Để có thể đề xuất chiến lược truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh ĐTĐ một cách hiệu quả và đánh giá hiệu quả các chương trình can thiệp về phòng, chống đái tháo đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÕNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN TỪ 25-64 TUỔI TẠI XÃ LIÊN BÃO, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hµ néi, 2011 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRƯƠNG LÊ VÂN NGỌC
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÕNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
CỦA NGƯỜI DÂN TỪ 25-64 TUỔI TẠI XÃ LIÊN BÃO,
HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH NĂM 2011
Luận văn Thạc sỹ y tế công cộng
Hướng dẫn khoa học
PGS.TS Lương Ngọc Khuê
Hµ néi, 2011 HUPH
Trang 3MỤC LỤC
Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 2 Phiếu điều tra kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh ĐTĐ 79
HUPH
Trang 4Thầy giáo hướng dẫn của tôi, người đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
và có những ý kiến góp ý quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Trung tâm Y tế huyện Tiên Du, Trạm Y tế xã Liên Bão và người dân tại xã Liên Bão đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong giai đoạn nghiên cứu tại trường
Bệnh viện Nội tiết trung ương, Viện nghiên cứu đái tháo đường-Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, các bạn học sinh khóa cao học y tế công cộng 13 và đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà nội, ngày 22 tháng 08 năm 2011
HUPH
Trang 5TÓM TẮT
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất hiện nay đặc biệt là tại các nước đang phát triển, trong đó chủ yếu là ĐTĐ typ 2 Để có thể đề xuất chiến lược truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh ĐTĐ một cách hiệu quả và đánh giá hiệu quả các chương trình can thiệp về phòng, chống đái tháo đường tại xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc
Ninh, nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 11/2010 đến tháng 10/2011 với mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh ĐTĐ; (2)
Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống bệnh ĐTĐ của người dân ở nhóm tuổi từ 25 đến 64 tại xã Liên Bão, Tiên du, Bắc
Ninh năm 2011 Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang tại xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh với cỡ mẫu là 302 người trong độ tuổi từ 25 đến 64 Kết quả: Về kiến thức trong phòng chống bệnh ĐTĐ:Tỷ lệ người dân có hiểu biết đúng
về khái niệm của bệnh ĐTĐ là 19,9%; 55,3% người dân có quan niệm chưa đúng về mức độ nguy hiểm của bệnh ĐTĐ; 33,8% người dân biết tới triệu chứng “sút cân”, 32,5% biết triệu chứng “đái nhiều” Tỷ lệ người biết biến chứng “tăng huyết áp” chiếm 28,5%, biến chứng thận chiếm 23,2%, biến chứng tim mạch chiếm 17,2%, biến chứng mắt: 16,6%, biến chứng thần kinh 11,3%, biến chứng bàn chân: 9,6%
Tỷ lệ người biết YTNC gây đái tháo đường là do “thừa cân, béo phì” chiếm 28,8%,
“tăng huyết áp” chiếm 21,9%, tuổi trên 45 là 16,9%, ăn quá nhiều: 15,2% 74,4% cho rằng bệnh ĐTĐ có thể phòng được 46,7% biết áp dụng chế độ “dinh dưỡng hợp lý”; 45% biết “khám sức khỏe định kỳ”; 26,5% biết “luyện tập thể lực” thường xuyên; 11,6% số người được hỏi là “đạt” kiến thức về bệnh ĐTĐ 3,3% số người được hỏi là “đạt” kiến thức về các YTNC gây ra bệnh ĐTĐ; 36,4% số người được hỏi là “đạt” kiến thức về cách phòng bệnh ĐTĐ Tỷ lệ người dân đạt kiến thức kiến thức tổng hợp về phòng bệnh đái tháo đường (kiến thức về bệnh, yếu tố nguy cơ, cách phòng bệnh) là 7,6% Về thái độ trong phòng chống bệnh ĐTĐ, 69,5% “đồng ý/rất đồng ý” với quan điểm “Phòng bệnh ĐTĐ quan trọng nhất là dùng thuốc”; 41,9% “đồng ý/rất đồng ý” với quan điểm “việc thay đổi lối sống, và chế độ ăn là không có tác dụng điều trị và phòng chống bệnh ĐTĐ”; 64,3% người “không đồng
HUPH
Trang 6ý/rất không đồng ý” với quan niệm “Việc điều trị bệnh ĐTĐ và biến chứng của bệnh ĐTĐ là không cần thiết”; 5% người “Cảm thấy lo sợ nếu bị chẩn đoán là mắc bệnh ĐTĐ”; 92,6% cho rằng “Phòng chống bệnh ĐTĐ là trách nhiệm của toàn cộng đồng” Tỷ lệ người dân có thái độ “đạt” về bệnh đái tháo đường (tổng điểm ≥ 14 điểm được coi là “đạt” thái độ về bệnh ĐTĐ) là 51,1%, tỷ lệ người dân có thái độ không “đạt” về bệnh đái tháo đường là 48,9% Về hành vi của người dân trong phòng bệnh ĐTĐ, 67,2% hộ gia đình sử dụng thực phẩm có nhiều dầu thực vật/các loại hạt có dầu; 70,5% hộ gia đình sử dụng đậu và các chế phẩm của đậu, 67,2 sử dụng cá, hải Tỷ lệ người dân ăn rau củ cả 7 ngày trong tuần chiếm 89,4% Tỷ lệ người dân ăn rau củ đạt tiêu chuẩn 43,4% 67,7% người có mức vận động thể lực cao; 27,8% có mức vận động thể lực vừa và 27,8% có mức vận động thể lực thấp
Tỷ lệ nam hiện tại “có” hút thuốc hàng ngày là 44,1%.Tỷ lệ người có uống rượu, bia
ở nam giới chiếm 90,8% Tỷ lệ người lạm dụng rượu bia ở nam là 16% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ người “không đạt” kiến thức về ĐTĐ theo nghề nghiệp, trình độ học vấn Những người có trình độ học vấn từ phổ thông cơ sở trở xuống có tỷ lệ “không đạt” về thái độ (79,2%) cao hơn người có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở lên (20,8%) Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hoạt
động thể lực phân theo giới, trình độ học vấn Một số khuyến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả của chương trình phòng, chống bệnh đái tháo đường tại xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh: Tập trung tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho người dân về khái niệm, các nguyên nhân, các yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường; các dấu hiệu, triệu chứng cơ bản của bệnh đái tháo đường, những biến chứng của bệnh để giúp người dân tự phát hiện sớm bệnh đái tháo đường; Cách phòng bệnh đái tháo đường, đặc biệt là thực hiện các hành vi lối sống lành mạnh để phòng chống bệnh đái tháo đường: chế độ ăn uống hợp lý, không hút thuốc lá, không lạm dụng uống rượu bia, tăng cường vận động thể lực; Khuyến cáo người dân từ 45 tuổi trở lên, nên khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm bệnh, điều trị kịp thời
HUPH
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép: bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm Trong khi tỷ lệ mắc các bệnh do nguyên nhân lây nhiễm đang giảm mạnh thì ngược lại tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm (BKLN) lại gia tăng đến mức báo động Các BKLN phần lớn là các bệnh tim mạch, đái tháo đường (ĐTĐ), ung thư, viêm phổi tắc nghẽn mạn tính [33], [6] Nhóm bệnh không lây nhiễm đang là mối đe dọa hang đầu đối với sức khỏe và sự phát triển của nhân loại
