá nhân, chống các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống Chống phải đi liền với xây, học tập gương người tốt, việc tốt Đấu tranh, giáo dục lẫn nhau để cùng nhau tiến bộ

Câu 5 : Đ/c hãy cho biết, người cán bộ cần tu dưỡng, rèn luyện theo phong cách Hồ Chí Minh như thế nảo ? Liên hệ với thực tiễn nước ta hiện nay ?

TRẢ LỜI :

Muốn tu dưỡng, rèn luyện theo phong cách HCM, người cán bộ phải làm theo, làm được những điều sau đây :

1- Rèn luyện phong cách tư duy: Tu dưỡng theo phong cách tư duy HCM là mỗi cán bộ, đảng viên

phải có tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo Độc lập là không lệ thuộc,không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi Tự chủ là tự mình làm chủ suy nghĩ, bản thân, công việc của mình, tự mình thấy trách nhiệm trước nhân dân Sáng tạo là từ bỏ những cái cũ lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp để tìm tòi ra cái mới phù hợp với quy luật khách quan, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Tư duy phải xuất phát từ thực tế Việt Nam, địa phương, ngành mình, phù hợp điều kiện lịch sử cụ thể Phải mở rộng tư duy, nghiên cứu mọi tư tưởng , học thuyết Cán bộ, đảng viên hiện nay phải hướng tầm nhìn

ra thế giới, không ngừng học tập nâng cao trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ bản thân

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo đồng nghĩa với một bản lĩnh vững vàng, dũng cảm, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng, trước nhân dân, tránh tư duy giáo điều, xơ cứng hoặc ba phải

2- Rèn luyện phong cách diễn đạt : Diễn đạt thể hiện ở nói và viết HCM nói và viết cho nhiều đối

tượng, ngoài nước và trong nước bằng nhiều ngôn ngữ Người két hợp được cái dân gian với cái bác học, cái cổ điển và hiện đại, phương đông và phương tây Cách diễn đạt của Bác có sức lôi cuốn lớn đối với tất cả mọi tầng lớp nhân dân Chúng ta học theo Người về cách diễn đạt trên những khía cạnh sau :

9

Trang 10

- Phải xác định rõ chủ đề, đối tượng, mục đích của việc nói và viết, từ đó tìm ra cách nói và viết cho phù hợp với đối tượng, rõ chủ đề và đạt mục đích đề ra

- Viết và nói phải chân thực, không nên nói ẩu, không được bịa ra Chưa biết rõ, chưa hiểu rõ chớ nói, chớ viết Viết và nói cả những sai lầm , khuyết điểm, vì công khai thừa nhạn và sử chữa khuyết điểm càng làm cho uy tín người lãnh đạo tăng lên và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng

- Viết và nói phải ngắn gọn, có đầu, có đuôi, có nội dung , thiết thực Ngắn gọn nhưng phải cô đọng,

đủ ý, đạt được tối đa về ý nhưng tối thiểu về lời Viết và nối ngắn gọn đi liền với chống thói ba hoa, viết nói vừa dài vừa rỗng

- Diễn đạt phải trong sáng, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm Tuyên truyền quần chúng là phải học theo cách noí của quần chúng

3- Rèn luyện phong cách làm việc theo các tiêu chí sau :

- Tác phong quần chúng : Phong cách quần chúng HCM xuất phát từ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam Lịch sử ngàn năm của cha ông ta đã tổng kết “ chở thuyền là dân Lật thuyền là dân” Chủ nghĩa Mác – Lê Nin khẳng định nhân dân là người làm nên thắng lợi của lịch sử Hồ Chí Minh là người sớm đánh giá cao vị trí, vai trò của quần chuings nhân dân Theo Người, trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân Cả cuộc đời HCM hành động tất cả vì dân Cán bộ, đảng viên tu dưỡng rèn luyên theo phong cách HCM là phải theo đúng đường lối nhân dân với các nội dung cụ thể sau :

Thứ nhất, phải đặt lợi ích của quần chúng lên trên hết Việc gì lợi cho dân, dù nhỏ máy cũng làm Việc gì hại cho dân, dù nhỏ mấy cũng tránh

Thứ hai, liên hệ chặt chẽ với nhân dân HCM là lãnh tụ rất gần gũi ,sâu sát nhân dân

Thứ ba, việc gì cũng bàn với dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ

Thứ tư, có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Thứ năm,sẵn sàng học hỏi nhân dân

Thứ sáu, chống bệnh quan liêu

- Tác phong tập thể, dân chủ : Điều có ý nghĩa lớn nhất từ thắng lợi của cách mạng do Đảng lãnh đạo

là đưa nhân dân từ thân phận nô lệ lên địa vị làm chủ Nước ta là nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ Cán bộ

là đầy tớ cho dân, chứ không phải là làm quan cách mạng Đó chính là điểm xuất phát của việc rèn luyện, tu dưỡng theo phong cách dân chủ HCM Phong cách dâ chủ có nội dung dan chủ trong đảng và dân chủ với nhân dân

Về thực hành dân chủ trong đảng, mỗi cán bộ đảng viên cần thực hiện những nội dung cơ bản sau : Thứ nhất, phát huy sức mạnh trí tuệ của tập thể Một người, dù tài giỏi đến mấy, cũng không thể biết hết, hiểu hết Vì vậy, phải chú ý phát huy trí tuệ tập thể, gắn bó và tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể

Thứ hai, mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng

Thứ ba, nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân Trên cơ sở nhận thức dân chủ là giá trị lớn nhất, là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn, người cán bộ đảng viên phải làm cho nhân dân có năng lực làm chủ, biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm Phải coi trọng việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước

- Tác phong khoa học : Noi theo tấm gương của Bác, chúng ta phải khắc phục thói quen tự do, tùy tiện, được chăng hay chớ, thiếu kế hoạch, thiếu điều tra nghiên cứu, chậm chạp, lề mề Phải xây dựng tác phong khoa học trong công tác, trong lãnh đạo Làm việc phải có mục đích rõ ràng; chương trình, kế hoạch đặt ra phải phù hợp Phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đã đề ra, theo lời dạy của Lê Nin “ Lãnh đạo mà không kiểm, có nghĩa là không lãnh đạo”

4- Rèn luyện phong cách ứng xử :

HCM có cách ứng xử ở tầm nghệ thuật, gần như hoàn thiện Phong cách ứng xử tuy thể hiện bằng ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, phong thái, nhưng nó chính là bắt nguồn từ nhân cách của chủ thể ứng xử Phong cách ứng xử của Bác rất độc đáo, chứa đựng cả giá trị của dân tộc, Đông phương và Tây phương, được thế giới ca ngợi

Phong cách ứng xử của Người vừa khiêm tốn, nhã nhặn, lịch lãm vừa linh hoạt, biến hóa, lại chân

tình, nồng hậu có lý, có tình chứa đựng những giá trị nhân bản của con người, yêu thương, quý mến, trân trọng

con người, hướng con người đến chân, thiện, mỹ Khi cần nhắc nhở, Người không quên chỉ vẽ tận tình Khi cần phê bình, Người rất nghiêm khắc, nhưng rất độ lượng, bao dung, không bao giờ bao che, nhằm nâng con người lên chứ không hạ thấp, vùi dập

Ngày đăng: 08/08/2023, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w