MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 9 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN HIỆN NAY 9 1 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về[.]
Trang 1MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 9 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN HIỆN NAY 9
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tưbản 91.2 Một số mô hình tiêu biểu của điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tưbản hiện đại 26
Chương 2: ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 36
2.1 Nguyên nhân của điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một
số nước tư bản phát triển 362.2 Quá trình điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước
tư bản phát triển - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra 56
Chương 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI TRONG HAI THẬP NIÊN SẮP TỚI VÀ NHỮNG ĐIỀU CHỈNH MỚI VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI; NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA THẾ GIỚI NÓI CHUNG, CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NÓI RIÊNG 65
3.1 Dự báo tình hình kinh tế thế giới trong hai thập niên tới 653.2 Dự báo những điều chỉnh mới về thể chế kinh tế của chủ nghĩa tư bảnhiện đại 733.3 Những nhận thức và ứng xử của thế giới nói chung, của Việt Nam và cácnước xã hội chủ nghĩa nói riêng 81
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào những năm đầu của thập kỷ thứ hai trong thế kỷ XXI, thếgiới vẫn đang chứng kiến những biến đổi vô cùng nhanh chóng, phức tạp vàkhó lường dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa Cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 chậm được khắc phục, nền kinh tế thếgiới chưa được phục hồi thì nhiều dự báo lại cho thấy, nguy cơ xuất hiện mộtcuộc suy thoái mới, thế giới tiếp tục ảm đạm về kinh tế, những bất ổn về anninh chính trị, nhất là hiện nay khủng hoảng nợ công kéo dài ở Khu vực đồngtiền chung châu Âu (Eurozone) Trong khi đó, ở một số nước xã hội chủnghĩa như Trung Quốc, Việt Nam nền kinh tế vẫn giữ được tốc độ tăngtrưởng khá, an sinh xã hội được đảm bảo và phong trào cánh tả ở Mỹ Latinhđang lớn mạnh, một số nước Mỹ Latinh đã lựa chọn phát triển theo con đườngxây dựng chủ nghĩa xã hội Như vậy, mặc dù chính quyền của nhiều nướctrong hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ trong những năm cuối của thế kỷ XX,song chủ nghĩa xã hội vẫn được nhiều quốc gia lựa chọn và có nhiều sức sốngmới, trong khi đó chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có những điều chỉnh lớn,đặc biệt là điều chỉnh về thể chế kinh tế của nhà nước tư bản, cũng không thểkhắc phục được những mâu thuẫn nội tại cơ bản của nó, tuy nhiên phần nàocũng đã giúp nó xoa dịu được những mâu thuẫn đó và hồi sinh trở lại
Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước bắt nguồn từ sự cần thiết phải phốihợp hoạt động lao động chung và do tính chất xã hội hoá của sản xuất quyđịnh Lực lượng sản xuất càng phát triển, trình độ xã hội hoá của sản xuấtcàng cao thì phạm vi thực hiện vai trò này càng rộng và mức độ đòi hỏi của
nó càng chặt chẽ và nghiêm ngặt Với vai trò to lớn của mình, Nhà nước tưbản có thể kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế nước mình bằng việcđiều chỉnh hệ thống các thể chế kinh tế đã vạch ra Cũng nhờ điều chỉnh thể
Trang 3chế kinh tế kịp thời của nhà nước mà chủ nghĩa tư bản đã vượt qua được nguy
cơ sụp đổ và tạo nên một nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ với trình độ sảnxuất rất cao
Đại hội XII Đảng cộng sản Việt Nam chỉ rõ “Tiếp tục hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và “Để hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải nắm vữngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta và cầnthiết phải học hỏi một cách có chọn lọc các luận thuyết về kinh tế, trong đó cóthể chế kinh tế của các nước phát triển trên thế giới”
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định phương châm “Việt Nam sẵnsàng là bạn với tất cả các nước và tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập
và chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi” Là nước đi sau do những hoàn cảnhlịch sử, chúng ta rất xem trọng học tập và tiếp thu những thành tựu của cácquốc gia đi trước một cách có chọn lọc và vận dụng thích hợp với tình hìnhthực tế của nước ta Vì vậy, trước những luận thuyết về điều chỉnh thể chếkinh tế mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, chúng ta phải thận trọng cân nhắc,biết chọn lọc cái đúng, cái sai, không phủ định hết cũng không học tập mộtcách giáo điều
Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, việc nghiên cứu thểchế kinh tế các nước trên thế giới là cần thiết và bổ ích Tuy nhiên, không cócâu trả lời tuyệt đối về việc lựa chọn theo hình mẫu quốc gia nào” ÔngNguyễn Văn Phúc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng chobiết, trong bối cảnh toàn cầu hóa, thể chế kinh tế các nước ngày càng tiệm cậnvới nhau hơn; bản thân thể chế kinh tế cũng có tính kế thừa, tính đặc thù xãhội và văn hóa Do vậy, việc nghiên cứu các thể chế kinh tế các quốc gia khácchỉ mang tính chất tham khảo, học hỏi kinh nghiệm để từ đó đưa ra lựa chọnchính sách phù hợp cho Việt Nam Theo đó, sáu quốc gia được lựa chọnnghiên cứu là: Mỹ, Nhật Bản, Anh, Thụy Điển, Australia, Đức
Trang 4Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc nghiên cứu thể chếkinh tế của các quốc gia phát triển hiện nay, mà đặc biệt là của các nước tư
bản phát triển Em đã lựa chọn đề tài “Điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triển hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
khoa học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ thực trạng những điều chỉnh về thể chế kinh tế của nhà nước
tư bản ở một số nước tư bản phát triển hiện nay
- Đề xuất những dự báo về tình hình kinh tế thế giới trong hai thập niên
sắp tới và những điều chỉnh mới về thể chế kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiệnđại, để từ đó hình thành những nhận thức và ứng xử cho phù hợp
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để có thể đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả xác định cần phảithực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến điều
chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản và đưa ra một số mô hình tiêu biểucủa điều chỉnh thể chế kinh tế mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại
- Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn cơ bản về điều chỉnh thể chế kinh tế
của nhà nước tư bản, tiến hành khảo sát, thu thập, xử lý thông tin nhằm đánhgiá một cách chính xác nguyên nhân và thực trạng những điều chỉnh về thểchế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triển hiện nay, từ
đó phát hiện những vấn đề đặt ra
- Dựa trên tình hình kinh tế thế giới, nguyên nhân, thực trạng những
điều chỉnh về thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản pháttriển hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với sự điều chỉnh đó Tiến hành luậnchứng để đề xuất những dự báo về tình hình kinh tế trong hai thập niên sắp tới
và những điều chỉnh mới về thể chế kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại
Trang 53 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thể chế kinh tế và điều chỉnh, cải cách thể chế kinh tế của nhà nước làvấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở mỗi quốc gia Vì vậy, đến nay đã cónhiều công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu có bài viết xoay quanh vấn
đề này, tiêu biểu như:
Ở nước ngoài, có nhiều tác giả nghiên cứu nổi tiếng về thể chế kinh tế
và điều chỉnh, cải cách kinh tế của nhà nước như: Thortein Veblen (1994),Schmid (1972), North (1997), Socoloff (2001) gần đây có một số tác giảnước ngoài cũng nghiên cứu về vấn đề này như :
- Nhà nước và kinh tế trong thời kỳ hiện đại hóa của GS.TS.E.Iaxin
(tạp chí “những vấn đề kinh tế” Mát-xcơ-va, số 4, 2006) Trong tác phẩm này
đã trình bày những lý thuyết về vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinhthế thị trường hiện đại và khẳng định nhà nước luôn tồn tại trong kinh tế, trừnhững người theo chủ nghĩ tự do, còn không ai phủ nhận vai trò kinh tế củanhà nước
- Các phương pháp kế hoạch và thị trường: điều kiện kết hợp của
GS.TS.A.Popov (tạp chí “nhà kinh tế”, Mát-xcơ-va, số 10, 2010) Trong đó
đã nêu lên một số vấn đề lý luận về thể chế kinh tế thị trường, thể hiện trongviệc kết hợp kế hoạch với thị trường Theo tác giả thì thể chế kinh tế chỉ raviệc nhà nước điều tiết kinh tế ở một mức độ nào đó để sử dụng hợp lý cácnguồn lực hạn chế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển năng động, cóhiệu quả
Ở Trung Quốc, có các tác phẩm, công trình nghiên cứu như:
- Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa có đặc trưng Trung Quốc
do trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Trung tâm nghiên cứuTrung Quốc biên soạn (NXB Khoa học xã hội, 2010) Trong tác phẩm này cáctác giả đã phân tích quá trình xác lập lý luận thể chế kinh tế thị trường xã hội
chủ nghĩa ở Trung Quốc Đại Hội XIV (tháng 10-1992) của Đảng Cộng sản
Trang 6Trung Quốc đã khẳng định “mục tiêu cải cách thể chế ở Trung Quốc là xâydựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc” và chỉ rõ,phải thực hiện cải cách thể chế kinh tế cũ, xây dựng thể chế kinh tế mới, “làmcho thị trường phát huy tác dụng cơ bản trong phân phối các nguồn lực dưới
sự điều tiết vĩ mô của nhà nước”
Ở Việt Nam, có nhiều tác phẩm nghiên cứu liên quan đến thể chế kinh
tế cũng như điều chỉnh, cải cách thể chế kinh tế của nhà nước như:
- Kinh tế tư bản chủ nghĩa trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại - những biến đổi và cải cách của GS.TS Nguyễn Xuân Thắng - chủ tịch
Viện Khoa Học xã hội Việt Nam (bài tham luận trình bày trong cuộc trao đổi
lý luận lần thứ tư giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Nhật Bản,
tháng 10-2011) Trong bài tham luận, tác giả có trình bày một số vấn đề liên
quan đến điều chỉnh thể chế, chính sách kinh tế của nhà nước tư bản sau cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008-2009, và các
vấn đề đặt ra đối với chủ nghĩa tự do mới
- Sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản hiện đại của Nguyễn Đức
Nam, Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Đại học
Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014 Trong đó nêu lên một số vấn
đề lý luận, thực trạng về điều chỉnh kinh tế nói chung và thể chế kinh tế nóiriêng của nhà nước tư sản hiện đại, từ đó rút ra những kinh nghiệm để ápdụng vào tình hình kinh tế Việt Nam
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên đây vẫn chủ yếu tập trungnghiên cứu về kinh tế và điều chỉnh kinh tế nói chung chứ chưa hẳn tách biệtthể chế kinh tế và điều chỉnh thể chế kinh tế riêng thành một đề tài lớn Ngoài
ra, các công trình tuy đã có nghiên cứu thể chế kinh tế và điều chỉnh thể chếkinh tế nhưng vẫn mang tính chất nghiên cứu đặc thù từng quốc gia khácnhau, chứ chưa tìm ra những điểm chung và khái quát thành chủ đề lớn, trongkhi đó thể chế kinh tế và việc điều chỉnh thể chế kinh tế của nhiều quốc gia
Trang 7trên thế giới có rất nhiều điểm tương đồng, nhất là đối với thể chế kinh tế
và điều chỉnh thể chế kinh tế ở các nước tư bản phát triển hiện nay có rấtnhiều điểm chung cần xem xét Đề tài mà tác giả chọn nghiên cứu là một
đề tài viết về khía cạnh đó, nên nó không trùng lặp với các công trình, bàiviết đã công bố
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp thu và kế thừa các thành quảkhoa học của các công trình đi trước nhằm làm rõ những vấn đề thực tiễnđang đặt ra và tìm ra phương án tối ưu để có thái độ ứng xử tốt nhất đối vớinhững điều chỉnh về thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tưbản phát triển trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Điều chỉnh về thể chế kinh tếcủa nhà nước tư bản
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: Tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến điều
chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triểnhiện nay
- Giới hạn về không gian: Đề tài chỉ giới hạn nội dung nêu trong khuôn
khổ các nước tư bản phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Anh, Thụy Điển,Australia, Đức
- Giới hạn về thời gian: Khảo sát và thu thập thông tin từ năm 2008
Đề tài nghiên cứu dựa trên lý luận của khoa học kinh tế chính trị, căn
cứ vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh xoay
Trang 8quanh vấn đề thể chế kinh tế và điều chỉnh thể chế kinh tế Bên cạnh đó đề tài
có kế thừa, chọn lọc một số đề xuất, số liệu thống kê của một số công trìnhkhoa học có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Đề tài vận dụng phương pháp truyền thống của khoa học kinh tế chínhtrị: sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác, cụ thể như: tổng
hợp - phân tích, đối chiếu, thống kê…
6.Những đóng góp khoa học của đề tài
6.1 Về lí luận:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về điều chỉnh thể chế kinh tế
6.2 Về thực tiễn:
- Giúp cho người đọc thấy được nguyên nhân, thực trạng điều chỉnh thể
chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triên hiện nay
- Đề xuất những mục tiêu cơ bản; dự báo tình hình kinh tế thế giới
trong hai thập kỷ tới, dự báo những điều chỉnh mới về thể chế kinh tế của chủnghĩa tư bản hiện đại dựa trên tình hình kinh tế thế giới, nguyên nhân và thựctrạng điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản hiện nay, từ đó tìm đượcnhững ứng xử phù hợp
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức
năng, các ban, phòng, ngành, đoàn thể hoạch định chính sách, chiến lược; chonhững sinh viên, nghiên cứu sinh đang làm các đề tài có liên quan
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đượckết cấu thành 3 chương:
Trang 9Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về điều chỉnh thể chế kinh tế củanhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triển hiện nay
Chương 2: Điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số
nước tư bản phát triển hiện nay - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra.