Trong năm 2005, WHO (Tổ chức Y tế thế giới) ước tính trong số 58 triệu trường hợp tử vong trên thế giới có khoảng 35 triệu người chết do BKLN Tỷ lệ tử vong do BKLN chiếm 60% tỷ lệ tử vong toàn cầu, trong đó 80% xảy ra ở những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Nếu không có các chương trình can thiệp hiệu quả, số trường hợp tử vong do BKLN trên toàn cầu ước tính sẽ tăng lên 17% trong 10 năm tới [61]
Bệnh ĐTĐ là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất hiện nay đặc biệt là tại các nước đang phát triển, trong đó chủ yếu là ĐTĐ typ 2 chiếm 90% tổng số bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ [22], [36], [64]
Theo WHO, ĐTĐ là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin [56]
Bệnh ĐTĐ typ 2 do nhiều nguyên nhân gây ra Người ta thường chia các nguy
cơ của bệnh ĐTĐ thành 4 nhóm chính: di truyền, nhân chủng, hành vi lối sống và nhóm nguy cơ chuyển tiếp (các nhân tố trung gian) [56], [39], [6]
Ở Việt Nam, tình hình mắc bệnh ĐTĐ đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt
là các thành phố lớn và các khu công nghiệp Theo kết quả của một số cuộc điều tra đầu những năm 1990, tỷ lệ mắc ĐTĐ tại Hà Nội (năm 1991), Huế (năm 1994), Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1993) tương ứng là 1,2%, 0,96%, và 2,52%; đến năm
2001 tỷ lệ mắc ĐTĐ tại TP Hồ Chí Minh là 3,8%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose
là 2,5%, trong đó tỷ lệ mắc ĐTĐ tại khu vực thành thị tăng từ 2,5% (năm 1993) lên 6,9% (năm 2001) [45]
HUPH
Trang 8Trong khi bệnh ĐTĐ phát triển với tốc độ như vậy thì nhận thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ; nhất là về kiến thức phòng bệnh lại rất thấp, nhiều người không hiểu các yếu tố nguy cơ (YTNC) gây bệnh ĐTĐ; không có kiến thức phòng bệnh
Để phòng, chống bệnh đái tháo đường, truyền thông, giáo dục sức khỏe là một trong những giải pháp đã được các chương trình, dự án phòng chống đái tháo đường triển khai trong nhiều năm qua Giáo dục có hiệu quả nếu chúng ta biết được đặc tính của cộng đồng về kiến thức, thái độ và thực hành về phòng, chống bệnh ĐTĐ Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng, chống biến chứng và một số yếu tố liên quan của người bệnh ĐTĐ typ 2 tại huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương Nghiên cứu này chỉ đánh giá kiến thức, thực hành của người bệnh, không đánh giá của toàn cộng đồng Bản thân người mắc bệnh thường quan tâm, tìm hiểu kiến thức
về phòng, chống bệnh tật hơn là người dân bình thường Nghiên cứu này không đánh giá được kiến thức, thực hành chung của toàn cộng đồng [12]
Nghiên cứu dịch tễ học ĐTĐ và tiền ĐTĐ của Bệnh viện Nôị tiết trung ương tại 8 vùng sinh thái của Việt Nam năm 2008 Nghiên cứu này tập trung điều tra dịch
tễ học ĐTĐ về tỷ lệ mắc ĐTĐ và tiền ĐTĐ Nghiên cứu có đề cập một phần tới kiến thức, thực hành của người dân, chưa phân tích các yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành của người dân về phòng, chống bệnh ĐTĐ [2], [2]
Xã Liên Bão là một xã thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, với số dân số trong xã: 9736 người (tính đến tháng 6/2010), với 2262 hộ gia đình Trong những năm qua, xã Liên Bão đã triển khai nhiều chương trình y tế như: Chương trình tiêm chủng mở rộng, Chương trình phòng chống sốt xuất huyết, phòng chống HIV/AID
và bắt đầu triển khai chương trình phòng, chống ĐTĐ từ năm 2010, với nội dung hoạt động là khám, sàng lọc ĐTĐ tại xã Liên Bão Dựa trên kết quả khám sàng lọc ĐTĐ tại xã Liên Bão, dự kiến sang năm 2011 sẽ triển khai chương trình quản lý ĐTĐ tại xã Liên Bão cùng với các hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe cho
cộng đồng về phòng, chống bệnh ĐTĐ giai đoạn 2011-2015 Do vậy, “Nghiên cứu
kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh ĐTĐ tại xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” là cần thiết để có thông tin ban đầu về kiến thức, thái độ, thực hành của
người dân và trên cơ sở đó sẽ đề xuất chiến lược truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh đái tháo một cách hiệu quả và đây cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả các chương trình can thiệp về phòng, chống đái tháo đường tại xã
Liên Bão
HUPH
Trang 9MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh ĐTĐ của người dân ở nhóm tuổi từ 25 đến 64 tại xã Liên Bão, Tiên du, Bắc Ninh năm 2011
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh ĐTĐ của người dân ở nhóm tuổi từ 25 đến 64 tại xã Liên Bão, Tiên du, Bắc Ninh năm 2011
HUPH
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Định nghĩa ĐTĐ
Bệnh ĐTĐ được định nghĩa là một nhóm các bệnh chuyển hóa được đặc trưng bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ làm tổn thương, rối loạn và suy chức năng của nhiều cơ quan khác nhau đặc biệt là tổn thương ở mắt, thận, thần kinh và tim mạch [56]
2 Phân loại
2.1 Phân loại đầu tiên về bệnh ĐTĐ
Phân loại có hệ thống đầu tiên được Nhóm nghiên cứu dữ liệu ĐTĐ quốc gia của Mỹ xây dựng và công bố năm 1979 và được Hội đồng chuyên gia về ĐTĐ của WHO và nhóm nghiên cứu của WHO tán thành vào năm 1980 Phân loại ĐTĐ năm
1979 chia ĐTĐ thành 5 thể riêng biệt là:
Thể ĐTĐ phụ thuộc insulin (ĐTĐ typ 1);
Thể ĐTĐ không phụ thuộc insulin (ĐTĐ typ 2);
ĐTĐ thai kỳ;
ĐTĐ liên quan đến dinh dưỡng;
Các thể ĐTĐ khác [56]
2.2 Phân loại năm 1999
ĐTĐ typ 1: Trong đó tế bào bê-ta chế tiết insulin của tuyến tụy bị phá hủy do nguyên nhân tự miễn hoặc vô căn, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối Phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự nhiên
ĐTĐ typ 2: Do kháng insulin ở cơ quan đích kèm theo suy giảm chức năng
tế bào bê-ta của tuyến tụy Tùy trường hợp cụ thể, có thể có một trong hai yếu tố trên nổi trội hoặc cả hai ĐTĐ typ 2 thường gặp ở lứa tuổi trên 40
ĐTĐ thai kỳ: là dạng bệnh ĐTĐ khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong thời kỳ người phụ nữ mang thai
Những thể bệnh ĐTĐ đặc biệt: Khiếm khuyết gen hoạt động tế bào bê-ta; Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin; Bệnh tụy ngoại tiết; ĐTĐ do thuốc hoặc hóa chất; Một số bệnh nhiễm trùng [3], [6], [22], [56]
HUPH
Trang 113 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ
Trước năm 1985, bệnh ĐTĐ được xác định khi mức glucose huyết tương lúc đói bằng hoặc vượt ngưỡng 7,8mmol/l (140mg/dl) hoặc glucose trong máu toàn phần lúc đói lớn hơn hoặc bằng 6,7mmol/l (120mg/dl)
Năm 1985, nhóm nghiên cứu ĐTĐ của WHO đề nghị tiêu chuẩn chẩn đoán mới bệnh ĐTĐ khi nồng độ glucose trong huyết tương lúc đói bằng hoặc vượt ngưỡng 7,0mmol/l (126mg/l), hoặc nồng độ glucose trong máu toàn phần lúc đói lớn hơn hoặc bằng 6,1mmol/l (110mg/dl) [56], [60], [6]
Năm 2011, Bộ Y tế đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường và đái tháo đường như sau:
3.1 Chẩn đoán tiền đái tháo đường (Prediabetes)
- Rối loạn dung nạp glucose (IGT), nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm
2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống từ 7,8mmol/l (140mg/dl) đến 11,0 mmol/l (200mg/dl)
- Suy giảm glucose máu lúc đói (IFG), nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 6,1 mmol/l (110mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp tăng glucose máu dưới 7,8mmol/l (< 140 mg/dl)
3.2 Chẩn đoán xác định đái tháo đường: Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái
tháo đường (WHO -1999), dựa vào một trong 3 tiêu chí:
- Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0mmol/l ( ≥ 126mg/dl)
- Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống
- Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương
ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl)
4 Biến chứng của bệnh ĐTĐ
Bệnh ĐTĐ là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng Theo Hiệp hội ĐTĐ Quốc tế, ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển và đang được coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển, những nước mới công nghiệp hóa Nhiều biến chứng của bệnh ĐTĐ thường rất phổ biến như bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại vi, đột quỵ, bệnh
HUPH
Trang 12lý thần kinh do ĐTĐ, cắt đoạn chi, suy thận, mù mắt Các biến chứng này thường dẫn đến tàn tật, giảm tuổi thọ [42]
ĐTĐ là một vấn đề y tế nan giải, là một gánh nặng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội vì sự phổ biến của bệnh, vì các hậu quả nặng nề của bệnh do được phát hiện và điều trị muộn Một nghiên cứu về chi phí trực tiếp cho bệnh ĐTĐ tại 8 nước thuộc Châu Âu đã cho thấy chi phí trực tiếp cho 10 triệu người bị bệnh ĐTĐ trong năm 1998 đã tiêu tốn 26,97 tỷ USD và chi phí trực tiếp cho điều trị ĐTĐ typ 2 chiếm từ 3-6% ngân sách dành cho toàn bộ ngành y tế [42]
4.1 Biến chứng cấp tinh
4.1.1 Hạ glucose huyết
Hạ glucose huyết là biến chứng thường gặp nhất trong bệnh ĐTĐ Hạ glucose huyết xảy ra do sự dư thừa tương đối insulin trong máu Mức glucose gây triệu chứng hạ glucose huyết thay đổi tùy từng người; thậm chí ở cùng một người nồng
độ này cũng khác nhau tùy hoàn cảnh [3]
4.1.2 Nhiễm toan xêtôn
Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hóa, vì tăng nồng độ axit acêtic, đây là sản phẩm của những chuyển hóa dở dang do thiếu insulin gây ra
Nhiễm khuẩn là yếu tố phổ biến thúc đẩy tình trạng nhiễm toan xêtôn ĐTĐ Ngoài ra, bệnh ĐTĐ týp1 mới khởi phát hoặc dùng liều insulin không để chuyển hóa hay không liên tục cũng dễ dẫn đến nhiễm toan xêtôn Ở người trẻ tuổi mắc ĐTĐ typ 1, những vấn đề tâm lý cộng với rối loạn về ăn uống có thể là yếu tố góp phần trong 20% các trường hợp nhiễm toan tái diễn Các yếu tố khác thúc đẩy sự xuất hiện nhiễm toan xêtôn gồm tai biến mạch máu não, uống nhiều rượu, viêm tụy, chấn thương và một số thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa carbohydrat [3], [4]
4.1.3 Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do tăng đường huyết
Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu hay gặp ở người ĐTĐ týp 2 thể béo Yếu tố thúc đẩy sự xuất hiện của hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là nhiễm trùng Người có
nguy cơ bị hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do tăng đường huyết là những người cao tuổi mới khởi phát bệnh ĐTĐ hoặc người bệnh ĐTĐ đã được chẩn đoán nhưng không nhận biết được tình trạng tăng đường huyết hoặc không thể bổ sung đủ lượng
HUPH
Trang 13dịch khi cần thiết Các thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa carbonat có thể thúc đẩy sự tăng áp lực thẩm thấu máu do tăng đường huyết
Nhiễm toan xêtôn và tăng áp áp lực thẩm thấu do tăng đường huyết là 2 biến chứng chuyển hóa cấp tính nặng nhất ở người bệnh ĐTĐ Các rối loạn này có thể gặp ở cả người mắc ĐTĐ týp 1 và týp 2 Tỷ lệ tử vong của người bệnh ĐTĐ nhiễm toan xêtôn ở các trung tâm cấp cứu có kinh nghiệm là < 5%, còn tỷ lệ tử vong của người bệnh hôn mê tăng áp lực thẩm thẩu khoảng 15% [3], [4]
4.2 Biến chứng mạn tính
4.2.1 Bệnh lý mắt ở bệnh nhân ĐTĐ
Bệnh lý võng mạc do ĐTĐ là nguyên nhân phổ biến nhất gây mù lòa ở người trưởng thành dưới 60 tuổi Tất cả người bệnh ĐTĐ đều có nguy cơ bị mù lòa [3] Theo hiệp hội ĐTĐ Quốc tế (2007), tỷ lệ bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở y tế
có bệnh lý ở mắt dao động từ 10,8% - 60% (bệnh nhân ĐTĐ týp 1), hoặc từ 65,4% (bệnh nhân ĐTĐ týp 2 ) [41]
10,6%-Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Hoa, Lê Huy Liệu (2001) cho thấy bệnh ĐTĐ ảnh hưởng hàng đầu đến thị lực (79% bệnh nhân giảm thị lực, trong đó 27% mất thị lực); Bệnh võng mạc ĐTĐ là biến chứng hay gặp (43% bệnh nhân ĐTĐ bị bệnh võng mạc ĐTĐ) [13] Nghiên cứu của Lê Minh Thông, Nguyễn Ngọc Anh (2006) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh võng mạc ở bệnh nhân ĐTĐ chung là 32,2% [25]
HUPH
Trang 14Nghiên cứu bằng phương pháp siêu âm động mạch chi dưới (từ động mạch đùi đến động mạch mu chân) của Nguyễn Hữu Chức, Nguyễn Kim Lương (2011) cho thấy tỷ lệ tổn thương động mạch chi dưới chiếm 34,1%; Tổn thương xơ vữa động mạch chiếm 62,9%, hẹp lòng mạch 23,2%, tắc mạch 13,9% [7]
Tăng huyết áp và bệnh nhân ĐTĐ thường kết hợp với nhau Tăng huyết áp góp phần quan trọng làm thay đổi độ mức độ tàn phế và tử vong của bệnh nhân ĐTĐ Trên bệnh nhân đái tháo đường týp 1, tăng huyết áp thường đi kèm bệnh lý thận Trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2, tăng huyết áp có thể cùng xuất hiện với các yếu tô nguy cơ của bệnh lý tim mạch [17] Nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng và cộng sự (2007) trên 589 bệnh nhân tăng huyết áp tuổi trên 40 tại tỉnh Trà Vinh cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ là 24,3%, trong độ tuổi dưới 60 là 22,5%, trên 60 tuổi là 25,8% [20]
4.2.3 Biến chứng thận do ĐTĐ
Biến chứng thận do ĐTĐ là một trong những biến chứng thường gặp, tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian Tỷ lệ xuất hiện bệnh lý cầu thận do ĐTĐ phụ thuộc vào kết quả điều trị ĐTĐ Một nghiên cứu thuần tập tại Nhật Bản (2000) trên 17,256 bệnh nhân ĐTĐ về sự phát triển của bệnh thận cho thấy, sau 30 năm bị ĐTĐ, 44% người mắc ĐTĐ týp 2, 20,2% người mắc ĐTĐ typ 1 có biến chứng thận [62]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Võ Thị Mỹ Hòa, Nguyễn Thị Hoàn (2007) trên các bệnh nhân mắc ĐTĐ týp 1 cho thấy, tỷ lệ mắc biến chứng thận đơn thuần là 20,7%, mắc 2 biến chứng: mắt và thận là 36,2% [14]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lam Hồng và cộng sự (2007) trên những bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có biến chứng thận biểu hiện trên lâm sàng và cận lâm sàng,
tỷ lệ biến chứng cầu thận là 67,1%, trong đó biến chứng sớm là 11%, biến chứng muộn là 56,1% [15]
4.2.4 Biến chứng bàn chân do ĐTĐ
