CÂU 1a Đặc điểm về điều kiện tự nhiên – dân số lao động – lịch sử truyền thống và những vấn đề đặt ra đối với thành phố Cần Thơ trong quá trình xây dựng và phát triển thành phố trở thành trung tâm, độ.
Trang 1CÂU 1a: Đặc điểm về điều kiện tự nhiên – dân số - lao động – lịch sử truyền thống và
những vấn đề đặt ra đối với thành phố Cần Thơ trong quá trình xây dựng và phát triển thành phố trở thành trung tâm, động lực phát triển của khu vực đồng bằng sông Cữu Long
CÂU 2a : Những thuận lợi và khó khăn của TP Cần Thơ hiện nay đối với nhiệm vụ
xây dựng và phát triển thành phố trở thành trung tâm, động lực phát triển của khu vực đồng bằng sông Cữu Long
BÀI LÀM
Năm 2004, thành phố Cần thơ được thành lập trên cơ sở tách ra khỏi tỉnh Cần Thơ cũ theo Nghị định số 22/2003/QH ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghìa Việt Nam khóa XI và Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02/01/2004 của Thủ tướng Chính Phủ, là một trong 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh thành và là thành phố trực thuộc TW duy nhất của vùng đồng bằng sông Cữu Long Để xây dựng và phát triển thành phố Cần thơ trở thành trung tâm, động lực phát triển của vùng ĐBSCL theo NQ 45 của Bộ Chính trị Khóa
X đề ra Chúng ta cần phân tích nắm vững đặc điểm, điều kiện tự nhiên, dân số, lao động, và lịch sử phát triển, truyền thống của thành phố Cần Thơ để phát huy mặt thuận lợi, tích cực, khắc phục mặt khó khăn, hạn chế, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh, bền vững của thành phố Cần Thơ và của vùng ĐBSCL
- Về đặc điểm, điều kiện tự nhiên:
Về vị trí địa lý: Thành phố Cần Thơ có vị trí khá thuận lợi do nằm trong khu vực trung-hạ lưu vực Sông Hậu, ở vị trí trung tâm châu thổ sông Cữu Long với diện tích tự nhiên
là 1.401,61 km² chiếm khoảng 3,52% diện tích đồng bằng sông Cữu Long Bắc giáp tỉnh An Giang, Nam giáp tỉnh Hậu Giang, Tây giáp tỉnh Kiên Giang, Đông giáp tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp.Thành phố Cần Thơ có 5 quận, 4 huyện, 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn, gồm: 5 thị trấn, 36 xã, 44 phường với 615 ấp, khu vực
Trung tâm TP Cần Thơ đặt tại Quận Ninh kiều, Cần Thơ là nơi tập trung nhiều cơ quan Trung ương, như Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Ban dân tộc Tây Nam bộ, Quân khu 9, cơ quan đại diện đài tiếng nói Việt Nam, đài truyền hình khu vực, Thu hưt nhiều tổ chức, tập đoàn kinh tế, tài chính lớn trong và ngoài nước đến đây mở văn phòng đại diện Hình thành nhiều công ty
có quy mô, năng lực hoạt động thương mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, viễn thông, …hoạt
Trang 2dược, các trương đại học tư thục, dân lập, các bệnh viện đa khoa TW, bệnh viện tư nhân….phát triển ngày một nhiều, cơ sở hoạt động văn hóa, thể dục thể thao công lập và tư nhân được đầu tư và ngày càng phát triển Các khu dân cư đô thị mới được hình thành ngày một nhiều Có thể thấy TP Cần Thơ là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại – dịch vụ,
du lịch, trung tâm giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng đồng bằng sông Cữu Long và của cả nước Tuy nhiên, bênh cạnh sự hoạt động sôi động về kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung Vấn