Chương 3: Dự báo tình hình kinh tế thế giới trong hai thập niên sắp tới
và những điều chỉnh mới về thể chế kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại;nhận thức và ứng xử của thế giới nói chung, của Việt Nam và các nước xã hộichủ nghĩa nói riêng
Trang 10PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ KINH
TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN PHÁT
TRIỂN HIỆN NAY
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản
1.1.1 Cơ sở lý luận về điều chỉnh thể chế kinh tế ở các nước tư bản
1.1.1.1 Về khái niệm thể chế, thể chế kinh tế, vai trò và các nhân tố tác động đến việc hình thành thể chế kinh tế
- Về thể chế và thể chế kinh tế:
Cho đến nay, quan niệm về thể chế nói chung, thể chế kinh tế nói riêngvẫn đang trong quá trình hoàn thiện Nhận thức chung về các khái niệm trênqua các tư tưởng, học thuyết cũng như luật pháp và chính sách hiện nay có thểtóm tắt như sau:
Thể chế là những luật lệ, quy tắc, bộ máy quản lý và cơ chế vận hành
nhằm điều chỉnh hoạt động của con người
Thể chế kinh tế là hệ thống những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh
các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế.Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ, quy định,quy tắc, về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm; các tổ chức kinh tế; cơchế vận hành nền kinh tế.
- Vai trò của thể chế kinh tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội được
biểu hiện qua các mặt sau đây:
Một là, định hướng, hướng dẫn, tạo khung khổ cho việc tổ chức, hoạt
động của nền kinh tế Là những luật lệ, qui tắc nên vai trò hàng đầu của thểchế kinh tế là định hướng, hướng dẫn hành vi và tạo khung khổ pháp lý cho
Trang 11việc tổ chức hoạt động của nền kinh tế, tác động lớn đến sự lựa chọn và việcquyết định sản xuất cái gì, đầu tư như thế nào vào lĩnh vực nào, ở đâu củacác chủ thể kinh tế Ngoài ra, thể chế có tác dụng hướng dẫn trong mối quan
hệ qua lại của con người để khi làm bất cứ việc gì, mỗi người sẽ biết đượccách thức thực hiện những việc đó như thế nào
Hai là, thể chế kinh tế tạo ra nền tảng kinh tế xã hội của một nền kinh
tế như: chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức sảnxuất kinh doanh của nền kinh tế
Ba là, thể chế kinh tế đóng vai trò chủ thể quản lý kinh tế, và các công
cụ quản lý nền kinh tế Nhà nước với tư cách là một bộ phận của thể chế kinh
tế, trong quá trình tổ chức quản lý vĩ mô nền kinh tế, đóng vai trò chủ thểquản lý kinh tế Hệ thống pháp luật, các công cụ kế hoạch, tài chính, tiền tệtrong nền kinh tế luôn có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra khungkhổ pháp lý, tác động đến điều tiết, định hướng nền kinh tế
Bốn là, thể chế kinh tế hình thành góp phần đồng bộ hoá hệ thống thị
trường, từng bước hoàn thiện và phát triển hệ thống thị trường của nền kinh
tế Hệ thống thị trường đồng bộ bao gồm hai mặt: Thứ nhất, phải có đầy đủcác loại thị trường sản phẩm và thị trường yếu tố hay thị trường đầu vào haythị trường đầu ra. Thứ hai, bảo đảm cho các loại thị trường này phát triển cânđối cả về qui mô, trình độ Tính đồng hộ của hệ thống thị trường có vai trò hếtsức to lớn đối với quá trình phát triển hệ thống thị trường và nền kinh tế Nếuthiếu một trong các loại thị trường thì một mặt, các chủ thể sản xuất kinhdoanh khó có được những cơ hội và điều kiện thuận lợi, bình đẳng trong việctiếp cận và sử dụng các nguồn lực cho sự phát triển; mặt khác, tính đồng hộ,tính ràng buộc và tính cân đối giữa chúng bị vi phạm sẽ cản trở, thậm chí làmphá vỡ các chiến lược kinh doanh đã định
Năm là, thể chế kinh tế góp phần tạo ra những tiền đề điều kiện hạn chế
những khuyết tật của kinh tế thị trường, kinh tế thị trường bên cạnh mặt tích
Trang 12cực là tạo ra cơ chế năng động, sáng tạo và hiệu quả thì cũng thường xuyênxảy ra tiêu cực cần hạn chế như: cạnh tranh và chính phủ, chạy theo lợi nhuận
mà quên đi mục tiêu xã hội, phân hoá giàu nghèo thông qua hệ thống phápluật, hệ thống các chính sách mà tác động điều chỉnh, hạn chế các mặt tiêucực trên đây
- Có nhiều nhân tố tác động tới việc hình thành và phát triển thể chế
kinh tế, trong đó, những nhân tố sau đây có thể được xem là phổ biến:
Một là, phương thức sản xuất là một trong những yếu tố rất quan trọng
làm thay đổi phần lớn các thể chế chính thức, trong đó có thể chế kinh tế.Việc chuyển từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác sẽlàm thay đổi căn bản thể chế nói chung của một thuốc gia, do sự khác biệt cơbản về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, sự thay đổi các quan hệ về
sở hữu, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, sự khác biệt về cơ cấu bộ máy nhànước, sự thay đổi trong địa vị của những người ban hành và cả những ngườithực thi thể chế
Hai là, chế độ sở hữu và cơ cấu quyền tài sản là những yếu tố rất quan
trọng tác động tới thể chế mà trước hết là thể chế kinh tế
Ba là, hệ tư tưởng là nền tảng tinh thần làm thay đổi nhận thức của con
người về thế giới quan, nhân sinh quan Hệ tư tưởng có tác động lớn tới việcgiải thích thế giới xung quanh và các hoạt động kinh tế Chính vì vậy, hệ tưtưởng có tác động rất lớn tới hệ thống thể chế nói chung, thể chế quản lý kinh
tế nói riêng
Bốn là, mô hình kinh tế cũng có tác động mạnh tới thể chế Sự khác biệt
giữa các mô hình kinh tế, chẳng hạn như giữa mô hình kinh tế thị trường với
mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung cũng tạo ra sự khác biệt lớn trong thểchế kinh tế Ngoài ra, sự khác nhau giữa các mô hình kinh tế thị trường (kinh
tế thị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ) cũng tạo ra sự khác biệt lớn trong thể chế kinh tế
Trang 13Năm là, cơ cấu quyền lực chính trị, sự tập trung quyền lực hay phân
quyền sẽ tạo ra sự khác nhau cơ bản dẫn tới khác nhau đáng kể trong cả tổchức nhà nước lẫn thể chế kinh tế
Sáu là, trình độ của chủ thể quản lý vĩ mô thể hiện trình độ nhận thức
các quy luật khách quan, nhận thức về kinh tế - xã hội, con người, nhận thức
về đối tượng điều chỉnh có tác động lớn đến chất lượng của thể chế kinh tế,
vì các thể chế do con người tạo lập ra
Bảy là, các tập tục thông lệ cũng có tác động mạnh tới các thể chế
chính thức của quốc gia, trong đó có thể chế kinh tế…
Trong các nhân tố kể trên, vai trò của nhà nước được xem là quan trọngnhất đối với sự hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế Chính nhân tố nàycũng có vai trò quyết định đối với quá trình điều chỉnh thể chế kinh tế
1.1.1.2 Những lý luận tiêu biểu về điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản
Bảo vệ, củng cố cơ sở kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế là chức năngcủa mọi nhà nước tư bản trong lịch sử Điểm khác nhau trong vai trò kinh tếcủa các nhà nước chỉ ở chỗ: sự tác động của nhà nước vào kinh tế mang ýnghĩa tạo điều kiện bên ngoài (giúp đỡ, hỗ trợ cho các quá trình kinh tế xã hộidiễn ra nhanh chóng hơn) hay trở thành nhân tố bên trong (định hướng, điềuchỉnh sự vận động của các quá trình đó) Hình thành, hoàn thiện và điều chỉnhthể chế kinh tế vừa mang ý nghĩa tạo điều kiện bên ngoài, đồng thời cũng gópphần định hướng, điều tiết sự vận động của các quá trình từ bên trong, chứcnăng này thuộc về nhà nước
Trước đây, do những đòi hỏi chính trị cấp bách cũng như xu hướngtuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp và đấu tranh “ai thắng ai”, nên khi nghiên cứu
những trước tác của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, người ta
