Câu 1: Đồng chí hãy làm rõ nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản VN hiện nay. Việc thực hiện nguyên tắc này tại đơn vị đồng chí công tác có khó khăn, cản trở nào? Đồng chí hãy đề xuất giải pháp để giải quyết những khó khăn, cản trở đó. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của học thuyết MácLênin về Đảng Cộng sản, chỉ đạo xây dựng dựng tổ chức sinh hoạt và hoạt động của Đảng Cộng sản. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở đảm bảo cho sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động của Đảng. Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi nguyên tắc tập trung dân chủ (có khi Người gọi là dân chủ tập trung) là nguyên tắc rất quan trong trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguời cũng là tấm gương Cộng sản mẫu mực trong việc thực hiện nguyên tắc này. Theo Người “toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy là dân chủ tập trung. Nghĩa là: tập trung trên nền tảng dân chủ. Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung.
Trang 1Câu 1: Đồng chí hãy làm rõ nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản VN hiện nay Việc thực hiện nguyên tắc này tại đơn vị đồng chí công tác có khó khăn, cản trở nào? Đồng chí hãy đề xuất giải pháp để giải quyết những khó khăn, cản trở đó.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản, chỉ đạo xây dựng dựng tổ chức sinh hoạt và hoạt động của Đảng Cộng sản Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở đảm bảo cho sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động của Đảng.
Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi nguyên tắc tập trung dân chủ (có khi Người gọi là dân chủ tập trung) là nguyên tắc rất quan trong trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam Nguời cũng là tấm gương Cộng sản mẫu mực trong việc thực hiện nguyên tắc này Theo Người “toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định
Nguyên tắc ấy là dân chủ tập trung Nghĩa là: tập trung trên nền tảng dân chủ Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung
Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Điều lệ được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nêu: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”, đồng thời xác định 6 nội dung
cụ thể đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ về tổ chức, hoạt động, sinh hoạt của Đảng
1 Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
2 Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy)
3 Cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp
ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức Đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình
4 Tổ chức Đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban chấp hành Trung ương
5 Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên của cơ quan đó tán thành Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu, xem xét ý kiến đó, không phân biệt đối xử đối với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số
6 Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên
Sự thống nhất giữa tập trung và dân chủ
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng Nguyên tắc tập trung dân chủ là hai tính chất, hai nội dung của một vấn đề, tồn tại biện chứng trong một chỉnh thể Dân chủ chỉ có thể thực hiện được trên nguyên tắc tập trung Bởi không có tập trung thì dân chủ sẽ trở thành tuỳ tiện Vì vậy, dân chủ hướng tới tập trung và tập trung trên cơ sở dân chủ Để đoàn kết, sức chiến đấu cao, Đảng phải thống nhất ý chí và hành động Điều đó chỉ có được khi tổ chức và hoạt động của Đảng phát huy tối đa trí tuệ, tài năng của mỗi đảng viên trên cơ sở phát huy dân chủ trong toàn Đảng Để đi đến thống nhất tư tưởng và ý chí thì mọi quyết định phải được bàn bạc dân chủ, toàn bộ quá trình đi tới sự tập trung phải là một quá trình dân chủ
Tập trung dân chủ hoàn toàn đối lập với tập trung quan liêu, độc đoán; khác với sự áp đặt suy nghĩ, ý kiến, nguyên vọng, ý chí của người lãnh đạo đối với đảng viên, tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới Nói chuyện với cán bộ làm công tác tổ chức và tư tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã diễn đạt bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ một cách cô đọng và dễ hiểu: Tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung
Nhận thức đúng bản chất, nắm chắc nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ trong Điều lệ Đảng là nền tảng lý luận và cơ sở khoa học cho mỗi đảng viên bảo vệ Đảng, bác bỏ những luận điểm
Trang 2xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng mà thủ pháp đơn giản của những luận điểm đó là