đề bất cập về mặt xã hội phát sinh ngày một phức tâp; tăng dân số cơ học ở thành phố ngày một cao, vấn đề nhà ở, công ăn, việc làm, đời sống, sinh hoạt, an ninh trật tự, các tệ nạn xã hội như: mãi dâm, ma túy, làm ăn trái phép, lừa đão chiếm đoạt tài sản…phát sinh ngày một nhiều
và ngày phức tạp Cần có những giải pháp giải quyết đồng bộ để IP Cần Thơ phát triển ngày toàn diện và bền vững
Về giao thông: TP Cần Thơ có vị trí địa lý rất thuận lợi, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cữu Long, là cửa ngõ giao lưu chính về đường bộ, đường thủy của vùng Tây nam sông Hậu với vùng Tư giác Lòng Xuyên, vùng Bắc sông Tiền và vùng trọng điểm kinh tế phía Nam; là giao điểm của nhiều tuyến giao thông thủy, bộ quan trọng như về đường bộ có 03 tuyến lộ chính: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 91,Quốc lộ 80 từ Cần Thơ đi các tỉnh miền Tây TP Hồ Chí Minh Nhất là sau khi Cần Cần Thơ được hoàn thành, đã tạo điều kiên thuận lợi cho việc lưu chuyển hành hóa từ Miền Tây đến các tinh trong khu vực, đến TP Hồ Chí Minh và đến cả nước Về đường thủy, Cần Thơ có các trục đường như: Trục sông Hậu, sông Cái Sắn kinh xáng Xà No, đặc biệt có các cảng Cần Thơ (cảng quốc tế), cảng Cái Cui, cảng Trà Nóc Ngoài
ra Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc rất thuận lợi cho giao thông thủy phục vụ sản xuất và tiêu thụ, lưu chuyển hàng hóa đi các nơi trong và ngoài nước, là điều kiện thúc đẩy sản xuất, thương mại, dịch vụ ngày phát triển Tuy nhiên, mặt hạn chế khó khăn hiện nay về giao thông thể hiện: Cơ sở hạ tầng giao thông còn chưa đồng bộ, ngày xuống cấp, tuy các tuyến đường mới được đầu tư và đưa vào sử dụng nhưng do lưu lượng xe qua lại quá dầy đặc, xuống cấp nhanh nên tình hình tai nạn giao thông, gây chết người còn khá nhiều Bến bãi chưa được quy hoạch đồng bộ, thiếu nên trật tự trên đường còn nhiều vấn đề cần phải chỉnh đốn
Về đường hàng không: Sân bay Cần Thơ chính thức hoạt động giai đoạn 1 vào ngày 03/01/2009, là sân bay lớn nhất ĐBSCL Tiếp tục mở rộng giai đoạn 2 để trở thành cảng hàng
Trang 3không quốc tế trong tương lai Đây cũng là điều kiện, yếu tố giúp cho TP Cần Thơ mở rộng, phát triển nhanh vị thế của Cần Thơ đối với các địa phương trong cả nước và quan hệ với các nước trên thế giới
Về khí hậu – Thủy văn: Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng thuộc ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới giáo mùa, có hai mùa mưa, nắng rõ rệt trong năm; lượng mưa trung bình từ 220
mm – 420 mm; nhiệt độ trung bình từ 26 – 28 độ TP Cần thơ có phần sông Hậu chảy qua với chiều dài 55 km, có 02 sông lớn là sông Cần Thơ và sông Cái Lớn có tác dụng rất lớn trong việc tưới tiêu cây trồng Nguồn nước ngọt, nước ngầm của TP Cần Thơ có chất lượng khá tốt
Có thể thấy về khí hậu, thủy văn, nguồn nước ngọt trên địa bàn TP Cần thơ được thiên nhiên
ưu đãi, rất thuận lợi cho sàn xuất nông nghiệp chất lượng cao và nuôi trồng thủy sàn Về khó khăn, mùa lũ hàng năm ở các địa phương trên địa bàn TP tuy có gây khó khăn cho sinh hoạt,