chỉ nhấn mạnh nhà nước như “một công cụ bóc lột giai cấp bị thống trị” màxem nhẹ, thậm chí bỏ qua vai trò kinh tế của nhà nước nói chung, của nhà
Trang 14nước tư bản chủ nghĩa nói riêng Nghiên cứu bản chất của các quá trình kinh
tế trong xã hội mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thống trị, các nhà lýluận macxit đã xuất phát từ các mối quan hệ kinh tế cơ bản, bên trong của quátrình sản xuất này để vạch rõ nguyên nhân sâu xa của sự tăng cường vai tròkinh tế và sự chín muồi các chức năng kinh tế của nhà nước tư bản Điển hìnhcho hướng tiếp cận phân tích vai trò kinh tế của nhà nước trong quá trình điềuchỉnh và hoàn thiện thể chế kinh tế, F.Ăngghen đã để lại những tư tưởng quantrọng sau đây:
Thứ nhất, nếu nhà nước sinh ra nhằm thực hiện những chức năng xã
hội chung, thì một trong các chức năng xã hội chung đó - chức năng làm “một
người nhạc trưởng” đứng ra điều hành, phối hợp không phải một khâu, một
quá trình sản xuất đơn lẻ, mà là cả quá trình sản xuất xã hội - phải là chức
năng xã hội chung quan trọng nhất mà nhà nước phải đảm nhận Song sự điềuhành đó của nhà nước sâu hay nông, toàn diện hay bộ phận, gián tiếp hay trựctiếp là tùy thuộc vào nhu cầu của nền sản xuất xã hội Nhu cầu này lại do sựđòi hỏi giải phóng lực lượng sản xuất xã hội đặt ra
Thứ hai, nhà nước sinh ra nhằm thực hiện các chức năng xã hội chung,
nhưng khi tồn tại là một lực lượng chính trị mới, nó không chỉ có được nhữnglợi ích đặc biệt, mà còn có tính độc lập tương đối trong quan hệ với các lựclượng xã hội, con người đã giao phó cho nó
Thứ ba, nhờ có tính độc lập tương đối này mà nhà nước có khả năng tác
động trở lại quá trình sản xuất xã hội Đây không phải là sự tác động mộtchiều mà là sự tác động qua lại, một bên là lực lượng chính trị chủ động, đạidiện cho xã hội và bên kia là các quá trình kinh tế khách quan
Những quan điểm trong lý luận macxit về vai trò của nhà nước trên đây
đã được thực tiễn lịch sử chứng minh một cách thuyết phục Nếu trong giaiđoạn hình thành của chủ nghĩa tư bản, các quan hệ sản xuất phong kiến cònchiếm ưu thế đã kìm hãm sự phát triển của các quan hệ sản xuất tư bản chủ
Trang 15nghĩa và do đó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì nhà nước tưbản mới hình thành với tư cách là một tổ chức quan trọng nhất của kiến trúcthượng tầng giữ vai trò “bà đỡ” tạo điều kiện cho sự ra đời của các quan hệkinh tế tư bản chủ nghĩa Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, lựclượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, quá trình tích tụ và tập trung tư bản đãđạt tới quy mô lớn, tính xã hội hóa của sản xuất đạt đến trình độ cao; trongnền sản xuất diễn ra nhiều quá trình kinh tế xã hội vượt quá tầm tay của cácnhà tư bản, thậm chí của cả giai cấp tư sản, làm cho nền kinh tế lâm vàotrạng thái khủng hoảng, xã hội mất ổn định Trước tình hình đó, nhà nước
tư sản buộc phải điều chỉnh thể chế kinh tế theo hướng can thiệp sâu vào sựvận động của nền kinh tế, khôi phục lại trạng thái cân bằng tương đối, từ
đó ổn định trật tự xã hội
Cũng thừa nhận vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước tư bản là tất yếu,nhưng các nhà kinh tế học tư sản lại chọn các điểm xuất phát khác nhau đểnghiên cứu J.M Keynes căn cứ vào các mối liên hệ kinh tế xã hội nổi lên bềmặt của quá trình sản xuất trực tiếp và ở thị trường, tức “quy luật tâm lý xãhội cơ bản” để bàn về vai trò kinh tế của nhà nước tư bản Trong tác phẩm:
“Lý thuyết chung về việc làm, lợi tức và tiền tệ”, xuất bản năm 1935, J.M.Keynes cho rằng chủ nghĩa tư bản phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì
cơ chế tự điều chỉnh của thị trường không đủ sức dập tắt khủng hoảng kinh tế
và thất nghiệp Tai họa do khủng hoảng và thất nghiệp đổ lên đầu nhữngngười lao động đã thúc đẩy họ nổi dậy lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa Theoông, nguyên nhân đầu tiên của tai họa này là sự vận động của nền kinh tế tưbản chủ nghĩa chịu chi phối của “quy luật tâm lý xã hội cơ bản” Nội dungcủa quy luật này là sự tăng trưởng của nền kinh tế làm cho thu nhập tăng lên,
và cùng với nó là tăng tiêu dùng, nhưng mức tiêu dùng tăng lên không cùngvới mức tăng thu nhập, thường thấp hơn mức tăng thu nhập, do bản chất tiếtkiệm của con người chi phối Ông mô tả bản chất đó qua tám biểu hiện: thận
Trang 16trọng, nhìn xa, tính toán, tham vọng, tự lập, kinh doanh, kiêu hãnh và hà tiện.Đối với các tổ chức kinh tế xã hội, có bốn yếu tố tăng nhu cầu tiết kiệm là:động lực kinh doanh, bảo đảm tiền mặt, cải tiến quản lý, thận trọng tài chính.Nguyên nhân thứ hai dẫn đến tình trạng cầu không đủ là tỷ suất lợi nhuậnthấp hơn tỷ suất lợi tức làm cho các nhà tư bản thích duy trì tư bản của mìnhdưới hình thức tiền tệ Ông gọi hiện tượng này là “sự ưa chuộng thanhkhoản”, tức tư bản sản xuất sẽ chuyển thành tư bản sinh lợi tức, nên việc làm
bị thu hẹp lại Thực tế đó cho thấy, chỉ số tiết kiệm không những chịu ảnhhưởng của mức thu nhập, mà còn của cả mức lợi tức Hai nhân tố này quan hệ
tỷ lệ thuận với mức tiết kiệm và tỷ lệ nghịch với lượng đầu tư tư bản Ông còncho rằng, sự vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa có nhạy cảm rất caođối với mức lợi tức Nền kinh tế sẽ gánh chịu hậu quả ngay nếu mức lợi tứctăng cao, số dư tiết kiệm lớn, đầu tư giảm và số thất nghiệp sẽ tăng lên, gây ranguy cơ bất ổn cho xã hội Muốn cho xã hội ổn định, nhà nước phải can thiệpvào nền kinh tế, làm cho nó vận động nhịp nhàng và tăng trưởng theo chiềuhướng lành mạnh Sự can thiệp này phải tác động vào các nhân tố kích thíchtổng cầu đầy đủ
Hai hướng tiếp cận với lý luận điều chỉnh thể chế kinh tế của các nhàmacxit (F.Ăngghen là đại diện) và của các lý luận gia tư sản (J.M Keynes đạidiện), ta thấy cách tiếp cận thứ nhất sẽ đi tới việc vạch rõ bản chất của điềuchỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản chủ nghĩa, chỉ rõ các quy luật kinh
tế tư bản chủ nghĩa quy định khả năng và giới hạn của điều chỉnh kinh tế bằngnhà nước Còn cách tiếp cận thứ hai, lại đi tới việc vạch rõ cơ chế điều chỉnhthể chế kinh tế và mô hình điều chỉnh hiệu quả mà nhà nước tư bản sử dụngtrong các hoạt động kinh tế của mình Qua logic phân tích của ông, ta thấyông lấy xuất phát điểm cho hệ thống lý luận của mình từ việc phân tích “quyluật tâm lý xã hội cơ bản”, trên thực tế, đó là cách tiếp cận đến những vấn đềthen chốt của hệ thống điều chỉnh kinh tế, là sự vận động của tổng sản phẩm
Trang 17xã hội dưới hình thức tiền tệ và ảnh hưởng của nhà nước tư bản đến quá trìnhvận động này thông qua hệ thống tài chính, tín dụng Đó không phải là hiệntượng bề ngoài của quá trình tái sản xuất xã hội, mà là mối quan hệ qua lạicủa kinh tế vĩ mô, của cơ chế kinh tế, thiếu nó không một chính sách kinh tế,
xã hội nào của nhà nước có được cơ sở hiện thực Chính trên cơ sở các mốiliên hệ này J.M Keynes xây dựng được mô hình điều chỉnh kinh tế thông quacấu trúc của hệ thống các chính sách dựa trên hai trụ cột cơ bản là chính sáchtài chính và tiền tệ Các mô hình điều chỉnh kinh tế lý thuyết của ông, tuy cóbiến tướng về cấu trúc và tên gọi, song các chất liệu hình thành nên nó đềudựa trên các quan hệ kinh tế vĩ mô, mà Keynes đã khái quát hóa
1.1.2 Cơ sở thực tiễn về điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản hiện đại
1.1.2.1 Nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đầy mâu thuẫn và nguy
cơ, nhà nước tư bản điều chỉnh thể chế kinh tế trong thế bị động, chống đỡ.
