1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học môn chính trị học phát triển lý thuyết hiện đại hóa và sự vận dụng của việt nam trong sự phát triển hiện nay

23 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học môn Chính trị học Phát triển lý thuyết Hiện đại hóa và Sự vận dụng của Việt Nam trong sự phát triển hiện nay
Trường học Trường Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 45,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Diễn trình lịch sử của loài người đã từng chứng kiến nhiều thay đổi cả về mặt cá thể cũng như loài. Những thay đổi ấy luôn được đánh dấu bằng những cột mốc của những thay đổi xã hội: Đó là những cuộc cách mạng và tương ứng với nó là những nền văn minh nào đó. Tuy nhiên, trong rất nhiều cột mốc ấy thì chỉ một cột mốc (mà từ đó lịch sử loài người có một bước ngoặt đáng kể, cột mốc này gắn chặt với những thay đổi căn bản bởi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật) sản sinh ra thuật ngữ hiện đại hoá Trên cơ sở nhận thức đầy đủ sâu sắc về lý thuyết hiện đại, vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ trung tâm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Đại hội VII đã có những bước đột phá mới về công nghiệp hóa. Lần đầu tiên, phạm trù Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định chính thức trong Văn kiện của Đảng. Trong điều kiện phát triển mới, công nghiệp hóa ở nước Việt Nam phải gắn liền với hiện đại hóa, bởi lẽ: trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, nếu nước ta không tiến hành công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ phát triển chung của thế giới. Đại hội VIII cho rằng Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng một số mặt nhất định còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên sau khi đúc kết những kinh nghiệm của một số nền kinh tế trên thế giới và nghiên cứu lý thuyết hiện đại hóa cho thấy rằng các xã hội phát triển theo những giai đoạn khá dễ đoán, qua đó chúng ngày càng trở nên phức tạp. Sự phát triển phụ thuộc chủ yếu vào việc nhập khẩu công nghệ cũng như một số thay đổi chính trị và xã hội khác được cho là sẽ xảy ra. Bên cạnh đó các thành viên của Trường phái Frankfurt đã chỉ ra rằng hiện đại hóa phương Tây được tạo tiền đề cho sự bóc lột nghiêm trọng của người lao động trong hệ thống tư bản và rằng hậu quả của việc hiện đại hóa đối với các mối quan hệ xã hội là rất lớn, dẫn đến sự xa lánh xã hội lan rộng, mất tính cộng đồng và bất hạnh. Những người khác chỉ trích lý thuyết hiện đại hóa vì đã không tính đến tính chất không bền vững của dự án, theo nghĩa môi trường, và chỉ ra rằng các nền văn hóa tiền hiện đại, truyền thống và bản địa thường có các mối quan hệ cộng sinh và ý thức về môi trường hơn nhiều giữa con người và hành tinh. Chính vì vậy để quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi đến thành công và đảm bảo được mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra thì việc nghiên cứu về “Lý thuyết hiện đại hóa và sự vận dụng của việt nam trong sự phát triển hiện nay” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tế. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về lý thuyết hiện đại hóa để vận dụng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Khái quát hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về lý thuyết hiện đại hóa; Những tác động của hiện đại hóa đến các mặt đời sống xã hội. Thực trạng sự vận dung lý thuyết hiện đại hóa vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Lý thuyết hiện đại hóa và những tác động của nó. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Sự vận dụng lý thuyết hiện đại hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển kinh tế, xã hội theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Tác giả sử dung phương pháp được thực hiên trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, quan sát, thu thập các số liệu v.v để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương và 4 tiết.

Trang 1

TIỂU LUẬNMÔN : CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

Đề tài :

LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI HÓA VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA VIỆT NAM

TRONG SỰ PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 4 Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI HÓA 4

1.1 Khái niệm lý thuyết hiện đại hóa 41.2 Những tác động của hiện đại hóa đến các mặt đời sống xã hội 5

Chương 2 SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI HÓA TRONG SỰ PHÁT TRIỂN HIỆN NAY CỦA VIỆT NAM 9

2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công nghiệp hóa,hiện đại hóa 92.2 Những ưu điểm và hạn chế trong vận dụng lý thuyết hiện đại hóa ởViệt Nam hiện nay 11