cố tình tách rời, đối lập giữa tập trung và dân chủ Một đảng chân chính luôn phấn đấu cho sứ mệnh phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân như Đảng ta không chấp nhận tình trạng chỉ đạo tập trung quan liêu giáo điều và tư biện, làm mất sinh lực và cuối cùng, làm giảm sức mạnh và uy tín của Đảng
Việc thực hiện nguyên tắc này tại đơn vị nơi tôi công tác có khó khăn, cản trở sau:
Một số cán bộ và cấp uỷ chưa tôn trọng và chưa thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, cục bộ địa phương khá phổ biến, thái độ kèn cựa, tính cá nhân chủ nghĩa còn rất nặng Không ít nơi, nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng Trong công tác tư tưởng và hoạt động lý luận của Đảng, có lúc, có nơi chưa tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ Trong sinh hoạt đảng, một mặt tình trạng dân chủ hình thức còn nặng nề, chưa phát huy tốt tự do tư tưởng; mặt khác, kỷ cương, kỷ luật còn lỏng lẻo, bề ngoài thì nhất trí với nghị quyết nhưng bên trong cố ý làm trái với nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhiều nơi, người đứng đầu cấp uỷ, cán bộ chủ chốt không dám chịu trách nhiệm, thậm chí còn dựa dẫm tập thể Điều nguy hiểm hơn là, một số cấp uỷ cơ sở đã nhân danh tập thể để đưa ra những quyết nghị, quyết định trái với nghị quyết của cấp trên, vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc vượt quá thẩm quyền, có tình trạng bí thư vượt quyền tự ý làm trái nghị quyết đại hội Trong sinh hoạt của cấp uỷ, những vấn đề tranh luận phức tạp hoặc những ý kiến khác nhau trong hội nghị thường bị né tránh hoặc là “gác lại” Trong đánh giá, phê bình thường chỉ nêu ưu điểm, thành tích, lướt qua hoặc biện hộ cho những yếu kém, khuyết điểm
Đề xuất giải pháp để giải quyết những khó khăn, cản trở:
Trước hết, cần nhận thức đúng đắn đầy đủ nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ Hiểu sâu sắc nguyên tắc tập trung dân chủ là quy định của Đảng, đồng thời là quy luật vận động và phát triển Cùng với việc nghiên cứu, quán triệt bản chất, nội dung, vai trò quyết định của nguyên tắc tập trung dân chủ, phải đánh giá, kiểm điểm nghiêm túc việc thực hiện nguyên tắc đó một cách toàn diện ở tất cả các cấp, các ngành Xác định rõ những gì đã làm đúng, chỉ ra những gì làm chưa đúng, những nguyên nhân chủ quan, khách quan Đối với những tổ chức, cán bộ, đảng viên sai phạm nghiêm trọng phải xử lý kỷ luật và có biện pháp chấn chỉnh ngay về tổ chức
Cần cụ thể hoá các nguyên tắc nêu trong Điều lệ Đảng bằmg những văn bản hướng dẫn cụ thể để các cá nhân và tổ chức thực hiện Trước mắt, cần xây dựng quy chế tổ chức và quản lý sinh hoạt tư tưởng, quy trình chuẩn bị, thảo luận, thông qua nghị quyết của các cấp uỷ đảng; cụ thể hoá thêm các quy định về công tác cán bộ; quy định cụ thể về trách nhiệm cá nhân người đứng đầu tổ chức đảng; quy định về việc xem xét kết luận lại các ý kiến khiếu tố, khiếu nại, các ý kiến bảo lưu, v.v
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ đạt kết quả cao khi nó gắn với nguyên tắc tự phê bình và phê bình Hai nguyên tắc này phải cùng được tiến hành mọi nơi, mọi lúc trong Đảng Trong sinh hoạt đảng, nếu người chủ trì thiếu dân chủ, độc đoán hoặc thiếu quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm thì cả cấp uỷ khó
mà thực hiện được tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình sẽ trở nên hình thức Do vậy, việc kiểm điểm cán bộ chủ chốt và tổ chức đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) phải căn cứ việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình Những sai phạm phải được phê phán xử lý đúng mức
Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình Đây là công việc rất khó khăn Việc chống lại nguyên tắc này thường được nguỵ biện dưới nhiều hình thức,
lý lẽ tinh vi Kiểm tra, giám sát phải được định danh, định tính, định lượng cụ thể Người kiểm tra, giám sát phải mẫu mực về phẩm chất, trình độ chuyên môn, trong sáng, chí công vô tư và bản lĩnh Mục đích kiểm tra không chỉ để phát hiện những vi phạm và sai lầm, mà quan trọng hơn là phòng ngừa, uốn nắn những lệch lạc, chấn chỉnh những biểu hiện sai trái, giúp cấp dưới phát huy tốt hơn tác dụng của nguyên tắc tập trung dân chủ./
Trang 3Câu 2: Đồng chí hãy phân tích bốn nguy cơ mà Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đã và đang phải đối mặt Theo đồng chí, Đảng ta cần có những giải pháp gì để ngăn chặn, đẩy lùi bốn nguy cơ đó? Trả lời
Cùng với những thành tựu đạt được, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyến điểm Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII họp từ ngày 20-25/1/1994 đã nêu ra bốn nguy cơ, đồng thời coi đó là những thách thức lớn