Trong hơn nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản ngoài việc đẩy nhândân lao động vào cảnh khốn quẫn, thê thảm lâu dài ra, còn gây nên đại họanghiêm trọng chưa từng có cho loài người vì đã xảy ra cuộc đại khủng hoảng
kinh tế thế giới (1929 - 1933) và hai cuộc chiến tranh thế giới Chủ nghĩa tư
bản vì thế mà không còn uy tín Hơn nữa, sau chiến tranh thế giới thứ hai, mộtloạt nước dân chủ nhân dân đã lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, làm chochủ nghĩa xã hội thế giới từ một nước (Liên Xô) phát triển thành nhiều nước
từ châu Âu đến châu Á Ngoài ra, phong trào công nhân ở các nước tư bảnchủ nghĩa cũng lên rất cao, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ
ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh kéo dài mãi cho đến những năm
1960, cuối cùng đã phá tan hệ thống thực dân của chủ nghĩa đế quốc Trongbối cảnh không mấy thuận lợi, với đầy mâu thuẫn và nguy cơ, các nhà nước
tư bản đã thực hiện điều chỉnh thể chế kinh tế trong thế bị động, chống đỡ
Trang 18và đã chèo lái “chuyển nguy thành an”, tìm ra “bí quyết sống lại từ conđường cùng”
Chúng ta đều biết, trong thời gian khoảng 50 năm, từ chuyển giao thế
kỷ XIX sang thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thuộc giaiđoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản Dưới tác động thúc đẩy của cách mạngkhoa học kỹ thuật lần thứ hai vào cuối thế kỷ XIX, sự phát triển của lực lượngsản xuất tư bản chủ nghĩa được xã hội hóa thêm một bước, quy mô các xínghiệp mở rộng hơn, đã xuất hiện hình thức tổ chức công ty công nghiệp hiệnđại và làn sóng thôn tính xí nghiệp trên phạm vi rộng, đã hợp thành nhiều tổchức độc quyền kiểu tờ rớt (trust) Các tổ chức độc quyền giành giật thịtrường thế giới dẫn đến tranh giành các thuộc địa Xuất khẩu tư bản, đặc biệt
là xuất khẩu tư bản sang các nước thuộc địa phụ thuộc bắt đầu có ý nghĩaquan trọng Cho tới mùa hè năm 1929, Mỹ vẫn là một đất nước thanh bình.Tháng 9 năm đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ còn đảm bảo với công chúng rằng:
“Hiện nay chúng ta không có lý do gì phải lo lắng cả, cao trào phồn vinh này
sẽ tiếp tục” Thế nhưng, chỉ một tháng sau, cuộc đại khủng hoảng bắt đầu.Ngày 24 tháng 10, thị trường cổ phiếu New York xuất hiện làn sóng bán cổ
phiếu Bình thường, số lượng cổ phiếu bán ra hàng ngày khoảng 2 - 3 triệu,
riêng ngày 24 đã bán ra 12,8 triệu cổ phiếu với giá giảm xuống tới 40% vàkéo dài trong vòng một tháng, sau đó giảm liên tục trong 3 năm liền Từ năm
1929 đến năm 1932, giá cổ phiếu bình quân của 55 sở giao dịch ở NewYork từ 252 USD giảm xuống còn 61 USD Cũng trong thời gian đó, chỉriêng Mỹ đã có tới 500 ngân hàng đổ bể Khủng hoảng đã ảnh hưởng đếncác ngành kinh tế khác Năm 1932, ngành công nghiệp gang thép của Mỹchỉ vận hành với 12% năng lực sản xuất; đến năm 1933, tổng giá trị sảnphẩm công nghiệp và thu nhập quốc dân đã giảm gần một nửa, thương mạihàng hóa giảm xuống hơn 2/3
Trang 19Khủng hoảng kinh tế nhanh chóng lan rộng tới Đức và Áo do phụ thuộcnặng nề vào đầu tư của Mỹ Do các công ty tài chính Mỹ đồng loạt rút cáckhoản vay ngắn hạn của họ ở nước ngoài về, tháng 5 năm 1931, ngân hàngViên nắm hơn 2/3 số nợ của Áo đã tuyên bố phá sản do không còn khả năngthanh toán Ngày 13 tháng 7 năm đó, một trong bốn ngân hàng lớn của Đức làNgân hàng nhà nước tuyên bố phá sản, Sở giao dịch chứng khoán Béclinđóng cửa, tình hình tài chính của Đức xấu đi nhanh chóng Khủng hoảng cũng
đã nhanh chóng lan tới Anh vốn phụ thuộc vào ngoại thương, lan tới nam Mỹ
và các nước châu Đại dương vốn dựa vào xuất khẩu nông sản và ngoạithương… So với các cuộc khủng hoảng trước đây, độ suy giảm lớn của sảnxuất, độ rộng của phạm vi lan tỏa, độ cao của tỷ lệ thất nghiệp của cuộckhủng hoảng lần này đều là chưa từng thấy Nó làm cho các mâu thuẫn vốn
có của chủ nghĩa tư bản bộc lộ ra hết, là lời tuyên cáo đầy thuyết phục cho thểchế kinh tế cũ đã bước vào ngõ cụt, không thể không thay đổi Trong lịch sửchủ nghĩa tư bản, khủng hoảng chu kỳ chưa bao giờ gián đoạn, nhưng lầnkhủng hoảng nghiêm trọng này đã cho thấy lý luận tự điều tiết của kinh tế họctruyền thống của giai cấp tư sản đã mất hiệu lực, cần phải tìm lối thoát mới
Trong bối cảnh khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa tư bản cả về thựctiễn và lý luận đó, thật “may mắn” thay, trên thế giới lúc đó, thể chế kinh tế
kế hoạch xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô vừa mới xây dựng về khách quan đãcung cấp mô hình tham chiếu cho chủ nghĩa tư bản, giúp cho chủ nghĩa tư bản
có được thuật trì hoãn sự suy yếu từ thể chế kinh tế mới này Đúng vậy, trướckhi cuộc đại khủng hoảng kinh tế nổ ra, Liên Xô xã hội chủ nghĩa sau khiChính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin “đã hoàn thành sứ mạng lịch sử”,Stalin đã áp dụng một mô hình kinh tế mới, mô hình kế hoạch hóa tập trungvới sự can thiệp sâu rộng và mạnh mẽ của nhà nước Trong một thời gianngắn, thể chế này đã huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, khôi phục vàphát triển kinh tế, tạo ra tiền đề quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa xã
Trang 20hội chủ nghĩa Năm 1928, Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứnhất với nhiều thành tựu hết sức ấn tượng, khiến cả thế giới phải nể phục.Thực tế đó lập tức khiến các nhà kinh tế học phương Tây đặc biệt chú ý Chủtịch Hiệp hội kinh tế Mỹ, nhà kinh tế học theo trường phái cổ điển mới Fred
Manvill Taylor (1855 - 1932) sau chuyến đi “thực tế” bí mật sang Liên Xô về
nước đã đăng bài tạp chí quan trọng “Chỉ dẫn sản xuất nhà nước xã hội chủnghĩa”, lần đầu tiên đưa ra khái niệm mới “kế hoạch có tính chỉ đạo”, nhấnmạnh rằng, nếu các nước tư bản chủ nghĩa áp dụng “kế hoạch có tính chỉ đạo”
để tiến hành điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế thị trường thì sẽ rất có lợi.Năm 1932, toàn bộ nền kinh tế Mỹ đứng trước sự tan rã, Tổng thống đươngnhiệm Herbert Hoover hết nhiệm kỳ cũng vào năm này rõ ràng không có cơmay tái cử Đảng Dân chủ đưa F Roosevelt ra ứng cử Tổng thống Trong vậnđộng tranh cử, Roosevelt đã đưa ra lời hứa với cử tri Mỹ rằng, nếu ông trúng
cử, nhất định sẽ thực hiện “chính sách mới” để kết thúc tình trạng nền kinh tếđại suy thoái Kết quả, ông Roosevlt đã trúng cử Tổng thống với đa số phiếu
áp đảo Chính phủ Roosevelt tiến hành điều tiết có kế hoạch, làm cho nềnkinh tế ngoài “bàn tay vô hình” của thị trường còn có thêm một “bàn tay hữuhình” là sự can thiệp của nhà nước Chính phủ sử dụng biện pháp tài chính đểkích thích kinh tế phát triển thông qua việc mở rộng đầu tư, xây dựng bệnhviện, trường học, thư viện, kết cấu hạ tầng với quy mô lớn như đường cao tốc,đập chống lũ và các công trình công cộng khác Kết quả, kinh tế Mỹ nhanhchóng được phục hồi Không chỉ ở Mỹ, các nước tư bản chủ nghĩa khác nhưĐức, Anh cũng lần lượt áp dụng các biện pháp tương tự Năm 1936, J.M
Keynes (1883 - 1946) công bố tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi
suất và tiền tệ” đã tổng kết kinh nghiệm chống khủng hoảng của các nước tư
bản chủ nghĩa, đưa ra lý luận về sự cần thiết phải tăng cường sự can thiệp vàđiều tiết của nhà nước nhưng không đụng chạm đến chế độ sở hữu tư bản chủnghĩa, trên cơ sở kiên trì cơ chế kinh tế thị trường Sau chiến tranh thế giới
Trang 21thứ hai, các cách làm như sự can thiệp của nhà nước, điều tiết kế hoạch đượccác nước tư bản chủ nghĩa áp dụng phổ biến, đánh dấu việc các nước tư bảnchủ nghĩa đều đã bước vào giai đoạn mới, giai đoạn chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển sang chủ nghĩa
tư bản độc quyền nhà nước là sản phẩm của cuộc đại khủng hoảng, là sự phảnánh, sự tham khảo thể chế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, dưới ánhsáng học thuyết kinh tế Keynes
1.1.2.2 Gần ¼ thế kỷ tiếp theo - nhờ có thể chế kinh tế mới, các nước
tư bản bước vào thời kỳ tăng trưởng nhanh.