KẾT LUẬN 20 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Diễn trình lịch sử của loài người đã từng chứng kiến nhiều thay đổi cả

về mặt cá thể cũng như loài Những thay đổi ấy luôn được đánh dấu bằngnhững cột mốc của những thay đổi xã hội: Đó là những cuộc cách mạng vàtương ứng với nó là những nền văn minh nào đó Tuy nhiên, trong rất nhiềucột mốc ấy thì chỉ một cột mốc (mà từ đó lịch sử loài người có một bướcngoặt đáng kể, cột mốc này gắn chặt với những thay đổi căn bản bởi cuộccách mạng khoa học- kỹ thuật) sản sinh ra thuật ngữ hiện đại hoá

Trên cơ sở nhận thức đầy đủ sâu sắc về lý thuyết hiện đại, vị trí, tầmquan trọng của nhiệm vụ trung tâm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định:

"Mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổnđịnh mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cầnthiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đườngtiếp theo"

Đại hội VII đã có những bước đột phá mới về công nghiệp hóa Lầnđầu tiên, phạm trù "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa" được xác định chính thứctrong Văn kiện của Đảng Trong điều kiện phát triển mới, công nghiệp hóa ởnước Việt Nam phải gắn liền với hiện đại hóa, bởi lẽ: trong bối cảnh khoa họccông nghệ phát triển như vũ bão, nếu nước ta không tiến hành công nghiệphóa gắn với hiện đại hóa sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ phát triểnchung của thế giới

Đại hội VIII cho rằng "Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,nhưng một số mặt nhất định còn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặngđường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơbản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp

Trang 4

hóa, hiện đại hóa đất nước" Tuy nhiên sau khi đúc kết những kinh nghiệmcủa một số nền kinh tế trên thế giới và nghiên cứu lý thuyết hiện đại hóa chothấy rằng các xã hội phát triển theo những giai đoạn khá dễ đoán, qua đóchúng ngày càng trở nên phức tạp Sự phát triển phụ thuộc chủ yếu vào việcnhập khẩu công nghệ cũng như một số thay đổi chính trị và xã hội khác đượccho là sẽ xảy ra Bên cạnh đó các thành viên của Trường phái Frankfurt đã chỉ

ra rằng hiện đại hóa phương Tây được tạo tiền đề cho sự bóc lột nghiêm trọngcủa người lao động trong hệ thống tư bản và rằng hậu quả của việc hiện đạihóa đối với các mối quan hệ xã hội là rất lớn, dẫn đến sự xa lánh xã hội lanrộng, mất tính cộng đồng và bất hạnh

Những người khác chỉ trích lý thuyết hiện đại hóa vì đã không tính đếntính chất không bền vững của dự án, theo nghĩa môi trường, và chỉ ra rằng cácnền văn hóa tiền hiện đại, truyền thống và bản địa thường có các mối quan hệcộng sinh và ý thức về môi trường hơn nhiều giữa con người và hành tinh

Chính vì vậy để quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi đến thànhcông và đảm bảo được mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra thì việc nghiên cứu về “Lý thuyết hiện đại hóa và sự vận dụng của việt nam trong sự phát triển hiện nay” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tế.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu:

- Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về lý thuyết hiện đại hóa đểvận dụng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Khái quát hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về lý thuyết hiệnđại hóa; Những tác động của hiện đại hóa đến các mặt đời sống xã hội

- Thực trạng sự vận dung lý thuyết hiện đại hóa vào quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lý thuyết hiện đại hóa và những tác động của nó

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dung phương pháp được thực hiên trên cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phươngpháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, quan sát, thu thập các số liệuv.v để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chínhcủa luận văn được kết cấu thành 2 chương và 4 tiết

Trang 6

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 Khái niệm lý thuyết hiện đại hóa

Theo wikipedia tiếng Việt, “Lý thuyết hiện đại hóa được sử dụng đểphân tích các tiến trình hiện đại hóa trong xã hội Các lý thuyết nhìn vào cáckhía cạnh thuận lợi của các quốc gia và cấu thành chướng ngại cho sự pháttriển kinh tế Ý tưởng là hỗ trợ phát triển nhắm vào những khía cạnh cụ thể cóthể dẫn đến hiện đại hóa xã hội 'lạc hậu' hay 'truyền thống' Các nhà khoa họcđến từ nhiều ngành nghiên cứu khác nhau đóng góp nên lý thuyết hiện đạihóa” [7]