1 Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, đang ở thời kỳ đầu của quá trình chuyển tiếp từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 của quá trình phát triển Mỗi năm, Việt Nam đều đạt mục tiêu kế hoạch tăng trưởng đặt ra Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật Về tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu lớn nhất là đạt mức tăng trưởng kinh tế nhanh, góp phần đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành một nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2009 Như vậy, sau 3 thập kỷ, quy mô nền kinh tế đã tăng 31 lần,
tỷ lệ nghèo giảm nhanh và chỉ số bất bình đẳng về thu nhập tăng ít Ở mức độ vĩ mô có thể nhận thấy sự tăng trưởng của nền kinh tế như vậy là khá ấn tượng
Tuy vậy, xu hướng và nguy cơ tụt hậu ở Việt Nam là rất lớn Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập và định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, vẫn còn không ít vấn đề chưa đủ rõ, còn ý kiến khác nhau; tạo ra những nút thắt về thể chế đối với phát triển đất nước Nền kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức, cụ thể
Thách thức đầu tiên là thời gian còn lại của thời kỳ dân số vàng của Việt Nam còn khoảng 5- 10 năm nữa, đây là khoảng thời gian không dài đối với sự phát triển của nền kinh tế
Thách thức tiếp theo mà Việt nam đang phải đối mặt là những độc lực cho công cuộc đổi mới trước đây đang ngày càng ít dần Trong đó, điển hình là việc Việt Nam đã chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mặc dù chưa đầy đủ nhưng cũng đã tạo được nhiều động lực cho sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tới quy mô như hiện nay, thị trường tiền tệ và hàng hóa phát
Tuy nhiên, những động lực đó đang tới hạn Vấn đề trước mắt là Việt Nam cần tìm ra những động lực mới mang tính căn cơ hơn nữa, đặc biệt là về thể chế, đây chính là cơ hội và cũng là dư địa để phát triển
Thách thức thứ 3 đó là nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, điều này mang lại không ít cơ hội cũng như thách thức cho Việt nam Nếu chúng ta tận dụng tốt sự tiến
bộ về mặt khoa học công nghệ thì mức độ cạnh tranh của Việt Nam sẽ được nâng lên và tạo ra những bước nhảy vọt Ngược lại, nếu không tận dụng được ưu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì nền kinh tế Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước khác
Một thách thức không kém phần quan trọng đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc, điều này đã có ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam; sự tăng trưởng nhanh của tầng lớp trung lưu đã tạo ra nhiều
cơ hội cũng như thách thức, thách thức đối với sự tăng trưởng và việc làm đến năm 2035
Nguy cơ này được tạo nên bởi những nguyên nhân khách quan và chủ quan
- Việt Nam đi vào xây dựng và phát triển từ một điểm xuất phát rất thấp kém, lạc hậu
- Chúng ta phải tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc lâu dài Đến nay, trên đất nước ta hậu quả của cuộc chiến tranh vẫn còn khá nặng nề
- Do những thiếu sót, khuyết điểm, có cả những sai lầm của chúng ta trong quá trình phát triển kinh tế Điều này thể hiện khá rõ trong những năm đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế xã hội
Điều cần nói thêm là xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá các lĩnh vực của đời sống hiện nay không chỉ tạo nên thuận lợi, thời cơ để các quốc gia cùng hoà nhập và phát triển mà thực tế còn làm tăng thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, giữa Bắc và Nam Chính trong lĩnh vực này thời cơ và nguy cơ, thuận lợi và khó khăn đan xen, đi liền với nhau Để tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua thử thách khó khăn, rút ngắn khoảng cách kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ, đổi mới, sáng tạo như Hồ Chí Minh đã chỉ ra
Trang 42 Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa
Tự do và sự phát triển của con người là mục tiêu cao quý của CNXH Đất nước là sản phẩm của con người Con người phát triển thì dân tộc phát triển Dân tộc phát triển thì sẽ có một đất nước phát triển Đất nước phát triển là môi trường để cho con người tiếp tục phát triển Khi đất nước và dân tộc phát triển ở trình
độ cao thì mới có CNXH hiện thực Đó là điều không thể khác
Từ lâu nước ta đã kiên định mục tiêu lý tưởng là độc lập dân tộc và CNXH Điều đó không sai nếu như hiểu đúng bản chất của vấn đề Trên lý luận nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN tuy nhiên, trong những năm gần đây chúng ta có thể thấy rằng có những dấu hiệu của sự chệch hướng trên con đường