Bệnh lý bàn chân ĐTĐ là lý do nhập viện phổ biến nhất ở bệnh nhân ĐTĐ Cắt đoạn chi ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 15 lần ở người bình thường [3] Loét bàn chân là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ Loét bàn chân là nguyên nhân gây cắt cụt chi và là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân ĐTĐ
HUPH
Trang 15Năm 2007, theo Hiệp hội ĐTĐ quốc tế, tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ bị cắt cụt chi do ĐTĐ là từ 0,2% - 4,8%, và hàng năm số lượng mới bị cắt cụt chi do ĐTĐ vào khoảng 46,1 – 936 người/100,000 người mắc ĐTĐ [41] Còn tại Mỹ, hàng năm có hơn 50,000 trường hợp mắc ĐTĐ có biến chứng bàn chân do ĐTĐ [43]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Vũ Mai Hương và cộng sự (2011) về tổn thương loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện Thanh Nhàn cho thấy trong số các bệnh nhân bị loét bàn chân, 76% trên 60 tuổi, 64% bị bệnh ĐTĐ trên 5 năm, 100% bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém [16]
4.3 Các biến chứng khác
- Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân mắc ĐTĐ
- ĐTĐ thai kỳ ảnh hưởng tới sức khỏe bà mẹ và thai nhi
5 Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ
Người ta thường chia các yếu tố nguy cơ (YTNC) của bệnh ĐTĐ thành 4 nhóm chính: di truyền, nhân chủng, hành vi lối sống và nhóm nguy cơ chuyển tiếp (các nhân tố trung gian) [56], [39], [6]
5.1 Các yếu tố di truyền
Các yếu tố di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong bệnh ĐTĐ týp 2 Những đối tượng có mối liên quan huyết thống với người bị bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị bệnh ĐTĐ cao hơn người bình thường Nghiên cứu của Wei và cộng sự (2009) tại Đài Loan trên trẻ em từ 6-18 tuổi cho thấy, những trẻ có tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ (cha, mẹ hoặc anh chị em ruột mắc bệnh ĐTĐ) thì nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn 2,6 lần (trẻ trai) và 6,5 lần (trẻ gái) những trẻ không có tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ Những mẹ mắc ĐTĐ thì nguy cơ truyền cho con cao hơn so với cha mắc ĐTĐ [58] Nghiên cứu của Barbara và cộng sự (2001) trên 542 người mắc ĐTĐ cũng cho thấy, 25,3% số người có mẹ mắc ĐTĐ, 10,9% người có cha mắc ĐTĐ
5.2 Các yếu tô về nhân chủng học (Giới, tuổi, chủng tộc)
5.2.1 Yếu tố về chủng tộc
Tỷ lệ bệnh ĐTD týp 1 phụ thuộc vào từng chủng tộc, dân tộc khác nhau Trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ týp 1 có yếu tố di truyền Nhiều nghiên cứu thấy rằng kiểu gen HLA-DR có mối liên quan với bệnh ĐTĐ týp 2 Tuy nhiên, kiểu gen HLA-DR3 chỉ xuất hiện ở người da trắng, hệ gen HLA-DR4 lại xuất hiện ở mọi
HUPH
Trang 16nhóm dân tộc Những chủng tộc có di truyền HLA-DR3 hoặc HLA-DR4 cao thì tỷ
5.2.2 Yếu tố tuổi
Yếu tố tuổi (đặc biệt là độ tuổi trên 50) được xếp ở vị trí đầu tiên trong các YTNC của bệnh ĐTĐ Khi cơ thể già đi, chức năng tụy nội tiết cũng bị suy giảm và khả năng tiết insulin của tụy cũng bị giảm Khả năng tiết insulin của tụy giảm, nồng
độ glucose máu có xu hướng tăng, đồng thời giảm sự nhạy cảm của tế bào đích với các kích thích của insulin Khi tế bào tụy không còn khả năng tiết insulin đủ với nhu cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu khi đói tăng và bệnh ĐTĐ thực sự xuất hiện Nhiều nghiên cứu có chứng minh tuổi có liên quan đến sự xuất hiện bệnh ĐTĐ týp
2, tại Thụy Điển trong số những người trên 30 tuổi thì tỷ lệ mắc ĐTĐ týp 2 tăng từ 3,8% (năm 1996) lên 5,7% (năm 2003), tỷ lệ ĐTĐ týp 2 tăng dần theo tuổi: từ 30-
39 tuổi là 0,4%; từ 40-49 tuổi là 1,8%; từ 50-59 tuổi là 4,5%; từ 60-69 tuổi là 9,1%;
từ 70-79 tuổi là 14,9%; trên 80 tuổi là 18,6% [52] Nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự (2010) trên 3057 người tại một số vùng sinh thái của Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ ĐTĐ týp 2 ở nhóm tuổi 30-39 là 1%; từ 40-49 tuổi là 4,4%; từ 50-59 tuổi
là 7,2%; từ 60-69 tuổi là 10,5% [2]
5.2.3 Yếu tố giới
Sự phân bố tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ theo giới rất khác nhau, nhưng đa số nghiên cứu cho rằng tỷ lệ mắc ĐTĐ gặp ở nữ nhiều hơn nam Năm 2005, nghiên cứu dựa trên hồ sơ của 1,122,771 người nhập cư vào Canada cho thấy nếu so sánh với người
HUPH
Trang 17Tây Âu và Bắc Mỹ thì người nhập cư từ khu vực Mỹ La Tinh, Caribê có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2,18 lần (nam) hoặc 2,4 lần (nữ) [34]
Kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự (2007) tại quận Ba Đình và Thanh Trì cho thấy, tỷ lệ ĐTĐ ở nữ là 7,5%, ở nam là 6,1% [5] Nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và cộng sự (2007) trên 2700 người tại Kiên Giang cho thấy, tỷ lệ bệnh ĐTĐ và rối loạn dung nạp glucose ở nữ lần lượt là 5,3% và 12,1% cao hơn so với nam giới (tỷ lệ này ở nam tương ứng là 3,5% và 8,3%) [30]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự (2010) tại một số vùng sinh thái của Việt Nam cho thấy, tỷ lệ ĐTĐ là nam là 5,6%, ở nữ là 5,8%, tỷ lệ rối loạn Glucose lúc đói ở nam là 17%, nữ là 19,1%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose ở nam là 12,2%, nữ là 18% [2]
5.3 Các yếu tố liên quan đến hành vi, lối sống
5.3.1 Hút thuốc lá
Theo thống kê, hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc và
số người hút thuốc vẫn ngày càng tăng lên Trong số những người hút thuốc 84% là sống ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển tiếp Hút thuốc
lá được coi là yếu tố nguy cơ phổ biến thứ tư gây ra bệnh tật và là yếu tố gây tử vong thứ hai trên toàn cầu, hiện nay cứ 10 trường hợp tử vong ở người lớn thì có một trường hợp liên quan tới thuốc lá Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng những người hút thuốc có nguy cơ mắc nhiều bệnh như ung thư (đặc biệt là ung thư phổi), các bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đái tháo đường và các bệnh nguy hiểm khác Nhiều nghiên cứu cho thấy, những hộ gia đình nghèo nhất tại một số nước mất khoảng 10% tổng thu nhập cho thuốc lá Ngoài ra, thuốc lá còn gây ra những hậu quả trực tiếp đối với những hộ nghèo như gia tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng, tăng chi phí chăm sóc sức khoẻ Thuốc lá không chỉ tác động đối với những người hút thuốc mà phơi nhiễm với khói thuốc cũng đang được đề cập tới như một vấn đề mang tính toàn cầu Những người phơi nhiễm với khói thuốc có nguy cơ mắc các bệnh phổi mạn tính, bệnh mạch vành cấp tính cao hơn 20-30% so với người không phơi nhiễm Trẻ em có cha mẹ hút thuốc tại nhà sẽ dễ mắc các bệnh đường hô hấp, viêm tai giữa
HUPH
Trang 185.3.2 Ít vận động
Nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới đều cho thấy nếu hoạt động thể lực thường xuyên sẽ có tác dụng làm giảm nồng độ glucose huyết tương ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2, đồng thời duy trì sự ổn định của lipid máu, huyết tương, cải thiện tình trạng kháng insulin Nghiên cứu của Frank và cộng sự (2001) trên 84.941 phụ nữ không bị bệnh ĐTĐ cho thấy nguy cơ tương đối của những người có thời gian vận động dưới 30 phút; từ 30 phút – dưới 120 phút; từ 120 phút – dưới 240 phút; từ 240 phút – dưới 420 phút và trên 420 phút trong một tuần tương ứng là 1; 0,89; 0,87; 0,83; 0,71 [38]