đi lại là hư đường nông thôn, thiệt hại cây trồng, hoa mầu, các ao nuôi cá…của nhân dân vùng ngập lũ, nhưng nhìn chung bị ảnh hưởng và gây thiệt hại không gì lớn, mà tạo thêm phù sa mầu mỡ cho đất, ngoài ra tạo nên thời vụ nuôi cá trên đồng ruộng tăng thu nhập cho nhiều hộ nông dân
Về Khoáng sản ở Cần Thơ rất hạn chế, chỉ có đất sét làm gạch, ngói Một ít than bùn
và cát sông dùng để đổ nền tuy nhiên do khai thác cát ở sông Hậu ngày càng lớn, nên tình trạng sạt lỡ đất bờ sông Hâu ngày một nghiêm trọng, đe dọa tài sản và tính mạng người dân Cần có biện pháp quả lý chặt chẽ việc khai thác cát trên sông Hậu giữa Cần Thơ các tỉnh ven sông Hậu
Về tài nguyên sinh vật: Hiện nay sinh vật tự nhiên không còn nhiều: ở vùng nước phèn, mặn có các loại họ bần, bình bát, dương xỉ, dừa nước…Vùng nước nghọt có các loại thân gổ tròn như: trâm bầu, gáo vừng, các loại tre Các loại thóc thảo, năng lác(cói), lau sậy, lục bình… Về động vật tự nhiên: Trên cạn chỉ có các loài chim trời, dưới nước có các loài cá nước ngọt Tuy nhiên ta thấy, số lượng ngày một ít đi do mở rộng diện tích trồng trọt, đô thị hóa, sử dung ngày càng nhiều chất hóa học, diệt sâu, diệt cỏ…Cần có giải pháp quản lý, trồng cây ở các bãi bồi, ở các của sông để tăng thêm diện tích và bảo tồn sinh thái tự nhiên
Về đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên: 140.161,60 ha Trong đó nhóm đất phù sa ngọt chiếm 84%, nhóm đất phèn chiếm 16% Đất nông nghiệp 115.477,41 ha chiếm 82,4%, đất phi nông nghiệp 24.361,05 ha chiếm 17,4% đất chưa sử dụng 323,14ha chiếm 0,3% Địa hình đất
Trang 4nghiệp và ngư nghiệp Tuy nhiên hiện nay xu hướng đô thị hóa tăng nhanh, các khu công nghiệp, đô thị mới, khu dân cư tập trung ngày một phát triển, diện tích sản xuất nông nghiệp ngày một giảm dần, tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất ngành thủy sản, đặc biệt là ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của nhân dân Các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp cần có giải pháp giải quyết sớm
- Về dân số và lao động
Tổng dân số thành phố có đến ngày 01/4/2009 là 1.187.089 người Trong dố có 589.517 nam, 597.572 nữ Dân thành thị chiếm 50% Số người trong tuổi lao động có 758.581 người Trong đó lao động khu vực I: 265.062 người Khu vực II: 98.855 người Khu vực III: 177.077 người Lao động dự trữ: 217.524 người Về thuân lợi ta thấy Cần Thơ có nguồn lao động khá dồi dào, trẻ, chiếm gần 64% dân số; số người có việc làm ổn định và phổ thông đạt khá cao, tỷ lệ thất nghiệp chỉ 4,8% Tuy nhiên cơ cấu việc làm ở lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản còn khá cao gần 35% Lao động được đào tạo có kỹ thuật, tay nghề cao còn rất hạn chế Đa số là lao động phổ thông, có việc làm không ổn định, đời sống còn nhiều khó khăn, tạo nên tình hình bất cập về mặt xã hội trên địa bàn thành phố Mặt khác, Cần Thơ thu hút ngày càng nhiều người đến nhập cư, tạo thêm nguồn lực mới ( có nhiều người có tay nghề, kỹ thuật cao) Tuy nhiên cũng phát sinh nhiều vấn đề xã hội cần phải quan tâm giải quyết như: nhà ở, sinh hoạt, tình hình an ninh trật tự…
- Lịch sử, truyền thống TP Cần Thơ.