đi lên XHCN Sau đổi mới chúng ta tập trung phát triển kinh tế tư nhân, tiểu chủ, tư bản, tư bản nước ngoài trong khi đó các doanh nghiệp nhà nước lại yếu kém, thua lỗ Nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần đưa nền kinh tế nước ta đang đi theo hướng khác nếu các cấp lãnh đạo không tỉnh táo để có những bước đi đúng đắn Việc tập trung phát triển kinh tế ngoài nhà nước, tạo ra một lượng tiền lớn cho sự phát triển, tuy nhiên một câu hỏi được đặt ra cạnh tranh tự do ở nước ta có giống “tự do kiểu Mỹ” không Điều này có nghĩa là nền kinh tế thị trường chứ không phải thả nổi cho các doanh nghiệp tự bươn trải Nhà nước cần có những biện pháp để quản lý,phát triển nền kinh tế nhà nước, xây dựng các tập đoàn chủ chốt, củng cố các cơ quan khác Do vậy, nền kinh tế nhà nước nhất định phải được chấn hưng
Một biểu hiện đáng chú ý của sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thân hữu Hiện nay, hầu hết giới doanh nghiệp tại Việt Nam đều hiểu rằng, xây dựng mối quan hệ với các quan chức là rất quan trọng để có thể làm ăn dễ dàng Rất nhiều doanh nghiệp coi đây không chỉ là một sự cần thiết, mà còn là một cách đầu tư sinh lợi hiệu quả Dự án đầu tư vào các quan chức bắt đầu từ việc tài trợ cho chuyện "chạy" chức, "chạy" quyền Đây là mối quan hệ hai chiều: Các doanh nghiệp có thể xin phép được tài trợ, mà các quan chức cũng có thể kêu gọi tài trợ Có nói hay không thì cả hai bên đều hiểu cam kết bất thành văn ở đây: “Giúp anh thành công thì anh mới có điều kiện hỗ trợ”; “ Lên được mới tạo điều kiện được ” Đây có lẽ đang là cách phổ biến nhất hình thành nên hệ thống các doanh nghiệp "sân sau", doanh nghiệp thân hữu Nhiều doanh nghiệp còn tấn công qua "cửa sau" là vợ, con của quan chức để tạo sự thân tình, được hưởng mối quan hệ thân hữu
Mặt khác, quan hệ thân hữu còn được hình thành theo cách tự nhiên nữa là người nhà của cán bộ đứng ra thành lập doanh nghiệp Họ kinh doanh nhờ mối quan hệ mà không cần phải đầu tư trí, lực Những doanh nghiệp này chẳng cần nhiều vốn, chẳng cần nhiều kiến thức, kỹ năng kinh doanh, chỉ cần đón lõng và hiểu "phép chia" đối với công lao những người giúp mình có được dự án là thành công
Cách làm ăn dựa vào quan hệ thân hữu đang để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho đất nước, đồng thời sẽ còn tiếp tục tạo ra những nguy cơ, những rủi ro chưa thể lường hết
Trước hết, nó làm cho môi trường kinh doanh bị hủy hoại nghiêm trọng Không ít doanh nghiệp phàn nàn rằng, ở một vài địa phương, việc gia nhập thị trường gần như là không thể đối với các doanh nghiệp không nằm trong nhóm thân hữu hoặc ở địa phương khác đến Các doanh nghiệp như vậy sẽ khó có được các hợp đồng, dự án, chi phí kinh doanh luôn bị đội lên, không sớm thì muộn họ cũng sẽ bị phá sản Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp thân hữu lại tận dụng được cơ hội nhờ được ưu tiên, ưu đãi trong việc tiếp cận các nguồn lực của đất nước bao gồm đất đai, tài nguyên, tiếp cận hợp đồng, thương quyền Quan chức cũng hưởng lợi nhờ mối quan hệ này Nạn hối lộ và tham nhũng cũng sinh ra từ đây
Thứ hai, cạnh tranh lành mạnh như là một động lực thúc đẩy phát triển hoàn toàn bị triệt tiêu Đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, hay áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất để hạ giá thành sản phẩm không quan trọng bằng việc đầu tư để có các mối quan hệ thân hữu với các cán bộ quản lý Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản giải thích tại sao các doanh nghiệp ở Việt Nam ít đầu tư vào khoa học-công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh dẫn đến hệ quả là năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế nước ta cũng rất thấp
Thứ ba, bất công và bất bình xã hội đang bị tích tụ lại ngày một nhiều hơn Nếu mọi cơ hội đều do một nhóm thâu tóm thì sẽ còn lại gì cho những người làm ăn chân chính? Điều này đi ngược với những giá trị về bình đẳng và công bằng xã hội mà chúng ta đang dày công xây dựng Nó cũng dẫn đến tham nhũng và lạm dụng quyền lực công vì lợi ích tư
Trang 5Thứ tư, vì những mục đích của nhóm thân hữu mà những cán bộ có quyền có thể quyết định cả những việc đi ngược lại lợi ích quốc gia, hủy hoại môi trường
3 Nguy cơ nạn tham nhũng và tệ quan liêu
Chỉ hơn nửa tháng sau khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy những biểu hiện của nạn tham nhũng và tệ quan liêu xuất hiện trong bộ máy nhà nước Người thường gọi những tệ nạn ấy bằng các từ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” Thắng loại “giặc” tồn tại ngay trong bộ máy Đảng, Nhà nước, trong nội bộ cán bộ, đảng viên là hết sức phức tạp, khó khăn Thực tế cho thấy, kể từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương biện pháp để khắc phục, nhưng đến nay nguy cơ này dường như vẫn trong tình trạng gia tăng Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng được chính thức phát động từ 19-5-1999, có mục tiêu hàng đầu là khắc phục nguy cơ nạn tham nhũng và tệ quan liêu Cuộc vận động này đã tạo được chuyển biến ban đầu, tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với đất nước Tuy vậy, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần tăng cường hơn nữa cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tệ quan liêu và những biểu hiện tiêu cực khác Văn kiện Đại hội IX của Đảng viết: “Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở Cần chống tham nhũng với chống lãng phí, quan liêu, buôn lậu, đặc biệt chống các hành vi lợi dụng chức quyền để làm giàu bất chính”