5.3.3 Chế độ ăn
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng cao ở những người có chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, nhiều carbonhydrat tinh chế Ngoài ra, thiếu hụt các yếu tố vi lượng hoặc vitamin góp phần thúc đẩy việc tiến triển bệnh ĐTĐ Chế độ ăn nhiều chất xơ, ngũ cốc dạng chưa tinh chế, ăn nhiều rau làm giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ Những người có thói quen uống nhiều rượu có nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 lớn hơn những người uống ít rượu và uống điều độ
5.3.4 Sử dụng rượu bia
Năm 2000, ước tính rượu bia gây ra 3,2% trên tổng số các trường hợp tử vong (1,8 triệu người) và góp 4% vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu Tiêu thụ rượu bia là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra nặng bệnh tật các nước đang phát triển có tỷ lệ tử vong thấp và là yếu tố nguy cơ thứ 3 tại các nước phát triển
Tỷ lệ gánh nặng bệnh tật trên tổng gánh nặng bệnh tật do sử dụng rượu bia tại các nước đang phát triển ước tính khoảng 2,6%-9,8% ở nam và 0,5%-2% ở nữ Ngoài những ảnh hưởng ngộ độc trực tiếp, dụng rượu, bia, được coi là thủ phạm gây ra 20-30% những trường hợp ung thư gan, phạm tội, động kinh và tai nạn giao thông trên toàn cầu, một số bệnh không lây nhiễm: tăng huyết áp, đái tháo đường
Sử dụng nhiều rượu bia trong thời kỳ mang thai có thể gây ra rất nhiều nguy cơ cho thai nhi như xảy thai, suy dinh dưỡng bào thai
5.3.5 Béo phì
HUPH
Trang 19Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan giữa béo phì và bệnh ĐTĐ, đặc biệt ĐTĐ týp 2 Từ năm 1985, béo phì được WHO ghi nhận
là một trong những YTNC của ĐTĐ týp 2 [60]
Ở những người béo phì, lượng mỡ phân phối ở bụng dẫn đến tỷ lệ vòng bụng/vòng mông tăng hơn bình thường Béo bụng có liên quan chặt chẽ với hiện tượng kháng insulin do thiếu hụt sau receptor trong tác dụng của insulin Béo phì sẽ đưa đến sự thiếu hụt insulin tương đối do giảm số lượng receptor ở tổ chức cần insulin Do tính kháng insulin cộng với sự giảm tiết insulin dẫn tới sự giảm tính thấm của màng tế bào với glucose ở tổ chức mỡ và cơ, ức chế quá trình phosphoryl hóa và oxy hóa glucose, làm chậm quá trình chuyển carbon hydrat thành mỡ, giảm tổng hợp glycogen ở gan, tăng tân tạo đường mới và xuất hiện bệnh ĐTĐ
Béo phì là một trong những YTNC có thể phòng tránh được của bệnh ĐTĐ týp 2 Nghiên cứu của Frank và cộng sự (2001) từ năm 1980-1986 trên 84.941 phụ
nữ không bị bệnh (tim mạch, ĐTĐ, ung thư) tại thời điểm nghiên cứu Kết quả theo dõi sau 16 năm cho thấy thừa cân, béo phì là nguy cơ số 1 của bệnh ĐTĐ týp 2 [38]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự (2007) tại quận Ba Đình
và Thanh Trì cho thấy những người có vòng eo tăng (nam ≥ 90cm; nữ ≥ 80cm) có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2 lần so với nhóm có vòng eo bình thường [5] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhạn và cộng sự (2001) về một số chỉ số nhân trắc ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 cũng cho thấy chỉ số trung bình vòng bụng/vòng mông ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 ở cả nam và nữ đều cao hơn so với nhóm chứng không mắc ĐTĐ
và có 77,5% là có béo phì trung tâm [19]
5.3.6 Đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa có vai trò quan trọng trong sự gia tăng tỷ lệ bệnh ĐTĐ đặc biệt là ĐTĐ týp 2, do đô thị hóa đã chuyển dần từ lối sống, thói quen ăn uống truyền thống sang một kiểu sống hiện đại với một số yếu tố tiêu cực như ít vận động thể lực, ăn quá nhiều chất béo, ít chất xơ Khi ăn uống không hợp lý, số năng lượng đưa vào nhiều hơn số năng lượng cần thiết cho hoạt động của cơ thể sẽ dẫn đến sự mất cân bằng nghiêng về dư thừa năng lượng, kết hợp với lối sống ít vận động sẽ làm gia tăng tỷ lệ béo phì, do vậy làm gia tăng tỷ lệ ĐTĐ týp 2
HUPH
Trang 20Chính sự đô thị hóa và sự phát triển kinh tế đã làm tăng cao tỷ lệ ĐTĐ tại các nước đang phát triển Một nghiên cứu cắt ngang tại phía bắc Ấn Độ trên 1769 người trên 25 tuổi sống ở nông thôn và 1806 người sống ở thành thị nhận thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nông thôn là 2,9%, ở thành thị là 6% [55]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự (2007) cũng cho thấy những người sống ở khu vực nội thành có tỷ lệ mắc ĐTĐ (9,8%) cao hơn những người sống ở ngoại thành (3,9%) [5]
5.4 Các yếu tố chuyển hóa và các nguy cơ trung gian
Rối loạn đường huyết lúc đói
Rối loạn dung nạp glucose
Kháng insulin
Các yếu tố liên quan đến thai nghén (tình trạng sinh, ĐTĐ thai kỳ, ĐTĐ )
Ở những người có tiền sử rối loạn đường huyết lúc đói, khả năng tiến triển thành bệnh ĐTĐ khá cao Theo Saad và cộng sự (1988), người có rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 cao gấp 6,3 lần so với người bình thường [53] Cách dự phòng bệnh ĐTĐ ở những người có rối loạn dung nạp glucose hiệu quả là điều chỉnh chế độ ăn uống, tăng cường vận động thể lực
Tỷ lệ tiến triển thành bệnh ĐTĐ typ 2 thực sự ở những phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ cũng khá cao Tổng hợp của Catherine và cộng sự từ 28 nghiên cứu cho thấy thời gian theo dõi càng dài thì tỷ lệ mới mắc tích lũy bệnh ĐTĐ týp 2 càng tăng [44]
6 Phòng chống ĐTĐ
6.1 Nguyên tắc chung
- Không có thuốc chữa khỏi hoàn toàn bệnh ĐTĐ
- Thay đổi hành vi lối sống là hiệu quả nhất
- Điều trị bằng thuốc: Bệnh nhân ĐTĐ týp 1 cần được tiêm insulin để kiểm soát đường huyết Người mới bị ĐTĐ typ 2 với nồng độ đường huyết không quá cao có thể áp dụng chế độ ăn uống, luyện tập thích hợp để kiểm soát đường huyết Nếu chế độ ăn uống, luyện tập không hiệu quả thì dùng thuốc để kích thích bài tiết insulin hoặc tăng tác dụng insulin hoặc hạn chế hấp thu glucose Đối với trường hợp bệnh nặng hoặc khi có nhiễm trùng hoặc một số bệnh khác thì cần dùng insulin để
HUPH
Trang 21điều trị Quá trình điều trị, kể cả trường hợp nặng, nhẹ đều phải kết hợp điều chỉnh chế độ ăn và luyện tập phù hợp
- Chú ý phát hiện sớm và phòng biến chứng Để phòng ngừa biến chứng của ĐTĐ, cần kiểm soát tốt đường huyết và các tình trạng khác như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, bỏ thuốc lá
- Cai thuốc lá nếu đang hút thuốc
- Không lạm dụng rượu bia
7 Tình hình ĐTĐ trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay, bệnh mạn tính đang chiếm một tỷ lệ lớn trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu và là nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tử vong ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Theo ước tính ĐTĐ, các bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh mạn tính, bệnh không truyền nhiễm là nguyên nhân của 35 triệu trường hợp tử vong trong năm 2005 Trong khi tỷ lệ tử vong do các bệnh lây nhiễm, liên quan dinh dưỡng giảm khoảng 3% thì tỷ lệ tử vong do các bệnh mạn tính lại tăng lên 17% vào năm 2015 [41]