Với thể chế mới, trong một khung khổ mới, các nước tư bản trong thời
kỳ này đã “sống lại từ con đường cùng” Gọi là chủ nghĩa tư bản độc quyềnnhà nước chủ yếu không thể hiện ở chỗ nhà nước độc quyền hoặc chiếm hữutrực tiếp bao nhiêu tư liệu sản xuất và xí nghiệp, kinh tế quốc doanh chiếm tỷtrọng bao nhiêu, mà chủ yếu thể hiện ở sự kết hợp giữa độc quyền tư bản vàchính quyền nhà nước, nhà nước làm “nhà tư bản chung”, tiến hành điều tiết
và can thiệp một cách toàn diện đối với các mặt như chính trị, kinh tế, xã hội,văn hóa của nhà nước Chuyển biến này khiến cho chủ nghĩa tư bản có nhữngbiến chuyển lớn
Trước hết, sự kết hợp này đã mở rộng chức năng quản lý xã hội của nhànước, khiến cho chính phủ có được vị thế “trọng tài” siêu giai cấp, có lợi cho
sự ổn định xã hội tư bản chủ nghĩa Nhà nước kể từ khi ra đời đã có hai loạichức năng, một là chức năng áp bức giai cấp, hai là chức năng quản lý xã hội
Để hoàn thành chức năng áp bức giai cấp hay còn gọi là cai trị chính trị, nhànước cần thể chế để tổ chức thành lực lượng đứng trên xã hội, chịu tráchnhiệm giữ cho xung đột giữa các tập đoàn lợi ích trong phạm vi có trật tự.Ăngghen đã có lần phân tích: thống trị chính trị của nhà nước đều là lấy thựchiện một chức năng xã hội nào đó làm cơ sở, hơn nữa thống trị chính trị chỉ
có thể đứng vững được khi nó đã thực hiện chức năng xã hội nào đó Trong
Trang 22các giai đoạn trước đây của chủ nghĩa tư bản, kể cả giai đoạn tự do cạnh tranh
là giai đoạn chủ nghĩa tư bản đã phát triển, nhà nước chỉ giới hạn ở chức năngbảo vệ các điều kiện bên ngoài chung của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa, không can thiệp vào kinh tế, đóng vai trò “người gác cổng”, canh gáctài sản cho các nhà tư bản Đến giai đoạn này, giai đoạn tư bản độc quyền nhànước, nhà nước tiến hành can thiệp điều tiết đối với các mặt kinh tế, xã hội…làm cho chức năng quản lý xã hội của nó được mở rộng chưa từng có; đồngthời, nhờ vào chế độ và biện pháp, chính sách tương ứng, làm cho một bộphận khá lớn lợi nhuận tách khỏi sự chiếm hữu trực tiếp của nhà tư bản độcquyền, tạo điều kiện vật chất để chính phủ dùng vào xây dựng hệ thống bảohiểm xã hội và hoàn thành chức năng quản lý xã hội của nó Do đó, nhà nước
có điều kiện thông qua các phương thức để thực hiện an sinh xã hội, góp phầnlàm dịu đi mâu thuẫn xã hội của chủ nghĩa tư bản, có lợi cho việc duy trì thếcân bằng xã hội tương đối
Tiếp đến, việc phát huy chức năng can thiệp và điều tiết của nhà nướclàm cho các mặt của chủ nghĩa tư bản hiện đại có sự thay đổi rất lớn Trongkinh tế, do sự can thiệp của nhà nước mà ngoài “bàn tay vô hình” của thịtrường, còn có thêm “bàn tay hữu hình” là sự can thiệp của nhà nước, từ đólàm cho chủ nghĩa tư bản trở thành không phải là không kế hoạch, vô chínhphủ, trong một mức độ nào đó đã làm dịu đi mâu thuẫn cơ bản giữa sản xuất
xã hội hóa và chiếm hữu tư nhân tư bản Trong lĩnh vực phân phối, thông quaviệc xây dựng chế độ thu thuế, chế độ phúc lợi và hệ thống bảo hiểm xã hội,trong một chừng mực nhất định đã điều tiết phân phối thu nhập, tuy khôngxóa bỏ được phân hóa hai cực giàu nghèo về căn bản, từ đó làm dịu đi mâuthuẫn giai cấp của xã hội Trong lĩnh vực chính trị, thông qua phát triển thểchế dân chủ tư sản, làm cho những bất đồng xã hội lúc bình thường cũngđược bộc lộ, không dẫn đến việc tích tụ thành đại bùng nổ thành mâu thuẫn,trên thực tế đã có tác dụng như “van giảm áp” chính trị Những điều chỉnh
Trang 23mới về thể chế này của chủ nghĩa tư bản đều có lợi cho ổn định chính trị vàgiúp kéo dài thêm “tuổi thọ” của chủ nghĩa tư bản.
Tóm lại, khác với giai đoạn trước đó, chủ nghĩa tư bản giai đoạn này là
chủ nghĩa tư bản có lực lượng sản xuất phát triển chưa từng có, quan hệ sảnxuất có sự điều chỉnh quan trọng, dân chủ và pháp chế giai cấp tư sản tươngđối kiện toàn, cơ chế vận hành xã hội tương đối hoàn thiện, kinh nghiệm vàphương pháp quản lý hướng tới chín muồi, những đặc điểm này đã khiến chochủ nghĩa tư bản “sống lại từ con đường cùng”, nhờ tìm ra được con đường
kéo dài “tuổi thọ” của mình - nhờ nhà nước tư bản điều chỉnh thể chế kinh tế.
1.1.2.3 ¼ cuối cùng của thế kỷ XX đến nay, cùng với điều chỉnh thể chế kinh tế bên trong, chủ nghĩa tư bản thực hiện “diễn biến hòa bình”.
Sau thời “hoàng kim”, tăng trưởng liên tục với tốc độ cao ở hầu hết cácnước tư bản phát triển, trong đó Nhật Bản nổi lên như một hiện tượng “thầnkỳ”, các nước tư bản bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn biến đổi thể chếkinh tế để thích nghi với nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa Sự hình thànhkinh tế tri thức cùng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã tạo nên những tháchthức to lớn đối với chủ nghĩa tư bản vốn đi lên từ nền kinh tế công nghiệp cổđiển Các ông chủ tư bản cố tìm đủ mọi cách để thích nghi với cái mới, nhưngvới một nguyên lý bất di bất dịch là: lợi nhuận phải được bảo đảm và tăng caohơn trước, tích lũy tư bản không có giới hạn và mọi sự rủi ro, bất hạnh đều trútlên đầu những người lao động Các ngành sản xuất “vàng son” một thời ởnhững thập niên 80, 90 của thế kỷ XX như: sắt thép, ô tô…, nay đều lỗ nặng.Các ông chủ phải thu hẹp quy mô sản xuất, hoặc đóng cửa, phá sản và sa thảihàng loạt công nhân Kinh tế tư bản lại rơi vào trì trệ ở cả ba trung tâm tư bản
lớn là Mỹ, châu Âu và Nhật Bản… Trong bối cảnh ấy, Chủ nghĩa tự do mới
(néo-liberalism) mà cha đẻ của học thuyết này là F Hayek với nội dung là
hướng tới một nền kinh tế toàn cầu hóa, với thị trường tự do, thương mại điện
tử, thương mại tự do, không hạn chế, nguồn vốn đầu tư tự do lưu chuyển xuyên
Trang 24biên giới Mục tiêu của nó là bằng các biện pháp như trên, chủ nghĩa tư bản
sẽ khai thác một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực như lao động giá rẻ,nguyên liệu thô và các thị trường tiêu thụ của toàn thế giới, nhất là của cácđang phát triển
Để thích ứng với điều kiện mới, nhà nước tư bản ở các nước tư bảnphát triển đã không ngừng hoàn thiện và đặc biệt là điều chỉnh thể chế kinh tếnhằm sử dụng bộ máy điều hành là các thể chế tài chính như: Quỹ Tiền tệquốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Thương mại quốc tế(GATTT trước đây, nay là WTO) để tiếp tục duy trì sự bóc lột toàn thế giới
Để đạt mục tiêu trên, các nhà nước tư bản của các nước tư bản phát triển đẩymạnh một cao trào tư nhân hóa và thương mại hóa các nguồn lợi công và dịch
vụ công như nước sạch sinh hoạt, năng lương phục vụ dân cư, các hoạt độngtrong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và chăm sóc sức khỏe…, tất cả vì mục tiêulợi nhuận
Kể từ những năm 1980 đến năm 2008, nhà nước ở các nước tư bản chủnghĩa đã áp dụng một cách phổ biến các bước đi thực tế của sự điều chỉnh thểchế kinh tế do đó đã tạo nên những chuyển biến lớn Điều chỉnh thể chế kinh
tế nói chung tập trung vào hai mặt: một là, giảm bớt sự can thiệp của nhà nước đối với nền kinh tế; hai là, điều chỉnh và cải cách chế độ bảo hiểm phúc
lợi xã hội Tại sao cần phải tiến hành điều chỉnh thể chế kinh tế ? Bởi vì,trong tình hình mới, thể chế hay mô hình vốn có của chủ nghĩa tư bản đangđứng trước nhiều vấn đề, không thể không điều chỉnh, cải cách Đó là vì:
Một mặt, các doanh nghiệp nhà nước của các nước tư bản thua lỗ lâu
dài, trở thành gánh nặng tài chính của nhà nước Sau chiến tranh, các nước tưbản phương Tây đã triển khai phong trào quốc hữu hóa một số ngành kinh tếquan trọng, thành phần kinh tế nhà nước chiếm khoảng 10% ở các nước như:Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan, riêng Áo chiếm cao nhất tới 15%, Mỹ thấp nhất(ngoài bưu chính độc quyền ra, chỉ trong ngành điện lực và đường sắt chiếm
Trang 2525%), ở Cộng hòa Liên bang Đức và Nhật Bản chỉ chiếm tỷ lệ trung bình.Thế nhưng, do nhiều nguyên nhân như các doanh nghiệp nhà nước cần bảođảm một số lượng tương đối công nhân viên làm việc, lại cần phải cung cấpdịch vụ giá rẻ cho doanh nghiệp tư nhân, lãnh đạo doanh nghiệp do nhànước cử xuống không có mấy trách nhiệm, không giỏi kinh doanh, chínhphủ can thiệp quá nhiều, nên doanh nghiệp nhà nước thua lỗ lâu dài, cầnchính phủ trợ cấp, tăng thêm gánh nặng tài chính của nhà nước Vì vậy, bắtđầu từ những năm 1980, các nước tư bản phương Tây dấy lên phong trào tưhữu hóa doanh nghiệp nhà nước Chẳng hạn, chính phủ của Thatcher ở Anhbắt đầu thực hiện tư hữu hóa doanh nghiệp nhà nước (còn gọi là tư nhânhóa), về sau chính phủ các nước khác cũng làm theo, khiến cho phong trào
tư hữu hóa kéo dài suốt 20 năm
Mặt khác, hệ thống phúc lợi và bảo hiểm xã hội quá cao dẫn đến các