Trong những năm gần đây người ta nói nhiều đến suy thoái đạo đức chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng XHCN trong đó một phần nói đến nạn tham nhũng mà theo đánh giá của tổ chức minh bạch thế giới (IT) thì VN là một trong số các quốc gia tham nhũng nhiều nhất thế giới 2,7/10 (2009) đứng thứ 120/180 quốc gia xếp hạng Vấn nạn này có ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề Tham nhũng dưới mọi hình thức không chỉ là nhận tiền đút lót để chạy chức chạy quyền mà còn tham nhũng ở chính sách, bóp méo uốn cong các chính sách của nhà nước đề ra Lòng dân lung lay cũng là do quan tham, mất phẩm chất đạo đức chính trị Dựa vào điểm này, các thế lực thù địch có lý do để kích động đồng bào, quần chúng nổi dậy, có cơ sở để xuyên tạc đường lối của đảng, nhà nước Tham nhũng giống như một cái nhọt , nếu không cắt đi sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể sống Có rất nhiều biện pháp chống tham nhũng đã được đề ra nhưng hoạt động không có hiệu quả nào là ủy ban phòng chống tham nhũng, thanh tra chính phủ Có lẽ điều quan trọng nhất
là chúng ta cần phải có hành lang pháp lý vững chắc để xử lý, răng đe những kẻ đục khoét tiền bạc của dân Đồng thời nên nâng cao trình độ quản lý nhà nước, cải cách hành chính bên cạnh đó cũng phải nâng cao sức chiến đấu của Đảng viên, chiến sỹ công an
4 Nguy cơ “diễn biến hoà bình”
Trong công cuộc đổi mới chúng ta chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá, mở rộng quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước Chủ trương trên đây bị các thế lực đế quốc và phản động lợi dụng, âm mưu thực hiện diễn biến hoà bình Hiện nay, khi cách mạng và chủ nghĩa xã hội thế giới đang ở giai đoạn thoái trào thì các thế lực thù địch càng quyết tâm thực hiện diễn biến hoà bình Đối với Việt Nam, nguy cơ diễn biến hoà bình là rất lớn và rất nghiêm trọng Vì vậy, chống diễn biến hoà bình là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc, đấu tranh giữa hai con đường
Hiện nay, có rất nhiều thế lực thù địch âm mưu chống phá nhà nước XHCN bởi tham vọng chính trị Một số tổ chức nước ngoài muốn đạp đổ chế độ chính trị nước ta cấu kết với các phần tử cực đoan trong nước thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ Trong những năm gần đây có nhiều vụ liên quan đến diễn biến hòa bình ví dụ như: phong trào Tin lành Đề - ga (2004), giáo xứ Thái Hà (2011), Cù Huy
Hà Vũ (2011) Điều này làm ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia, an ninh chính trị Mà nguyên nhân chủ yếu là do sự kém hiểu biết của một số bộ phận quần chúng nên mới bị lợi dụng đặc biệt là bộ phận học sinh sinh viên Hầu như các vụ biểu tình đều có sự tham gia của học sinh sinh viên Đây chính là nguy cơ lớn, thách thức lớn đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ảnh hưởng đến mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh”Tuy nhiên nguy cơ diễn biến từ bên ngoài không nguy hiểm bằng việc tự diễn biến bên trong mỗi người Muốn chống lại thế lực thù địch này chúng ta cần phải cảnh giác, nâng cao nhận thức quần chúng mà hơn hết là củng cố niềm tin của quần chúng vào Đảng, nhà nước Đồng thời nâng cao sức chiến đấu của chiến sỹ, đảng viên Giáo dục công dân về âm mưu diễn biến hòa bình, đặc biệt là học
Trang 6sinh sinh viên quán triệt tư tưởng và có các tổ chức đoàn thể cho sinh viên để sinh hoạt chính trị, nâng cao hiểu biết về vấn đề nhạy cảm này
Tóm lại, bốn nguy cơ nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đều nguy hiểm như nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào Nếu khắc phục được nguy cơ này sẽ hạn chế được các nguy cơ khác và ngược lại Nguy cơ diễn biến hoà bình đã và đang tác động sâu sắc tới các nguy cơ bên trong Khắc phục được các nguy cơ bên trong thì nhất định sẽ làm thất bại âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” Văn kiện Đại hội IX của Đảng viết: “Bốn nguy cơ mà Đảng đã từng cảnh báo vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp Các nguy cơ này đan xen và tác động lẫn nhau Không thể xem nhẹ nguy cơ nào” Đảng và nhân dân Việt Nam quyết tâm và
có đủ khả năng khắc phục cả bốn nguy cơ nêu trên
Đảng ta cần có những giải pháp gì để ngăn chặn, đẩy lùi bốn nguy cơ đó?