7.1 Tình hình bệnh ĐTĐ trên thế giới
Bệnh ĐTĐ là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất trên toàn cầu, theo Hiệp hội ĐTĐ quốc tế, năm 2000 có khoảng 151 triệu người từ 20-79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ 4,6%, còn năm 2007 có khoảng 246,1 triệu người từ 20-79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ [41], [42] Trong đó nơi có tỷ lệ ĐTĐ cao nhất là khu vực Địa Trung Hải và Trung Đông, Bắc Mỹ với tỷ lệ tương ứng là 9,2% và 8,4%; tiếp đến là khu vực Châu Âu vởi tỷ lệ 6,6%; Đông Nam Á 6,5%; Trung và Nam Mỹ 6,3% và Châu Phi 3,6% [41]
Nhiều báo cáo gần đây cho thấy tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 chiếm khoảng 90% tổng
số bệnh nhân ĐTĐ, đặc biệt là tại các nước đang phát triển [22], [36], [64]
HUPH
Trang 22Bảng 1 Ước tính của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế về tình hình bệnh ĐTĐ năm 2000
Trang 23Ngoài ra, hiện nay ĐTĐ thai kỳ cũng đang nổi lên như một vấn đề đáng quan tâm của y tế cộng đồng vì tỷ lệ mắc bệnh cũng như biến chứng cho thai nhi và mẹ Theo Hiệp hội ĐTĐ Mỹ (2000), tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ lên tới 7% và tỷ lệ này có thể dao động từ 1%-14% Các nghiên cứu cũng khẳng định, ĐTĐ thai kỳ có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong của thai vào 4-8 tuần cuối thai kỳ ĐTĐ thai kỳ cũng làm tăng nguy cơ thai to và các bệnh sơ sinh khác như hạ đường huyết, hạ Calci máu, chứng tăng hồng cầu và vàng da ĐTĐ thai kỳ cũng liên quan tới các rối loạn tăng huyết áp của mẹ Những người bị ĐTĐ thai kỳ cũng tăng nguy cơ mắc ĐTĐ sau này và con của họ cũng tăng nguy cơ béo phì, rối loạn dung nạp glucose và ĐTĐ [31]
7.2 Tình hình ĐTĐ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tình hình ĐTĐ đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tại các thành phố lớn
Vũ Thị Mùi, Nguyễn Quang Chúy thực hiện điều tra ngẫu nhiên trên 1530 người trong độ tuổi 30-64 tại tỉnh Yên Bái theo các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của WHO năm 1985 đã thu được kết quả tỷ lệ mắc ĐTĐ chung 2,68%, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thấp nhất ở lứa tuổi 30-34 (0,72%), cao nhất ở lứa tuổi 60-64 (12,9%); Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose 4,44% [18]
HUPH
Trang 24Đào Thị Dừa và cộng sự nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ĐTĐ mới phát hiện nhận thấy, độ tuổi mắc ĐTĐ týp 2 trung bình là 52,6±14,7 tuổi, trong
đó nữ (61,9%) nhiều hơn nam (38,6%); Các YTNC bao gồm béo phì dạng nam chiếm 36,8%, tăng huyết áp và rối loạn máu lipid chiếm trên 90% [10]
Nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và cộng sự tại tỉnh Kiên Giang trên 2700 người trưởng thành từ 30-64 tuổi tại 27 xã của tỉnh Kiên Giang đã xác định tỷ lệ mắc ĐTĐ chung là 4,7%, rối loạn glucose máu lúc đói là 4,1% và giảm dung nạp glucose là 10,7% [30]
Nghiên cứu của Tạ Văn Bình của cộng sự (2008) trên 4 vùng sinh thái của Việt Nam về tình hình dịch tễ bệnh ĐTĐ và hội chứng chuyển hóa đã xác định tỷ lệ mắc ĐTĐ chung ở đối tượng 30-69 tuổi trên toàn quốc là 5,7% Ước tính năm 2008 Việt Nam có khoảng 1,870,000 bệnh nhân ĐTĐ độ tuổi 30-69 (5700 bệnh nhân ĐTĐ/100,000 dân) Trong đó có 1.365.100 bệnh nhân ĐTĐ tại cộng đồng không được chẩn đoán chiếm 73%, khoảng 504.900 bệnh nhân ĐTĐ đang được quản lý, điều trị chiếm 27% Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở đối tượng 30-64 tuổi tăng từ 2,7% năm
2002 lên 5,7% năm 2008 Tỷ lệ rối loạn đường huyết lúc đói là 14,6%, rối loạn dung nạp glucose là 14,6% Tăng cao so với năm 2002 (Tỷ lệ rối loạn đường huyết lúc đói năm là 2%, rối loạn dung nạp glucose là 7,7%) [2]
8 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ thực hành về ĐTĐ
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của Maina và cộng sự (2011) trên
1982 người tại 4 tỉnh của Kenya cho thấy, chỉ có 575 người (29%) có kiến thức tốt
về dấu hiệu, triệu chứng của ĐTĐ trong khi có tới 71% người được hỏi có rất ít kiến thức về bệnh ĐTĐ Chỉ có 26% có thể nêu được chính xác những nguyên nhân có thể gây bệnh ĐTĐ; 26% người có biết về những triệu chứng của ĐTĐ; 73% người
có rất ít hoặc không có kiến thức về biến chứng của ĐTĐ; Nhìn chung chỉ có 27% người được điều tra có kiến thức tốt về bệnh ĐTĐ [49]
Nguyễn Vinh Quang, Phạm Tuấn Phương (2011), thực hiện một cuộc điều tra
về về kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh ĐTĐ trên 1.855 người dân tại huyện Hải
Hâu, tỉnh Nam Định cho kết quả: số đối tượng tham gia điều tra hiểu không đúng về bệnh ĐTĐ týp 2 chiếm tới 70%; 66,6% đối tượng biết về phương pháp chẩn đoán bệnh ĐTĐ; chỉ có 1,4% số đối tượng hiểu biết đúng về các YTNC mắc bệnh ĐTĐ; 1,7% hiểu biết đúng về các biến chứng của bệnh ĐTĐ Đối với thái độ về bệnh
HUPH
Trang 25ĐTĐ, có 41,3% đối tượng đồng ý kết hôn với người bị bệnh ĐTĐ, 16,7% cho rằng
sẽ bị gia đình phàn nàn khi bị bệnh ĐTĐ; 81,5% người cho rằng muốn phòng bệnh ĐTĐ là phải có chế độ ăn hợp lý, gần 40% cho rằng tăng cường hoạt động thể lực
và tránh stress là biện pháp tốt để phòng ngừa bệnh ĐTĐ Về thực hành phòng chống ĐTĐ, có 51,8% không hiểu, chỉ có 8,6% có hiểu biết đúng về chế độ dinh dưỡng hợp lý phòng bệnh bệnh ĐTĐ; 98,1% đối tượng thích ăn mỡ và phủ tạng động vật; 38,2% thích uống rượu và 19,4% có thói quen hút thuốc lá [21]
Nghiên cứu của Tạ Văn Bình của cộng sự (2008) về nhận thức của cộng đồng đối với bệnh ĐTĐ và hội chứng chuyển hóa nhận thấy, chỉ có 31% đối tượng được hỏi biết các YTNC mắc ĐTĐ, trong đó 77,7% đối tượng biết một vài YTNC Tỷ lệ hiểu biết khá chỉ chiếm 5,8%; 42,1% cho rằng ĐTĐ là bệnh có thể phòng được; 31,4% trả lời đúng về cách phát hiện sớm ĐTĐ bằng xét nghiệm máu; Chỉ có 124/100.000 người biết các biện pháp dự phòng biến chứng do ĐTĐ Như vậy hầu hết đối tượng điều tra không biết làm thế nào để dự phòng biến chứng do ĐTĐ; 27,2% biết các dấu hiệu lâm lâm sàng của ĐTĐ 81% hiểu biết kém (chỉ biết một vài dấu hiệu lâm sàng của bệnh), tỷ lệ hiểu biết khá chiếm 7,2%; 17,9% biết các
biến chứng do ĐTĐ [2]
HUPH
Trang 26Chương II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Người dân ở nhóm tuổi từ 25 đến 64 tại xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 11/2010 đến tháng 10/2011
- Địa điểm: Xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
4.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Đối tượng nghiên cứu thuộc nhóm tuổi từ 25 đến 64 đang sinh sống tại xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia nghiên cứu (ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu)