Ngày nay, từ hiện đại đã được dùng để chỉ những đặc tính chung trongcác quốc gia phát triển, trong sự phát triển không chỉ ở phương diện kinh tế

mà còn ở cả các lĩnh vực như chính trị và xã hội Và “hiện đại hoá” đượcdùng để mô tả diễn trình phát triển của các xã hội đã thủ đắc được những đặctính đó

Mặc dầu thuật ngữ “hiện đại hoá” bao giờ cũng gắn chặt với sự pháttriển khoa học công nghệ (mà khoa học công nghệ thì lại được bắt đầu từchâu âu), nhưng nội hàm của nó không chỉ là sự du nhập- theo quan niệm

“châu âu hoá”- vào một quốc gia nào đó

Thoạt nghe danh từ “hiện đại hoá” có vẻ là một danh từ lắp một ý niệmnhiều chữ: Làm cho mọi thứ hiện đại hơn; Nhưng thật ra, nó không giốngnhững danh từ “thiên chúa hoá” hay “Kỹ nghệ hoá” mô tả sự du nhập của đạothiên chúa và kỹ nghệ Sự khác biệt là người ta đồng ý về ý nghĩa của thiênchúa và kỹ nghệ còn “hiện đại hoá” có một ý nghĩa ít người hiểu và chấpnhận [6, tr.10- 11]

Ở Việt Nam lý thuyết hiện đại hóa được gắn với công nghiệp hóa, hiệnđại hóa toàn diện từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội và được hiểu là quá

Trang 7

trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế

-xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổbiến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến,hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

1.2 Những tác động của hiện đại hóa đến các mặt đời sống xã hội

Các nguyên tắc đầu tiên của lý thuyết hiện đại có thể được bắt nguồn từ

ý tưởng tiến bộ, trong đó nói rằng mọi người có thể phát triển và thay đổi xãhội của chính mình Tuy nhiên trên thực tế lý thuyết hiện đại đã tác động đếncác mặt của đời sống xã hội Trọng tâm của quá trình hiện đại hoá là sự thíchứng của hệ thống định chế truyền thống đối với những nhiệm vụ xã hội mới

mẻ Và không chỉ ở những định chế kinh tế mà còn đồng thời cả ở những địnhchế chính trị , xã hội và văn hoá nữa Chính điều này đã dẫn đến những biếnđổi đồng bộ, toàn diện trong tất cả các lĩnh vực của xã hội:

- Những biến đổi về văn hoá:

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại những biến đổi sâu xatrong hiểu biết của con người đối với khung cảnh, nó là một tác nhân khiếncon người có nhu cầu hơn trong việc xét lại những kiến thức, những hoạtđộng truyềng thống của con người Cũng như thế trên phương diện văn hoátinh thần, con người đã phủ nhận những sự tôn sùng thế hệ trước và chấpnhận một cách hiển nhiên rằng sự biến cải là một trạng thái thông thườngtrong hoạt động tinh thần của con người

Một đặc điểm nữa của quá trình hiện đại hoá trong đời sống tinh thần làviệc áp dụng khoa học, kỹ thuật vào đời sống hàng ngày Nhờ đó, khôngnhững con người đã có những đổi thay mang tính cách mạng trong cách điềukhiển công việc (tri thức luôn được coi là động lực phát triển) mà cuộc sốngcủa họ được nâng cao một cách rõ rệt, trong đó có cả sự nâng cao về đòi sốngvăn hoá tinh thần Những ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật đến đời sống tinhthần thể hiện ở định hướng giá trị xã hội: Những hệ thống thần học, tínngưỡng nguyên thuỷ được “xét lại” dưới nhãn quan khoa học, mang tính phê

Trang 8

phán Tát cả những điều đó ảnh hưởng chung đến tư tưởng xã hội khi nó đangdược và đã được hiện đại hoá- Đó là tư tưởng an sinh xã hội- một giá trị đượcxếp lên hàng đầu.