Kinh nghiệm từ sự lãnh đạo cách mạng, và cầm quyền của Đảng, cho thấy, có lý luận cầm quyền đúng - cương lĩnh cầm quyền khoa học, phù hợp, được đông đảo nhân dân ủng hộ và thực hiện - có bộ máy cầm quyền hiệu quả và đội ngũ cán bộ cầm quyền giỏi, không việc gì không thành công Theo hướng đó, để đột phá phòng ngừa các nguy cơ trong Đảng hiện nay, cấp bách thực thi các giải pháp chủ yếu sau:
Trước hết, trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, việc đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của
Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa thực dụng Cần kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; phát triển đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và nhân dân Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý
đồ thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chế độ đa đảng đối lập Phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động phá hoại, không để các thế lực thù địch tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn các mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không
để tích tụ, tạo tâm lý bất bình trong xã hội đối với các cơ quan công quyền Triển khai có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” Đồng thời, triển khai thực hiện Chỉ thị 05 CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Hai là, về lĩnh vực kinh tế cần tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, tăng cường xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững;
có khả năng cạnh tranh cao để chủ động hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa; có khả năng đứng vững, vượt qua được những biến động bất thường, khủng hoảng của nền kinh tế thế giới Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ văn hóa, thực hiện công bằng xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh Cần tiếp tục đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, đặc biệt là bảo vệ đường lối phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam Trong lĩnh vực này, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và giữ vững phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế, không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa cá nhân” chi phối
Ba là, về văn hóa - xã hội, cần quyết tâm bảo vệ đường lối xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội
của Đảng, chủ trương và chính sách văn hóa - xã hội của Nhà nước; bảo vệ, xây dựng và phát triển hệ thống giá trị, những chuẩn mực văn hóa, đạo đức xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tinh hoa truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Chống lợi dụng mở cửa, giao lưu văn hóa để quảng bá, tuyên truyền, phổ biến hệ thống giá trị, những chuẩn mực đạo đức, lối sống của phương Tây Bảo vệ đường lối, quan điểm, chủ trương và chính
Trang 7sách đổi mới giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước; chống lợi dụng giao lưu về giáo dục - đào tạo để chuyển hóa tư tưởng, ý thức của một số trí thức, sinh viên, học sinh, thế hệ trẻ mang văn hóa đồi trụy, độc hại vào Việt Nam Chống lợi dụng mở cửa để thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp theo mô hình xã hội phương Tây Giải quyết đúng đắn, kịp thời những mâu thuẫn nội bộ trong nhân dân Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận giữa các tầng lớp xã hội, các vùng, miền Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu theo Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 khoá XI vừa qua Thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, người có công với nước, chính sách dân tộc, tôn giáo; giữ vững an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội ở các vùng chiến lược, các địa bàn trọng yếu Mở rộng dân chủ trong xã hội để tạo sự đồng thuận, đoàn kết dân tộc, tôn giáo; chống chia rẽ, ly khai Khi xuất hiện những “điểm nóng” mâu thuẫn, xung đột xã hội, cần giải quyết, xử lý đúng đắn, kịp thời trên cơ sở pháp luật, hài hòa với truyền thống, đạo lý dân tộc
Bốn là, về quốc phòng, an ninh và đối ngoại cần tập trung bảo vệ đường lối, quan điểm, chủ trương
và chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước; xây dựng lực lượng, tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh Giữ vững bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, đặc biệt là bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Xây dựng Quân đội và Công an vừa là lực lượng chính trị, vừa là lực lượng quân sự, an ninh tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Bảo vệ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân với Quân đội và Công an Chống “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an; chống chia rẽ trong nội bộ lực lượng vũ trang Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chống địch cài cắm Bảo vệ đường lối, chủ trương chiến lược, chính sách đối ngoại quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước; phát triển các quan hệ đối ngoại song phương và đa phương phù hợp với lợi ích của đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong quan