- Không đang mắc một số bệnh, tình trạng sức khỏe sau: bệnh nặng, cơ thể suy kiệt, sức khỏe yếu, tâm thần
4.2 Cỡ mẫu: Sử dụng cỡ mẫu ước tính 1 tỷ lệ trong quần thể [48]
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ ta có : 12 / 2 * 2( 1 )
d
p p Z
Trong đó:
- n: cỡ mẫu
- Z1 / 2 = 1,96 (Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95%)
- p = 0,5 (Tỷ lệ người dân có kiến thức về bệnh ĐTĐ)
- d = 0,06 (Độ chính xác mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và quần thể nghiên cứu)
Thay số vào công thức trên ta có n = 267, lấy 15 % dự phòng bỏ cuộc ta có tổng số cỡ mẫu là 307 đối tượng nghiên cứu
4.3 Phương pháp lấy mẫu: Chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
HUPH
Trang 27- Bước 1: Lập danh sách khung mẫu các đối tượng nghiên cứu trong độ tuổi từ 25-64 đang sinh sống tại xã Liên Bão (tổng số người trong độ tuổi 25-64 là 4350 người)
5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
5.1 Phương pháp thu thập số liệu: số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi có
cấu trúc
5.2 Công cụ thu thập số liệu về kiến thức, thái độ, thực hành: Bộ câu hỏi
về “kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh ĐTĐ”
5.3 Người thu thập số liệu: là CB nghiên cứu và cán bộ trạm y tế xã Liên
Bão, cộng tác viên thôn bản xã Liên Bão
- Để so sánh sự khác nhau của các biến liên tục sử dụng test kiểm định thống
kê T- student cho 2 nhóm và phân tích phương sai (ANOVA) cho nhiều hơn 2 nhóm
- Mức ý nghĩa thống kê được sử dụng với α = 0,05
7 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu
HUPH
Trang 28Bảng 4 Các biến số trong nghiên cứu
biến
PP thu thập
I Thông tin chung
2 Tuổi Là số năm kể từ khi sinh ra tính đến năm
2011
Liên tục BCH
4 Nghề nghiệp Nghề đem lại thu nhập chính Danh mục BCH
5 Tình trạng hôn nhân Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên
cứu (chưa có vợ/chồng, đang có vợ/chồng,
ly hôn, góa, ly thân)
Danh mục BCH
9 Thu nhập đối với hộ
nông nghiệp và phi
nông nghiệp
Tổng cộng thu nhập từ các nguồn từ nông nghiệp và phi nông nghiệp (rau quả, chăn nuôi, buôn bán, kinh doanh, lương tháng, các khoản phụ cấp ) trung bình bình trong một năm qua
Danh mục BCH
II Mục tiêu 1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về ĐTĐ
Kiến thức
10 Khái niệm ĐTĐ Bệnh đái đường (hay tiểu đường) là một
bệnh mạn tính, do rối loạn chuyển hoá hydrat cacbon vì thiếu insulin ở các mức
độ khác nhau, do đó gây tăng đường huyết
Danh mục BCH
11 Hiểu biết về triệu chứng
ĐTĐ ĐTĐ thường có một số triệu chứng phổ biến như sút cân, người yếu, mệt mỏi Danh mục
BCH
12 Hiểu biết về sự nguy
hiểm của ĐTĐ ĐTĐ là một bệnh rất nguy hiểm vì nó có thể gây ra nhiều biến chứng, tàn phế Danh mục
Danh mục BCH
HUPH
Trang 29TT Tên biến Định nghĩa Phân loại
biến
PP thu thập
14 Hiểu biết về YTNC của
ĐTĐ
Là những yếu tố thuộc về hành vi lối sống làm tăng nguy cơ mắc bệnh, tăng mức độ trầm trọng của bệnh ĐTĐ như béo phì, ít hoạt động thể lực, dinh dưỡng không hợp
lý, hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia
Danh mục BCH
15 Hiểu biết về cách điều trị
ĐTĐ
Hiện nay, ĐTĐ có thể điều trị bằng thuốc
và loại bỏ những yếu tố hành vi nguy cơ đối với bệnh ĐTĐ như không hút thuốc, tăng vận động, dinh dưỡng hợp lý, không lạm dụng rượu bia
thực hiện lối sống lành mạnh: không lạm dụng rượu bia, không hút thuốc lá, dinh dưỡng hợp lý, tăng cường vận động thể lực
Vấn đề quan trọng nhất khi điều trị ĐTĐ
là ngoài việc dùng thuốc là phải thay đổi lối sống, loại bỏ hành vi nguy cơ có hại
Danh mục BCH
HUPH
Trang 30TT Tên biến Định nghĩa Phân loại
biến
PP thu thập Hành vi
24 Thói quen sử dụng các
loại thực phẩm nhiều
mỡ trong bữa ăn
Liệt kê loại thực phẩm nhiều mỡ thường được sử dụng trong bữa ăn
Danh mục BCH
25 Thói quen sử dụng các
loại thực phẩm giàu
tinh bột trong bữa ăn
Liệt kê loại thực phẩm giàu tinh bột thường được sử dụng trong bữa ăn
Danh mục BCH
26 Thói quen sử dụng các
loại thực phẩm giàu
đạm trong bữa ăn
Liệt kê loại thực phẩm giàu đạm thường được sử dụng trong bữa ăn
phải làm khi làm việc
Hoạt động cường độ vừa phải là những công việc làm cho nhịp thở hoặc nhịp tim tăng nhẹ như mang vác nhẹ, đi nhanh
Nhị phân BCH
33 Thời gian hoạt động với
cường độ vừa phải khi
34 Hoạt động đi lại Tổng thời gian trong 1 ngày, 1 tuần có
hoạt động đi lại
Nhị phân BCH
36 Thời gian hoạt động thể
thao, giải trí với cường
độ cao
Tổng thời gian (số ngày, số giờ) phải hoạt động thể thao, giải trí với cường độ cao trong 1 tuần, 1 ngày
Nhị phân BCH
HUPH
Trang 31TT Tên biến Định nghĩa Phân loại
biến
PP thu thập
38 Thời gian hoạt động thể
thao, giải trí với cường
độ vừa phải
Tổng thời gian (số ngày, số giờ) phải hoạt động thể thao, giải trí với cường độ vừa phải trong 1 tuần, 1 ngày
Liên tục BCH
39 Thời gian nghỉ ngơi
tĩnh tại trong 1 ngày Lưu ý thời gian ngồi và nằm tựa bao gồm cả thời gian ngồi làm việc, đọc sách, làm
máy tính ở cơ quan hoặc ở nhà, ngồi xem
TV, ngồi làm các công việc thủ công bằng tay như đan lát Đi xe máy, xe buýt, xe hơi, ghe máy, ngồi ghe người khác chèo/bơi cũng được coi là nghỉ ngơi tĩnh tại Không tính thời gian ngủ
Liên tục BCH
Hút thuốc lá
40 Tình trạng hút thuốc lá Từ trước đến nay có bao giờ hút thuốc lá? Nhị phân
41 Thói quen hút thuốc lá
hiện tại
Người hiện tại hút thuốc là người có hút thuốc ít nhất 01 lần trong vòng 30 ngày vừa qua tính từ thời điểm điều tra
44 Thói quen hút thuốc lá
hàng ngày trong quá
Nhị phân BCH
HUPH
Trang 32TT Tên biến Định nghĩa Phân loại
biến
PP thu thập
48 Tần suất uống rượu bia
trong 1 tháng qua
Tần suất uống rượu bia trong 1 tháng Danh mục BCH
49 Trung bình uống số
cốc, ly trong 1 ngày
(theo đơn vị chuẩn)
Số ly, cốc uống trong 1 ngày uống rượu bia
51 Xác định một số yếu liên quan (như tuổi,
giới, nghề nghiệp ) tới kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống tăng huyết áp
8 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu
8.1 Kinh tế hộ gia đình được xem xét dựa trên các chỉ số
- Thu nhập bình quân đầu người/năm
- Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 với khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [26]
8.2 Phân loại kiến thức về ĐTĐ
- Những người có tổng điểm ≥ 19 điểm (Tổng số 37 điểm ) được coi là “đạt” kiến thức về ĐTĐ
- Những người có tổng điểm < 19 điểm (Tổng số 37 điểm ) được coi là “không đạt” kiến thức về ĐTĐ
Trang 33B2 Biết các biểu hiện (triệu chứng) của
bệnh ĐTĐ
Uống nhiều Đái nhiều Sút cân Mắt mờ Lâu liền vết thương Người yếu và mệt mỏi Không biết
1
0
0 B4 Nếu có, thì nguy hiểm như thế nào? Có thể gây chết người
Gây nhiều biến chứng, tàn phế
0
1 B5 Biết những biến chứng của bệnh
ĐTĐ không?
Có Không
1
0
Biến chứng mắt Biến chứng tim mạch Biến chứng thận Hoại tử chi (chân, tay) Không gây biến chứng nào
2 Kiến thức về các YTNC gây bệnh ĐTĐ (14đ)
ra ĐTĐ không?