Về xuất xứ tên gọi Cần Thơ: Đã có nhiều giả thuyết về tên gọi Cần Thơ, mỗi giả
thuyết đều có xuất phát từ căn cứ riêng và mức độ tin cậy, thuyết phục khác nhau Thời Chúa Nguyễn Ánh sông Cần Thơ được đặt tên là Cầm thi giang, Thời Thực dân Pháp lập địa giới hành chính, gọi khu vực Cần Thơ là Cảng Thứ (Can Thu), người Việt bỏ thêm dấu thành Cần Thư dần gọi thành Cần Thơ và trước đây hai bên bờ sông Cần Thơ trồng rất nhiều rau cần và rau thơm, nên dân địa phương goi sông Cần Thơm, sau nói trại thành Cần Thơ Có thể nói từ năm 1876 khi thực dân Pháp lập địa giới hành chính lập Hạt Cần Thơ và từ đó, Cần Thơ trở thành tên gọi quen thuộc cho đến nay Đồng thời do vị trí địa lý thuận lợi về giao thông, thương mại, công nghệ và cả quân sự và là trung tâm của khu vực châu thổ sông Cữu Long nên trong các thời kỳ, không ai bảo ai, Cần Thơ còn được nhiều người gọi là Tây Đô, tức thủ
đô của miền Tây
Trang 5Về lịch sử phát triển: TP Cần Thơ có lịch sử hình thành khá lâu đời, giữ vai trò rất
quan trọng cả về kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của vùng đồng bằng sông Cữu Long qua các thời kỳ Trước năm 1945 vùng đất Cần Thơ được khai mở và có mặt trên dư đồ Việt Nam năm Kỷ Mùi 1739, khi Mạc Thiên Tứ lập thêm 4 vùng đất mới ở phía hữu ngạn sông Hậu để sát nhập vào đất Hà Tiên, với tên gọi Trấn Giang Đến thập niên 70 của thế kỷ XVIII, Trấn Giang trở thành một cứ điểm quan trọng và rất ổn định trong bối cảnh lịch sử đầy sáo trộn Năm Quí Hợi(1803) Trấn Giang thuộc tỉnh Long Hồ Năm 1808 thuộc trấn Vĩnh Thanh, phủ Vĩnh Viễn Năm Gia Long thứ 12 ( Quí Dậu 1813) thuộc phủ Định Viễn Năm 1832, thời vua Minh Mạng, đổi tên thành huyện Vĩnh Định thuộc phủ Tân Thành tỉnh An Giang Năm
1939 đổi tên huyện Vĩnh Định thành huyện Phong Phú lấy làng Tân An làm huyện lỵ Từ đó huyện Phong Phú tiếp tục phát triển và đến ngày 23/2/1876 khi thực dân Pháp đã chiếm trọn Nam kỳ lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành thuộc An Giang lập Hạt Cần Thơ Từ năm 1876 đến 1954 về cơ bản địa giới hành chính Cần Thơ không thay đổi, bao gồm các huyện Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp, Trà Ôn, Cầu Kè
Từ năm 1956, dưới chế độ cũ, tỉnh Cần Thơ được đổi thành tỉnh Phong Dinh Có 3 quận: Ô Môn, Châu Thành, Phụng Hiệp Đến năm 1964, tỉnh Phong Dinh có 5 quận, 8 tổng và
40 xã với diện tích 162.257 ha, dân số 393.000 người Thị xã Cần Thơ là tỉnh lỵ Năm 1974 tỉnh Phong Dinh có 01 thị xã Cần Thơ và 7 quận: Phong Phú, Phụng Hiệp, Thuận Trung, Thuận Nhơn, Phong Điền, Phụng Hiệp Đến sau ngày hòa bình 30/4/1975 qua nhiều lần thay đổi, chia tách, sát nhập đến năm 2004 (ngày 02/01/2004) thành phố Cần Thơ được Quốc hội
và Chính Phủ quyết định thành lập thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tháng 6/2009 được Chính phủ công nhận là đô thị loại 1
Về truyền thống: Thành phố Cần Thơ xưa và hiện nay cũng như các địa phương khác
có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm và cùng cả nước viết nên trang sử vẻ vang của dân tộc trong chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước nói chung Truyền thống cần cù lao động, sáng tạo, đoàn kết thương yêu giúp đở lẫn nhau, đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu, tâm quyết của nhiều thế hệ để xây dựng được hình ảnh Cần Thơ ngày giàu đẹp như hôm nay Truyền thống hiếu học trong các thế hệ cha ông được hình thành theo nền giáo dục, có biết bao vị nhân sĩ có chí hướng tiến thân đã phải khăn gói ra đến tận Biên Hòa hoặc Huế để tầm sư học đạo, học chữ, đổ đạt lưu danh muôn đời
Trang 6Về con người Cân Thơ: do yếu tố về tự nhiên, truyền thống tốt đẹp của cha ông đã
hình thành nên thể chất, tâm lý, tính cách phóng khoáng, không so đo, kẹn cựa, nên đã tạo nên con người Cần thơ “ Trí tuệ, năng động, nhân ái, hào hiệp, thanh lịch”
Tóm lại, với đặc điểm, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi của thành phố Cần Thơ đã qua
và trong thời gian sắp tới như trên liên hệ và truyền thống vẻ vang của nhân dân Cần Thơ Đảng bộ, quân và dân Cần Thơ cần nổ lực và quyết tâm hơn nữa để thực hiện tốt Nghị quyết
45 của bộ Chính trị và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần thứ XII đề ra Phát huy lợi thế, ưu điểm của Cần Thơ, hạn chế, khắc phục mặt khó khăn để phát huy và tạo thêm động lực mới cho Cần Thơ phát triển nhanh, bền vững Để thành phố cần thơ luôn xứng đáng là thành phố trung tâm, động lực phát triển của vùng ĐBSCL trong tương lai Xứng đáng là đô thị loại 1, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./
Trang 7CÂU 2a : Những thuận lợi và khó khăn của TP Cần Thơ hiện nay đối với nhiệm vụ
xây dựng và phát triển thành phố trở thành trung tâm, động lực phát triển của khu vực đồng bằng sông Cữu Long
BÀI LÀM