nước tư bản (chủ yếu là các nước châu Âu, đặc biệt là các nước Bắc Âu) đãlâm vào cảnh khó có thể tiếp tục sau khi kinh tế giảm tốc và đình trệ Theothống kê của các chuyên gia, các nước phúc lợi cao như Bắc Âu chỉ có thểthực hiện được việc làm đầy đủ khi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức4,5%, và như thế chiếc “bánh ga tô” xã hội mới đủ lớn, nếu không sẽ khó cóthể duy trì tiếp tục được Về sau, khi tăng trưởng kinh tế không đạt được yêucầu này, đã xuất hiện “khủng hoảng ở các nước phúc lợi” Đồng thời, do cácnước phúc lợi “chi phí vận hành rất cao”, khiến sức cạnh tranh quốc tế củasản phẩm của họ yếu đi, khó có thể thích ứng được với xu thế phát triển củatoàn cầu hóa kinh tế Lấy Cộng hòa Liên bang Đức làm ví dụ, doanh nghiệptrả lương cho công nhân 100 mac, thì cần phải trả thêm 80 mac chi phí phúclợi cho nhân viên Tính theo giá thành lao động một giờ của mỗi công nhân, ởĐức là 43 mac, Nhật Bản là 38 mac, còn Mỹ chỉ có 20 mac Phúc lợi cao,lương cao, trợ cấp cao, kỳ nghỉ dài, những điều trước đây là ưu việt, là niềm
tự hào của của một số nước tư bản phát triển giờ đây đã trở thành gánh nặng
Trang 26làm suy yếu nghiêm trọng năng lực cạnh tranh thị trường của sản phẩm.Ngoài ra, ảnh hưởng mặt trái do phúc lợi cao sinh ra làm cho các nước châu
Âu xuất hiện “căn bệnh phúc lợi” ở các mức độ khác nhau, tức là chế độ phúclợi “nồi cơm lớn” dẫn đến tính tích cực sản xuất của người lao động khôngcao, năng suất lao động giảm sút Một số nước còn sản sinh ra một thế hệnhững người lười biếng, không có chí tiến thủ
Kể từ những năm 1980, đặc biệt là những năm 1990 đến nay, một sốhọc giả phương Tây nhấn mạnh “chế độ nhà nước phúc lợi đã đi quá đà”, cầnphải tiến hành điều chỉnh Chi phí phúc lợi xã hội của Hà Lan chiếm 1/3 tổnggiá trị sản phẩm trong nước hay 43% khoản chi ngân sách nhà nước, do dựavào thu thuế cao để duy trì phúc lợi cao, hơn một nửa số thu nhập của một sốdoanh nghiệp phải nộp cho nhà nước, buộc phải chuyển dịch vốn hoặc doanhnghiệp ra nước ngoài Năm 1990, sản xuất của Thụy Điển giảm 5%, thấtnghiệp lên tới 7%, còn 40% công nhân được nhà nước thuê mỗi năm vẫn có
kỳ nghỉ dài 27 ngày, lương nghỉ ốm bằng hơn 90% lương bình thường, trừtiền nghỉ việc vì bất cứ lý do nào cũng không nhiều, khiến tỷ lệ nghỉ làmthường xuyên lên tới 25% Tỷ lệ thu thuế đối với lớp người có thu nhập caonhất của chính phủ lên tới 84%, dẫn đến nhiều người rút tiền ra sống ở nướcngoài Một giáo sư kinh tế học của Thụy Điển nói, cứ tiếp tục đà này, ThụyĐiển sẽ trở thành một nước “tư bản chủ nghĩa không có vốn”
Điều chỉnh và chuyển biến của thể chế kinh tế các nước tư bản chủnghĩa một mặt là bị ép bởi áp lực của tình hình, mặt khác cũng tồn tại điềukiện có lợi và rủi ro nhất định Áp lực chủ yếu xuất phát từ sự phát triểnnhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới, xuất phát từ tácđộng của làn sóng toàn cầu hóa kinh tế, điều này đem lại thách thức nghiêmtrọng cho thể chế kinh tế hay mô hình hiện có của chủ nghĩa tư bản, đòi hỏi
nó cần phải cải cách, nhằm nâng cao sức cạnh tranh quốc tế Điều kiện có lợichủ yếu sau sự kiện Đông Âu, Liên Xô giải thể, chủ nghĩa xã hội và phong
Trang 27trào công nhân thoái trào đã tạo môi trường quốc tế và trong nước khá tốt chođiều chỉnh và cải cách thể chế kinh tế của nhà nước tư bản
1.2 Một số mô hình tiêu biểu của điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản hiện đại
1.2.1 Mô hình tổng quát của chủ nghĩa tư bản hiện đại do nhà nước
tư bản điều chỉnh thể chế kinh tế
Chủ nghĩa tư bản có thể sống lại từ con đường cùng, xét về mặt chỉnhthể, là vì sau cuộc đại khủng hoảng trong những năm 1930, chủ nghĩa tư bản
đã từ độc quyền tư nhân phát triển sang giai đoạn mới độc quyền nhà nước, ápdụng thuật trì hoãn sự già yếu bằng cách nhà nước can thiệp Nếu như tronglịch sử giai cấp tư sản dựa vào chính quyền nhà nước để xác định địa vị thốngtrị của mình, thì ngày nay nó lại dựa vào chính quyền nhà nước để trì hoãn sựgià yếu, duy trì sự thống trị của mình Nếu phân tích sâu hơn nguyên nhân cụthể của việc nó sống lại từ đường cùng thì cần phải nói rằng, đó là nhờ vào cảicách thể chế kinh tế để làm dịu đi khủng hoảng chế độ Nguyên nhân căn bảncủa khủng hoảng tư bản chủ nghĩa là ở chỗ cặp mâu thuẫn cơ bản giữa xã hộihóa sản xuất và sở hữu tư nhân tư bản Nhưng sự không hoàn thiện, khôngchín muồi của thể chế kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng thường là nguyên nhântrực tiếp dẫn đến khủng hoảng Hơn nửa thế kỷ trở lại đây, thông qua cảicách, điều chỉnh thể chế kinh tế, nhà nước tư bản ở một số nước tư bản pháttriển đã làm dịu đi khủng hoảng chế độ của chủ nghĩa tư bản ở một mức độnhất định
Kể từ khi chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa được xác lập đến nay, trừ phixảy ra cách mạng, chế độ cơ bản này chưa bao giờ có sự thay đổi Cải cách,điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản được tiến hành dưới tiền đềkiên trì chế độ cơ bản tư bản chủ nghĩa không thay đổi Chế độ cơ bản của
chủ nghĩa tư bản chủ yếu bao gồm: một là, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa
Trang 28của nền tảng kinh tế; hai là, sự thống trị chính trị tư bản chủ nghĩa kiến trúc
thượng tầng Nhưng thể thế kinh tế và cơ chế vận hành lại không ngừng thayđổi và phát triển Nhà nước tư bản đã không ngừng tiến hành cải cách, biếnđổi về thể chế, nhờ đó mà chủ nghĩa tư bản có được bộ mặt như ngày hômnay với những đặc trưng tổng quát sau đây:
Một là, chủ nghĩa tư bản ngày nay đã phát triển đến giai đoạn mới của
chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp chặt chẽ giữa tư bản độcquyền với chính quyền nhà nước Đó là chủ nghĩa tư bản mà lực lượng sảnxuất phát triển chưa từng có, quan hệ sản xuất có sự điều chỉnh quan trọng,dân chủ tư sản và pháp chế tương đối kiện toàn, cơ chế vận hành xã hội tươngđối tương đối hoàn thiện, kinh nghiệm và phương pháp quản lý ngày càngthuần thục
Hai là, sự xác lập và hoàn thiện hệ thống bảo đảm của xã hội tư bản
chủ nghĩa ngày nay có tác dụng quan trọng phát triển một cách hòa bình, ổnđịnh trong một thời gian tương đối dài
Ba là, mâu thuẫn căn bản của chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại, nhưng cơ
cấu giai cấp và quan hệ giai cấp đã có thay đổi quan trọng Mâu thuẫn chủ
-thợ ngày càng có xu hướng dịu đi, trong thách thức của các loại khủng hoảngphức tạp, xã hội xuất hiện xu hướng ổn định tương đối
Nói tóm lại, nhờ cải cách và điều chỉnh nhiều mặt, trong đó trọng tâm
là thể chế kinh tế mà chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước đã gần với chủnghĩa xã hội hơn, như Lênin đã có lần quả quyết: “Chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, làgiai đoạn trước của chủ nghĩa xã hội” Xem ra, hai chế độ này ở những mặtnào đó có xu hướng gần, nhưng không hoàn toàn là xu hướng giống nhau.Không có biến đổi có tính cách mạng thì chủ nghĩa tư bản không thể chuyển
Trang 29hóa thành chủ nghĩa xã hội được, nhưng phương thức không dứt khoát phảichỉ là bạo lực.
1.2.2 Một số mô hình tiêu biểu
1.2.2.1 Mô hình Mỹ
Nền kinh tế Mỹ được nhiều người gọi là nền kinh tế thị trường tự dokhông phải là nền kinh tế thị trường tự do thuần túy, mà chỉ là nhằm nhấnmạnh đặc điểm nổi bật của nó so với những nền kinh tế thị trường khác Đóchính là tôn sùng chủ nghĩa cá nhân và cạnh tranh thị trường; chính phủ quản
lý rất lỏng đối với các doanh nghiệp tư nhân, về cơ bản là không có sự quảnthúc, các nhà doanh nghiệp hoàn toàn có thể hành động theo ý chí của mình;chính phủ không nặng về sở hữu trực tiếp tư liệu sản xuất, doanh nghiệp nhànước hết sức nhỏ; vai trò của chính phủ chủ yếu là tạo điều kiện phát triển chodoanh nghiệp tư nhân, vận dụng chính sách tài chính tiền tệ và các biện phápkinh tế khác để tiến hành can thiệp và điều tiết vĩ mô; coi trọng ngân hàng vàthị trường cổ phiếu, chứng khoán, công ty chứng khoán rất phát triển; đề xướngtiêu dùng, chú trọng tiêu dùng kéo theo sản xuất, lãi suất tiết kiệm thấp Từ
cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đến nay, chính phủ Mỹ không thể
không lấy học thuyết Keynes làm tư tưởng chỉ đạo, đưa vào vận hành kinh tếvới quy mô lớn, nhưng truyền thống tự do của Mỹ có ảnh hưởng rất lớn đến thểchế kinh tế cũng như quá trình điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước Bởi
Mỹ là một xứ sở có đất đai rộng lớn, chưa được khai phá, giàu tài nguyên, làđất nước di dân của châu Âu, đến đâu cũng đầy cơ hội thành đạt, có truyềnthống tự do, tôn trọng cá nhân… Trong nửa thế kỷ gần đây, thể chế kinh tế củaHoa Kỳ có 4 đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, kế hoạch mang tính chỉ đạo từ trên cao đối với nền kinh tế
quốc dân khác với các nước Pháp, Nhật Bản Nguyên nhân: do điều kiện tự
Trang 30nhiên, truyền thống, tập quán tự do và đặc biệt, ở Mỹ lợi ích của các tập đoànkinh tế tư bản độc quyền đặc biệt to lớn Họ không chấp nhận lợi ích cục bộphục tùng lợi ích quốc gia.