Có Không
Đã được chẩn đoán tiền ĐTĐ Tiền sử đẻ con to
Tiền sử bị ĐTĐ thai kì Sang chấn tinh thần (Stress)
Ít hoạt động thể lực/luyện tập TD
Ăn quá nhiều Hút thuốc lá Uống rượu bia nhiều
Trang 348.3 Phân loại thái độ về ĐTĐ
- Phương án trả lời sử dụng thang đo Likert gồm 5 mức độ, từ “rất không đồng
ý” đến “rất đồng ý”
- Với những câu hỏi E1, E7 mỗi câu trả lời sẽ có điểm số từ 4 (tương ứng với
“rất đồng ý” cho đến 1 (tương ứng với “rất không đồng ý”)
- Với những câu hỏi E2, E3, E4, E5, E6 mỗi câu trả lời sẽ có điểm số từ 1
(tương ứng với “rất không đồng ý” cho đến 4 (tương ứng với “rất đồng ý”)
- Những câu trả lời “không có ý kiến” thì sẽ không có điểm
- Tổng điểm của mỗi người trả lời có thể từ 0 – 28 điểm (cho 7 câu hỏi)
- Những người có tổng điểm ≥ 14 điểm được coi là “đạt” thái độ về bệnh ĐTĐ
và người có tổng điểm < 14 điểm được coi là “không đạt” thái độ về bệnh ĐTĐ
8.4 Tiêu chuẩn về chế độ ăn rau, trái cây
Mức độ ăn rau củ (nhiều, rất nhiều) là đạt tiêu chuẩn; mức độ ăn rau củ (trung
bình, vừa, ít, không ăn): không đạt tiêu chuẩn
8.5 Tiêu chuẩn về hoạt động thể lực
Đối với vận động thể lực, MET (Metabolic Equivalents Task unit) là đơn vị
được dùng để biểu thị mức độ nặng nhọc của các hoạt động thể lực MET là tỷ lệ
giữa mức chuyển hóa cơ bản của một người khi người đó đang vận động so với khi
nghỉ ngơi Một MET được định nghĩa là năng lượng tiêu thụ khi ngồi yên, tương
đương với một lượng calo tiêu hao là 1 kcal/kg/giờ Khi phân tích các số liệu thu
thập được từ bộ câu hỏi GPAQ (được sử dụng trong nghiên cứu này), mức vận động
thể lực được tính dựa theo hướng dẫn sau đây So với một người ngồi yên, người
vận động vừa phải sử dụng một mức năng lượng cao gấp 4 lần, và người vận động
nặng sử dụng mức năng lượng cao gấp 8 lần Tổng vận động thể lực của một người
được biểu thị bằng MET-giờ, hoặc MET-phút
MET phút đối với hoạt động khi làm việc cường độ nặng nhọc được tính bằng
thời gian hoạt động (phút) x số ngày làm việc/tuần x 8
MET phút đối với hoạt động khi làm việc cường độ vừa được tính bằng thời
gian hoạt động (phút) x số ngày làm việc/tuần x 4
HUPH
Trang 35MET phút đối với hoạt động đi lại được tính bằng thời gian hoạt động (phút)
8.6 Tiêu chuẩn về hút thuốc lá
- Người hiện tại hút thuốc là người có hút thuốc ít nhất 01 lần trong vòng 30 ngày vừa qua tính từ thời điểm điều tra
- Người hút thuốc hàng ngày được định nghĩa là người có hút thuốc ít nhất 1 lần/ngày trong tất cả 30 ngày vừa qua tính từ thời điểm điều tra Trong một số trường hợp, đối tượng hút thuốc trong hầu hết các ngày nhưng có một vài ngày không hút vì những lý do đặc biệt như ăn kiêng, ốm thì vẫn được tính là hút thuốc hàng ngày
9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành điều tra và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận tham gia của đối tượng nghiên cứu
- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
- Đề cương nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua trước khi tiến hành triển khai trên thực địa
HUPH
Trang 36- Kết quả nghiên cứu sẽ đƣợc phản hồi ban lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Tiên Du, Trạm Y tế xã Liên Bão và Uỷ ban nhân dân xã Liên Bão khi nghiên cứu kết thúc
10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khắc phục
10.1 Hạn chế của nghiên cứu
Do nguồn lực có hạn nên nghiên cứu chỉ đƣợc tiến hành ở một xã nên kết quả nghiên cứu có thể không đại diện cho địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 37Chương III KẾT QUẢ
1 Thông tin chung
Bảng 5 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Kết quả từ bảng 5 cho thấy, trong các đối tượng điều tra 2 nhóm tuổi chiếm tỷ
lệ cao nhất là nhóm tuổi từ 25-34 (chiếm 30,5%) và từ 35-44 tuổi (chiếm 29,5%) Trong nghiên cứu này tỷ lệ người tham gia là nam xấp xỉ tỷ lệ nữ, với trình độ học vấn chủ yếu là từ cấp II trở xuống (chiếm 51,7%) Do Liên Bão vẫn là một xã mà tỷ
lệ thu nhập hộ gia đình chủ yếu từ nông nghiệp nên kết quả thu được cũng phù hợp với tỷ lệ người tham gia có nghề nghiệp là nông dân chiếm 63,9%
HUPH
Trang 382 Kiến thức của người dân ở nhóm tuổi 25 – 64 tuổi tại xã Liên Bão, huyện Tiên Du về bệnh ĐTĐ
2.1 Kiến thức về bệnh đái tháo đường
2.1.1 Kiến thức về khái niệm bệnh đái tháo đường
80,1%
19,9%
Hiểu biết đúng Hiểu biết sai
Biểu đồ 1 Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về khái niệm ĐTĐ
Tỷ lệ người dân có hiểu biết đúng về khái niệm của bệnh ĐTĐ (“đường máu cao hơn bình thường”) là rất thấp, chỉ có 19,9% số người được hỏi
2.1.2 Kiến thức về triệu chứng của bệnh đái tháo đường
Trang 39Trong số những triệu chứng của ĐTĐ được người dân biết đến thì triệu chứng
“sút cân” là được biết nhiều nhất (chiếm tỷ lệ 33,8%), tiếp đến là triệu chứng “đái nhiều” (chiếm 32,5%), người yếu và mệt mỏi (32,1%), uống nhiều: 15,6%
Biểu đồ 3 Mức độ hiểu biết về triệu chứng của bệnh ĐTĐ
Đối với mức độ hiểu biết của người dân về triệu chứng của bệnh ĐTĐ, chiếm
tỷ lệ cao nhất là biết 1 triệu chứng (25,2%) trong 5 triệu chứng được liệt kê (uống nhiều, đái nhiều, sút cân, mắt mờ, lâu liền vết thương), tiếp đến là biết 2 triệu chứng: 24,2%, biết từ 3 triệu chứng trở lên là 14,5% Số người không biết bất kỳ triệu chứng nào trong 5 triệu chứng chiếm tới 36,1%
2.1.3 Kiến thức của người dân về sự nguy hiểm của bệnh ĐTĐ
Bảng 6 Hiểu biết của người dân về sự nguy hiểm của bệnh ĐTĐ
Trang 40Kết quả từ bảng 6 cho thấy số người hiểu rằng bệnh ĐTĐ là nguy hiểm chiếm khá cao 84,8%, nhưng thực tế vẫn còn tới 9,6% số người không biết rằng bệnh ĐTĐ
là nguy hiểm Về mức độ nguy hiểm của bệnh ĐTĐ, 55,3% người có quan niệm chưa đúng (cho rằng ĐTĐ có thể gây chết người), chỉ có 32,8% người có quan niệm đúng (ĐTĐ có thể gây nhiều biến chứng, tàn phế)
2.1.4 Kiến thức của người dân về biến chứng của bệnh đái tháo đường
Biểu đồ 4 Hiểu biết về biến chứng của bệnh ĐTĐ
Trong số những biến chứng của ĐTĐ, biến chứng “tăng huyết áp” là được biết đến nhiều nhất (chiếm 28,5%), tiếp đến là biến chứng thận (23,2%), biến chứng tim mạch (17,2%), biến chứng mắt (16,6%), biến chứng thần kinh (11,3%), biến chứng