Cùng với quá trình hiện đại hoá là sự phát triển với tốc độ nhanh củacác hình thức truyền thông đại chúng Nhờ đó mọi người trong xã hội có thểcập nhật tin tức, tri thức về nhiều lĩnh vực của xã hội và tự nâng cao hiểu biếtcủa mình

Hiện đại hoá cũng tác động mạnh đến khía cạnh tâm lý của con người:Khác với xã hội truyền thống, con người thường tin vào định mệnh, vào vị thế

xã hội mà mình hiện có thì trong xã hội hiện đại hoá, mỗi một người đều có

hy vọng thay đổi vị thế xã hội của mình, và họ luôn có những ước mơ và tìmmọi cách để giấc mơ đó trở thành hiện thực Sở dĩ như vậy là xã hội đã tạo ranhững cơ hội bình đẳng cho bất cứ ai, nếu người đó có năng lực (trường hợpcủa những tỷ phú thời đại tin học ở Mỹ, Trung Quốc là những ví dụ)

- Những biến đổi về chính trị:

Hiện đại hoá trong lĩnh vực chính trị thể hiện rõ nét nhất ở vai trò củanhà nước trong việc quản lý xã hội một cách trực tiếp và toàn diện Điều nàykhông có nghĩa là nhà nước lấn át hay đè nén sự quản lý của những thànhphần phi nhà nước mà ở đây có sự hoà hợp giữa vai trò của nhà nước và cácthành phần phi nhà nước để cả hai khu vực (công và tư) cùng hợp sức huyđộng và hợp lý hoá tài nguyên trong xã hội, ngõ hầu kiểm soát chặt chẽ, đạthiệu năng và gia tăng sức sản xuất

Trong xã hội hiện đại hoá, chính quyền trung ương có xu hướng giatăng quyền lực của mình đến mọi lĩnh vực và đến tận địa phương (giảm quyềnlực địa phương) Thật vậy, lịch sử đã chỉ ra rằng: Các chế độ chính trị cổtruyền thường không với tới việc kiểm soát dược toàn thể dân chúng, hoăcchính quyền cổ truyền chỉ thường đảm nhiệm trọng trách quốc phòng chốngngoại xâm, giữ gìn trật tự an ninh trong nước, duy trì công tác hành chínhcông và thu thuế để đài thọ những nhiệm vụ trên Ngay cả ở những nước theo

Trang 9

chế độ XHCN trước đây, nhân dân chỉ biết uy quyền trung ương qua nhiềucấp trung gian hoặc như các nước châu âu trước thời hiện đại hoá, quyền hànhchính trị thường bị san sẻ cho các lãnh chúa ở các địa phương…

Việc tập trung quyền hành vào chính quyền trung ương không có nghĩa

là Nhà nước đè bẹp/ không phát huy được hoạt động của tư nhân mà ngượclại: các hình thức kinh doanh tư nhân càng được khuyến khích bởi một chínhquyền trung ương vững mạnh và là biện pháp sản xuất có hiệu lực nhất Ngàynay, ngay cả những nước có truyền thống tôn trọng quyền địa phương như

Mỹ và Thuỵ Sỹ nhưng khuynh hướng vẫn là sự gia tăng quyền hành củachính quyền trung ương và giảm sút quyền hành của địa phương Do cáchquản lý này mà mức thu hoa lợi của nhà nước hiện đại dạt được cao hơn hẳnmức thu hoa lợi của những nhà nước trước hiện đại hoá

Điển hình cho quá trình hiện đại hoá trong lĩnh vực chính trị là sự tậptrung và hợp lý hoá những nhiệm vụ bằng bộ máy hành chính chặt chẽ để bảo

vệ pháp luật và mối tương quan chặt chẽ giữa chính phủ và người dân đặcđiểm này dẫn đến một hệ quả thông thường là nền cai trị thường có tính chấtdân chủ, bởi chỉ có như vậy quốc gia mới có thể trực tiếp quan hệ với ngườidân (Quốc gia không thể làm được những nhiệm vụ thuế khoá, chính sáchngoại giao, giáo dục, an ninh hay những nhiệm vụ khác mà người dân lạikhông hiểu và công nhận vai trò của chính quyền Mà điều này chỉ có thể hìnhthành được trên cơ sở mọi người dân đều được tham gia thực sự vào việc lựachọn người lãnh đạo và chính sách- tức một nền dân chủ)

- Những biến đổi về kinh tế:

Với sự gia tăng trình độ chuyên môn hoá, với nền tảng của những phátminh khoa học công nghệ, với việc mở rộng không biên giới thị trường trênphạm vi toàn cầu, các quốc gia hiện đại hoá đã đạt được những bước tiếnnhảy vọt trong kinh tế: Trong một số nước phát triển, lợi tức đầu tư trong kinh

tế đã gia tăng từ 10 đến 20 lần so với hai, ba thế kỷ qua Đến lượt nó, sự gia

Trang 10

tăng này đã ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác trong đời sống xã hội (pháttriển nông nghiệp quốc nội, củng cố chính trị và nâng cao đời sống văn hoá’).