Thứ hai, phương thức cơ bản điều tiết kinh tế vĩ mô ở Mỹ là thông qua
cán cân tín dụng tài chính để thực hiện kích thích hoặc hạn chế đối với kinh
tế Đặc điểm của phương thức này là không thâm nhập vào lĩnh vực sản xuất,lưu thông và phân phối
Thứ ba, pháp chế hóa đời sống kinh tế Hoạt động của các lĩnh vực kinh
tế đều được pháp luật hóa, bảo đảm cho sự vận động bình thường, hữu hiệu
Thứ tư, nhà nước không đặt ra mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế,
không vì đạt đến một mục tiêu chiến lược nào mà giữa các ngành kinh tế quốcdân phải tiến hành hiệp đồng, điều phối, kết nối Do đó, thể chế Hoa Kỳ đẩymạnh tác động của cơ chế thị trường, chính phủ tiến hành điều tiết trong ngắnhạn, rất khác với các nước khác
1.2.2.2 Mô hình Đức
Đối mặt với hoàn cảnh kinh tế khó khăn nghiêm trọng sau chiến tranhthế giới thứ hai, những người chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường xãhội đề xuất nên xây dựng một thể chế kinh tế lấy chính sách xã hội làm mụctiêu để thực hiện chính sách kinh tế theo hướng chuyển nền kinh tế còn mangnặng tính khống chế được hình thành từ thời Nazi sang mô hình kinh tế lấy thịtrường làm chính Thể chế nền kinh tế thị trường xã hội Đức sau hơn nửa thế
kỷ nhà nước điều chỉnh, cải cách có thể mô tả qua năm đặc điểm như sau:
Thứ nhất, tư nhân tự do chiếm hữu tài sản và hoạt động kinh tế Luật cơ
bản là Hiến pháp quy định rõ ràng về sự bảo đảm cá nhân có quyền chiếmhữu tư nhân về tài sản, quyền tự do sản xuất kinh doanh, quyền tự do pháttriển, tự do liên kết, tự do chọn nghề và làm việc
Trang 31Thứ hai, hai bên lao động và tư bản độc lập giải quyết các vấn đề về lao
động và tư bản Trên nguyên tắc ấy, vấn đề tiền công bao gồm: định mức, thờigian làm việc, thời gian nghỉ trong tuần, công việc… đều do hai bên đàmphán, thương lượng và quyết định Đồng thời, pháp luật còn quy định rõquyền tham dự và quyết định của người làm thuê trong công ty Đại biểu củangười làm thuê có thể tham gia lãnh đạo công ty, cùng chủ quyết định các vấn
đề quan trọng của doanh nghiệp
Thứ ba, hệ thống ngân hàng trung ương độc lập Năm 1957, Quốc hội
Liên bang chính thức thông qua luật ngân hàng liên bang, quy định chính sáchtiền tệ độc lập Ngân hàng trung ương không chịu sự can thiệp của chính phủ
Thứ tư, chính phủ điều hành, khống chế và can thiệp vào hoạt động
kinh tế Chức năng điều tiết quan trọng của chính phủ là thông qua biện phápcan thiệp tất yếu, bảo đảm điều kiện tổng thể của vận hành thị trường, nhằmphát huy tác dụng có hiệu quả của bản thân nền kinh tế thị trường
Thứ năm, thi hành chế độ phúc lợi và bảo đảm xã hội với nhiệm vụ:
thông qua các biện pháp về chính sách việc làm, quy định pháp luật bảo hộsức khỏe mà bảo đảm cho công nhân viên chức; cung cấp bảo đảm xã hội chocông chức, viên chức và các điều kiện sống khi còn tại chức; thông qua phânphối lại thu nhập và giúp đỡ phương tiện giáo dục, cải thiện tình hình kinh tế
xã hội của tầng lớp có thu nhập thấp để mọi cư dân đều được hưởng một phầnphúc lợi xã hội do kinh tế phát triển mang lại
Nền kinh tế nước Đức được gọi là nền kinh tế thị trường xã hội Nếu
Mỹ nhấn mạnh cá nhân tự do, thì Đức đòi hỏi kết hợp cá nhân tự do và nghĩa
vụ xã hội Đồng thời với việc nhấn mạnh và khuyến khích cạnh tranh, Đứccũng chú trọng tới sự hài hòa giữa các tập đoàn lợi ích; theo đuổi lợi nhuận,nhưng cần cung cấp bảo hiểm xã hội tương đối phổ biến cho công nhân Vềmặt quản lý doanh nghiệp, xây dựng chế độ “cùng quyết sách”, đại biểu côngnhân tham gia vào hội đồng quản trị các doanh nghiệp lớn Ngân hàng Đức
Trang 32rất được coi trọng nên có người gọi mô hình Đức là “chủ nghĩa tư bản ngânhàng” Một đặc điểm quan trọng khác của mô hình Đức là nhấn mạnh thựchiện nguyên tắc “hiệp thương nhất trí”, coi đây là bí quyết và mấu chốt dẫntới thành công Thực hiện nguyên tắc này, giữa đông đảo tập đoàn lợi ích xãhội và quyền lực, mặc dù thường xuyên tranh cãi, đấu tranh, đọ sức, nhưngthường là tìm được một phương án chiết trung, các bên đều có thể chấp nhậnđược thông qua đàm phán, cuối cùng đi đến thỏa thuận thống nhất Đặc điểmthể chế kinh tế nói trên có nguồn gốc từ lịch sử nhà nước tập trung can dự khámạnh, phong trào công nhân phát triển, ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội vàchủ nghĩa dân chủ xã hội khá đậm.
1.2.2.3 Mô hình Thụy Điển
Thể chế kinh tế hỗn hợp của Thụy Điển còn gọi là “con đường thứ ba”
Về bản chất, mô hình này vẫn lấy chế độ tư hữu làm chủ thể nhưng có nhiềuhình thức sở hữu như sở hữu nhà nước, công tư hợp doanh và hợp tác xã…,hợp thành hệ thống chế độ sở hữu đặc thù Sau quá trình nhà nước điều chỉnhlâu dài, về cơ bản thể chế kinh tế hiện nay của Thụy Điển cũng có 4 đặc điểmnổi bật sau đây:
Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 85% tổng số doanh
nghiệp cả nước, gồm hai loại: doanh nghiệp hoàn toàn của tư nhân và công ty
cổ phần, trong đó loại thứ nhất ngày càng thu hẹp, loại thứ hai đang phát triểnnhanh chóng và tỷ lệ pháp nhân góp vốn cổ phần không ngừng tăng lên.Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu hoạt động trong hai lĩnh vực công, nôngnghiệp
Thứ hai, hình thức sở hữu nhà nước chủ yếu được thực hiện ở hai
ngành sự nghiệp công ích và công nghiệp Sự nghiệp công ích bao gồm cácngành như: bưu điện, viễn thông, đường sá, đường sắt, vận chuyển hàngkhông, cung ứng điện lực Mục đích kinh doanh quốc gia là phục vụ lợi íchcông cộng, do đó phi lợi nhuận Số doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực
Trang 33công nghiệp rất hạn chế, chủ yếu tập trung trong các ngành nguyên liệu, khaikhoáng, gang thép, đóng tàu thuyền Những doanh nghiệp này cạnh tranhbình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân.
Thứ ba, hình thức công tư hợp doanh ở Thụy Điển được thực hiện khi
nhà nước góp cổ phần cùng tư bản tư nhân với mục đích cứu trợ các doanhnghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ, vì những doanh nghiệp này còn cần thiết chonền kinh tế, xã hội
Thứ tư, sở hữu tập thể dưới hình thức hợp tác xã là một hình thức sở
hữu hỗn hợp, chiếm khoảng 2% tổng số doanh nghiệp cả nước Tuy chiếmmột tỷ lệ khiêm tốn nhưng trong nền kinh tế loại hình kinh tế hợp tác này cóảnh hưởng tương đối lớn Hiện nay, hợp tác xã những người tiêu dùng ThụyĐiển trong ngành bán lẻ có ảnh hưởng rất lớn trong các ngành thực phẩm, dầukhí, bột giấy và nghề làm giấy
Gọi là mô hình “nhà nước phúc lợi”, Thụy Điển cũng lấy thị trườnglàm cơ chế điều tiết kinh tế cơ bản, bảo vệ chế độ tư hữu, khuyến khích doanhnghiệp tư nhân phát triển Dưới tiền đề như vậy, nhà nước điều chỉnh thể chếtheo hướng thúc đẩy thực hiện kinh tế dân chủ, tự do và bình đẳng xã hội.Thụy Điển cũng để cho đại biểu công nhân tham gia vào hội đồng quản trị,đồng thời khuyến khích công nhân viên chức doanh nghiệp đầu tư mua cổphiếu, thực hiện nguyên tắc và chế độ đại biểu, giới chủ, công nhân viên chức
và đại biểu chính phủ đàm phán tập thể, hiệp thương nhất trí Thực hiện chế
độ phúc lợi xã hội phát triển cao độ từ lúc lọt lòng đến khi qua đời nên tỷtrọng chi phí bảo hiểm xã hội của Thụy Điển trong tổng giá trị sản phẩmtrong nước cao nhất trong các nước phát triển, lên tới khoảng 35% Trong khi
đó, tỷ lệ này ở Pháp, Đức là khoảng 28%, ở Anh khoảng 20%, ở Mỹ khoảng18%, ở Nhật Bản khoảng 11% Đồng thời, Thụy Điển thực hiện thu thuế ởmức cao và thuế thu nhập lũy tiến ở mức cao, nhằm bảo đảm thu chi phúc lợi
xã hội và điều tiết chênh lệch thu nhập, thúc đẩy công bằng xã hội Phúc lợi
Trang 34xã hội của Thụy Điển được xem là hoàn bị nhất thế giới đương đại Nguồngốc chi phúc lợi xã hội to lớn là ở thuế thu cao Qua hơn 100 năm phát triển,
hệ thống bảo hiểm của Thụy Điển hiện nay bao gồm 5 loại: bảo hiểm y tếchữa bệnh, tiền dưỡng tuất, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm thất nghiệp
là nhằm đưa nền kinh tế đạt tới mục tiêu chiến lược nhất định Vì vậy, thể chếkinh tế Nhật Bản còn được coi là “kinh tế thị trường kiểu định hướng hànhchính” Các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản lấy pháp nhân nắm giữ cổ phiếuchiếm vị trí chủ đạo, các doanh nghiệp lớn đa phần là nắm cổ phiếu lẫn nhau,
vì vậy còn được gọi là “chủ nghĩa tư bản pháp nhân” hoặc “mô hình xã hộicông ty” Quản lý doanh nghiệp của Nhật Bản do giám đốc cấp cao khốngchế; trong nội bộ doanh nghiệp còn hình thành “khối cùng chung vận mệnh”độc đáo, doanh nghiệp thực hiện chế độ thuê mướn công nhân trọn đời, chế
độ thứ bậc thâm niên và chế độ công đoàn doanh nghiệp, làm cho công nhânviên, công đoàn và nhà quản lý doanh nghiệp đều coi sự phát triển của doanh
Trang 35nghiệp là sự nghiệp chung, cùng nhau hợp tác vì nó Chính phủ khuyến khíchtiết kiệm, lãi suất tiết kiệm của Nhật Bản cao nhất trong số các nước tư bảnphát triển Nhật Bản tôn sùng tập thể, dân tộc, quốc gia, hy sinh lợi ích cánhân vì đất nước Mô hình này mang đậm bản sắc văn hóa phương Đông vàtruyền thống dân tộc Nhật Bản.