hệ đối ngoại; củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng và khu vực, với các tổ chức quốc tế; tăng cường ảnh hưởng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; giải quyết đúng đắn mối quan
hệ đối ngoại và đối nội, không để nước ngoài tạo cớ can thiệp Giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia./
Câu 3: Tại sao tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc và là quy luật phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Tự phê bình và phê bình là một vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng,
là công cụ sắc bén để giáo dục đảng viên, rèn luyện cán bộ lãnh đạo, quản lý và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng Để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chất lượng sinh hoạt của các tổ chức cơ sở Đảng, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên; giữ vững chế độ tập trung dân chủ và chủ động đấu tranh, phê phán những biểu hiện lệch chuẩn trong nội bộ Đảng
Trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội không có mô hình sẵn có nên Đảng ta vừa làm vừa học tập, tổng kết kinh nghiệm, trong đó có những sai lầm, khuyết điểm đã được kịp thời được khắc phục, sửa chữa trong nội bộ để giữ vững sự lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, V.I Lê-nin viết: “… chỉ có kẻ nào không làm một công việc thực tiễn nào mới không bị sai lầm” và
“sai lầm cũng dạy chúng ta nhiều bài học…, chúng ta sẽ học tập bằng tự phê bình” Hơn nữa, “Những sai lầm thường khi lại bổ ích, nếu người ta học tập được về những sai lầm đó, nếu những sai lầm đó tôi luyện
con người” Khẳng định thêm tư tưởng này, trong lời giới thiệu tác phẩm Cú sốc tương lai, Alvin Toffler
viết: “Lý thuyết không cần phải “đúng” để có thể là có ích Ngay cả sai lầm cũng có chỗ dùng được”
Tự phê bình và phê bình được V.I Lê-nin coi là quy luật phát triển đảng Người cho rằng “tự phê bình là một việc tuyệt đối cần thiết cho hết thảy mọi chính đảng sống và đầy sức sống Không gì tầm thường bằng chủ nghĩa lạc quan tự mãn” Người chỉ rõ: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho đến nay, đều
bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám
Trang 8nói lên những nhược điểm của mình Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta, và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục” Vì vậy, một đảng “công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình” Cùng quan điểm này bằng một cách diễn đạt mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “… một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”
Từ những tìm hiểu về vai trò của phê bình và tự phê bình theo quan điểm của những người sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, có thể khẳng định tự phê bình và phê bình là một tất yếu khách quan trong hoạt động xây dựng và phát triển Đảng Nhưng vấn đề là phương pháp phê bình như thế nào để đảng viên tích cực, chủ động nói thẳng, nói thật, làm rõ được bản chất của vấn đề Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng thuật ngữ “khéo dùng cách phê bình”, có thể hiểu xa hơn nghĩa là phê bình là một nghệ thuật
Mặc dù tự phê bình và phê bình được xem là vũ khí, quy luật xây dựng - phát triển Đảng, nhưng trên thực tế, chất lượng phê bình hiện nay vẫn còn là khâu yếu Đặc biệt thực tiễn những năm gần đây cho thấy, ở không
ít các cấp ủy đảng, vũ khí phê bình và tự phê bình đã bị biến đạng, lạm dụng, làm cho nó không còn là nó nữa; biến nó thành cái đối lập với nó và xuyên tạc nó Đây là một nguy cơ làm giảm sự trong sáng và niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng Những “lệch chuẩn” này trong sinh hoạt chính trị (chi bộ) có những biểu hiện sau:
Một là, phê bình - nhận xét để cho có, chiếu lệ, làm qua loa đại khái, phê theo kiểu “bắn súng lên trời”, “hét
to giữa sa mạc”, nhưng rút cuộc chẳng trúng ai, chẳng ai làm sao cả, “chắc nó chừa mình ra” Đây thực chất
là một cách vô hiệu hóa phê bình
Hai là, phê bình - nhận xét để tâng bốc, xu nịnh, cố tình phóng đại những cái tốt cái hay về đồng chí, đồng
nghiệp nhằm củng cố “lực lượng” của mình Đó là loại phê bình không nghiêm túc Loại phê bình có hại cho
cả cá nhân và tổ chức
Ba là, biến quá trình phê bình thành cơ hội để cường điệu hóa khuyết điểm nhằm bôi nhọ, vu khống để hạ bệ
đồng nghiệp hoặc “dọn đường” cho nhau, giành vị thế chính trị; bao vây, cô lập, vô hiệu hóa những nhân tố tốt và những con người khẳng khái, trung thực, có tinh thần đổi mới; lấy cớ tự phê bình để triệt hạ những người mình không ưa, “trả thù vặt” theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người” Nguy hiểm hơn họ biến thủ đoạn này thành đòn lôi kéo, “đánh hội đồng” rất tinh vi Đây được coi là thủ đoạn phi tính đảng bậc nhất của một
“đảng viên”, đi ngược lại với luận điểm “Đảng ta là đạo đức là văn minh” của Hồ Chí Minh
Trang 9Câu 4: Đồng chí hãy trình bày nội dung cơ bản của đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội VI của Đảng ( 12-1986)? Khái quát những điểm bổ sung, phát triển đường lối đổi mới từ năm 1986 đến 2016?