Năm 2004, thành phố Cần thơ được thành lập trên cơ sở tách ra khỏi tỉnh Cần Thơ cũ theo Nghị định số 22/2003/QH ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghìa Việt Nam khóa XI và Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02/01/2004 của Thủ tướng Chính Phủ, là một trong 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh thành và là thành phố trực thuộc TW duy nhất của vùng đồng bằng sông Cữu Long Tuy là thành phố trực thuộc TW, nhưng Cần Thơ vẫn là đô thị loại 2 từ năm 2004, đến ngày 24/6/2009 mới được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 889/QĐ-TTg công nhận là đô thị loại 1
Trong tiến trinh xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ theo Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị “Về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Thành phố Cần Thơ có những thuận lợi
và khó khăn như sau:
Vê thuận lợi:
- Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 42/2006/QĐ-TTg, Quyết định 366/QĐ-TTg, Quyết định 492/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tạo cơ hội để thành phố phát triển nhanh và bền vững, sớm trở thành một trung tâm, động lực phát triển trong vùng đồng bằng sông Cữu Long,
- Đảng bộ TP đã có nhiều bài học, kinh nghiệm và thành quả của các nhiệm kỳ trước, nhất là tăng cường đoàn kết, động viên sức mạnh toàn dân và huy động mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển Trong khi đó, Trung ương rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện cho thành phố Cần Thơ phát triển Việc ký kết hợp tác, liên doanh toàn diện với các tỉnh, thành trong cả nước, nhất là các tỉnh trong khu vực và thành phố Hồ Chí Minh, các tập đoàn kinh tế lớn đang phát huy tác dụng
- Đa số cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách; có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhanh nhạy nắm bắt tình hình, chủ động, sáng tạo trong việc triển khai, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, nhất là qua cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Trang 8- Nhiều công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn như: Cầu Cần Thơ, sân bay Cần Thơ, cảng Cái Cui, tuyến Nam sông Hậu, tuyến Bốn Tổng – Một Ngàn, Vị Thanh – Cần Thơ, Quang Trung – Cái Cui, đường Mậu Thân – sân bay Cần Thơ, trung tâm điện lực Ô Môn; các trường đại học, cao đẳng; các bệnh viện, trung tâm y tế chuyên sâu…hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững
Về khó khăn:
- Nền kinh tế thành phố có điểm xuất phát thấp Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa còn chậm Doanh nghiệp thành phố đa số là vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh yếu
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội yếu kém, chưa đồng bộ, nhất là giao thông và hạ tầng đô thị Cơ cấu đầu tư, lao động và chất lượng nguồn nhân lực còn bất cập
- Công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ chưa theo kịp yêu cầu phát triển, thiếu nhiều cán
bộ chuyên môn giỏi, cán bộ đầu ngành Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị
Với sự nổ lực và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong bối cảnh trong nước và trên thế giới có nhiều biến động xấu về tình hình khin tế, xã hội; thiên tai, dịch bệnh Qua 05 năm thực hiện,(từ năm 2005 đến 2010) Đảng bộ, quân và dân thành phố cần thơ
đã nổ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức, TP Cần Thơ đã đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện; thực hiện đạt và vượt 17 trong số 21 chỉ tiêu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, do Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI đề ra: Nền kinh tế thành phố duy trì tốc
độ tăng trưởng khá cao, bình quân đạt 15,13% năm, Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao; thu nhập bình quân đầu người tăng bình quân trên 14% năm, đến năm 2010 đạt 36,82 triệu đồng Việc huy động các nguồn vốn đầu tư xã hội có nhiều tiến bộ, tổng vốn đầu tư trong 5 năm đạt trên 85.062 tỉ đồng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư tăng lên hàng năm, nhiều công trình, dự án quan trọng được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, như cầu Cần Thơ, sân bay Cần Thơ giai đoạn
1, Quốc lộ 1 A, trung tâm điện lực Ô Môn Văn hóa – xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giãm còn dưới 4,7% Quốc phòng, an ninh trên địa bàn tiếp tục giữ vững, hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được đặc biệt quan tâm Các cấp ủy đảng luôn tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, hình thức, nội dung sinh hoạt của