Hiện nay Nhật Bản đang hoàn thiện việc xây dựng thể chế nền kinh tếthị trường phát triển cao với ba đặc điểm nổi bật là toàn cầu hóa, kế hoạch hóa
và pháp chế hóa
Thứ nhất, về thị trường kinh tế toàn cầu hóa Xuất phát từ đặc điểm rất
nghèo về tài nguyên và nguồn năng lượng, Nhật Bản chú trọng tính hướngngoại, lấy thị trường thế giới làm chỗ dựa Tư tưởng hướng ngoại này đượcthể hiện xuyên suốt từ quy hoạch vĩ mô của chính phủ đến chiến lược sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, tất cả đều lấy thị trường trong nước và thịtrường thế giới làm hướng đi, hình thành phương thức tư duy kinh tế “kinh tếNhật Bản trong thế giới”
Thứ hai, kinh tế thị trường kế hoạch hóa Nhà nước và doanh nghiệp
Nhật Bản đều căn cứ vào chiến lược đuổi và vượt nhu cầu thị trường đểphát triển lâu dài, không ngừng đổi mới, giữ ổn định tương đối để đặt racác loại kế hoạch Việc thực thi kế hoạch phải đủ mạnh để nền kinh tế đuổikịp và vượt lên
Thứ ba, kinh tế thị trường pháp chế hóa Chính phủ Nhật Bản đặt ra
một loạt pháp quy kinh tế hoàn thiện làm cho hoạt động kinh tế nằm trongphạm vi pháp luật, cho phép tự do phát triển một cách đầy đủ, tức là bảo đảm
sự vận động hữu hiệu của thể chế kinh tế thị trường Đồng thời quy tắc phápluật lại thể hiện chiến lược phát triển lâu dài của nhà nước
Những thể chế kinh tế mà chúng ta khảo sát trên đây đều được ra đời vàphát triển ở các nước khác nhau, rất khó có thể tách rời khỏi tình hình cụ thểcủa nước đó để đánh giá một cách đơn giản cái hay cái dở của chúng Một thể
Trang 36chế kinh tế có thể thành công ở nước A, nếu chuyển sang áp dụng một cáchđơn giản và rập khuôn ở nước B có thể lại thất bại Ngoài ra, các mô hình thểchế trên đây đã được điều chỉnh dần dần từ hàng chục năm về trước, trong
tình hình cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, trào
lưu toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ Chúng là sản phẩm được các chính
phủ các nước ấp ủ từ lâu, được lựa chọn hết sức cẩn trọng
Trang 37Chương 2:
ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN Ở MỘT
SỐ NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Nguyên nhân của điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triển
Điều chỉnh thể chế kinh tế tư bản chủ nghĩa của nhà nước tư bản ở một
số nước tư bản phát triển hiện nay một mặt là bị sức ép bởi áp lực của tìnhhình, một mặt khác cũng tồn tại điều kiện có lợi và rủi ro nhất định Áp lựcchủ yếu xuất phát từ sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học
- công nghệ hiện đại, sự phát triển mạnh mẽ của cạnh tranh kinh tế, tác động
của làn sóng toàn cầu hóa kinh tế, và từ khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế toàn cầu năm 2008 - 2009 Điều này đã đem lại thách thức nghiêm
trọng cho thể chế nói chung và thể thể kinh tế của chủ nghĩa tư bản nói riêng,đòi hỏi nó cần phải được điều chỉnh, cải cách nhằm nâng cao sức cạnh tranhquốc tế
Dưới đây là sự mô tả cụ thể các nguyên nhân chính dẫn đến việc điềuchỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triểnhiện nay
2.1.1 Nguyên nhân nội tại
Thứ nhất, do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ - hiện đại
Có thể nhìn nhận cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại là sự
biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiện đại, thực hiện vai trò dẫn
đường của toàn bộ khoa học trong toàn bộ chu kỳ : khoa học công nghệ sản xuất - con người - môi trường.
Trang 38-Trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra trongnhững thập niên đầu thế kỷ XXI, cách mạng thông tin là mũi nhọn Nhờ có
cuộc cách mạng này mà nhiều quá trình kinh tế - xã hội đang biến đổi sâu sắc
và căn bản Công nghệ thông tin ngày nay là kết quả tích hợp thành quả củanhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ khác nhau: vật liệu, điện tử, vi điện tử,viễn thông, quang học, tự động hóa, máy tính điện tử, robot
Theo tính toán của nhiều nhà khoa học, trong thế kỷ XX, lượng thôngtin, tri thức tăng gấp 1.000 lần và vượt trội so với tổng tri thức mà loài người
đã tích lũy được trong suốt 19 thế kỷ trước đó Từ những thập kỷ cuối thế kỷ
XX tới thập niên đầu thế kỷ XXI, khoa học và công nghệ hiện đại của thế giớiphát triển với tốc độ vô cùng nhanh chóng và với những thành tựu hết sứcthần kỳ, vượt qua trí tưởng tượng của con người
Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã xâm nhập vào từng ngành
sản xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong cả công nghiệp và nông
nghiệp Những thành quả của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại làm
cho năng suất lao động tăng lên rất nhanh, chi phí cho sản xuất giảm đi, hạ giá
thành sản phẩm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cách mạng khoa học - công
nghệ hiện đại là động lực to lớn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhảyvọt, làm cho tính chất và tốc độ của sản xuất xã hội ở thế kỷ XXI có sự thayđổi căn bản
Hoạt động đổi mới khoa học - công nghệ đã và đang trở thành đầu
tầu phát triển kinh tế Tại các nước phát triển, ưu tiên tích lũy và nâng caochất lượng vốn công nghệ đã trở thành mục tiêu quan trọng nhất trongchính sách đầu tư và tích lũy tài sản quốc gia Các nước đang phát triển vàngay cả những nước kém phát triển cũng đang rất quan tâm đến việc pháttriển, ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ vào điều kiện
cụ thể của nước mình
Trang 39Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đưa tới sự biến đổi và phát
triển theo chiều sâu của lĩnh vực đời sống xã hội, xâm nhập vào việc phân
công, quản lý sản xuất, cơ cấu sản xuất và cơ cấu giai cấp - xã hội Xét trên phương diện nhất định thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
hiện đại đã góp phần làm dịu xu thế đối lập giai cấp và xung đột giai cấp Tuynhiên, mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vẫn là
cố hữu trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Cách mạng khoa học - công nghệ là thành tựu của nhân loại, song tác
động của nó đến các quốc gia, các dân tộc lại rất khác nhau, tùy thuộc vàohoàn cảnh, điều kiện khách quan và chủ quan của mỗi nước Hiện nay, trung
tâm cách mạng khoa học - công nghệ thuộc về các nước tư bản chủ nghĩa phát triển Họ nắm trên 80% thành tựu mới của cách mạng khoa học - công nghệ.
Hơn nữa, các nước tư bản có ưu thế về vốn và cơ sở hạ tầng, do đó việc ápdụng những tiến bộ mới về khoa học công nghệ rất thuận lợi, ngược lại, cácnước đang phát triển và chậm phát triển lại rất nhiều khó khăn trở ngại bởitrình độ của họ quá thấp, cách rất xa so với tiến bộ mà họ cần tiếp nhận Từ
đó, dẫn tới hệ quả là sự cách biệt giữa các nước phát triển và các nước chậmphát triển ngày càng xa
Những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát
triển đã biến tri thức thành yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất và quyếtđịnh sự phát triển của nền kinh tế Bất cứ sản phẩm nào của con người cũnghàm chứa tri thức Kinh tế tri thức tạo áp lực gay gắt về chất lượng nhân lực,
về nguồn lực trí tuệ, đặt giáo dục - đào tạo trước những yêu cầu điều chỉnh,
cải cách triệt để Tri thức hóa công nhân trở thành một xu thế tất yếu
Sự bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ đang tạo ra những xunglực mới làm biến đổi to lớn và nhanh chóng sức sản xuất xã hội Điều đó thểhiện trên mấy khía cạnh sau: 1, Của cải vật chất xã hội ngày càng dồi dào,tăng lên nhanh chóng đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng phong phú
Trang 40của con người; 2, Trình độ ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, hiện đạingày càng cao, phát minh ngày càng nhiều và hết sức nhanh chóng; 3, Trình
độ hiểu biết về thiên nhiên, thích nghi với thiên nhiên và chế ngự thiên nhiêncủa con người ngày càng cao; 4, Trình độ xã hội hóa sản xuất của toàn bộ xãhội ngày càng được tăng cường
Ta biết rằng, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đưa tới sự rađời hàng loạt ngành sản xuất mới như: điện tử, năng lượng hạt nhân, hàngkhông vũ trụ… phát triển những ngành này đòi hỏi phải có nguồn vốn khổng
lồ, cơ sở hạ tầng hiện đại, có đội ngũ công nhân lành nghề được đào tạo toàndiện, có sự bảo đảm xã hội tốt và ổn định… để có được những điều kiện thuậnlợi cho quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, các nhà tư bản phải dựa vàonhà nước, ủng hộ nhà nước như người đại diện chung cho lợi ích của mình vàchấp nhận sự điều phối kinh tế của nhà nước như nhân tố cần thiết cho sự tồntại, phát triển của họ Hơn nữa, xét trên góc độ lợi ích cá nhân mà một tư bảntheo đuổi thì việc đầu tư vào các cơ sở hạ tầng vốn đầu tư lớn, tỉ suất lợinhuận thấp, thời gian thu vốn chậm, cho dù đó là điều kiện cần thiết cho sựphát triển chung nhưng không hấp dẫn tư bản tư nhân Đặc biệt là đầu tư vàonghiên cứu khoa học, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo đòi hỏi mộtkhoản đầu tư vô cùng lớn, thời gian dài, lợi ích mà các hoạt động này manglại xét trên giác độ kinh doanh tư nhân lại rất nhỏ, do đó tư bản tư nhânchuyển sang cho nhà nước với tư cách là người đại biểu cho xã hội gánh vác
Tư bản tư nhân luôn duy trì vị trí là một thành viên xã hội và muốn tận dụngđược càng nhiều càng tốt những lợi ích từ nhà nước mang lại Trong hoàncảnh đó để bảo đảm cho xã hội tồn tại và phát triển nhà nước tư bản phảiđứng ra gánh vác trách nhiệm, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển khoa học,giáo dục, các ngành công nghiệp nặng, tìm tòi, ứng dụng công nghệ mới Song hành cùng các công việc đó là việc nhà nước phải đứng ra điều chỉnh vềthể chế kinh tế sao cho thích ứng