Hướng dẫn trả lời:
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 tại
thủ đô Hà Nội Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới đất nước, với những nội dung cơ bản là:
- Đổi mới cơ cấu kinh tế:
+ Có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế, xác định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
+ Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư Trong những năm 1986 - 1990 phải tập trung cho được 3 chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, theo hướng sau: thật sự lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ Công nghiệp nặng phải được phát triển một cách có lựa chọn cả về quy mô và nhịp độ
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế:
+ Xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan
và với trình độ phát triển của nền kinh tế
+ Cơ chế mới là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN theo nguyên tắc tập trung dân chủ
- Đổi mới và tăng cường vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước về Kinh tế.
+ Phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất-kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở
+ Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý
- Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
+ Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu
+ Tạo điều kiện thuận lợi để người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh
- Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạo của Đảng
+ Đổi mới bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước tiên là đổi mới tư duy kinh tế
Đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta bao quát mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội Do
đó cần phải có bước đi thích hợp, biết lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải Vận dụng đặc trưng cơ bản đó của quan điểm toàn diện, Đảng ta cho rằng, trong đổi mới tư duy thì “đổi mới tư duy kinh tế” được coi là khâu “đột phá”
+ Phải nắm vững thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn
+ Không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ, đổi mới phong cách, phương pháp làm việc
Trang 10+ Không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ và đổi mới phong cách, phương pháp làm việc
Đại hội VI với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật” đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử là tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội, mở ra một thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường đi lên CNXH
* Quá trình bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và lãnh đạo công cuộc đổi mới
* Giai đoạn 1986 - 1988
Cụ thể hóa và thể chế hóa đường lối đổi mới thành hệ thống chính sách và pháp luật để đi vào cuộc sống
+ Ngày 14/11/1987 Hội đồng bộ trưởng ra quyết định 217 trao quyền tự chủ trong quản lý sản xuất kinh doanh cho các đơn vị kinh tế quốc doanh
+Ngày 29/12/1987 Quốc hội thông qua luật đầu tư nước ngoài
+ Ngày 5/4/1988 Bộ chính trị có Nghị quyết 10 về đổi mới hoàn chỉnh cơ chế khoán trong nông nghiệp
Giai đoạn 1989-1991
Ngày 29/ 3/1989, Hội nghị BCH TW6 khóa VI đã ra Nghị quyết, vừa bổ sung một số chính sách mới
để cụ thể hóa, bổ sung đường lối đổi mới được đề ra từ ĐH VI, đồng thời đã đề ra 5 nguyên tắc chỉ đạo công
cuộc đổi mới, đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới đi đúng định hướng XHCN 5 nguyên tắc đó là: Đổi mới
không đi chệch con đường XHCN; Kiên định CN Mác – Lênin; Giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng; Phát huy dân chủ nhưng phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng nguyên tắc tập trung dân chủ; Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
- Tháng 8/1989 Hội nghị Trung ương 7 đã ra nghị quyết về một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng
- Tháng 3/ 1990 Hội nghị Trung ương 8 thông qua nghị quyết 8b về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
và dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
- Tháng 6/1991 Đại hội lần thứ VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH và chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 Trong cương lĩnh Đại
hội nêu lên 6 đặc trưng cơ bản để làm rõ quan niệm về CNXH ở Việt Nam.
+ ĐH VII, bổ sung vào đường lối đổi mới ở một số vấn đề:
ĐH khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, kinh tế quốc doanh là chủ đạo, kinh tế quốc doanh cùng kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
ĐH khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Đồng thời đề ra nhiệm vụ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh sâu sắc, có
hệ thống
Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới và chỉnh đốn Đảng