Trang 9các tổ chức cơ sở đảng được cải tiến phù hợp với từng loại hình, sát thực tiễn Công tác phát triển đảng viên mới ngày càng được chú trọng, trong 5 năm kết nạp được 10.063 đảng viên mới Công tác giám sát, kiểm tra được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ Việc đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên đảm bảo dân chủ, khách quan, trung thực Đặc biệt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt kết quả tốt, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên Tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn, Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể tiếp tục đổi mới, phát huy được hiệu quả hoạt động Có thể nói với sự tập trung lãnh chỉ đạo của Đảng bộ, xây dựng và đề ra được các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị sát đúng, đã động viên và tạo được sự đồng thuận của nhân dân, tích cực tham gia thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nhiệm vụ chính trị hằng năm Đảng bộ đề ra
Tuy nhiên mặt hạn chế thể hiện: Cơ cấu kinh tế tuy đạt cao nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu, chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu và yếu; việc đầu tư xây dựng một số công trình trọng điểm chậm; nguồn vốn đầu tư còn hạn chế Văn hóa - xã hội phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; đời sống của một bộ phận nhân dân lao động và cán bộ, công chức còn khó khăn; nhiều vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình đô thị hóa chưa được giải quyết đồng bộ Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động còn khó khăn Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống tội phạm phát triển chưa đều, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp Cải cách thủ tục hành chính chuyển biến chưa mạnh, năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của một số cấp ủy đảng, chính quyến, cán bộ chủ chốt chưa chuyển kịp với yêu cầu, nhiệm vụ; việc sắp xếp, điều chỉnh, bổ sung cán bộ có năng lực, tâm quyết ở một số địa phương, đơn vị còn chậm Hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể nhìn chung còn nhiều lúng túng trong đổi mới, nội dung, phương thức hoạt động trước tình hình mới
Để xứng đáng là thành phố trung tâm, động lực phát triển của ĐBSCL Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP Cần Thơ lần thứ XII đề ra.phương hướng, mục tiêu và các nhiệm vụ trọng tâm trong 05 năm tới (1010-1015) như sâu:
Về phương hướng mục tiêu chung:
Trang 101 Phấn đấu đưa nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững, theo hướng công nghiệp – thương mại dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao có chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh; đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
2 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trên các lĩnh vực, hoàn thiện các tiêu chí đô thị loại 1 trực thuộc TW, xứng tầm là đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm của vùng đồng bằng sông Cữu Long
3 Bảo đảm các chính sách an sinh xã hội, giảm mạnh hộ nghèo, tăng hộ khá, giàu Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ, chăm lo sức khỏe nhân dân, bảo vệ tài nguyên và môi trường Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện tốt tiêu chí về con người Cần Thơ “Trí tuệ, năng động, nhân ái, hào hiệp, thanh lịch”
4 Đào tạo, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực có chất lượng và hiệu quả trên các lĩnh vực, quan tâm đội ngũ cán bộ nữ, trẻ, cán bộ người dân tộc…đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
5 Tăng cường quốc phòng và an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; chủ động ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn
6 Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả của chính quyền; củng cố khối đại đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân
Đồng thời, thành phố đã đề ra 21 chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội có mức độ tăng cao so với giai đoạn 2005 – 2010 và đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện các phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu đề ra
Về các nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung chỉ đạo thực hiện trong 05 năm tới:
1 Thực hiện tốt công tác quy hoạch xây dựng và phát triển thành phố trên các lĩnh vực, nâng cao chất lượng các tiêu chí đô thị loại 1 trực thuộc TW, phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố: Tập trung hoàn chỉnh quy hoạch chung đến năm 2030, quy hoạch tổng thể các đơn vị hành chính, mạng lưới đô thị và cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh…
2 Tập trung đào tạo nguồn nhân lực, có chính sách thu hút nhân tài, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, chuyên gia đầu ngành, cán bộ chuyên môn giỏi, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố: Kết hợp công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng với việc phân công,