Về mặt kinh tế, có thể coi tổng sản lượng trên đầu người (GDP) là đơn

vị đo (thước đo) trình độ hiện đại hoá của một quốc gia

Dĩ nhiên hiện đại hoá ở phương diện kinh tế là một khía cạnh rất quantrọng, thậm chí quan trọng nhất, nhưng trong nhiều trường hợp phát triển kinh

tế lại lệ thuộc rất nhiều vào khía cạnh chính trị và tinh thần của diễn trình, vào

sự gia tăng kiến thức và khả năng lãnh đạo để huy động tài nguyên

- Những biến đổi xã hội:

Hiện đại hoá trước hết làm thay đổi cơ cấu nhân khẩu- xã hội học: Sốlượng những người tham gia sản xuất nông nghiệp giảm nhanh, số ngườitham gia những công việc ở những khu đô thị hoá, công nghiệp hoá ngàycàng gia tăng Như vậy, hiện đại hoá, theo một nghĩa hẹp gắn liền với côngnghiệp hoá và đô thị hoá, và kéo theo nó là quá trình chuyển đổi cơ cấu nghềnghiệp, là quá trình di dân từ các khu vực sản xuất nông nghiệp sang các dịch

vụ ở đô thị và làm việc ở khu công nghiệp

Sự thay thế lao động giản đơn bằng lao động máy móc đã làm giảm sút

sự chênh lệch cổ truyền trong quan hệ giới: Trong các xã hội hiện đại, giảiphóng phụ nữ, nam nữ bình quyền là những tư tưởng mới, những giá trị mớiđược đề cao và đang chiếm vị trí ưu thắng

Về mặt y tế, chăm sóc sức khoẻ, xã hội hiện đại hoá đã có những thànhtích vượt trội mà xã hội cổ truyền không thể đạt được Phòng chống các đạidịch là nhiệm vụ mang tính quốc gia, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng luônđược đặt vào các chương trình nghị sự của nhà nước…Tất cả những điều đó

đã mang lại những kết quả tốt cho những thành viên của xã hội (giảm dân số,mức sống cao, tuổi thọ nâng, tỷ xuất tử vong giảm…)

Trang 11

Chương 2

SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI HÓA TRONG SỰ PHÁT

TRIỂN HIỆN NAY CỦA VIỆT NAM

2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nhận thức về bản chất kinh tế - xã hội; về đặc điểm, nội dung côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặttrong các mối quan hệ giữa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.Với những nội dung cụ thể như sau:

Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn với quan hệ sản xuấtphù hợp

Nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển lực lượng sản xuất, trong việc hoàn thiện quan hệ sảnxuất, ngoài việc thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phầntrên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, Đảng tiếp tục dành sự quan tâmđặc biệt đến quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức quản lý trong việc xác địnhphương hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN và đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế

- Về vấn đề sở hữu, Đảng xác định yêu cầu "Tiếp tục thể chế hóa quanđiểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phầnkinh tế, các loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp củachủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệptrong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loạitài sản mới như sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước quyđịnh rõ quyền, trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với xã hội

- Trong nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Đảng ta tiếptục đề cập vấn đề "Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thịtrường" với các nội dung: phát triển đa dạng, đồng bộ, ngày càng văn minh,

Ngày đăng: 04/08/2023, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.18 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Văn phòng Trung ương Đảng
Năm: 2016
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
5. Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XII, NXB Sự thật - HN, tr. 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
7. Nguyễn Phương Nga - Nguyễn Quý Thanh (đồng chủ biên), Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan: Giáo dục đại học: Một thành tố của chất lượng, Nxb. ĐHQGHN, 2007, tr.66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học: Một thành tố của chất lượng
Tác giả: Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Quý Thanh, Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 2007
8. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, HN, 2011, tr. 188.9. Wikipedia tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013) Khác
10.William Petty (Nhà kinh tế học người Anh) cho rằng: “Lao động là cha, đất đai là mẹ” của mọi của cải vật chất. C.Mác cho rằng: con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w